Tính cấp thiết của đề tài
Dê là loài gia súc nhai lại nhỏ, thuộc chi dê (Capra) và họ phụ dê cừu (Caprinae) Chúng thuộc họ Bovidae, bộ phụ nhai lại (Ruminantia) và bộ guốc chẵn (Artiodactyla), nằm trong lớp động vật có vú (Mammalia).
Dê được nuôi ở hầu hết các châu lục, từ Bắc Âu đến Nam Mỹ, và có mặt ở mọi vĩ tuyến Chúng có khả năng sinh sống ở nhiều môi trường khác nhau, từ đỉnh núi cao Himalaya cho đến những khu rừng ẩm ướt ở Tây Phi.
Chăn nuôi dê tại Châu Á đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt ở các nước đang phát triển, nơi hơn 90% số lượng dê được nuôi trong các hộ gia đình quy mô nhỏ tại vùng khô cằn, chủ yếu do nông dân nghèo Ngược lại, ở các nước phát triển, chăn nuôi dê có quy mô lớn hơn và tập trung vào phương pháp thâm canh, chủ yếu nhằm sản xuất sữa và pho-mát, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo FAO (1999), tổng sản lượng thịt dê toàn cầu đạt 3.343,388 triệu tấn, trong đó các nước Nam Á và Đông Nam Á chiếm 67,8% Sản lượng sữa dê trên thế giới là 12 triệu tấn, với mức tăng 22% ở các nước phát triển và 38% ở các nước đang phát triển Từ năm 1987 đến 1997, đàn dê ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tăng trung bình 4,2% mỗi năm, gấp 2 đến 3 lần so với trâu, bò Trong 10 năm qua, nhiều nước trong khu vực ghi nhận sự gia tăng đáng kể về số lượng và sản lượng thịt dê Tại Việt Nam, nghề chăn nuôi dê đã tồn tại từ lâu nhưng chủ yếu phát triển theo phương thức quảng canh, tự túc tự phát Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2002, tổng đàn dê cả nước khoảng 650.000 con, trong đó 72,5% ở miền Bắc, 27,5% ở miền Trung và miền Nam Tại miền Bắc, dê thường được nuôi ở vùng đồi núi, với 67% tổng đàn dê của miền Bắc và 48% tổng đàn dê của cả nước tập trung ở vùng núi phía Bắc.
Trong những năm qua, ngành chăn nuôi dê ở Việt Nam chưa được chú trọng phát triển Người dân chủ yếu nuôi dê theo hình thức quảng canh, tận dụng bãi chăn thả tự nhiên và còn thiếu kinh nghiệm cũng như kiến thức kỹ thuật Giống dê chủ yếu là dê Cỏ địa phương, có kích thước nhỏ và năng suất thấp, trong khi hệ thống quản lý chăn nuôi trên toàn quốc vẫn chưa được thiết lập, dẫn đến việc chưa hình thành nghề chăn nuôi dê quy mô trang trại lớn.
Kể từ năm 1993, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã giao nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê sữa và dê kiêm dụng thịt sữa cho Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ – Viện Chăn nuôi, đánh dấu sự khởi sắc của ngành chăn nuôi dê tại Việt Nam Để tăng cường số lượng đàn dê, bên cạnh việc chọn giống và cung cấp thức ăn hợp lý, các biện pháp thú y nhằm bảo vệ sức khỏe và phòng chống bệnh tật cũng đóng vai trò quan trọng.
Bệnh viêm ruột ỉa chảy là một trong những bệnh phổ biến ở dê, gây ra thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Bệnh này không chỉ làm giảm số lượng đàn dê mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh tế trong ngành chăn nuôi dê.
Nghiên cứu về bệnh viêm ruột ỉa chảy cho thấy rằng bất kỳ nguyên nhân nào dẫn đến ỉa chảy đều gây ra hậu quả nghiêm trọng như mất nước, mất điện giải, rối loạn enzyme và tổn thương thực thể, cùng với viêm nhiễm đường tiêu hóa (Roussel A.J 1990; Lê Minh Chí, 1995).
Rất tiếc, các nghiên cứu hiện tại chủ yếu chỉ tập trung vào trâu, bò và lợn, trong khi thông tin về dê nuôi tại nước ta còn hạn chế Ngoài một số báo cáo lâm sàng, chưa có tài liệu đầy đủ về quá trình sinh bệnh, đặc điểm bệnh lý và các khía cạnh khác liên quan đến bệnh ở dê.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý ở dê viêm ruột ỉa chảy" nhằm tìm hiểu tình trạng bệnh lý trên đàn dê tại Trung tâm nghiên cứu Dê - Thỏ Sơn Tây và đề xuất các biện pháp phòng trị hiệu quả.
