Học thuyết người phạm tội bẩm sinh của ông chỉ rõ: Tội phạm là dạng thấp của hành vi và người phạm tội gần giống với tổ tiên loài người hơn là những người không phạm tội ở cả đặc điểm
Trang 2I. Sự ra đời và phát triển
của tội phạm học tư sản
1 Trường phái tội phạm học cổ điển (Classical
Trang 31 Trường phái tội phạm học
cổ điển (Classical School) 1.1 Hoàn cảnh ra đời (trước
cách mạng Pháp 1789)
-Sự tuỳ tiện của việc áp dụng pháp luật
-Sự hà khắc của hình phạt
Trang 5lettres de cachet
In French history, lettres de
the king of France,
countersigned by one of his
ministers, and closed with the royal seal, or cachet They
contained orders directly from the king, often to enforce
arbitrary actions and
judgements that could not be appealed
Trang 6Sự hà khắc:
Hình phạt bao gồm hoả thiêu, đánh, xẻo thịt,
dìm chết, đày, chém đầu
và một số loại hình phạt khác
Trang 7Vụ án Robert - Franois Damiens
9 Januar 1715 - 28 März 1757
Trang 111.2 Cesare Beccaria (1738 -
1794)-người sáng lập trường phái tội phạm học cổ điển
Trang 12 Cùng Alessandro and Pietro
Verri thành lập nhóm TN cấp tiến
„Academy of Fist” „L'Accademia dei pugni“
Trang 13 Năm 1764 Beccaria xuất bản
cuốn sách "Về tội phạm và hình phạt"
Dei delitti e delle
pene
On Crimes and
Punishments
Trang 14 Chỉ có nhà lập pháp mới có quyền ban hành QPPL.
vào hành vi chứ không phải người thực hiện hành vi.
Trang 15 Hình phạt cần phải được áp dụng nhanh chóng và hiệu quả
đẳng
bỏ
tra tấn để đạt được sự thú tội
trừng trị chúng
Trang 16 Thuyết vị
lợi của Jeremy
Bentham
1748-1832
Trang 17 Thuyết vị lợi của Jeremy
Bentham
The greatest happiness principle
or the principle of utility
Hạnh phúc tối đa cho một số
lượng nhiều nhất
Trang 182 Tội phạm học thực chứng The Positive School of
Criminology
định
Trang 19Giambattista della Porta 1615)
Trang 20(1535- Giambattista della Porta
(1535-1615) được coi là
người sáng lập trường phái xem tướng (diện mạo) con người (thế kỉ thứ XVI),
nghiên cứu đặc trưng của
khuôn mặt và mối liên hệ
của chúng đối với hành vi
của con người
Trang 21 Johann Kaspar Lavater 1801) thuỵ
Trang 22(1741- Franz Joseph Gall (1758-1828)
Trang 23 Johann Kaspar Spurzheim 1832)
Trang 24(1776-Auguste Comte (1798-1857)
Cour de
philosophie
positive
(cách giải quyết bằng triết học
thực chứng)
Trang 25 Charles Robert Darwin1882)
Trang 27 Trường phái Tội phạm học Ý
Cesare Lombroso
(1835-1909)
Trang 28 Cesare Lombroso 1909)
(1835- 1876 cho ra đời tác phẩm L’uomo delinquente
(Người phạm tội), tội
phạm học đã trở thành
khoa học nghiên cứu
nguyên nhân
Trang 29 Học thuyết người phạm tội bẩm sinh của ông chỉ rõ: Tội phạm là dạng thấp của hành vi và người phạm tội gần giống với tổ tiên
loài người hơn là những người
không phạm tội ở cả đặc điểm và thiên hướng
Có thể nhận ra họ trong những
người không phạm tội bởi những dấu hiệu khác nhau của bệnh lại giống
Trang 30 Đối với tội phạm bẩm sinh, Lombroso phân biệt: Tội
phạm thần kinh và
Criminoloid.
Trang 31 Tội phạm thần kinh không phải tội phạm bẩm sinh, họ trở
thành tội phạm là kết quả của một vài thay đổi trong não gây trở ngại khả năng phân biệt
giữa đúng và sai
Criminoloid làm thành nhóm
bao gồm những người phạm tội
do thói quen, do giận dữ và
nhiều loại tương tự
Trang 32 Enrico Ferri
(1856-1929).
Trang 33 Enrico Ferri là thành viên
chính phủ Italia, đạt tới danh hiệu nhà giáo nhân dân, luật
sư nổi tiếng, chủ bút một tờ báo và là học giả đáng kính
trọng
Ferri đã xuất bản cuốn sách chuyên đề đầu tiên của mình năm 21 tuổi Năm 25 tuổi
ông đã là giáo sư đại học.
