Việc nghiên cứu bút pháp nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng giúp chúng ta thấy đ-ợc những đặc điểm nghệ thuật thơ Nôm Đ-ờng luật nói chung và thấy đ-ợc những nét cách tân táo bạo mà hợp lý
Trang 1tr-ờng đại học vinh khoa ngữ văn -
Nguyễn Thị An
Khóa luận tốt nghiệp
Bút pháp nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng
Chuyên ngành: văn học trung đại việt nam
Giáo viên h-ớng dẫn: TS Tr-ơng Xuân Tiếu
Vinh - 2006
Trang 2lời cảm ơn
Để hoàn thành đ-ợc đề tài nghiên cứu này, ngoài phần cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận đ-ợc sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy giáo h-ớng dẫn: TS Tr-ơng Xuân Tiếu và các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn
- Tr-ờng Đại học Vinh; cùng với sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè
Qua đây cho tôi xin đ-ợc bày tỏ những tình cảm chân thành nhất, lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo h-ớng dẫn, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và những ng-ời thân đã giúp đỡ, động viên tôi
Đây là b-ớc đi đầu tiên của một sinh viên trên con đ-ờng tập nghiên cứu khoa học Do vậy, đề tài chắc chắn còn nhiều hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận đ-ợc sự đóng góp của quý thầy cô, cùng các bạn sinh viên
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 18 tháng 5 năm 2006
Tác giả
Nguyễn Thị An
Trang 3A- Phần mở đầu
I Lý do chọn đề tài
Thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng là một hiện t-ợng văn học độc đáo và
đặc biệt trong kho tàng thơ ca quốc âm Việt nam thời trung đại Cùng với thời gian, trải qua bao thăng trầm của lịch sử nh-ng những thi phẩm của Hồ Xuân Hương nhửng ‚câu thơ sắc c³nh‛, nhửng đặc sắc vẹ nối dung, nghế thuật vẫn còn nguyên giá trị
Từ lúc xuất hiện đến nay, có thể nói rằng, thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng có sức hấp dẫn lạ kỳ, thu hút sự khám phá của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học và đ-ợc sự yêu mến của đông đảo độc giả Đặc biệt
từ khi xuất hiện văn bản sáng tác, ghi chép về thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng thì
có rất nhiều công trình nghiên cứu nông sâu khác nhau
Không những vậy, thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng cũng nh- bản thân cuộc đời nữ sĩ họ Hồ này còn đầy bí ẩn, nh-ng vẫn hấp dẫn đối với mọi loại hình nghệ thuật nh- điêu khắc, hội hoạ, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, văn học…
Vậy cái gì đã làm nên sức sống diệu kỳ và làm nên những cách tân, sáng tạo trong thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng? Có nhiều yếu tố, nh-ng một trong những yếu tố không thể nói đến - Bút pháp nghệ thuật – xác định nh- vậy nên chúng tôi chọn vấn đề nghiên cứu này với rất cả lòng nhiệt thành, yêu thích khát khao Và hy vọng rằng việc khám phá nó sẽ góp một tiếng nói cho sự khẳng định những giá trị thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng, cá tính s²ng t³o không dể gệ trốn lẫn cða ‚B¯ chũa thơ Nôm‛
II Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu bút pháp nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng giúp chúng ta thấy đ-ợc những đặc điểm nghệ thuật thơ Nôm Đ-ờng luật nói chung và thấy đ-ợc những nét cách tân táo bạo mà hợp lý của Hồ Xuân H-ơng trong nghệ thuật thể hiện thơ trữ tình
Trang 4Đồng thời còn nhằm chỉ ra và miêu tả một cách toàn diện, cụ thể cách vận dụng từ ngữ, cách hành văn, cấu trúc tác phẩm, cách thể hiện của tác phẩm thơ trong thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng
Ngoài ra còn nhằm phân tích, làm bật nổi đặc tr-ng thi pháp thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng, bởi bút pháp là một phần của thi pháp
Trên cơ sở đó để tìm cách nhận dạng thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng trong sự phân biệt với thơ Nôm của các nhà thơ khác thời trung đại và giúp cho việc tìm hiểu những tác phẩm đ-ợc giảng dạy trong ch-ơng trình phổ thông tốt hơn
III Phạm vi giải quyết đề tài
Di sản văn học Hồ Xuân H-ơng để lại cho hậu thế rất đa dạng, phong phú Theo nhiều nhà nghiên cứu văn bản học nh- Hoàng Xuân Hãn,
Đào Thái Tôn, Duy Dao…Cho biết Hồ Xuân H-ơng có thơ chữ Hán, thơ chữ Nôm, câu đối Nôm…
Do tính chất của một đề tài và thời gian của một khoá luận tốt nghiệp nên chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi giải quyết là những bài thơ Nôm
Hồ Xuân H-ơng Nh-ng thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng có đặc thù là:
- Thơ Nôm truyền tụng (chữ dùng của Hoàng Xuân Hãn) chỉ những bài thơ của Hồ Xuân H-ơng lúc đầu không đ-ợc ghi lại bằng văn bản, mà chỉ l-u hành truyền miệng; và mãi đầu thế kỷ XX ng-ời ta mới ghi chép lại thành văn bản Đây chính là những bài thơ nổi tiếng trong thế giới thơ Hồ Xuân H-ơng
- Thơ Nôm trong tập thơ chữ Hán L-u h-ơng ký là những bài thơ
Nôm có đầu đề viết bằng chữ Hán và mới đ-ợc s-u tầm vào cuối thế kỷ
XX Đó là những bài thơ rất hay, nh-ng ch-a thật sự nổi tiếng và ch-a đạt tới độ hấp dẫn sâu sắc trong thị hiếu thẩm mỹ của bạn đọc nh- những bài thơ Nôm truyền tụng
Trên thực tế đó, ý thức chúng tôi h-ớng về tìm hiểu đề tài: Bút pháp nghệ thuật trong những bài thơ Nôm truyền tụng Và để tránh lặp từ ngữ, nên chúng tôi gọi là thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng trong quá trình nghiên cứu
Trang 5Sách in thơ Hồ Xuân H-ơng thì nhiều, nh-ng độ chính xác cũng chỉ t-ơng đối Trong quá trình tìm hiểu đề tài chúng tôi dựa vào văn bản của Nguyễn Sĩ Cẩn và Đào Thái Tôn
IV Ph-ơng pháp nghiên cứu
Thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng là một hiện t-ợng độc đáo của văn học trung đại Vì vậy khi coi nó là đối t-ợng nghiên cứu không thể không sử dụng những nguyên tắc thẩm mỹ có tính quy luật: Quan điểm duy vật lịch
sử (đặt thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng vào hoàn cảnh lịch sử, vào tiến trình lịch
sử của văn học Việt Nam thời trung đại để thấy đ-ợc sự tác động, chi phối của lịch sử, thời đại đến t- duy nghệ thuật của nhà thơ)
Quan điểm duy vật biện chứng (đặt trong t-ơng quan so sánh giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm nhất là đặc điểm mang tính nội dung
và nội dung của hình thức, so sánh nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng với nghệ thuật thơ Nôm truyền thống)…Cụ thể, dựa trên hai nguyên tắc là: Nguyên tắc đồng đại (đặt trong mối t-ơng quan với các tác giả cùng thời)
và nguyên tắc lịch đại (đặt trong mối quan hệ với tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc) để từ đó thấy đ-ợc nét t-ơng đồng và dị biệt trong bút pháp nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng
Ngoài ra, để tìm hiểu và giải quyết đề tài một cách sâu sắc, toàn diện, chúng tôi còn sử dụng ph-ơng pháp: Tổng – phân – hợp (nghĩa là từ
sự khái quát tổng hợp đi đến cụ thể hoá, chi tiết hoá từ đó rút ra những kết luận có cơ sở khoa học về bút pháp nghệ thuật trong thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng); sử dụng ph-ơng pháp thống kê, phân loại để tìm ra đặc tr-ng chung, tìm ra các mặt biểu hiện của bút pháp nghệ thuật trên cơ sở những tài liệu cụ thể
Sử dụng ph-ơng pháp so sánh, miêu tả, đánh giá, nhận xét, đối chiếu…để thấy đ-ợc sự độc đáo, mới mẻ trong bút pháp nghệ thuật của Hồ Xuân H-ơng và làm phong phú hơn vốn hiểu biết trong quá trình tìm hiểu
đề tài
Trang 6V Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Về bút pháp nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân H-ơng từ tr-ớc đến nay ch-a có một công trình nào chuyên sâu Các nhà nghiên cứu th-ờng bàn về vấn đề tiếng c-ời, về vấn đề dâm tục, vấn đề t- t-ởng… Còn bút pháp nghệ thuật chỉ là một mục nhỏ nằm lẫn vào trong vấn đề khác rất ít đ-ợc nói đến
Điều đó cũng gây nên một số khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu, trong
định h-ớng chung, nh-ng lại tạo cơ hội cho việc phát hiện ra những điều mới lạ, chúng tôi chỉ khiêm tốn bàn đến một số bài viết, bài nghiên cứu có
đề cập đến bút pháp nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân H-ơng
Có thể nói các công trình nghiên cứu tr-ớc cách mạng tháng 8 –
1945 nhìn chung đã có những tìm tòi, khám phá nhất định về con ng-ời cũng nh- những đặc điểm nội dung, về con ng-ời cũng nh- những đặc điểm
nội dung, hình thức thơ của Hồ Xuân H-ơng (Giai nhân di mặc ra đời năm
1916 đ-ợc xem là cuốn sách mở đầu cho việc nghiên cứu Hồ Xuân H-ơng,
sau đó là Quốc văn trích diễm năm 1925 của D-ơng Quảng Hàm, Nữ l-u
văn học sử năm 1929 của Lê D-, Hồ Xuân H-ơng – tác phẩm, thân thế và văn tài năm 1936 của Nguyễn Văn Hanh…
Từ sau cách mạng tháng 8 – 1945, hiện t-ợng thơ Hồ Xuân H-ơng