Mục đích nghiên cứu
Bệnh viêm ruột ỉa chảy ở dê có những đặc điểm bệnh lý rõ ràng, gây tổn thương nghiêm trọng đến đường tiêu hóa Việc hiểu rõ các triệu chứng và cơ chế bệnh lý là cần thiết để phát triển phác đồ điều trị thử nghiệm hiệu quả.
- Đ−a ra phác đồ phòng trị bệnh hiệu quả cao, góp phần làm giảm thiệt hại do bệnh gây nên
Đối t−ợng - Địa điểm - nội dung Và ph−ơng pháp nghiên cứu
Đối t−ợng nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên hai đối t−ợng:
- Dê bị Viêm ruột ỉa chảy trong tự nhiên
Dựa trên lịch tiêm phòng vắc xin cho bệnh Viêm ruột hoại tử và lịch uống thuốc tẩy giun nội ký sinh trùng cũng như thuốc trị ký sinh trùng đường máu định kỳ của Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, chúng tôi đã loại trừ những con dê bị tiêu chảy do Viêm ruột hoại tử, nội ký sinh trùng và ký sinh trùng đường máu.
Địa điểm nghiên cứu
- Phòng thí nghiệm – Bộ môn Nội chẩn – D−ợc - Độc chất – Khoa chăn nuôi Thú y – Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I – Hà Nội
- Phòng thí nghiệm – Bệnh viện Thú y – Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I – Hà Néi
- Phòng Thú y – Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây – Hà Tây
Nội dung và ph−ơng pháp nghiên cứu
3.3.1 Các chỉ tiêu lâm sàng
- Thân nhiệt (°C): Dùng nhiệt kế đo nhiệt độ trực tràng 2 lần/ngày, buổi sáng sớm và đầu giờ chiều, tr−ớc khi dê đ−ợc cho ăn
- Tần số hô hấp (lần/phút): Dùng ống nghe nghe vùng phổi, kết hợp với việc đếm số lần lên xuống của hõm hông trong 1 phút
- Tần số tim mạch (lần/phút): Dùng ống nghe nghe vùng tim, đếm số lÇn tim ®Ëp trong 1 phót
3.3.2 Các chỉ tiêu phi lâm sàng (các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu):
3.3.2.1.Các chỉ tiêu sinh lý máu
Chúng tôi tiến hành trên máy huyết học 18 chỉ tiêu (Hema Screm 18) b Tû khèi huyÕt cÇu (Hematocrit)(TKHC):
Tỷ khối huyết cầu là tỷ lệ phần trăm khối hồng cầu chiếm trong một thể tích máu nhất định Nó đ−ợc tính theo công thức:
TKHC phÇn toàn máu tÝch ThÓ cÇu hồng khèi tÝch ThÓ c Hàm l−ợng huyết sắc tố (Hemoglobin) (g%): d L−ợng Hemoglobin bình quân trong hồng cầu (pg)
HLHST bp (pg) = 3 mm cÇu/ hồng triệu Sè
% gam Sè e Thể tích bình quân của hồng cầu ( V − hc à m 3 ) mm 3 cÇu/ hồng triệu Sè
V hc g Sức kháng của hồng cầu (%NaCl): là sức kháng của màng hồng cầu ở nồng độ muối NaCl loãng
3.3.2.2 Các chỉ tiêu sinh hoá máu a Độ dự trữ kiềm trong máu (mg%)
Để xác định độ dự trữ kiềm trong máu, phương pháp Nevodop được sử dụng với đơn vị tính là mg% Hàm lượng men sGOT và sGPT được định lượng bằng phương pháp Reitman – Frankel cải tiến, với đơn vị tính là UI/lít Đối với protein tổng số trong huyết thanh, phương pháp khúc xạ kế Zena được áp dụng, đơn vị tính là g% Ngoài ra, cũng cần xác định các tiểu phần protein trong huyết thanh theo tỷ lệ phần trăm (%).
Xác định các tiểu phần protein trong huyết thanh bằng phương pháp điện di trên phiến Acetatcellulose, đơn vị tính là % e Hàm l − ợng đ − ờng huyết (mmol/l)
Để xác định hàm lượng đường huyết, sử dụng máy Glucometter với đơn vị tính là mmol/lít Kiểm tra chức năng gan được thực hiện bằng cách đo phản ứng lên bông – Gros, với đơn vị tính là ml dung dịch Hayem làm kết tủa 1ml huyết thanh dê Hàm lượng Natri và Kali trong huyết thanh được định lượng bằng máy quang phổ hấp phụ, đơn vị tính là mEq/lít Đối với Bilirubin trong huyết thanh, sử dụng phương pháp Rappaport, đơn vị tính là mg% Cuối cùng, hàm lượng Sterkobilin và Urobilin được xác định theo phương pháp Komaricin, cũng với đơn vị tính là mg%.
