i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn thành phố Nha Trang” là công trình nghiên cứu của
Trang 1
NGUYỄN THỊ TRANG
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH PHÂN LOẠI CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NHA TRANG
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất
thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn thành phố Nha Trang” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi và được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Nội dung của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày tháng năm 2021
Học viên thực hiện Luận văn
Nguyễn Thị Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Quý thầy cô trường Đại học Bà Rịa - Vũng Tàu cùng toàn thể các anh chị lớp MBA19K10 và MBA19K12 đã luôn giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi cũng xin đặc biệt cảm ơn TS Trần Nha Ghi đã quan tâm và nhiệt tình hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn để giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến lãnh đạo Công ty Cổ phần môi trường đô thị Nha Trang đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn cao học của mình
Sau cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình đã hết lòng quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi để hoàn thành chương trình cao học này
Trong quá trình thực hiện, mặc dù đã hết sức cố gắng để hoàn thiện luận văn, trao đổi và tiếp thu các ý kiến đóng góp của các thầy cô và bạn bè, tham khảo nhiều tài liệu song cũng không thể tránh khỏi sai xót Rất mong nhận được những thông tin đóng góp, phản hồi từ quý thầy cô và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn và kính chúc các thầy cô, bè bạn và đồng nghiệp sức khỏe, hạnh phúc và thành công trên mọi lĩnh vực
Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày tháng năm 2021
Học viên thực hiện Luận văn
Nguyễn Thị Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC HÌNH x
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu: 4
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 5
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 5
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 6
1.5.1 Ý nghĩa khoa học 6
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
1.6 Bố cục của luận văn 6
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8
2.1 Lý thuyết nền của đề tài nghiên cứu 8
2.1.1 Lý thuyết hành vi của con người 8
2.1.2 Lý thuyết hành động xã hội 9
2.1.3 Lý thuyết kiểm soát xã hội 9
Trang 52.2 Các mô hình lý thuyết về hành vi dự định 9
2.2.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action –TRA) 9
2.2.2 Mô hình thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) 11
2.3 Các khái niệm liên quan 12
2.3.1 Khái niệm về sự tham gia 12
2.3.2 Môi trường và rác thải 12
2.3.3 Nguồn gốc phát sinh và phân loại chất thải rắn sinh hoạt 13
2.3.4 Hành vi và hành vi phân loại rác 14
2.3.5 Tác động của rác thải sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe cộng đồng 14
2.3.6 Nguyên tắc quản lý chất thải rắn sinh hoạt 16
2.4 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại một số nước trên Thế giới 18
2.5 Lược khảo nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu 20
2.5.1 Nghiên cứu nước ngoài 20
2.5.2 Nghiên cứu trong nước 25
2.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết 29
2.6.1 Dựa trên các mô hình nghiên cứu trước để tìm ra mô hình nghiên cứu hợp lý với thực tiễn và đối tượng nghiên cứu 29
2.6.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 30
2.6.3 Các giả thuyết nguyên cứu 31
2.6.3.1 Sự bất tiện 31
2.6.3.2 Các quy định của nhà nước và công tác tuyên truyền 32
2.6.3.3 Thái độ 36
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 37
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.1 Quy trình nghiên cứu 38