đ-ợc nhìn nhận, đánh giá và nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện trên tất cả các mặt: hình thức, nội dung…tạo nên b-ớc biến đổi về chất trong quá trình nghiên cứu về bà Có thể kể tên một số công trình, bài viết tiêu
biểu: Thân thế và thơ ca Hồ Xuân H-ơng – Bà chúa thơ Nôm (Lê Tâm 1950), Hồ Xuân H-ơng – Bà chúa thơ Nôm (Xuân Diệu), Hồ Xuân H-ơng
– ng-ời lạ mặt (Nguyên Sa Trần Bích Lan – 1960), Ng-ời Cổ Nguyệt chuyện Xuân H-ơng (Nguyễn Đức Bính – 1962)
Trên b-ớc đ-ờng nghiên cứu về Hồ Xuân H-ơng những thập kỷ 70,
80, 90 đã ghi nhận những công trình giàu tâm huyết của các tác giả nh-:
Thơ Hồ Xuân H-ơng (Nguyễn Lộc – 1982), Nghĩ về Thơ Hồ Xuân H-ơng
(Lê Trí Viễn – 1987), Thơ Hồ Xuân H-ơng – Từ cội nguồn vào thế tục
Trang 7(Đào Thái Tôn – 1993), Hồ Xuân H-ơng – Hoài niệm phồn thực (Đỗ Lai
Thuý – 1999)
Có thể đánh giá đây là những công trình đ-ợc viết một cách nghiêm túc, cẩn trọng, trong đó lựa chọn các bài viết lâu nay đã đ-ợc s-u tầm, tuyển chọn, giới thiệu t-ơng đối đầy đủ Điều này góp phần hé mở một vài nghi vấn giúp cho giới quan tâm có thêm những cơ sở xác đáng cho việc thẩm định, phê bình Một số công trình đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau về bút pháp nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân H-ơng
Trong Hồ Xuân H-ơng – Hoài niệm phồn thực, Đỗ Lai Thuý đã đề
cập đến bút pháp nghệ thuật thơ Hồ Xuân H-ơng d-ới góc độ tín ng-ỡng phồn thực So với các tác giả khác có thể nói đây là một h-ớng tiếp cận mới Ông đã giành gần trọn một ch-ơng trong số năm ch-ơng sách
(Ch-ơng ba: ‚Mặt trời trong hang‛) đề đi sâu tệm hiều thễ giới nghế thuật
thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân H-ơng Trong ch-ơng này, tác giả đã phân
tích sâu sắc tiếng c-ời Xuân H-ơng (Khúc khích Xuân H-ơng), khẳng định
rằng thơ Hồ Xuân H-ơng là tiếng c-ời của niềm vui sống, tiếng c-ời tự do
‚b°n chất tiễng cưội Xuân Hương l¯ đề diển đ³t tr³ng th²i đỗi cức v¯ tính hai mặt cða đội sỗng‛ chữ tiễng cưội không đơn thuần chì l¯ sứ châm biễm, mỉa mai Đặc biệt, Đỗ Lai Thuý đã lý giải một cách t-ờng tận phong cách
thơ Hồ Xuân H-ơng (Một phong cách cà khịa) khẳng định việc đ-a ngôn
ngữ riêng, độc đáo của mình vào để làm mới thể thơ Đ-ờng luật trong thơ
Hồ Xuân H-ơng
Nh- vậy, cuốn sách này đã đề cập một số vấn đề trong bút pháp Hồ Xuân H-ơng, tuy nhiên lại ch-a có cái nhìn tổng quát, toàn diện trong việc
đ²nh gi² bũt ph²p nghế thuật cða ‚B¯ chũa thơ Nôm‛
Năm 2000, tiểu luận Quan niệm nghệ thuật về con ng-ời trong thơ
Hồ Xuân H-ơng của Bùi Ngọc Minh xuất hiện lại một lần nữa khẳng định
r´ng ‚tiễng cưội trong thơ Họ Xuân Hương vẹ cơ b°n l¯ ‚hướng ngo³i‛ Tuy nhiên thơ b¯ còn cõ mốt tiễng nõi ‚hướng nối‛ sâu thàm…‛ Nhện
Trang 8chung, tiểu luận của Bùi Ngọc Minh đã giới thiệu t-ơng đối toàn diện quan niệm nghệ thuật về con ng-ời trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân H-ơng
Gần đây nhất, cũng có một số công trình nghiên cứu, bài viết về con ng-ời cũng nh- tài năng văn ch-ơng của Hồ Xuân H-ơng của một số tác
giả nh-: Lạm bàn thơ Hồ Xuân H-ơng (Trần Khải Thanh Thuỷ), Hồ Xuân
H-ơng về tác gia và tác phẩm (Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh), Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân H-ơng (Tr-ơng Xuân Tiếu)…
Cuốn Hồ Xuân H-ơng về tác gia và tác phẩm là cuốn sách tuyển
chọn và giới thiệu một cách hệ thống những công trình nghiên cứu tiêu biểu
về Hồ Xuân H-ơng (về con ng-ời, văn bản, đặc điểm thơ…) giúp độc giả có c²i nhện to¯n diến, sâu sắc hơn đỗi với ‚hiến tượng thơ kự l³‛ n¯y Cõ mốt
số bà viết trong cuốn sách này có đề cập đến bút pháp nghệ thuật thơ Nôm
Hồ Xuân H-ơng là:
Nguyễn Hồng Phong với bài Nữ Sĩ bình dân Hồ Xuân H-ơng đã
khẳng định Hồ Xuân H-ơng là một thi sĩ châm biếm, trào lộng và trữ tình
mà châm biếm trào lộng là chủ yếu Ngay trong lúc trữ tình tha thiết vẫn c-ời cợt mỉa mai… ‚Họ Xuân Hương l¯ thi sĩ đốc nhất cõ ngòi bũt t° thức một cách sắc sảo, có một bút pháp tả thực và trào lộng bậc thầy…‛
Ta thấy rằng, Nguyễn Hồng Phong đã chú ý nhiều đến nghệ thuật trong thơ Hồ Xuân H-ơng nh-ng tác giả này đã xuất phát từ điểm nhìn văn hoá dân gian và xem đó có ảnh h-ởng thế nào đến nghệ thuật thơ Hồ Xuân H-ơng chứ ch-a đứng ở khía cạnh qua đó tác giả bộc lộ tình cảm chủ quan của mình, ch-a thấy đ-ợc sự phong phú, đa dạng trong bút pháp nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng
Ph³m Thễ Ngủ khi nõi vẹ ‚Đặc sắc thơ Họ Xuân Hương‛ đ± cho thơ
Họ Xuân Hương l¯ ‚lỗi thơ Nôm thuần tuý‛: ‚Vẹ mặt nghế thuật ta cũng chì thấy thơ Họ Xuân Hương chính l¯ sứ vươn lên cða văn nghế bệnh dân‛, l¯ ‚thơ t° nghĩa chân đôi‛: ‚B¯i thơ thưộng cõ hai nghĩa, mốt nghĩa gần gủi
và ngay thực về sự vật ở nhan đề, một nghĩa xa xôi ranh mãnh là câu chuyến túc‛
Trang 9ở đây Phạm Thế Ngũ mới chỉ chú ý đến mặt nghệ thuật thơ Hồ Xuân H-ơng nói chung chứ ch-a chú ý đến những yếu tố trữ tình đặc sắc trong bút pháp nghệ thuật của Hồ Xuân H-ơng Do đó ch-a bao quát đ-ợc hết các mặt nghệ thuật trong bút pháp riêng của bà
Thanh Lãng khi nói đến nghệ thuật thơ Hồ Xuân H-ơng đã chú ý so sánh những điểm mới lạ, nổi bật trong thơ bà so với các tác giả tr-ớc và cùng thời với bài Thanh Lãng đã nhấn mạnh đến lối thơ phá cách của Hồ Xuân H-ơng trên nhiều ph-ơng diện: Tả cảnh, ngôn ngữ, đề tài và đặc biệt
ông đã đề cập (tuy còn ít) đến cách diễn tả tình cảm của Hồ Xuân H-ơng
‚Họ Xuân Hương l¯ mốt trong nhửng ngưội đầu tiên dùng chử nôm na đề diễn tả tình ý…Và là ng-ời tiên phong trong phong trào dùng toàn tiếng Viết Nam đề diển t° tư tường‛ Như vậy, Thanh Lãng đã nói những cách bốc lố tệnh c°m cða Họ Xuân Hương Tuy nhiên, ‚c²ch dùng chử nôm na‛ v¯ ‚c²ch dùng to¯n tiễng Viết Nam‛ đề diển t° ‚tệnh ý‛, ‚tư tường‛ mới chì
là một yếu tố trong bút pháp nghệ thuật của thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng
Nguyễn Lộc trong giáo trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ
XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX cũng khẳng định trữ tình và trào phúng trong
con ngưội Họ Xuân Hương T²c gi° viễt ‚Họ Xuân Hương l¯ mốt nh¯ thơ trào phúng, đả kích Nhiều ng-ời nghĩ nh- vậy Nh-ng bảo Xuân H-ơng chỉ
là nhà thơ trào phúng đả kích thì quả ch-a hiểu hết cái phong phú đa dạng của tâm hồn nhà thơ này Con ng-ời c-ời nhiều mà c-ời sâu chẳng bao giờ
là ng-ời bộc tuyệch, trống rỗng, ruột để ngoài da mà là ng-ời có nhiều suy nghĩ, nhiều cảm xúc Trữ tình và tr¯o phũng không đỗi lập nhau‛ Ngo¯i ra tác giả còn khẳng định Hồ Xuân H-ơng là nhà thơ của phụ nữ…
Tr-ơng Xuân Tiếu trong Tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Nôm
truyền tụng Hồ Xuân H-ơng đã có cái nhìn bao quát, toàn diện những biểu
hiện khác nhau của bút pháp nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng và đi đến khàng định r´ng ‚c²i căn b°n l¯m nên bũt ph²p chð đ³o trong s²ng t³o nghế thuật thơ Họ Xuân Hương l¯ bũt ph²p trử tệnh‛
Trang 10Hiện nay, một số luận văn, luận án cũng đã bắt đầu tìm hiểu bút
pháp nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng nh-: Nghệ thuật trữ tình trong
thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân H-ơng năm 2003 của Nguyễn Thị Huế đã
khẳng định yếu tố trữ tình trong thơ Hồ Xuân H-ơng, Phong cách thơ Nôm
truyền tụng Hồ Xuân H-ơng năm 2005 của Nguyễn Hà Dung…
Nh- vậy, qua một số công trình, một số bài viết của các tác giả về nghệ thuật thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng, ta thấy rằng vấn đề bút pháp ch-a
đ-ợc nhìn nhận một cách độc lập mà mới đ-ợc bàn l-ớt qua và nhắc đến rải rác trong quá trình soi sáng mục tiêu của họ ở các bài viết Do đó ở chỗ này hay chỗ khác, vấn đề bút pháp nghệ thuật trong thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng ch-a đ-ợc các tác giả nhìn nhận, giải quyết đánh giá có hệ thống, trực tiếp, toàn diện và triệt để
Nêu lên và đ-a ra một số nhận xét trên chúng tôi không mảy may nghĩ rằng: Đào Thái Tôn, Xuân Diệu, Nguyễn Hữu Sơn…và các tác giả khác không thể làm đ-ợc việc đó Đây không phải là hạn chế, nh-ợc điểm của các bài viết
Điều mà chúng tôi muốn khẳng định là các tác giả không tự đặt cho mệnh nhiếm vú nhện nhận vấn đẹ ‚Bũt ph²p nghế thuật trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương‛ như mốt vấn đẹ chuyên biết – nhiệm vụ mà chúng tôi đeo
đuổi trong khoá luận này
Từ những gợi ý hết sức quí báu trong rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, với t- cách là một khoá luận, chúng tôi muốn đ-ợc tiếp tục nghiên cứu những phác thảo của các nhà nghiên cứu đi tr-ớc và từ đó đ-a ra kiến giải của mình Hi vọng khoá luận này sẽ góp thêm tiếng nói khẳng
định vị trí,vai trò quan trọng của thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng trong lịch sử văn học dân tộc
VI Cấu trúc của khoá luận