Trang 34 Xã hội cần được bảo vệ trước
những hành vi phạm tội và đó
chính là mục đích của luật hình
sự và chính sách hình sự
Việc tuân thủ nghiêm ngặt các
biện pháp phòng ngừa được đưa
ra trên cơ sở khoa học sẽ làm
giảm tội phạm và cho phép mọi người sống với nhau trong xã hội
mà không lệ thuộc nhiều vào hệ
Trang 35 Raffaele Garofalo (1852-1934).
Garofalo đã tìm thấy nguồn gốc của xử sự phạm tội không phải là
ở các đặc điểm thể chất mà là ở các đặc điểm tâm lí, cái mà ông cho là những sai lệch về đạo đức
Cá nhân có sự khiếm khuyết
trong những quan điểm đạo đức nên không có được sự chế ngự
khi thực hiện các tội phạm loại
này
Trang 36 Trên cơ sở lí thuyết Darwin,
Garofalo lí luận: hình phạt tử hình có thể giải thoát xã hội khỏi những thành viên không
có khả năng thích nghi, giống như quá trình chọn lọc tự
nhiên đào thải những cơ thể không thích nghi
Trang 37 Đối với những người phạm tội
ít nguy hiểm hơn, có thể thích nghi họ trở lại xã hội thông
qua những loại hình phạt
khác như đày đi nơi xa; hạn
chế quyền; đưa vào sống
trong các trang trại thuộc
địa; hoặc đơn giản là bồi
thường thiệt hại
Trang 38 Charles Buckman Goring
Trang 39 Từ một thông tin về số đo
hộp sọ của một sinh viên, chỉ nên phán đoán hoặc anh ta
học tại trường đại học của
Anh, hoặc anh ta học trường đại học của Scốt-len hơn là
dự báo hoặc anh ta cuối cùng
sẽ trở thành giáo sư đại học
hoặc một kẻ phạm tội nghiêm trọng bị kết án
Trang 40 Trường phái kiểu cơ thể
Ernst
Kretschmer
(1888 - 1964
Trang 41 Phân biệt 3 loại vóc người chủ yếu:
(1) người suy nhược: Gầy
còm, thể chất yếu ớt, vai hẹp (2) người lực lưỡng: Trung
bình đến cao, khoẻ mạnh, cơ bắp, xương thô
(3) người béo: Cao trung
bình, hình dáng mũm Mĩm, cổ
to, mặt rộng
Trang 42 William Sheldon (1898 – 1977)
Xây dựng một cách có hệ thống nhóm các kiểu cơ
thể: Người hướng nội,
người có cơ bắp rắn chắc
và người ốm yếu gầy còm
Trang 43 Người có phần lớn các đặc điểm của kiểu người có cơ bắp rắn chắc (sức mạnh
Trang 44 Sheldon Glueck (1896 1980)
- Eleanor Glueck 1972)
Trang 45(1898- Hạn chế: những nghiên cứu trên
cơ sở kiểu cơ thể đã bị chỉ trích
về phương pháp: Thể hiện ở việc phân loại sơ sài và nghiên cứu
trên những người không mang
tính đại diện cho các nhóm đó
chưa đề cập sự giao thoa về văn hoá và là những phân tích thống
kê nghèo nàn
Trang 46 Thuyết phạm tội thừa kế
sự phạm tội là đặc điểm được kế thừa thông qua gen
Richard Dugdale (1841 – 1883)
đã nghiên cứu cuộc đời của hơn
1000 thành viên của gia đình mà ông gọi là Jukes:
280 bần cùng, 60 kẻ trộm, 7 kẻ giết người, 40 kẻ phạm các tội
khác, 40 kẻ bị bệnh hoa liễu, 50
Trang 47 Kết luận:
Một vài dòng họ sinh ra
những thế hệ tội phạm, họ chắc đã được di truyền
một đặc điểm thoái hoá
dọc theo giống
Trang 48 Henry Goddard (1866 - 1957)
Nghiên cứu về gia phả dòng họ
của chiến sỹ cách mạng Martin
Kallikak
Rất nhiều tội phạm trong số
những hậu duệ của người con
ngoài giá thú của Kallikak hơn là những hậu huệ của người con trai sinh ra bởi cuộc hôn nhân sau đó với “một phụ nữ trong cùng tầng
Trang 49b Thuyết tâm lí quyết định
Trang 50 Isaac Ray
(1807 - 1881)
Trang 51 Chuyên gia tâm thần học pháp lí đầu tiên của Mĩ đã dành cả cuộc đời mình nghiên cứu sự ứng dụng các nguyên tắc tâm thần trong
luật pháp Ông bảo vệ khái niệm
“sự điên rồ về đạo đức”
Họ là những người bình thường