3.2 Phương pháp nghiên cứu 40
Trang 63.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 40
3.2.1.1 Thiết kế nghiên cứu 40
3.2.1.2 Kết quả nghiên cứu định tính 41
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 46
3.2.2.1 Phương pháp chọn mẫu 46
3.2.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 47
3.2.1.3 Phương pháp xử lý dữ liệu nghiên cứu 47
3.3 Mẫu nghiên cứu chính thức 50
3.4 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ 50
3.4.1 Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha 50
3.4.1.1 Các thang đo Ý định phân loại 50
3.4.1.2 Thang đo Ý định phân loại 52
3.4.2 Phân tích yếu tố khám phá EFA 53
3.4.2.1 Phân tích EFA cho các biến độc lập 53
3.4.2.2 Phân tích EFA cho biến phụ thuộc 54
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 55
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
4.1 Mô tả dữ liệu mẫu nghiên cứu 56
4.2 Kiểm định thang đo 58
4.2.1 Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 58
4.2.1.1 Các thang đo ý định phân loại 58
4.2.1.2 Thang đo ý định phân loại 60
4.2.2 Phân tích yếu tố khám phá EFA 61
4.2.2.1 Phân tích EFA cho các biến độc lập 61
4.2.2.2 Phân tích EFA cho biến phụ thuộc 63
4.3 Phân tích tương quan giữa các biến 64
Trang 74.4 Kiểm định mô hình hồi quy 65
4.4.1 Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 65
4.4.2 Kết quả phân tich hồi quy tuyến tính 66
4.4.3 Kiểm định sự khác biệt của các biến định tính đến Ý định phân loại 70
4.4.3.1 Kiểm định sự khác biệt theo “Giới tính” bằng kiểm định Independent - sample T- test 70
4.4.3.2 Kiểm định sự khác biệt theo “Độ tuổi” bằng phương pháp phân tích Oneway ANOVA 71
4.4.3.3 Kiểm định sự khác biệt theo “Trình độ” bằng phương pháp phân tích Oneway ANOVA 72
4.4.3.4 Kiểm định sự khác biệt theo “Nghề nghiệp” bằng phương pháp phân tích Oneway ANOVA 73
4.5 Thảo luận kết quả kiểm định các giả thuyết và mô hình nghiên cứu 74
4.5.1 Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 74
4.5.2 Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu 75
4.6 Thảo luận kết quả nghiên cứu các yếu tố và so sánh với các nghiên cứu trước có liên quan 76
4.6.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu các nhân tố 76
4.6.2 So sánh với các nghiên cứu trước có liên quan 77
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 78
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ HÀM Ý QUẢN TRỊ 79
5.1 Kết luận 79
5.2 Hàm ý quản trị 80
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt
Services Solutions
PL CTR Phân loại chất thải rắn
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm 27
Bảng 3.1 Thang đo “Sự bất tiện” 42
Bảng 3.2.Thang đo “Các quy định của nhà nước” 43
Bảng 3.3 Thang đo “Công tác tuyên truyền” 44
Bảng 3.4 Thang đo “Thái độ” 45
Bảng 3.5 Thang đo “Ý định phân loại” 46
Bảng 3.6 Kiểm định sơ bộ độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho các thang đo Ý định phân loại 50
Bảng 3.7 Kiểm định sơ bộ độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho thang đo Ý định phân loại 52
Bảng 3.8 Kết quả EFA cho các biến độc lập 53
Bảng 3.9 Kết quả EFA cho biến phụ thuộc 54
Bảng 4.1 Kết quả thống kê các yếu tố nhân khẩu học 56
Bảng 4.2 Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho các thang đo ý định phân loại 58
Bảng 4.3 Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho thang đo ý định phân loại 60
Bảng 4.4.Tổng hợp kiểm định Cronbach’s Alpha của từng thang đo 61
Bảng 4.5 Kết quả EFA cho các biến độc lập 61
Bảng 4.6 Kết quả EFA cho biến phụ thuộc 63
Bảng 4.7 Hệ số tương quan giữa các biến 64
Bảng 4.8 Độ phù hợp của mô hình 66
Bảng 4.9 Phân tích phương sai Anova mô hình hồi quy 66
Bảng 4.10 Phân tích hồi quy 67
Bảng 4.11 Kiểm tra mẫu độc lập kiểm định T – TEST đối với biến Giới tính 71