Để giải quyết tốt những vấn đề mà khoá luận đặt ra, ngoài phần mở
đầu và kết luận, nội dung đề tài đ-ợc triển khai qua ba ch-ơng:
Trang 11Ch-ơng 1: Sơ bộ tìm hiểu bút pháp nghệ thuật của một số tác giả thơ Nôm Đ-ờng luật tiêu biểu
Ch-ơng 2: Bút pháp nghệ thuật trong thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng (nhìn qua ph-ơng diện đề tài, nội dung, ph-ơng thức phản ánh)
Ch-ơng 3: Bút pháp nghệ thuật trong thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng (nhìn qua ph-ơng diện sử dụng chất liệu, ph-ơng tiện nghệ thuật
B- Nội dung Ch-ơng 1 : Sơ bộ tìm hiểu bút pháp nghệ thuật của một số tác giả
thơ nôm đ-ờng luật tiêu biểu
1.1 Giới thuyết về khái niệm bút pháp nghệ thuật
1.1.1 Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh đã đề cập đến những nét nghĩa khác nhau của 2 từ "bút", "pháp" Hiểu một cách sơ l-ợc, gần gũi nhất "bút" là biên chép, "pháp" là phép nhất định
1.1.2 Theo "Từ điển thuật ngữ văn học" thì bút pháp là cách viết văn, cách hành văn Bút pháp nghệ thuật là cách dùng chữ, cách bố cục, cách sử dụng các ph-ơng tiện biểu hiện để tạo thành một hình thức nghệ
Trang 12thuật hoàn chỉnh trong tác phẩm Do trực tiếp gắn với lối viết, cách viết nên khái niệm bút pháp có phần t-ơng đồng với khái niệm phong cách, văn phong, tuy nhiên nó chỉ là yếu tố của phong cách
Nh- vậy, nghĩa đen của bút pháp nghệ thuật là cách nói, cách viết Nói một cách khái quát hơn đó cách dùng chữ, cách hành văn
1.1.3 Theo "Từ điển tiếng Việt": "Bút pháp là cách dùng ngôn ngữ hoặc đ-ờng nét, màu sắc, hình khối, ánh sáng để biểu hiện hiện thực, thể hiện t- t-ởng trong tác phẩm nghệ thuật" (Từ điển tiếng Việt - NXB Đà Nẵng, 2002)
ở đây , bút pháp nghệ thuật là cách sử dụng chất liệu ngôn từ để biểu hiện hiện thực và t- t-ởng
Tóm lại, khái niệm bút pháp nghệ thuật có thể hiểu là cách hành văn, cách bố cục, cách sử dụng các ph-ơng tiện biểu hiện để tạo thành một hình thức nghệ thuật hoàn chỉnh biểu đạt nội dung t- t-ởng của tác phẩm
1.2 Bút pháp nghệ thuật trong thơ Nôm Đ-ờng luật của một số nhà thơ tiêu biểu
Thơ Nôm Đ-ờng luật là một trong những thể loại độc đáo vào bậc nhất của Văn học Việt Nam Một thể loại có nguồn gốc ngoại lai, tiếp thu
từ Trung Hoa về mặt thể loại , nh-ng trong quá trình phát triển lại trở thành thể loại văn học dân tộc, có địa vị ngang hàng với những thể loại văn học thuần tuý dân tộc nh- truyện thơ viết theo thể lục bát và khúc ngâm viết theo thể song thất lục bát
Trong lịch sử văn học Việt Nam, Thơ Nôm Đ-ờng luật có vị trí quan trọng bởi những đóng góp to lớn của nó đối với sự phát triển của văn học dân tộc về cả hai ph-ơng diện: thực tiễn sáng tác và ý nghĩa lý luận Trong quá trình sáng tạo, các tác giả Việt Nam một mặt vừa phải đảm bảo đặc tr-ng thi pháp thể loại, mặt khác không ngừng cách tân sáng tạo cả nội dung lẫn hình thức ngôn ngữ, cấu trúc "Thơ Nôm Đ-ờng luật là một hiện
Trang 13t-ợng vừa tiêu biểu, vừa độc đáo Tiêu biểu ở chỗ nó phản ánh những điều kiện bản chất, quy luật của qúa trình giao l-u tiếp nhận văn học Độc đáo bởi thơ Nôm Đ-ờng luật tuy mô phỏng thể thơ ngoại lai nh-ng có vị trí
đáng kể bên cạnh các thể thơ dân tộc [15,Tr21]
Thơ Nôm Đ-ờng luật cũng là một trong những thể loại có thành tựu lớn vào bậc nhất của văn học Việt Nam Từ tác phẩm mở đầu hiện còn là
Quốc âm thi tập_ mà có nhà nghiên cứu đã nhận định đó là "đ-ờng g-ơm
thử thách, đ-ờng g-ơm bậc thầy", đến tác phẩm cuối cùng là thơ Nguyễn Khuyến, diện mạo Thơ Nôm Đ-ờng luật là diện mạo d-ờng nh- không có tuổi ấu thơ chập chững cũng nh- không có tuổi già Nhiều tác giả lớn của văn học Việt Nam là tác giả thơ Nôm Đ-ờng luật Nhiều tác phẩm giá trị
của văn học dân tộc thuộc vế Thơ Nôm Đ-ờng luật :Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi (254 bài) , Hồng Đức Quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông và tác giả thời Hồng Đức (328 bài), Bạch Vân Quốc ngữ thi tập của Nguyễn
Bỉnh Khiêm ( hơn 160 bài), thơ Nôm bà huyện Thanh Quan (6 bài), thơ Nôm Nguyễn Công Trứ (1000 bài), thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng (khoảng 40 bài), thơ Nôm Nguyễn Khuyến (khoảng 70 bài)… Có thể nói rằng đây là những tác giả tiêu biểu làm nên diện mạo thơ Nôm Đ-ờng luật và để lại dấu
ấn phong cách đậm nét nhất
1.2.1 Thơ Nôm Nguyễn Trãi:
Nguyễn Trãi là ng-ời toàn đức toàn tài và là tác giả vĩ đại trong lịch sử văn học dân tộc thời trung đại Đức độ và tài năng ấy đã thể hiện trong sự nghiệp cứu n-ớc cũng nh- sự nghiệp văn học của ông Là một nhà văn hoá lớn của dân tộc rất có ý thức về những giá trị tinh thần của đất n-ớc
và con ng-ời Việt Nam, Nguyễn Trãi đã có đóng góp vĩ đại vào sự phát triển của văn hoá dân tộc Trong lĩnh vực văn học, sự đóng góp thể hiện rõ rệt ở việc đẩy mạnh sự phát triển của thơ Nôm Kế thừa những thành tựu
của các tác phẩm đời Trần, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đã khẳng
định vị trí ngày càng quan trọng của văn học chữ Nôm trong đồng văn học Viết
Trang 14Quốc âm thi tập là tập thơ Nguyễn Trãi sáng tác trong thời kỳ làm
quan cho nhà Hậu Lê, d-ới triều vua Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông Đây là tập thơ thể hiện nỗi buồn, thể hiện tâm sự riêng t- của Nguyễn Trãi- xót xa tr-ớc thế giới quan tr-ờng đầy hiểm hóc, phức tạp, gian xảo, -ớc mơ hoài bão lý t-ởng không thể thực hiện đ-ợc Nguyễn Trãi cáo quan lui về ở ẩn
Để thể hiện những tình cảm h-ớng nội, thể hiện tiếng lòng của một nhà nho hành dộng gặp những trở ngại trên b-ớc đ-ờng thực hiện chí h-ớng hoài bão của mình, ngoài việc sử dụng chữ Nôm(bên cạnh chữ Hán) để sáng tác thơ, Nguyễn Trãi còn có nhiều sáng tạo xứng đáng đ-ợc các thế
hệ sau coi là tác giả lớn mở đầu cho b-ớc phát triển mới của bộ phận văn học viết bằng chữ Nôm
Trong Quốc âm thi tập, chỉ có 71 bài làm theo luật Đ-ờng thi, còn lại
183 bài là những bài thơ ít nhiều có thể cách tự do Những bài thơ này, cái nền của nó vẫn là thơ luật Đ-ờng nh-ng số âm trong các câu thì lại có thể 6
từ hoặc 7 từ (lục ngôn xen lẫn với thất ngôn), thậm chí là 5 từ Chẳng hạn
một số bài nh- : Thủ vĩ ngâm, Ngôn chí (3, 4, 5), Mạn thuật, thuật hứng …
Việc sắp xếp câu 6 âm hoặc 5 âm th-ờng không theo một quy cách nào nhất định, mà tuỳ theo việc thể hiện nội dung t- t-ởng để tác giả lựa chọn nhịp điệu câu thơ cho thích hợp Việc vận dụng một cách linh hoạt thơ luật
Đ-ờng tạo cho thơ Nôm Nguyễn Trãi có âm điệu riêng nhấn mạnh đ-ợc cái tình ý mà nhà thơ muốn gửi gắm Rõ ràng đa số thơ Nôm Nguyễn Trãi
có cấu trúc âm thanh nhịp điệu t-ơng đối tự do Chính vì thế một phần, mà thơ Nôm Nguyễn Trãi không đơn điệu và th-ờng phù hợp với cảm xúc chân chất, hồn nhiên và nhiều khi sâu sắc, mới mẻ của nhà thơ Thi Duy
Quốc trong tác phẩm Tự Nôm yên Việt Nam văn hoá khi nói về sáng tác của Nguyễn Trãi đã viết : "Giá trị văn học của Quốc âm thi tập là ở chỗ nó
ra đời trong bối cảnh Hán ngữ độc bá trên văn đàn nên sáng tác nó thực không dễ, sau nữa sự xuất hiện thơ lục ngôn lộ rõ tác giả đang nỗ lực thoát khỏi ảnh h-ởng của Đ-ờng thi "
Trang 15Trong Thơ Nôm Nguyễn Trãi, tính dân tộc đã thể hiện một cách sinh
động Là một ng-ời anh hùng nh-ng trong thơ rất bình dị, thể hiện tình yêu thiên nhiên đất n-ớc, yêu cuộc sống dân dã nơi làng quê Nguyễn Trãi đã
sử dụng tiếng mẹ đẻ để miêu tả phong vị quê h-ơng đất nứơc rất đậm đà, ý
vị
Bên cạnh những hình t-ợng -ớc lệ của văn học Trung Quốc (Tùng, cúc, trúc, mai) còn có rất nhiều hình t-ợng nghệ thuật đ-ợc xây dựng trực tiếp từ chất liệu đời sống: ao bèo, bè muống, lãnh mồng tơi, luống cày, bầy cá, con lợn, con mèo, quả núc nác… Sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn bút pháp nghệ thuật miêu tả với bút pháp nghệ thuật -ớc lệ tạo nên một sự cách tân độc đáo trong thơ Nôm Nguyễn Trãi Chính những điều đó đã tạo nên một bút pháp nghệ thuật Thơ Nôm vừa cổ kính, vừa gần gũi, quen thuộc, vừa giản dị vừa tinh tế Đặc là hình t-ợng cây chuối- có thể nói rằng đây là một sự sáng tạo tuyệt vời của nhà thơ ức Trai :
Tự bén hơn xuân tốt lại thêm
Đầy buông lạ, mầu thâu đêm Tình th- một bức phong còn kín Gió nơi đâu g-ợng mở xem
(Quốc âm thi tập-Cây chuối)
Không có một công thức hay một -ớc lệ "t- t-ởng" nào trong hình t-ợng cây chuối, mà chỉ có những rung động ngẫu hứng, chỉ có say mê và sáng tạo, chỉ có những liên t-ởng trực tiếp từ đối t-ợng miêu tả, tàu lá chuối non còn đang cuộn và cao cả hơn sâu sắc hơn chỉ có tình yêu thiên nhiên tha thiết, mới tạo nên một hình t-ợng nghệ thuật: vừa chân thực và thơ mống : bữc tệnh thư ‚phong còn kín‛, còn sứ e ấp, dịu d¯ng nên giõ cõ
mở thì chỉ là "g-ợng" thôi, nhẹ thôi
Đặc biệt Nguyễn Trãi sử dụng rất nhiều từ Việt cổ, những từ thông dụng trong đời sống, những từ Hán đ-ợc Việt hoá để thể hiện ý thơ, thể hiện nội dung t- t-ởng của bài thơ, đó là những từ nh- : Bui, Duy …