về mọi phương diện trừ việc có
vài sai sót trong một phần của
não đã quy định những sự phản
ứng kích động
Trang 53 Kiểm tra trí tuệ của các phạm
nhân, ông kết luận: 25% đến
50% phạm nhân có những nhược điểm về trí tuệ và chúng đã làm cho họ không đủ khả năng giải
quyết được những vấn đề của
chính mình
Trang 54c Thuyết xã hội quyết định Adolphe Quételet
Nhà toán học Bỉ
Trang 55 Luật sư người Pháp André Michel Guerry (1802 - 1866)
Hai ông nghiên cứu mối quan hệ giữa những thống kê về tội phạm với những nhân tố như sự nghèo đói, tuổi, giới tính, chủng tộc và hoàn cảnh môi trường
Trang 56 Guerry đã sử dụng những số liệu chứng minh rằng tỉ lệ tội phạm thay đổi cùng với
những nhân tố xã hội Ông đã thấy rằng vùng trù phú nhất
ở Pháp có tỉ lệ tội phạm xâm phạm sở hữu cao nhất nhưng
tỉ lệ tội phạm bạo lực chỉ
bằng một nửa so với những
Trang 57 Ông kết luận rằng nhân tố chính trong tội phạm sở
hữu là cơ hội: ở những tỉnh giàu, có nhiều thứ để trộm cắp hơn rất nhiều so với
các tỉnh nghèo hơn
Trang 58 Quételet nghiên cứu ở
Pháp, Bỉ và Hà-Lan Sau
khi phân tích những số
liệu thống kê tội phạm, cái
mà ông gọi là “ thống kê
Trang 59 Ông kết luận: Nếu chúng ta
nhìn vào toàn bộ cách xử sự của các nhóm trong toàn xã hội, chúng ta sẽ tìm thấy một quy luật đáng ngạc nhiên về
tỉ lệ của những xử sự khác
nhau
Trang 60đảo, bao nhiêu tù nhân;
giống như con người có
thể liệt kê trước ngày sinh,
Trang 61 Quételet cho rằng cần phải nhận ra các nhân tố có liên quan tới tội phạm và ấn
định cho chúng “mức độ
ảnh hưởng thích hợp”
Trang 62 Gabriel Tarde (1843 –
1904).
Làm thẩm phán tỉnh 15
năm và sau đó trở thành
người quản lí số liệu thống
kê quốc gia của Pháp
Trang 63 Các băng nhóm giết người và
trộm cắp khét tiếng bắt đầu được hình thành khi những đứa trẻ bị
bỏ rơi trên các quảng trường
công cộng hoặc các ngã tư Bất
kể chúng nhỏ hay lớn, những
đám trẻ cướp đường, những kẻ
giống như những đàn chim sẻ,
kết bạn với nhau, lúc đầu để cướp bóc, và sau đó là trộm cắp, bởi vì
sự thiếu giáo dục và thiếu thức
ăn ở nhà chúng
Trang 64 émile Durkheim
Trang 65 émile Durkheim Viết về mối quan
hệ giữa tội phạm và các nhân tố
ông đã chứng kiến cảnh hỗn độn của xã hội và hậu quả của những thay đổi nhanh chóng
Trang 66 Năm 24 tuổi, ông trở thành
giáo sư triết học và năm 29
tuổi ông làm việc tại Trường
đại học tổng hợp Bordeaux ở đây, ông đã dạy khoá học đầu tiên về xã hội học Đến năm
1902, ông chuyển đến Trường đại học tổng hợp Paris, ông
đã hoàn thành luận án tiến sĩ
Trang 67 Theo Durkheim, tội phạm là một phần tất yếu của xã hội cũng như
sự sinh ra và chết đi
Tội phạm có thể biến mất hoàn
toàn chỉ khi tất cả các thành viên trong xã hội có cùng giá trị
Sự tiêu chuẩn hoá này của các cá nhân vừa không có khả năng tồn tại vừa không phải là mong muốn của mọi người.
Trang 68 Một thiên tài để thực hiện nghiên cứu của mình thì có thể trở thành tội phạm
trong xã hội phát triển ở
tầng mức thấp vì tính mới
mẻ đột phá trong công
việc…
Trang 69 Ông lí luận: Hình phạt trong
xã hội cũ là sự trừng phạt đối với những người chệch hướng
và được sử dụng để củng cố
hệ thống giá trị, để nhắc con người nhớ rằng cái gì đúng,
cái gì sai, bằng cách ấy giữ
gìn đức tin chung Do đó sự
trừng phạt phải khắc nghiệt
để phục vụ mục đích này
Trang 70 Trong xã hội văn minh đô thị hoá, hỗn tạp thì sự trừng