Trang 10Bảng 4.12 Kiểm tra tính đồng nhất của phương sai 72
Bảng 4.13 Bảng Anova theo độ tuổi 72
Bảng 4.14 Kiểm tra tính đồng nhất của phương sai 72
Bảng 4.15 Bảng Anova theo Trình độ 73
Bảng 4.16 Kiểm tra tính đồng nhất của phương sai 73
Bảng 4.17 Bảng Anova theo Nghề nghiệp 74
Bảng 4.18.Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết 75
Bảng 5.1 Thống kê mô tả Thái độ 80
Bảng 5.2 Thống kê mô tả Công tác tuyên truyền 81
Bảng 5.3 Thống kê mô tả Các quy định của nhà nước 83
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Tổng quan lý thuyết hành động xã hội 9
Hình 2.2 Mô hình lý thuyết về hành vi dự định 10
Hình 2.3 Mô hình thuyết hành vi dự định 11
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Tonglet và cộng sự (2004) 20
Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Mahmud và Osman (2010) 21
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Desa và cộng sự (2011) 22
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu của Philippsen (2015) 23
Hình 2.8 Mô hình nghiên cứu của Wang và cộng sự (2016) 23
Hình 2.9 Mô hình nghiên cứu của Ayob và cộng sự (2017) 24
Hình 2.10 Mô hình nghiên cứu của Strydom (2018) 25
Hình 2.11 Mô hình nghiên cứu đề xuất 31
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 39
Hình 4.1 Phân phối phần dƣ chuẩn hóa 68
Hình 4.2 Biểu đồ tần số Q-Q Plot 69
Hình 4.3 Biểu đồ phân tán của phần dƣ 70
Hình 4.4 Mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh 76
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Chương 1 giới thiệu cơ sở nền tảng của vấn đề nghiên cứu liên quan đến luận văn Bố cục trình bày của chương 1 bao gồm: (1) Lý do lựa chọn đề tài, (2) Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, (3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; (4) Phương pháp nghiên cứu, (5) Ý nghĩa của nghiên cứu và (6) Bố cục của luận văn
1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Hiện nay môi trường xanh trên toàn cầu đang bị ô nhiễm trầm trọng, Tình trạng môi trường bị ô nhiễm có thể gây ra nhiều hậu quả không chỉ trực tiếp làm tổn hại đến sức khỏe, tính mạng con người mà còn ảnh hưởng đến giống nòi, con cháu thế hệ sau Nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm đáng báo động này là do các khu dân cư đông đúc, chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, trường học ở các thành phố lớn, nhà máy, công trình… mỗi ngày thải ra ngoài môi trường rất nhiều chất thải rắn (CTR), chất thải nguy hại đến sự sống của con người và các sinh vật khác
Mỗi năm có khoảng 4,2 triệu người trên toàn thế giới chết vì ô nhiễm môi trường (theo W.H.O) Chỉ một dẫn chứng này đủ để thấy ô nhiễm môi trường sống
đã và đang là vấn đề nóng trên toàn cầu, cần được con người xem xét nghiêm túc CTR trong sinh hoạt chiếm tỷ trọng lớn nên sự ô nhiễm gây ra từ CTR sinh hoạt được các nhà nghiên cứu về môi trường quan tâm nghiên cứu xử lý Ở các nước phát triển các quá trình thu gom và quản lý CTR được hoàn thiện là do có cơ sở vật chất, kỹ thuật đầy đủ, ngoài ra ý thức bảo vệ môi trường của người dân rất cao Chính vì vậy, việc phân loại rác thải tại nguồn rất tốt Mặt khác, các công nghệ tái chế CTR đã được phát triển và ứng dụng phổ biến ở một số nước như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… ngành công nghiệp môi trường đã được thành lập nhằm giải quyết được ô nhiễm môi trường, tái chế chất thải và đem lại hiệu quả kinh tế cao
Kinh nghiệm nhiều quốc gia cho thấy họ đã tận dụng hiệu quả rác thải, biến rác thải thành tài nguyên, mang lại giá trị kinh tế lớn Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Châu Âu đang đi đầu trong các giải pháp xử lý rác thải và họ coi
Trang 13rác thải chính là nguồn tài nguyên quý giá, rác chính là cơ hội kinh doanh vừa mang lại lợi nhuận kinh tế vừa bảo vệ môi trường