Trang 16Bui một lòng cực hiểm thay (Mạn thuật-Bài 4) Bui một tấc lòng -u ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn n-ớc triều dâng (Thuật hứng - Bài 5)
Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn vận dụng một cách chủ động và sáng tạo tục ngữ, thành ngữ và khẩu ngữ trong thơ của mình, tạo nên một nét phong cách mới Thành tựu lớn nhất về mặt này của ông chính là ông đã xây dựng ngôn ngữ văn học trên cơ sở ngôn ngữ của nhân dân, ngôn ngữ văn học dân gian
Nếu nh- nói rằng Thơ Nôm Nguyễn Trãi vừa sinh động vừa hàm súc, vừa chân chất vừa mĩ lệ, lại nhiều khi gân guốc độc đáo thì tr-ớc hết là vì
ông có tâm hồn phong phú, t- t-ởng cao đẹp, hình ảnh tế nhị, tính cách phóng khoáng Nh-ng cũng không thể quên để thể hiện một cách đầy đủ và tinh tế tâm hồn ấy, t- t-ởng, tình cảm ấy thì ông đã biết sử dụng một cách khá thành thục kho văn liệu dân gian với những cảnh sắc, những hình t-ợng vốn quen thuộc trong đời sống nhân dân Ông đã biết khai thác một cách linh hoạt sự phong phú của ngôn ngữ Việt đ-ợc bồi d-ỡng trong thực tiến dân tộc Ngoài ra nếu nh- Nguyễn Trãi đạt đ-ợc nhiều thành tựu xuất sắc thì cũng là vì ông không gò bó trong khuôn khổ một thể cách thi luật
cố định mà luôn có sự cách tân mới mẻ góp phần to lớn vào sự phát triển của thơ Nôm dân tộc cũng nh- trong việc khẳng định dấu ấn phong cách của bài thơ (thể thơ thất ngôn xen lục ngôn)
1.2.2 Thơ Nôm của Lê Thánh Tông và các tác giả "Hội tao đàn":
Hồng Đức quốc âm thi tập phản ánh một thời đại thái bình thị trị
d-ới triều Lê Do vậy nếu nh- Quốc âm thi tập là tập thơ trữ tình đặc tả nỗi lòng nhiều tâm sự, ấm ức, dằn vặt, cô đơn, thất vọng của Nguyễn Trãi thì
đây là tập thơ mang không khí lạc quan, sáng sủa, khẳng định, ngợi ca chế
độ phong kiến, là lời ca, là tiếng reo vui của lòng ng-ời tr-ớc đất trời và chế
độ phong kiến
Trang 17Đây là một tập Thơ Nôm lớn, không phải là tác phẩm của riêng một tác giả mà là tuyển tập của nhiều tác giả, nhiều văn bút khác nhau Điều đó thể hiện rõ ở những chùm thơ có tính chất x-ớng hoạ hoặc nhiều bài thơ cùng lấy chung đề tài, chủ đề Tập thơ gồm 328 bài thơ đ-ợc chia thành : Thơ thù tạc - x-ớng hoạ, thơ ca tụng công đức, ca ngợi triều đại, vịnh cảnh
thiên nhiên, vịnh nhân vật lịch sử Hồng Đức Quốc âm thi tập khá phong
phú về số l-ợng bài thơ nh-ng lại thể hiện khuynh h-ớng sáng tác cung
đệnh, "nặng vẹ ngâm hoa vinh nguyết, đỗi chẽn ho³ vần‛, mượn thơ văn làm trò tiêu khiển cho lớp ng-ời sống đài các phong l-u Cảm hứng sáng
tạo chủ yếu h-ớng về những cái tao nhã trang trọng Vì vậy hình thức Hồng
Đức Quốc âm thi tập là thơ cung đình mang màu sắc cung đình
Về ph-ơng diện bút pháp nghệ thuật, cũng nh- Thơ Nôm Nguyễn
Trãi , thể thơ chủ yếu trong Hồng Đức Quốc âm thi tập là thể thơ thất ngôn
Đ-ờng luật Kế thừa tinh hoa văn học truyền thống, những câu thơ trong
Hồng Đức Quốc âm thi tập đã có sự chuyển biến linh hoạt Thể thất ngôn
xen lục ngôn khá thành thục đặc biệt có bài hoàn toàn lục ngôn nh- bài :
Nơi gọi Bồng, nơi gọi Nh-ợc Hai bên góp làm Non N-ớc
Đá chồng hòn thấp hơn cao Sóng giục lớp sau lớp tr-ớc Phật h- vô, cảnh thiếu thừa, Khách danh lợi buồm xuôi ng-ợc Vẳng nghe trên gác boong boong Lẩn thẩn d-ới chùa lấn b-ớc
(Chùa non n-ớc)
Đặc biệt nhịp điệu của câu thơ lục ngôn rất linh hoạt, chúng ta th-ờng bắt gặp những câu nhịp 3/3 vốn không có trong thơ lục ngôn hoàn chỉnh Số chữ trong các bài thất ngôn xen lục ngôn không nhất định, tạo
Trang 18khả năng cho thơ vận động biến đổi, phá vỡ kết cấu cũ để tạo ra kết cấu mới của bài thơ có phần tự do hơn
Trong bài thơ trên, tình cảm, vẻ đẹp của cảnh sắc chùa non n-ớc có
sự biến hoá theo nhịp điệu của những cặp câu lục ngôn
Hồng Đức Quốc âm thi tập cũng vận dụng các thành ngữ, tục ngữ,
ca dao, dân ca vào thơ ca Tuy nhiên, so với Nguyễn Trãi các tác giả Hồng
Đức sử dụng ít hơn Theo thống kê của Nguyễn Phạm Hùng trong Trên
hành trình văn học trung đại thì Quốc âm thi tập sử dụng tới gần 40 câu
thành ngữ, tục ngữ còn Hồng Đức Quốc âm thi tập chỉ có dăm ba tr-ờng
hợp, trong một số bài có tính giáo huấn nh- :
ấy khuôn hay mẹo thợ nào lừa ? M-ớp đắng khen ai đổi mạt c-a (T-ơng phùng) (Thành ngữ : Mặt của m-ớp đắng)
Đạo cha đức mẹ chất tày non Lấy thảo mà thơ ấy đạo con (Tử đạo)
Điều cần l-u ý là nếu nh- Nguyễn Trãi sử dụng nguyên vẹn nhiều
thành ngữ, tục ngữ thì ở Hồng Đức Quốc âm thi tập không hề có điều đó
Đó là bởi Hồng Đức Quốc âm thi tập mang nặng tính cung đình, nó thiên
về ngợi ca, khẳng định lạc quan.Còn Quốc âm thi tập lại nặng tính bình
dân, là lời than thở, là nỗi đau đời của nhà thơ ức Trai
Cũng cần chú ý tới một nét đặc sắc của ngôn từ Hồng Đức Quốc âm
thi tập đó là những tính từ chỉ tính chất, mức độ thể hiện khả năng sử dụng
từ thuần việt một cách thành thạo, điêu luyện của các tácgiả Hồng Đức
Quốc âm thi tập (kêu eo éo, c-ời khặc khặc, xanh êu ểu, múi nồng nã …
Đặc biệt, so sánh với Hồng Đức Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi các tác giả Hồng Đức sử dụng rất rộng rãi các từ láy Trong Hồng Đức
Trang 19Quốc âm thi tập có khoảng 550 từ láy, chủ yếu là từ láy đôi Cũng bắt đầu
xuất hiện từ láy ba, điều này hầu nh- Quốc âm thi tập không có Ví dụ: t-ới t-ới t-ơt, tính tình tinh … Trong Hồng Đức Quốc âm thi tập có những bài thơ đ-ợc sáng tác chủ yếu bằng thơ láy.Ví dụ bài Ng- giang hiểu vọng ,bài Hoạ vần, bài Vịnh trăng số 10.Cả 2 đều có tỷ lệ 32 chữ là từ láy /54
chữ toàn bài :
Cày cạy nàng vào khéo hữu tình Mặt làu bàu, vóc thỏ thanh thanh Tròn tròn, méo méo in đòi thuở Xuống xuống, lên lên suốt mấy canh Tháng tháng liếc qua làu đỏ đỏ
Đêm đêm liền tới tr-ớng xanh xanh Yêu yêu dấu dấu đàn ai gãy
Tính tình, tình hình, tính tính tinh (Họa vần bài vịnh trăng - bài 10)
Nh- vậy, ta thấy rằng không chỉ nhiều về số l-ợng, các tác giả thời Hồng Đức còn là những ng-ời có đóng góp rất lớn trong việc sáng tạo từ
láy Chính sự sáng tạo này làm cho Hồng Đức Quốc âm thi tập đôi khi mộc
mạc, chất phác nh-ng đậm đà phong vị dân tộc Nhờ có hệ thống từ láy mà tính chất khuôn sáo, -ớc lệ của những điển cố, những thi liệu Hán học trong tác phẩm phần nào đ-ợc hạn chế Nó còn có tác dụng tăng giai điệu, tính nhạc của câu thơ, âm điệu câu thơ phong phú hơn phù hợp cho việc diễn tả những tâm trạng reo ca, sảng khoái, vui vẻ , say s-a Tuy nhiên lại phải thấy
rằng, việc sử dụng từ láy trong Hồng Đức Quốc âm thi tập nhiều khi cũng
cầu kỳ, đậm phong cách bác nhã, cung đình Nh-ng có thể khẳng định rằng việc sử dụng và sáng tạo từ láy là sự đóng góp lớn của Lê Thánh Tông và các tác giả thời Hồng Đức đối với sự phát triển ngôn ngữ của dân tộc, của Thơ Nôm đ-ờng luật
Trang 20Nh- vậy, xét về mặt nghệ thuật, Hồng Đức Quốc âm thi tập là sự kế thừa và phát triển truyền thống Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi Nó có
điểm hạn chế nhất là ở nhịp, vần, ở việc sử dụng khẩu ngữ, thành ngữ, tụcngữ… Song nó cũng có mặt v-ợt trội nh- việc sang trọng hoá, quan ph-ơng hoá ngôn ngữ bình dân, việc sử dụng một cách thành thục, phong phú từ láy thuần Việt … đó còn là việc sử dụng chủ yếu vần trắc trong sáng tác thơ
Đây là tập thơ phong phú,đa dạng về đề tài, chủ đề, bút pháp Nó kết hợp cả phong cách cao nhã và phong cách bình dân, -ớc lệ và hiện thực, trữ tình và tự sự, trang nghiêm và hài h-ớc… Đặc biệt tập thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn hài hoà giữa phong cách thơ cung đình thiên về từ ch-ơng với phong cách thơ điền viên chú trọng tính cụ thể sinh động của đời sống
và phong cách triết lý Các tác giả thời Hồng Đức với Hồng Đức Quốc âm
thi tập đã đánh dấu một b-ớc rõ rệt văn học Nôm, đặc biệt nâng cao khả
năng biểu hiện của ngôn ngữ văn học dân tộc
Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm có khoảng 170 bài trong Bạch Vân Quốc ngữ thi
tập _ Có thể nói rằng đây là sự kế thừa thành tựu thơ Nôm của Nguyễn Trãi,
của những tác giả Hồng Đức Quốc âm thi tập Nó góp phần làm cho câu
thơ Tiếng Việt của dân tộc giản dị, trong sáng hơn, gắn với cuộc sống dân tộc hơn Thơ Nôm Đ-ờng luật của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đ-ợc Việt hoá thêm một b-ớc nhất là về mặt từ ngữ, rất gần với thơ Nôm Nguyễn Công Trứ, thậm chí Nguyễn Khuyến thời sau Trong những bài thơ đó, không tự
Trang 21giác mà nhà thơ đã phá vỡ truyền thống khuôn sáo, cầu kỳ, -ớc lệ trong phong cách thơ Nôm thời Lê Thánh Tông
Sáng tác của ông là tiếng nói chung của cả tầng lớp tri thức dân tộc phải sống trong buổi suy vi của chế độ phong kiến Do sống vào thời kỳ xã hội phong kiến "… không còn cảnh t-ợng thái bình", "khắp nơi chỗ nào củng ‚m²u ch°y th¯nh sông", "x-ơng chất nh- núi" vì những cuộc hỗn chiến giữa các phe phái phong kiến và ngay chính bản thân ông cũng đã trải qua nhiều thăng trằm biến thiên của lịch sử cho nên thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm đậm nét phong cách triết lý nhân sinh thế cuộc - triết lý về cuộc đời,