3.3.3 Ph−ơng pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu
- Kim dài 18, đốc nhựa, vô trùng hoặc đã đ−ợc sát trùng
- Sơ-ranh nhựa dùng 1 lần, 2 loại 5cc và 1cc
- ống nghiệm to, dài đã đ−ợc rửa sạch, sấy khô
- Lọ thuỷ tinh đựng thuốc kháng sinh bột đã đ−ợc rửa sạch, sấy khô, cho thêm 10ml HCl 0,01N đậy kín và bọc ni lông
- Lọ thuỷ tinh đựng thuốc kháng sinh bột đã đ−ợc rửa sạch, sấy khô, cho thêm chất chống đông máu Citrat Natri
Tiến hành lấy mẫu và bảo quản
Lấy máu cho dê vào buổi sáng sớm khi chưa được cho ăn, sử dụng tĩnh mạch để lấy máu vào ống nghiệm hoặc lọ Để xác định vị trí lấy máu, dùng ngón cái tay trái ép vào cổ dê để làm nổi rõ tĩnh mạch, sau đó dùng tay phải đưa kim vào vùng tĩnh mạch nổi Khi máu chảy ra, cần bỏ đi một số giọt đầu tiên trước khi đưa ống nghiệm hoặc lọ thuỷ tinh vào để hứng máu.
Khi lấy máu bằng ống nghiệm để chắt huyết thanh, cần thực hiện một cách nhẹ nhàng, giữ ống nghiệm ở tư thế nghiêng khoảng 45° so với mặt đất Sau khi lấy đủ máu, chuyển ống nghiệm cho người phụ giúp và tiếp tục lấy máu cho các xét nghiệm khác bằng lọ thủy tinh Người phụ giúp cần giữ ống nghiệm nghiêng trong một thời gian, sau đó chắt huyết thanh vào lọ sạch và bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4 - 8°C.
Khi sử dụng lọ thuỷ tinh chứa chất chống đông, cần lắc nhẹ nhàng để đảm bảo chất chống đông hoà tan hoàn toàn vào máu Sau khi đã lấy đủ lượng máu cần thiết, hãy đưa lọ cho người phụ giúp.
Để kiểm tra độ dự trữ kiềm trong máu, cần lấy chính xác 0,2ml máu bằng ống tiêm 1cc Sau khi hút đủ lượng máu, nhẹ nhàng đẩy vào lọ chứa sẵn 10ml HCl 0,01N và giao lọ cho người phụ giúp.
Sau khi hoàn tất việc lấy máu, cần rút kim ra một cách nhanh chóng và dứt khoát Để hạn chế chảy máu, hãy kéo nhẹ da cổ dê sau khi rút kim.
Chúng tôi thu thập mẫu phân và nước tiểu của dê hai lần mỗi ngày Các mẫu được bảo quản trong bình tam giác, được đậy kín và bọc bằng giấy báo để đảm bảo chất lượng.
Các mẫu cần được bảo quản ở nơi râm mát, tránh ánh sáng và cần vận chuyển nhẹ nhàng Việc tiến hành xét nghiệm nên được thực hiện càng sớm càng tốt Đối với ống nghiệm để chắt huyết thanh, cần giữ nguyên trong 12 – 24 giờ để thu được nhiều huyết thanh mà không bị lẫn các thành phần khác của máu.
Khi thực hiện các xét nghiệm, cần phải tập trung và có tác phong nhanh nhẹn, chính xác Việc ghi chép đầy đủ các kết quả thu được là rất quan trọng Ảnh 1, 2 Lấy máu tĩnh mạch cổ dê.
3.3.4 Nghiên cứu biến đổi bệnh lý ở ruột
Chúng tôi tiến hành mổ khám dê bệnh để kiểm tra các bệnh tích ở đường tiêu hóa và phát hiện những biến đổi đại thể Sau đó, chúng tôi lấy một số đoạn ruột có bệnh tích đặc trưng, ngâm trong dung dịch formol 10% để làm tiêu bản tổ chức học vi thể Hình ảnh mổ khám hệ thống tiêu hóa ở dê viêm ruột tiêu chảy cho thấy sự giải phẫu đại thể của dạ dày và ruột, đặc biệt là dạ lá sách và ruột viêm xuất huyết.
Chúng tôi sử dụng ph−ơng pháp thống kê sinh vật học xử lý số liệu:
∑ = Trong đó: X i : giá trị mẫu quan sát đ−ợc
X : giá trị trung bình n: dung l−ợng mẫu
) 1 ( n − δ víi n < 30 m X = ± n δ víi n ≥ 30 §é tin cËy P: t tn = n )
− với X 1 : Số trung bình của nhóm 1
X2: Số trung bình của nhóm 2 n 1 : Dung l−ợng mẫu nhóm 1 n 2 : Dung l−ợng mẫu nhóm 2