Thụy Điển là quốc gia trong nhiều năm liền đi đầu trong hoạt động tái chế rác thải, tỷ lệ rác thải từ các hộ gia đình được tái chế lên tới 99% Hiện quốc gia này đang phải nhập khẩu rác từ các nước khác để các nhà máy tái chế tiếp tục hoạt động, tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế.Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới loay hoay với bài toán tái chế rác thải nhựa thì Australia đã dùng công nghệ sinh học để tái chế nhựa, chuyển đổi lại thành nhựa chất lượng cao
Na Uy cũng là một trong những quốc gia đi đầu trên thế giới trong phong trào tái chế chất thải nhựa Bằng chứng là 97% chai nhựa từ nước này đã được tái chế, 92% trong số đó quay trở lại thành nhựa chất lượng cao và có thể tiếp tục đựng nước uống Vòng đời của một số chai nhựa ở Na Uy có thể lên tới 50 lần tái chế Điều này biến quốc gia Bắc Âu trở thành hình mẫu của cả thế giới trong lĩnh vực xử
lý rác thải rắn cũng như bảo vệ môi trường
Tại Việt Nam, theo kết quả kiểm tra, đánh giá của Tổng cục Môi trường đến tháng 12/2019, cả nước có 381 lò đốt CTR sinh hoạt, 37 dây chuyền sản xuất phân compost, 904 bãi chôn lấp, riêng tổng diện tích các bãi chôn lấp rác thải tại các khu
đô thị đã lên tới 4.900 ha, trong đó có không ít bãi chôn lấp không hợp vệ sinh Hiện có tới 71% tổng lượng chất thải (tương đương 43 nghìn tấn/ngày) trên toàn quốc xử lý bằng phương pháp chôn lấp (không bao gồm lượng bã thải và tro xỉ từ các cơ sở chế biến phân compost và các lò đốt); 16% tổng lượng chất thải (tương đương 9,5 nghìn tấn/ngày) được xử lý tại các nhà máy chế biến sản xuất phân compost; 13% tổng lượng chất thải (tương đương 8 nghìn tấn/ngày) được xử lý bằng phương pháp đốt
Nha Trang là một thành phố ven biển, là một trung tâm du lịch lớn của cả nước với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, điều kiện thiên nhiên ưu đãi cả về vị trí, cảnh quan, khí hậu, cùng với nền tảng về lịch sử, nhân văn và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa
Trang 14Trong những năm gần đây, thành phố Nha Trang phát triển và đô thị hóa nhanh Hiện nay trên địa bàn thành phố Nha Trang đã và đang hình thành rất nhiều khu đô thị mới.Trong quá trình phát triển, thành phố Nha Trang đã tạo một lượng lớn rác thải, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Trong đó nguyên nhân chính là ý thức của người dân
và khách du lịch chưa cao, vẫn còn tình trạng xả rác bừa bãi không đúng quy định, nhất
là khu vực bờ biển, kênh hồ Lượng rác thải thu gom hằng năm tăng, cụ thể:
Hiện nay, mỗi ngày thành phố Nha Trang thải ra khoảng 520 đến 550 tấn rác thải sinh hoạt Trên địa bàn thành phố, người dân chưa thực hiện phân loại rác tại nguồn Công tác thu gom rác sinh hoạt do Công ty CP môi trường đô thị Nha Trang phụ trách toàn bộ ở các khu dân cư tập trung và các tuyến đường chính trên địa bàn của 27 xã, phường Lượng rác thải thu gom qua các năm tăng đáng kể, năm 2017: 177.478 tấn; năm 2018: 194.312 tấn; năm 2019: 209.952 tấn Phương pháp xử lý từ trước đến nay là chôn lấp Trước đây thành phố Nha Trang đã quy hoạch bãi rác Rù
Rì, diện tích 6,6 ha đã đầy và đóng cửa từ tháng 9/2014, bãi rác Lương Hòa, xã Vĩnh Lương đang hoạt động, diện tích 12,8 ha, dự kiến bãi rác này sẽ đầy và đóng cửa vào năm 2023 Hiện tại, Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã có chủ trương giao Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở tài nguyên môi trường lựa chọn công nghệ xử lý rác tiên tiến, phù hợp với điều kiện địa phương để xử lý CTR sau khi bãi rác Lương Hòa đầy, dự kiến nhà máy sẽ đặt gần bãi rác Lương Hòa, có diện tích 5,5 ha
Chính vì thế, việc nghiên cứu hành vi của người dân trong công tác quản lý CTRSH ở thành phố Nha Trang là việc làm cần thiết, phù hợp với chủ trương đầu