về chí khí, bộc lộ niềm lo lắng thất vọng của một bậc đại trí thức phong kiến, tr-ớc sự xuống dốc của đạo đức lễ giáo phong kiến, đồng thời là sự phê phán, tố cáo những thói đời đen bạc - mặt trái của đồng tiền và xã hội phong kiến, tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa và tội ác của bọn thống trị Triết lý chữ "Nhàn", "Tiên" ; quan niệm "xuất xử" đ-ợc đặt ra th-ờng xuyên trong thơ ông
Tính triết lý trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm ta cũng đã bắt gặp trong thơ Nôm Nguyễn Trãi "Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nói đến cảnh nhàn tản nh- thơ Nguyễn Trãi, nh-ng không chứa đựng khí vị -u uất của một nhân cách cao cả bị chèn ép, mặt khác lại chán nản về đại cục thiên hạ
và những suy t- về triết lý"[6,Tr 451].Nh- vậy, có thể nói rằng nếu thơ Nôm Nguyễn Trãi là thơ hành động, h-ớng về t-ơng lai thì thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm là thơ của một ẩn sĩ cũng h-ớng về t-ơng lai nh-ng
đầy thất vọng Bởi thực trạng xã hội lúc bấy giờ không thể cho ông sự tin t-ởng nh- Nguyễn Trãi Cả hai đều là thơ triết lý nh-ng Nguyễn Trãi là triết
lý của một nhà thơ hành động còn Nguyễn Bỉnh Khiêm là triết lý của một
ẩn sĩ có tính chất giáo huấn
Phong vị riêng của thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu là ở tính triết lý và giáo huấn Thơ Nôm của Bạch Vân c- sĩ th-ờng mang một ý tứ
về lẽ biến dịch, lẽ t-ơng sinh, t-ơng khắc, một sự răn dạy, sự mỉa mai rút
ra từ kinh nghiệm thực tiển của nhân dân và sự chiêm nghiệm của bản thân
Trang 22nhà thơ Kết cấu của những bài thơ ấy so với thơ truyền thống không có gì
đặc biệt, nh-ng cái mới là chiều sâu của sự suy t-ởng và lối thể hiện giản
dị, tự nhiên
Nguyễn Bỉnh Khiêm có những đóng góp tích cực vào sự phát triển của thơ Nôm, không chỉ về mặt nội dung, đề tài mà còn thể hiện ở sự độc
đáo trong bút pháp nghệ thuật của mình
Bạch Vân c- sỹ đã xây dựng nên những hình t-ợng nghệ thuật mới trên nền tảng truyền thống từ ch-ơng cổ Ông đã sáng tạo nên những hình t-ợng để chỉ thói đời, dựng nên bức tranh về thời đại mình bằng những "vật liệu" đơn giản nhất, gần gũi nhất trong tâm hồn ng-ời Việt:
" Thớt có tanh tao ruồi đạm miệng Ang không mật mỡ kiến bò chi "
(Bạch vân Quốc ngữ thi tập bài 66)
Kiến thác bởi ang bùi ngọt Ruồi qua vì bát đắng cay
(Bạch vân Quốc ngữ thi tập bài 58)
Cửa v-ơng nhện, nhân vì vắng Thớt quyền ruồi, ấy bởi tanh
(Bạch vân Quốc ngữ thi tập bài 26)
Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, những thớt, ang, thịt, mỡ, kiến, ruồi… đã trở thành những ẩn dụ mới - những hình t-ợng "thói đời"
Về ngôn ngữ, thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiếp thu ảnh h-ởng của ngôn ngữ văn liệu Hán học, đồng thời ông đã cố gắng Việt hoá những phần vay m-ợn ấy Với thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể khẳng định sự giản dị, thanh thoát của ngôn ngữ văn học dân tộc, trong việc đồng hoá những chất liệu Hán học, trên cơ sở tiếp thu ngày càng nhiều ảnh h-ởng của ngôn ngữ nhân dân và ngôn ngữ văn học dân gian Ngôn ngữ đời sống trong thơ ông đạt tới một trình độ nghệ thuật khá cao Những từ quen dùng trong khẩu ngữ vào thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm bổng trở nên thi vị lạ th-ờng:
Nha rau lại tiếc mùi canh ngọt
Trang 23Nếm ếch laị thèm có giống măng
(bài 90)
Đặc biệt Tuyết Giang phu tử sử dụng một cách linh hoạt, sáng tạo nhiều tục ngữ, thành ngữ Không những thế, nhiều câu thơ laị có dáng dấp tục ngữ, thành ngữ, trở thành những cụm từ có tính chất châm ngôn, tạo nên nhịp điệu vững chắc cho câu thơ
Vuốt mặt còn chừa qua mũi nọ Rút dây lại đề đồng rừng chăng
(Bài 96)
- Ng-ời ba đấng, của ba loài Gần son thì đỏ, gần mực thì đen
- Mùi nọ có bùi không có ngọt Thức kia chầy thắm laị chầy phai
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao R-ợu đến gốc cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tự chiêm bao
Có ai biết đ-ợc lòng tri kỷ Vòi vọi non cao nguyệt một vầng
Đồng thời Nguyễn Bỉnh Khiêm còn sử dụng phép đối và cách ngắt nhịp nghệ thuật:
Trang 24Trời còn đấy, đất còn đấy
Bể biển, non dời, cạn lại sâu
(Bài 103) Thế gian có hỏi : lời ai nhủ
Mụ hãy rằng: lời khách dại ngây
(Bài 132)
Tr-ớc Nguyễn Bỉnh Khiêm và cùng thời với ông, nhiều nhà thơ đã dùng thơ lục bát và song thất lục bát Nh-ng tập thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm không có một bài nào sử dụng hai thể thơ dân tộc ấy Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm làm theo thể Đ-ờng luật hoặc Đ-ờng luật pha lục
ngôn Trong số 170 bài thơ Nôm ở tập Bạch vân quốc ngữ thi tập thì có
khoảng 100 bài là thể pha lục ngôn Nh- vậy là thể Đ-ờng luật ch-a chiếm -u thế, mà thể thất ngôn pha lục ngôn từ tr-ớc vẫn thông dụng Trong thể thất ngôn pha lục ngôn số l-ợng các câu lục có thể nằm bất cứ vị trí nào ở trong bài thơ Thể pha lục ngôn vẫn ch-a có quy cách chặt chẽ, hay nói chính xác hơn vẫn ít nhiều tự do Điều đó rất phù hợp với nội dung cần diễn tả và nhịp điệu cần biến đổi, để thể hiện một cách chân thực và uyển chuyển cảm xúc của nhà thơ
Ví dụ: Bài số 76:
áng công danh khá cắp tay Nhiều phen đã khỏi tiếng tai bay Hoa mai bạc vì trăng tỏ
Bóng trúc th-a bởi gió lay
Ưu ái chẳng quên niềm tr-ớc Thị phi tiếng nói sự nay
Đã từng trải sơn hà hết
Đ-ờng thế nhiều nơi hiểm hóc thay
Tuy nhiên, số l-ợng câu thơ 6 chữ trong Bạch vân quốc ngữ thi tập giảm khá nhiều so với Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập Điều
Trang 25này phản ánh quy luật phát triển của thơ Nôm Đ-ờng luật: hiện t-ợng không theo quy cách thơ Đ-ờng luật giảm dần và quá trình phát triển thơ Nôm đ-ờng luật là đi từ thế ch-a ổn định tới ổn định
Việc dùng thơ Đ-ờng luật để trào phúng mạnh nha từ Nguyễn Trãi
Đến Hồng Đức quốc âm thi tập hiện t-ợng này rõ nét hơn Tới Nguyễn
Bỉnh Khiêm, chức năng trào phúng của thơ Nôm đ-ờng luật đã đ-ợc khẳng
định, là một nhà đạo đức mực th-ớc không thể chê trách, một triết gia lớn của thời đại, một bậc thầy đầy uy vọng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sử dụng một cách đắc địa bút pháp trào phúng trong sáng tác thơ Nôm của mình
Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm kết hợp đ-ợc cái gân quốc, khoẻ mạnh của thơ Nôm Nguyễn Trãi với sự thuần phục của thơ Nôm thời Lê Thánh Tông Thành tựu về thơ Nôm của ông xứng đáng với truyền thống thơ ca dân tộc và thơ ca dân gian
Bàn về thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Khâm Lân viết : "Văn ch-ơng của ông rất là tự nhiên, không gò gẫm, đơn giản mà khoáng đạt,
đạm bạc mà có ý vị, đều có liên quan đến việc dạy đời" Phan Huy Chú
cũng viết : "Một ngàn bài thơ trong Bạch vân am thi tập đại thể là thanh
tao, tiêu sái, hồn hậu, phong nhã, có ý thức tự nhiên" (Theo khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Hà Dung: "Phong cách thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương") Cõ được sứ ‚gi°n dị‛, ‚tứ nhiên‛, ‚thanh tao‛ ấy chính l¯ do chân tình của ông đối với đời Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ triết lý, có phong cách giáo huấn nh-ng tấm lòng hiền hậu chứa nặng tình đời, "-u thời mẫn thế"
1.2.4 Thơ Nôm bà huyện Thanh Quan
Làm nên vẻ rạng rỡ của Đ-ờng luật Nôm thời kỳ này không chỉ có nét h-ơng xuân của nữ sĩ họ Hồ mà còn có cả g-ơng mặt "hoài cổ" của thơ
bà huyện Thanh Quan Với ch-a đầy 10 bài thơ, bà huyện Thanh Quan vẫn
có một vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học Việt Nam Thơ bà huyện Thanh Quan thể hiện một nét tâm lý rất riêng, đó là thoát ly hiện thực, trốn
về quá khứ, đề cao nhà Hậu Lê Có thể nói rằng tâm hồn dân tộc đ-ợc biểu
Trang 26hiện một cách tuyệt vời trong một phong cách Đ-ờng thi mẫu mực, chải chuốt nh-ng không sáo mòn, công thức Bà đã góp phần làm cho thơ Nôm
Đ-ờng luật thời kỳ này trở nên phong phú, đa dạng
Đến Bà huyện Thanh Quan và Hồ Xuân H-ơng, dòng Thơ Nôm
Đ-ờng luật đã xuất hiện phong cách tác giả Đây là b-ớc phát triển v-ợt bậc Tr-ớc hai nữ sĩ ta chỉ quan sát thấy phong cách thời đại và phong cách thể loại của Thơ Nôm Đ-ờng luật Đến đây chúng ta có thể nói tới phong cách Bà huyện Thanh Quan-một phong cách độc đáo không dễ trộn lẫn
Thơ Nôm Bà huyện Thanh Quan là thơ hoài cổ, thể hiện tâm sự muốn thoát ly hiện thực xã hội, trốn vào quá khứ Bà huyện Thanh Quan cũng nh- tầng lớp trí thức phong kiến bất mãn với nhà Nguyễn, nuối tiếc nhà Lê Không còn hy vọng gì ở t-ơng lai, bà chỉ còn cách quay về với dĩ vãng, đó
là cái dĩ vãng xa xăm của xe ngựa lâu đài thời Lê thịnh trị Trong Thăng