tư nhà máy xử lý CTR của Nhà nước Qua đó, giúp cho việc đánh giá sát tình hình thực tế, xác định đúng vai trò của người dân và nhà nước trong công tác này, đồng thời chỉ ra những yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân, đề xuất các giải pháp cải thiện tình hình, hoàn thiện chính sách của chính quyền khi đưa nhà
máy vào hoạt động Đề tài “Các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn thành phố Nha Trang” là cấp thiết,
góp phần xác định và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động
Trang 15phân loại CTR sinh hoạt tại thành phố Nha Trang Từ đó có những đề xuất giải pháp
để giải quyết vấn đề này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu:
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát:
Đề tài nghiên cứu Các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn thành phố Nha Trang, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác phân loại và xử lý chất thải rắn, hướng tới thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đô thị
Đồng thời, sẽ có các giải pháp nhằm nâng cao ý thức của người dân và giúp ban lãnh đạo có những chủ trương trong công cuộc đầu tư cơ sở hạ tầng quản lý và
xử lý CTR
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
Mục tiêu 1: Xác định các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn
sinh hoạt tại nguồn của người dân Tp Nha Trang
Mục tiêu 2: Thực hiện đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố
đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn của người dân Tp Nha Trang
Mục tiêu 3: Nghiên cứu đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao ý định
của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn tại Tp
Nha Trang
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Cần trả lời được các câu hỏi dưới đây, để thực hiện được các mục tiêu đã nêu như trên
Câu hỏi 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định của người dân trong hoạt động
PL CTR sinh hoạt tại nguồn gồm những yếu tố nào?
Trang 16Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng từng yếu tố đến ý định của người dân trong
hoạt động PLCTR sinh hoạt tại nguồn tại Tp Nha Trang như thế nào?
Câu hỏi 3: Hàm ý quản trị nào cần thiết nhằm nâng cao ý định của người
dân trong hoạt động PL CTR sinh hoạt tại nguồn tại Tp Nha Trang?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn Đối tượng khảo sát: những người dân đang sống trên địa bàn Tp Nha Trang Phạm vi thời gian: Tháng 7/2020 đến tháng 10/2020
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng thực hiện gồm 2 bước: Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Bằng cách phỏng vấn sâu để giải quyết mục tiêu nghiên cứu Mục đích của nghiên cứu này dùng để điều chỉnh và bổ sung thang đo đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến ý định của người dân trong hoạt động PL CTR sinh hoạt tại nguồn
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng sơ bộ: được thực hiện để điều chỉnh thang đo sơ bộ
đã xây dựng trong nghiên cứu định tính, được sử dụng trong nghiên cứu nhằm loại
bỏ bớt các biến đo lường không đạt yêu cầu
Nghiên cứu định lượng chính thức: Dùng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng cách phỏng vấn sâu ý định của người dân trong hoạt động PL CTR sinh hoạt tại nguồn
Thông tin tiếp nhận được sẽ xử lý bằng phần mềm SPSS theo trình tự: (1) Thống kê mô tả;
(2) Dựa trên hệ số Cronbach’s alpha để thực hiện đánh giá độ tin cậy thang đo;
Trang 17(3) Phân tích nhân tố khám phá EFA
(4) Phân tích tương quan;
(5) Bằng phân tích hồi quy tuyến tính đa biến, tác giả thực hiện kiểm định
mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định thực hiện PLCTRTN của người dân Tp Nha Trang như thế nào?, nhằm làm cơ sở đẩy nhanh tiến độ thực hiện PLCTRSH tại nhà của mỗi người dân
1.6 Bố cục của luận văn
Chương 1 Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương này trình bày sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp tiến hành nghiên cứu đồng thời nêu đối tượng, phạm vi và kết cấu của luận văn
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương này trình bày, tổng hợp các khái niệm làm cơ sở lý luận đánh giá hành vi của con người nói chung và hành vi trong ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt nói riêng trên địa bàn Tp Nha Trang, tổng quan các nghiên cứu trước và đồng thời cũng đề ra mô hình nghiên cứu đề xuất cho đề tài
Trang 18Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày quy trình nghiên cứu và phương pháp được thực hiện để đánh giá các thang đo các khái niệm nghiên cứu và mô hình các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn thành phố Nha Trang Phương pháp nghiên cứu được thực hiện qua hai giai đoạn chính: nghiên cứu sơ bộ gồm có định tính và định lượng, nghiên cứu chính thức có nghiên cứu định lượng
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Nội dung chương 4 thực hiện phân tích độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy tuyến tính
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Thông qua kết quả nghiên cứu từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao
ý định của người dân trong việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn Đồng thời nêu những hạn chế của nghiên cứu nhằm có hướng tốt hơn cho những nghiên cứu tiếp theo
Trang 19CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu của đề tài, ở chương 2 tác giả đã khái quát được những khái niệm, những nghiên cứu ứng dụng liên quan đến vấn đề nghiên cứu cũng được đề cập như là tiền đề cho việc nhận diện một cách hệ thống các yếu
tố cấu thành ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn thành phố Nha Trang và là cơ sở cho mô hình nghiên cứu của luận văn
2.1 Lý thuyết nền của đề tài nghiên cứu
2.1.1 Lý thuyết hành vi của con người
Các nhà tâm lý học hành vi tin rằng phản ứng của con người đối với kích thích từ môi trường tạo nên hành vi Hành vi có thể được học tập một cách có hệ thống và được quan sát một cách rõ ràng từ bên ngoài, không đi sâu vào diễn biến tâm lý nội tâm Về cơ bản, người ta chỉ xét đến những hành vi quan sát được – những thứ như nhận thức, cảm xúc và tâm trạng khó được xem xét
Các nhà tâm lý học hành vi tin rằng bất kỳ ai cũng có khả năng được đào tạo
để thực hiện một công việc nào đó dù nền tảng di truyền, tính cách và suy nghĩ nội tâm có thể khác nhau
Thuyết hành vi ra đời năm 1913 với xuất bản của John B Watson Psychology as the Behaviorist Views It (Tâm lý học qua cái nhìn của nhà hành vi học) Những nhà tâm lý học hành vi tin rằng tất cả các hành vi đều là kết quả của trải nghiệm Bất kỳ ai, dù nền tảng xuất thân học vấn có khác nhau, vẫn có thể được đào tạo theo một cách thức nào đó với các điều kiện phù hợp
Một kết quả tích cực có được sau khi thực hiện một hành động, thì hành động đó có khả năng xuất hiện trở lại trong tương lai Ngược lại, các phản ứng theo sau bởi kết quả tiêu cực sẽ ít có khả năng lặp lại trong tương lai
Ví dụ: Một hành động vứt rác bừa bãi nơi công cộng sẽ bị Cảnh sát môi
trường phạt chế tài, thì việc lặp lại sẽ được chủ thể cân nhắc và ít có khả năng xảy
ra
Trang 202.1.2 Lý thuyết hành động xã hội
Hành động xã hội là hành động mà chủ thể gắn cho ý nghĩa chủ quan nhất định Ý thức luôn gắn liền trong chủ nghĩa xã hội, nhu cầu và quyền lợi của mỗi cá nhân là nơi bắt đầu của hành động xã hội, đó là những động cơ thúc đẩy hành động hay nói cách khác mọi người hành động đều có mục đích Sự tác động của môi trường, hoàn cảnh tới hành động tùy theo hoàn cảnh hoạt động mà các chủ thể hành động sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất đối với mình.”