Long thành hoài cổ:
Tạo hoá gây chi cuộc hí tr-ờng
Đến nay thấm thoắt mấy tinh s-ơng Lối x-a xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịnh d-ơng
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt N-ớc còn cau mặt với tang th-ơng Ngàn năm g-ơng cũ soi kim cổ Cảnh đấy ng-ời đây luống đoạn tr-ờng
Kinh đô thời ấy không còn ở Thăng Long mà đã dời vào Thuận
Hoá Đi ngang qua thành cũ vắng vẻ hoang tàn bà không ngăn đ-ợc nỗi lòng chan chứa cảm hoài và nỗi đau đớn xót xa tr-ớc cảnh đời tang th-ơng dâu bể Đứng tr-ớc cảnh tang th-ơng đau đớn nh- vậy, bà cảm thấy nặng lòng với dĩ vãng Bởi những gì đẹp đẽ, rực rỡ đã thuộc về quá vãng Vì vậy
đi vào thế giới thơ Bà huyện Thanh quan là sống trong những buổi chiều tà:
"B-ớc tới đèo ngang bóng xế tà" (Qua đèo ngang), "Chiều trời bảng lảng
bóng hoàng hôn" (Chiều hôm nhớ nhà)…
Trang 27Nỗi niềm hoài cổ của bà lại bừng dậy khi bà đến viếng chùa Tuấn Quốc, nơi mà các Vua Lê ngày tr-ớc th-ờng ngự ra để hóng mát Cũng một tấm lòng chiêm cung ng-ỡng vọng, cũng một niềm thắc mắc kín đáo tr-ớc những cuộc phế h-ng và cũng một nỗi bâng khuâng mến tiếc "ng-ời x-a cảnh cũ":
"Trấn bắc hành cung cỏ dãi dầu Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau"
(Chơi chùa Tuấn Quốc)
Cảm hứng hoài cổ của Bà huyện Thanh quan có đặc điểm riêng : Con ng-ời cá nhân đã bắt đầu đối diện với tr-ờng kỳ lịch sử và cảm nhận tất cả nỗi cô đơn, bé nhỏ, mong manh của mình, h-ớng về quá khứ nh-ng không phải để trốn tránh hiện tại mà là tìm cách khẳng định mình trong hiện tại
Thơ bà huyện Thanh quan còn thể hiện niềm th-ơng nhớ gia đình, nỗi lòng cô đơn lẻ loi trong cuộc đời Nhìn cảnh vật qua lăng kính buồn bã, cô đơn ấy nên cảnh vật th-ờng hiện ra d-ới bóng chiều tà Nh- vậy là cảnh vật nó không hiu quạnh, tiêu điều mà chính vì lòng nhà thơ hiu quạnh đúng
nh- Nguyễn Du từng nói Ng-ời buồn cảnh có vui đâu bao giờ Giữa cảnh
thiên nhiên ấy, bà càng thêm "nhớ n-ớc, "th-ơng nhà", Bà muốn tìm sự an
ủi cho cõi lòng, nh-ng chỉ thấy mênh mông "trời non n-ớc", mịt mù, xa xăm Không ai tâm sự, không ai chia sẽ nỗi đau khổ của bà trong cái cảnh
cô đơn đến lạnh ng-ời Một mảnh tình riêng ta với ta (Qua đèo ngang) Đây
là cái tâm sự lo lắng của một con ng-ời lúc nào cũng buồn man mác, nhớ mênh mông, tự thấy mình lẻ loi trơ trọi
Từ nội dung đó bà Huyện Thanh Quan thể hiện tài năng của mình qua bút pháp nghệ thuật riêng biệt, độc đáo Thơ bà chủ yếu là thơ Đ-ờng luật thất ngôn bát cú, không có thơ tứ tuyệt cũng nh- không có bài thơ thất ngôn xen lục ngôn Niêm, luật, vần đối, tiết tấu, bố cục, đ-ợc bà sử dụng chặt chẽ, nhất là bút pháp tả cảnh ngụ tình điếu cổ th-ơng kim
Có thể nói rằng thơ bà huyện là một tr-ờng hợp đặc biệt Trong xu thế giảm dần lớp từ Hán Việt, thì Bà huyện Thanh Quan lại là ng-ời sử
Trang 28dụng từ Hán việt nhiều nhất, là ng-ời khôi phục từ Hán Việt trong đ-ờng luật Nôm Hiện t-ợng nghịch lý này, không có lý do thể loại, mà là do phong cách của tác giả Một tâm hồn đầy hoài niệm, một tấm lòng luôn h-ớng về quá khứ với tất cả niềm tiếc nuối, đau xót, khi cần phải diễn đạt, tất yếu tìm đến kho từ vựng Hán Việt Bởi "từ Hán Việt gợi cho ta hình ảnh cða thễ giới kh²i niếm im lệm, bất đống‛, thễ giới cða dĩ v±ng vĩnh h´ng
Bà Huyện Thanh Quan sử dụng nhiều từ láy trong thơ của mình, đặc biệt d-ới ngòi bút trầm t- của nữ sĩ, nghệ thuật đảo ngữ đ-ợc sử dụng một cách đắc địa, lý thú:
Lom khom d-ới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà
(Qua đèo ngang)
Đảo ngữ nhấn mạnh vào dáng "lom khom" của chú tiều, nhấn mạnh vào sự th-a thớt "lác đác" của mấy nhà chợ làm cho hình bóng con ng-ời đã nhỏ càng nhỏ hơn, cuộc sống đã hiu quạnh càng thêm hiu quạnh Câu thơ
có đầy đủ các yếu tố của một bức tranh sơn thuỷ hữu tình: có núi, có sông,
có ng-ời tiều phu… Thế nh-ng những yếu tố ấy hợp lại, qua sự cảm nhận của nhà thơ lại gợi lên một miền sơn c-ớc heo hút nơi biên ải thời x-a
Trong thơ Bà huyện Thanh Quan, ta còn bắt gặp rất nhiều hình ảnh thiên nhiên vũ trụ bao la, kỳ vĩ
- Trời chiều bảng bảng bóng hoàng hôn
- Dừng chân đứng lại trời non n-ớc
Trong sáng tác của mình, bài Chiều hôm nhớ nhà, Cùng với Thăng
long thành, Qua đèo ngang làm thành chùm thơ 3 bài nổi tiếng - tiêu biểu
cho phong cách, bút pháp nghệ thuật riêng của Bà huyện Thanh Quan Với hai câu thơ đầu, ng-ời đọc lại bắt gặp một thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật quen thuộc đến thành cổ điển của thơ x-a, đến thành phong cách thơ Bà huyện Thanh Quan: Buổi chiều với bóng hoàng hôn Cảnh chiều hôm đ-ợc gợi tả cụ thể hơn trong hai câu thực và hai câu luận ở đây có sự
Trang 29kết hợp giữa bút pháp t-ợng tr-ng, -ớc lệ quen thuộc của thơ cổ và đôi ba nét bút cụ thể:
Gác mái, ng- ông về viễn phố
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn
Trong 4 hình ảnh đã trở thành công thức, -ớc lệ của thơ cổ (ng-, tiều, canh, mục) thì tác giả đã sử dụng 2 hình ảnh "ng- ông", "mục tử" Những từ Hán Việt xuất hiện nhiều ở đây đã đem đến cho bức tranh cảnh chiều hôm những đ-ờng nét thanh nhẹ, chuyển cảnh thực ngoài đời thành bức tranh thuỷ mặc Phan Ngọc đã nhận xét nh- thế này "Các từ Hán Việt nữ thi sĩ dùng đã đẩy ta vào thế giới muôn đời Trên đời chỉ có những ông chài, những thôn vắng, những trẻ chăn trâu… làm gì có những ng- ông, viễn phố, mục tử, cô thôn?… Bằng cách này Bà huyện Thanh Quan kéo ta về cõi vĩnh viễn của ý niệm và nỗi u hoài của nhà thơ là nỗi u hoài của caí kiếp ng-ời không biết đến tháng năm, thội đ³i‛ {10, Tr 53}
Mặt khác, chính sự kết hợp giữa bút pháp -ớc lệ và nét bút cụ thể đã tạo ra bức tranh cảnh chiều hôm vừa nh- thuộc dĩ vãng, vừa nh- đang diễn
ra trong hiện tại, sinh động ở tr-ớc mắt Qua những câu thơ này, ng-ời đọc cảm nhận có một hoàng hôn muôn đời trong hoàng hôn cụ thể, có hoàng hôn chung của mọi ng-ời trong hoàng hôn riêng của một ng-ời Điều đó cho thấy nỗi nhớ nhà sâu sắc của tác giả, nỗi nhớ nh- vĩnh viễn vào không gian thời gian, hoà nhập giữa cái riêng và cái chung Ngoài ra tác giả còn sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình Các hình t-ợng không gian gợi sự xa xăm (viễn phố), đơn vắng (cô thôn), hiu hắt (s-ơng sa) thể hiện tâm trạng cô quạnh, nỗi nhớ nhà u hoài của kẻ tha h-ơng
Tóm lại, thơ Bà huyện Thanh Quan là thơ "hoài cổ" thể hiện nỗi niềm tâm sự riêng, phảng phất nỗi buồn của một cá nhân tr-ớc thời đại Thơ Nguyễn Trãi cũng buồn nh-ng âm ỉ, chảy bên trong một niềm tin Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có nhiệt tình nh-ng nh- hòn than đã tàn Còn thơ
bà thì nguội lạnh niềm tin, bà buồn và thất vọng Có thể nói, đối với văn học giai đoạn này, Bà Huyện Thanh Quan đã tạo cho mình một phong cách
Trang 30thơ Nôm riêng, một địa vị vững chắc trên văn đàn Trong một phong cách trang trọng đài các, một phong cách Đ-ờng thi chuẩn mực, thơ bà vẫn không tan biến vào cái chung, không hoà cái riêng vào cái chung nh- một t- t-ởng thẩm mĩ cốt lõi vốn có của thơ Đ-ờng Thơ bà Huyện Thanh Quan vẫn để lại một bản ngã - cả về nội dung cảm xúc và hình thức nghệ thuật không phai mờ trong văn học Việt Nam
12.5 Thơ Nôm Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Công Trứ là nhà thơ có vị trí đáng kể trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX Trong lúc chữ Hán trở lại địa vị độc tôn, thì sáng tác của Nguyễn Công Trứ hầu hết lại bằng chữ Nôm Nguyễn Công Trứ để lại khoảng 1000 b¯i thơ Nôm Ông l¯ ‚Nh¯ nho t¯i từ ‚ nên thơ ông mang phong cách riêng, góp phần đ-a Hán Nôm trở thành thể thơ dân tộc độc đáo
Đối với Nguyễn Công Trứ, mỗi câu thơ là một cảm khái, mỗi chữ là mốt ý nghĩa, mốt b¯i thơ l¯ mốt tâm sứ ‚Thơ cú tữc l¯ đời cụ và biết đời cụ
ta l³i c¯ng c°m thơ cú mốt c²ch thấm thía‛ 3,Tr558 - ‘Văn tữc l¯ ngưội‛ câu nói ấy hoàn toàn đúng với tr-ờng hợp Nguyễn Công Trứ
Thơ ông bao hàm một nội dung khá phức tạp, kết tinh một trạng thái
ý thức của thời đại: vừa thể hiện chí nam nhi; ý thức phụng sự, tôn thờ, đề cao nhà Nguyễn; tố cáo thế thái nhân tình đen bạc trong xã hội phong kiến; vừa thể hiện những nhu cầu những đòi hỏi tự nhiên của cá nhân nhà Nho Thơ ông vừa có phần thực tế vừa có phần thoát ly, vừa tích cực vừa không tích cực, thể hiện sự bế tắc của ông tr-ớc thực tại.Nội dung đó xuất phát từ con ngưội ‚Nh¯ Nho t¯i từ‛ sỗng v¯o thội kự x± hối phong kiễn suy vong sụp đổ, đó cũng là tâm lý chán ch-ờng hiện thực, sự vùng vẫy một lối thoát mới của một con ng-ời, một nhân cách…
Nhìn tổng quát thơ Nguyễn Công Trứ tập trung vào 3 chủ đề chính: Chí nam nhi, cảnh nghèo và thế thái nhân tình, triết lý h-ởng lạc Có thể nói rằng đây là những chủ đề gắn bó chặt chẽ với con ng-ời và cuộc đời tác giả
Trang 31Phần lớn thơ ca Nguyễn Công Trữ thuốc chð đẹ ‚Chí nam nhi‛, được ngưội ta dứ đo²n xuất hiến trong thội kự ‚đắc chí‛ cða cuốc đội l¯m quan của Nguyễn Công Trứ ở đây, ông nêu lên vấn đề lý t-ởng sống của con ng-ời, chủ yếu là của ng-ời con trai phong kiến Ông say s-a ca ngợi, tuyên dương ‚chí nam nhi‛, ‚chí anh hùng‛…Nối dung ‚chí nam nhi‛ chính l¯ lý t-ởng sống của ông Ông khẳng định rằng: sự tồn tại của bản thân trong cuộc đời này không phải là ngẫu nhiên, vô cớ mà là một sự hữu ý của trời
đất
Thiên phú ngô, địa phải ngô
Thiên địa sinh ngô nguyên hữu ý
(Nợ công danh)
Nh- vậy, qua thơ văn của mình, Nguyễn Công Trứ đã khẳng định một trách nhiệm lớn không thể thoái thác đ-ợc của bất cứ ai đã sống trong cuộc đời Hơn thế nữa ông cho rằng, cũng ở trên đời là mắc một món nợ lớn dứt khoát phải trả món nợ ấy- ‚nợ l¯m trai‛
Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông
(nợ tang bồng)
Nếu nh- Nguyễn Gia Thiều nhìn cuộc đời và con ng-ời đầy bế tắc, Phạm Thái nhìn cuộc đời đầy bi quan chán ch-ờng thì Nguyễn Công Trứ lại hùng hồn khẳng định cuộc đời và vai trò của con ng-ời trong cuộc sống Có lúc rơi vào hoàn cảnh khốn cùng, ông vẫn tin ngày mai sẽ khác Nguyễn Công Trữ l³c quan, yêu đội bời ông tin v¯o t¯i đữc cða mệnh ‚hửu chí sứ c²ch th¯nh‛ (Đưộng công danh)
Đặc biệt, Nguyễn Công Trứ tin ở sự rèn tâm, luyện chí của mình
‚Chi nam nhi‛ cða ông gắn liẹn với trung hiễu, quân thần khăng khít như
ông đ± tụng nhấn m³nh ‚ Không quân thần phú từ đễch ra ngưội‛
Với Nguyễn Công Trứ, từ hành động đến hanh lạc đều xuất phát từ một động cơ t- t-ởng thể hiện nhân sinh quan hoàn chỉnh của ông, một mục trong ch-ơng trình sống có lý t-ởng của ông Theo Nguyễn Công Trứ,
Trang 32hành động và hành lạc là trách nhiệm của con ng-ời khi kẻ sĩ đã hoàn thành nhiếm vú, khi ‚nợ tang bọng trong trắng vổ tay reo‛, thì kẻ sỹ có quyền
‚th°nh thơi thơ tũi với rượu bầu‛
Đối với ng-ời x-a, quan niệm hành lạc nh- vậy là một cách để tỏ với đời phẩm chất thanh cao của kẻ sỹ không màng danh lợi, không tham chức t-ớc, quyền cao Nh-ng về sau, Nguyễn Công Trứ đã nâng quan niệm hành lạc ấy lên thành một triết lý sống chi phối tất cả Đặc biệt, quan niệm hành lạc của Nguyễn Công Trứ mang đậm dấu ấn thời đại ở thời đại này, nhu cầu giải phóng tình cảm cá tính trở nên bức thiết Bên cạnh thú cầm,
kỳ, thi, tửu vốn là cơ sở tr-ờng của Nguyễn Công Trứ , ông còn say mê hát
ả đào Đây là một nét cá tính của Nguyễn Công Trứ và cũng là biểu hiện một b-ớc sa đoạ về t- t-ởng của ông Có thể nói, quá trình diễn biến t- tường cða Nguyển Công Trữ tụ ‚ Chí nam Nhi‛ đễn triễt lý h¯nh l³c l¯ quá trình sụp đổ hoàn toàn của lý t-ởng xã hội ở nhà thơ này
Nguyễn Công Trứ là một ng-ời theo tinh thần nho giáo tích cực.Ông có ý thức về cuộc sống và chú ý đến các vấn đề nhân sinh xã hội Những cảnh đời cay đắng, nghèo đói ,cơ cực đã để lại dấu ấn sâu sắc trong thơ văn ông
Nội dung trong thơ Nguyễn Công Trứ đã thể hiện cá tính của một
‚nh¯ nho t¯i từ‛ v¯ mốt phong c²ch thơ Nôm đốc đ²o Với nối dung ấy,
ông đã sử dụng bút pháp nghệ thuật đặc sắc thể hiện trên một số ph-ơng diện nh-:
Từ nội dung đến tên gọi rất nhiều bài thơ Nôm có tính chất đề vịnh-
về những đề tài truyền thống cũng nh- những đề tài mới ( vịnh thiên niên, vịnh 4 mùa, vịnh nhân vật lịch sử, vịnh cô gái già…)
Thơ Nguyễn Công Trứ không chịu gò bó trong khuôn sáo, -ớc lệ Trái lại thơ ông rất lãng mạn, lãng mạn từ hình thức, nội dung, đến quan niệm làm thơ Đặc biệt, ở thơ ông có sự bứt phá về cách hành văn, sử dụng
từ ngữ Ông sử dụng rộng rãi tục ngữ , cả tiếng địa ph-ơng: răng, rứa, mô, chứ, tao, mi
Trang 33Ngoài ra thơ ông còn có đặc điểm là cách diễn đạt bình dân.Nhìn chung, thơ Nguyễn Công Trứ dễ hiểu, gần gũi với lời ăn tiếng nói của quần chúng, ngôn ngữ cuộc sống chiếm phần lớn so với ngôn ngữ thơ ca Có thể nói, Nguyễn Công Trứ đã kế thừa truyền thống của Nguyễn Du, Hồ Xuân H-ơng… trong lĩnh vực sử dụng ngôn ngữ
Nguyễn Công Trứ làm thơ tứ tuyệt nhiều hơn thơ bát cú, đặc biệt
ông rất thành công trong việc sử dụng nghệ thuật chơi chữ trong thơ của mình
Nguyễn Công Trứ là tác giả có những đóng góp đáng kể vào quá trình dân chủ hoá nội dung và hình thức thơ Nôm Đ-ờng luật những tình cảm chân thành, phóng khoáng, cuộc sống đời th-ờng đ-ợc diễn đạt bằng lời thơ giản đơn, bình dị.Nhận xét của nhà thơ L-u Trọng L- về nghệ thuật thơ Nguyễn Công Trứ cho ta thấy vai trò của ông đối với lịch sử phát triển thơ Nôm đưộng luật‛… Trong thơ văn Nguyễn Công Trứ có một cái gì ch-a từng có trong văn ch-ơng Việt Nam - một nguồn cảm hứng mau lẹ, qủa quyết nh- đội cảm tử Cái thể ca trù nhờ phép thần của Nguyễn Công Trứ
đã trở nên một thể cách hoàn toàn Việt Nam, rất tích hợp với những diễn xuất hùng m³nh‛
1.2.6 Thơ Nôm Nguyễn Khuyến- Tú X-ơng
Nguyễn Khuyến- Tú X-ơng là 2 đại biểu cuối cùng của thơ Nôm
Đ-ờng luật, chuyển thơ Nôm Đ-ờng luật từ văn học trung đại sang văn học cận hiện đại Nếu nh- các tác giả thơ Nôm Đ-ờng luật trên chủ yếu thiên về bút pháp trữ tình, thì thơ Nôm của Nguyễn Khuyến và Tú X-ơng chủ yếu là bút pháp trào phúng Nhà thơ Xuân Diệu từng ví thơ Tú X-ơng và thơ Nguyễn Khuyến nh- 2 vế của một câu đối: Cái c-ời trong thơ Nguyễn Khuyến chủ yếu là thâm trầm hóm hỉnh, còn trong thơ Tú X-ơng lại chua chát, sâu cay
Với hai nhà thơ này, tầm khái quát nghệ thuật của thơ Nôm Đ-ờng luật vừa đ-ợc mở rộng vừa đ-ợc nâng cao hơn, chức năng phản ánh xã hội cða thề lo³i không chì dụng ờ mữc ‚trử trệnh thễ sứ‛, ‚tư duy thễ sứ‛ m¯
Trang 34còn v-ơn tới chỗ phản ảnh xã hội với những chi tiết hiện thực sinh động, phong phú Đặc biệt, điều đáng l-u ý là ở Tú X-ơng, Nguyễn Khuyến đã có
sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trào phúng và trữ tình trong những vần thơ
‚cưội ra nước mắt‛
Tiểu kết ch-ơng I
Thơ Nôm Đ-ờng luật d-ới góc nhìn bút pháp nghệ thuật, quả thật là rất phong phú, đa dạng Trên cái nền chung của của truyền thống, lại có những nét riêng độc đáo Điều đó cho ta thấy sự phát triển của văn hoá nói chung và của thơ Nôm Đ-ờng luật nói riêng, đồng thời đó cũng là dấu hiệu
để nhận biết phong cách nhà thơ một cách rõ ràng, chính xác hơn
Sau đây, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu bút pháp thơ Nôm truyền tụng
Họ Xuân Hương đề thấy được c² tính s²ng t³o đốc đ²o cða ‚B¯ chũa thơ Nôm‛ so với c²c t²c gi° cùng thội v¯ trước đõ
Trang 35là bút pháp căn bản
Nhìn từ góc độ lý luận, đặc điểm cơ bản của tác phẩm trữ tình là sự thổ lộ ý nghĩ, cảm xúc tr-ớc thế giới, trong đó tình cảm là mạch phát triển then chốt của tác phẩm
Tóm lại, đây chỉ là một giả thuyết khoa học, chúng tôi xin đ-ợc nêu lên để tìm hiểu
Từ nội hàm của khái niệm đề tài, khác với một số ý kiến khẳng định thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng viết về mọi hạng ng-ời trong xã hội phong kiến: vua chúa, quan lại, nhà s-, nho sỹ, anh hùng, hiền nhân, quân tử Chúng tôi cho rằng đối t-ợng trào phúng, đã kích thuộc tầng lớp trên, xét đến cũng chỉ
Trang 36có hai thành phần là nho sỹ và nhà s- Còn các nhân vật khác nh- vua chúa, quan lại, quân tử… xuất hiện trong thơ Nôm của nữ sĩ họ Hồ không phải là
đối t-ợng trào phúng, đả kích thực thụ mà đó là những nhân vật phụ, t-ởng nh- là phản diện nh-ng trên thực tế là để góp phần tô sức, làm bật nổi sức quyến rũ tự nhiên- cái trời ban cho ng-ời phụ nữ Về tầng lớp d-ới, đề tài khá nội rõ trong thơ bà- đó là viết về ng-ời phụ nữ và chính cá nhân tác giả
Xã hội phong kiến lấy Nho giáo làm quốc giáo Mọi t- t-ởng, lễ nghi trong xã hội đều lấy Nho giáo làm kim chỉ nam cho hành động Nho gi²o trõi buốc con ngưội trong nhửng quy định cðanõ như ‚tam cương ngủ thưộng‛, ‚Ngủ luân‛ ‚Thiên mếnh‛…Các nhà thơ nh- Nguyễn Trãi, Nguyển Bình Khiêm, Lê Th²nh Tông đẹu l¯ nhửng nh¯ Nho, l¯ ‚đế từ‛ cða ‚cừa Khồng sân Trệnh‛ nên chịu °nh hường sâu sắc cða tư tường Nho giáo Văn thơ của các tác giả này ít nhiều có tính chất dân dã, nh-ng nhìn chung các nhà nho đều thuộc dòng văn học bác học, thuộc tầng lớp trên Trong thơ họ, từ t- t-ởng đến đề tài đều bị trói buộc trong thiết chế Nho giáo, mang tính chất triết lý, giáo huấn nhiều, cho nên dù là viết bằng chữ Nôm thì thơ họ vẫn có vẻ uyên bác và xa lạ với quần chúng lao động Trong thơ Nôm, vấn đề đạo lý c-ơng th-ờng rất đ-ợc đề cao Theo thống kê của
Lã Nhâm Thìn, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có 12/21 bài có nội dung Nho giáo, Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm có 11/22 bài Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông có 5/9 bài Sở dĩ c-ơng
th-ờng, ngũ luân đ-ợc đề cao bởi vì đó là phần cơ bản, là hạt nhân của đạo Nho về mặt nhân sinh, xã hội Nhìn chung nó cũng xuất phát từ tinh thần
đẳng cấp, từ quan niệm một xã hội vua sáng tôi hiền của Nho giáo Nó triệt tiêu hoàn toàn ý thức cá nhân
Trái lại, thơ Hồ Xuân H-ơng là thơ của một trí thức bình dân, thơ bà cũng viết theo thể thất ngôn bát cú Đ-ờng luật, thất ngôn tứ tuyệt, nh-ng đó chỉ là mặt thể loại, còn đề tài, t- t-ởng, ngôn ngữ, hình ảnh trong thơ bà lại hoàn toàn mang phong cách bình dân, giản dị Thơ Hồ Xuân H-ơng mang tính chất dân chủ hoá ngày càng cao.Hơn nữa, bà cũng không phải nh-
Trang 37Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm là những Nho sỹ phong kiến luôn lo đời giũp nước, luôn mong mài thức hiến lý tường ho¯i b±o ‚trị quỗc, bệnh thiên h³‛ cða Nho gi²o Nhửng vấn đẹ Họ Xuân Hương quan tâm chì l¯ vấn đề con ng-ời với hạnh phúc lứa đôi, con ng-ời sống theo tự nhiên mà thôi.Thơ
Hồ Xuân H-ơng không có bài nào viết về ái -u, trung hiếu, không có bài nào viết về đạo làm ng-ời, đạo làm con, cũng không khuyên con ng-ời sống theo lễ giáo khổ hạnh của Nho gia.Thơ bà thoát ly hoàn toàn khỏi lễ
giáo phong kiến Trong Thơ Nôm Đ-ờng luật, L± Nhâm Thện viễt :‛Trong
văn học trung đại Việt Nam, Hồ Xuân H-ơng gần nh- là tr-ờng hợp duy nhất không viết d-ới bất cứ một ánh sáng của học thuyết tôn giáo nào, không một học thuyết chính trị nào từ phía trên dọi xuống Hồ Xuân H-ơng
là sự giải toả hoàn toàn khỏi giáo điều phong kiến, là sự đoạn tuyệt khá triệt
đề với tinh thần đàng cấp cða Nho Gi²o‛ 14,tr46 ý kiến này chứng minh một điều rằng thơ Hồ Xuân H-ơng đã thoát ly hẳn những trói buộc của thiết chế phong kiến trong văn ch-ơng cũng nh- trong t- t-ởng.Những -ớc mong,‚ưu tiên cða b¯ chì l¯ nhửng vấn đẹ xoay quanh cuốc sỗng đội th-ờng, nó gần gũi với con ng-ời bình dân Cuộc sống đời th-ờng nguyên sơ, chất phác, dân dã đã trở thành đối t-ợng thẩm mỹ của thơ bà Hồ Xuân H-ơng không bao giờ m-ợn hình ảnh sáo cũ đậm chất phong kiến mà bà lấy những đề tài ngay trong cuộc sống bình th-ờng hàng ngày, từ những cảnh vật thiên nhiên rộng lớn đến các sự vật bình dị, nhỏ mọn, dẫu những
sự vật ấy có tầm th-ờng đến đâu cũng tạo nên đ-ợc cảm xúc sống động, bởi đó là yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống con ng-ời Từ đó bà lên tiếng đề cao, bênhvực, thông cảm cho thân phận ng-ời phụ nữ, ngoài ra còn vạch trần đã kích lối sống giả dối của tầng lớp nho sỹ, nhà s-; đồng thời thể hiện lòng yêu đời của nhà thơ Có nhiều lúc Xuân H-ơng buồn, song bà không bất lực mà luôn v-ơn lên trong cuộc sống Lòng yêu đời của nữ sĩ họ
Hồ ấy trong thơ Nôm đ-ợc thể hiện bằng tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, khát vọng hạnh phúc Cái bản năng tự nhiên trần tục vốn xa lạ với phong cách trang trọng, cao quý của thơ Đ-ờng luật bỗng trở nên thích
Trang 38dụng với phong cách trữ tình trào phúng của Hồ Xuân H-ơng Đặng Thanh
Lê nõi: ‚Với nh¯ thơ, thề thơ Đưộng luật đã xa phong cách trữ tình trang nghiêm ‚cao quý‛đề đi thàng v¯o cuốc sỗng đội thưộng, gõc c³nh, chua xõt kịch liệt nh-ng đó là cuộc sống đích thực, không chỉ hết sức dân tộc mà còn hễt sữc dân d±‛ (Theo khõa luận tỗt nghiếp cða Nguyển Thị Huễ: Nghế thuật trữ tình trong thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân H-ơng, Tr.40)
Qua khảo sát hơn 40 bài thơ Nôm của Hồ Xuân H-ơng, từ những đề tài trong cuộc sống mà bà chắt lọc, vận dụng, chúng tôi thấy đề tài trong thơ là rất đa dạng phong phú, giàu tính hiện thực và tính đại chúng Bên cạnh thơ vịnh ng-ời, còn có thơ vịnh vật ,thơ tả cảnh, kể việc… Điểm nổi bật trong đề tài, chủ đề thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng là cuộc sống của con ng-ời, không phải là cảnh sinh hoạt, mà là số phận của con ng-ời Ngòi bút của bà chĩa thẳng vào hai hạng ng-ời trong xã hội phong kiến là nho sỹ và nhà s-
Bà chúa thơ Nôm luôn nhìn hiện thực qua lăng kính cuộc sống phồn thực, cơ thể ng-ời phụ nữ, chuyện buồng the… Bà đã làm sống lại những sự vật rất quen thuộc, gần gũi trong đời th-ờng, thổi vào đó linh hồn của con ng-ời theo cách riêng của bà
Bất kỳ một hình thức nào cũng chứa đựng những nội dung nhất định
Đõ l¯ mỗi quan hế giửa ‚c²c biều hiến‛ v¯ ‚c²i được biều hiến‛, như hai mặt một tờ giấy, không tách rời nhau Từ sự phong phú, đa dạng của đề tài, thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng đề cập đến ba nội dung cơ bản thể hiện bút pháp nghệ thuật trong thơ bà
Thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng thể hiện thái độ bất bình ,châm biếm, tố cáo sự bất công của xã hội phong kiến Xã hội phong kiến là một xã hội
‚tróng nam khinh nử‛ nhửng gệ ngưội đ¯n ông cần l¯m l¯ ‚trung quân ²i quỗc‛,‛ph°i cõ danh gệ với nũi sông‛, l¯ ‚tu thân, tẹ gia, trị quỗc, bệnh thiên h³‛ Còn ngưội phú nử cõ bao điẹu ph°i tuân theo n¯o l¯ ‚tam tòng‛, ‚tữ
đữc‛ ‚chính chuyên mốt chọng‛ Hó chì l¯ c²i x²c không họn bị bổn phận,
Trang 39nghĩa vụ đè bẹp; họ không một chút tự do, không đ-ợc quyền đòi hỏi hạnh phúc mà chỉ tồn tại để thực hiện trọn vẹn bổn phận, chức năng
Hồ Xuân H-ơng cùng với Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái… không chấp nhận nh- thế Họ đã lớn tiếng bênh vực và đòi quyền sống cho ng-ời phụ nữ đặc biệt là Hồ Xuân H-ơng, bà đã lớn tiếng phản bác,đập thẳng vào chế độ nam quyền đó ở mảng nội dung này, đóng góp
to lớn của nữ sĩ họ Hồ là thơ bà đã góp phần hạ bệ những những thần t-ợng ngự trị trong đời sống văn hoá và tâm linh của dân tộc một thời
Thơ Hồ Xuân H-ơng còn là tiếng nói ngợi ca, bênh vực ng-ời phụ nữ
Các nhà khoa học cho rằng con ng-ời là đối t-ợng của mọi quan niệm Trong nghệ thuật, ng-ời nghệ sỹ bao giờ cũng h-ớng về con ng-ời, nhà nghệ sỹ xây dựng hình t-ợng bao giờ cũng biểu hiện một quan niệm của mình về con ng-ời Trong quan niệm của mình, Hồ Xuân H-ơng đặc biệt chú ý đến ng-ời phụ nữ, bà đề cao vẻ đẹp vật chất, vẻ đẹp trần thế, cũng nh- đề cao đạo đức, phẩm hạnh tài năng của ng-ời phụ nữ và đề cập
đến quyền đ-ợc sống, đ-ợc yêu tự do của con ng-ời cá nhân Quan niệm
về con ng-ời có chịu ảnh h-ởng của quan niệm triết học, quan niệm đạo
đức, luật pháp, lập tr-ờng chính trị hay ý thức xã hội giai cấp về con ng-ời Nh-ng đó cũng là hoạt động sáng tác đặc thù v-ợt ra ngoài phạm vi quan tâm của các hình thái ý thức khác Do đó, nhiều khi có những nhà văn sáng tác v-ợt cả thời đại giai cấp mình, xã hội mình đang sống Nguyễn Du, Hồ Xuân H-ơng là những tr-ờng hợp nh- vậy Hồ Xuân H-ơng cũng h-ớng về con ng-ời, nh-ng không phải là con ng-ời chung chung, mà là con ng-ời cụ thể, đó là ng-ời phụ nữ , là con ng-ời cá nhân
Xã hội Hồ Xuân H-ơng sống là xã hội mà chế độ phong kiến rơi vào khủng hoảng trầm trọng, phong trào khởi nghĩa của nông dân bùng nổ khắp nới Đến khi nhà Nguyễn đ-ợc khôi phục, mặc dù có một số cố gắng trong việc cải cách kinh tế, ổn định hành chính, nh-ng nhìn trên tổng thể thì đó vẫn là một triều đại quan liêu, mọi quyền lời của nhân dân, đặc biệt là
Trang 40quyền lợi của nguời phụ nữ không còn.Ng-ời dân phải chịu mọi hậu quả và phụ nữ là lớp ng-ời chịu nhiều bất hạnh nhất
Trên cơ sở xã hội đó, văn học giai đoạn này phát triển ch-a từng có với những tên tuổi nh- : Nguyễn Du,Hồ Xuân H-ơng , Bà Huyện Thanh Quan , Đoàn Thị Điểm Nó trở thành giai đoạn văn học phát triển rực rỡ nhất
Đặc biệt thời đại Hồ Xuân H-ơng có nhiều yếu tố mới mẻ so với các thời đại tr-ớc đó Đó là sự phát triển ít nhiều của th-ơng nghiệp, dẫn
đến sự hình thành của một tầng lớp thị dân có lối sống, cách nghĩ khác hẳn với ng-ời nông dân làng xã Tầng lớp này có yêu cầu phát triển con ng-ời cá nhân, tôn trọng phụ nữ, coi trọng tình yêu lứa đôi…
Trên cơ sở đó, văn học giai đoạn này xuất hiện những yếu tố mới
đáp ứng nhu cầu và thị hiếu con ng-ời mới Đó là tiếng nói nhân đạo chủ nghĩa quan tâm đến hạnh phúc cá nhân, nhất là ng-ời phụ nữ Ng-ời phụ nữ tr-ớc đây vắng bóng trong văn học thì giờ đây xuất hiện và nhanh chóng trở thành nhân vật chính với mối quan tâm chủ yếu là hạnh phúc cá nhân, là tình yêu tự do, kể cả tìnhyêu thể xác Ng-ời phụ nữ đặc biệt đ-ợc đề cao,
đ-ợc nhìn nhận trong mối quan hệ đa chiều, đ-ợc cảm thông sâu sắc đ-ợc nhìn nhận với cái nhìn nhân đạo chủ nghĩa.Các tác phẩm lớn hầu hết đều
viết về ngời phụ nữ nh : Truyện Kiều Nguyễn Du, Cung oán ngân khúc
-Nguyễn Gia Thiều…
Cùng sáng tác trong thời đại đó, thơ Hồ Xuân H-ơng đã tiếp nối và phát triển một mức cao hơn Thơ bà cũng là tiếng nói mang tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc; cũng là tiếng nói quan tâm đòi hỏi hạnh phúc cá nhân, nh-ng cái khác ở đây là nhà thơ nói về những vấn đề của chính ng-ời phụ nữ, bằng con mắt của một ng-ời phụ nữ bình dân Hồ Xuân H-ơng xuất phát từ góc độ cá nhân, góc độ ng-ời phụ nữ để nhìn, chứ không phải xuất phát từ lập tr-ờng quan điểm chính thống, hay một học thuyết đạo đức nào
Hồ Xuân H-ơng đã phản ánh một cách toàn diện, mới lạ hình ảnh ng-ời phụ nữ Việt nam thời phong kiến Đó chính là một cách để thể hiện sự phản