Hình 2.1.Tổng quan lý thuyết hành động xã hội
(Nguồn: Trần Hữu Quang, 2019 )
Lý thuyết này cho rằng ở xã hội phát triển, hành động của con người sẽ tuân theo hành động hợp lý về giá trị và hợp lý về mục đích, thay vì hành động theo truyền thống hay theo cảm xúc
2.1.3 Lý thuyết kiểm soát xã hội
Kiểm soát xã hội có thể là sự bố trí chuẩn mực, các giá trị cùng những chế tài ép buộc việc thực hiện chúng Dựa trên các chuẩn mực đã có sẵn thì hành vi của mỗi cá nhân phải được kiểm soát, để nhằm giữ cho cộng đồng và xã hội phát triễn vững mạnh
2.2 Các mô hình lý thuyết về hành vi dự định
2.2.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action –TRA)
Lý thuyết TRA, được Fishbein và Ajzen đưa ra năm 1975, cho rằng con người ra quyết định dựa vào ý định thực hiện hành vi, và ý định này phụ thuộc vào hai yếu tố:
Chủ thể Động cơ
Trang 21(1) Thái độ về hành vi đó (một người đang phân vân về một sản phẩm thì thái độ thích hay không thích sản phẩm đó thì sẽ dẫn đến hành vi);
(2) Tiêu chuẩn chủ quan liên quan đến hành vi đó (người mua luôn chịu sự tác động từ bên ngoài như người thân, bạn bè, người đi trước sẽ dẫn đến thái độ của họ) “Hai nhân tố trên là tiền đề cho ý định thực hiện hành vi (TRA) Lý thuyết TRA được áp dụng rất hiệu quả trong chiến lược marketing nhằm dự báo hay tiên đoán những hành vi nằm trong tầm kiểm soát của ý chí con người Mô hình TRA được cấu thành từ hai yếu tố và sự khác biệt của lý thuyết này là thực hiện đo lường nhân tố chủ quan, tức là đo lường mức độ cảm xúc của người tiêu dùng khi chịu sự tác động của các nhân tố bên ngoài Sự tác động của các nhân tố bên ngoài phụ thuộc vào mối quan hệ đối với người tiêu dùng, nếu mối quan hệ càng thân thiết thì mức độ ảnh hưởng càng mạnh, từ đó tạo dựng lòng tin của người mua đối với sản phẩm cũng khác nhau dẫn đến việc người tiêu dùng tiến tới sản phẩm cũng bị ảnh hưởng nhiều từ nhân tố này
Thuyết hành động hợp lý (TRA) cho thấy rằng mỗi sản phẩm khác nhau hay thương hiệu khác nhau sẽ ảnh hưởng đến thái độ hướng tới hành vi chứ không ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi
Hình 2.2 Mô hình lý thuyết về hành vi dự định
Đo lường niềm tin
đối với những thuộc
Đo lường niềm tin
đối với những thuộc
tính của sản phẩm
Thái độ
Chuẩn chủ quan
Xu hướng hành vi
Hành vi thực sự
Trang 222.2.2 Mô hình thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB)
Lý thuyết TPB đã được Ajzen bổ sung năm 1991 bằng việc thêm yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức thể hiện ở chỗ thực hiện hành vi khó hay dễ dựa trên lòng tin của cá nhân
Hình 2.3 Mô hình thuyết hành vi dự định
(Nguồn: Armitage & Conner, 2001)
Thuyết TPB nêu lên 3 yếu tố cơ bản sau:
(i) yếu tố cá nhân là thái độ cá nhân đối với hành vi là tích cực hay tiêu cực; (ii) ảnh hưởng xã hội như là một sức ép xã hội được cảm nhận về việc thực hiện hay không thực hiện hành vi đó;
(iii) sự tự nhận thức (self-efficacy) hoặc khả năng thực hiện hành vi, được gọi là kiểm soát nhận thức hành vi (Ajzen, 2005) Tuy nhiên, lý thuyết TPB vẫn còn hạn chế trong việc dự đoán hành vi, trong đó các yếu tố đầu tiên là quyết định kiểm soát các hành vi cá nhân như thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen, 1991) Kinh nghiệm thực tế chỉ ra khoảng 40% sự biến động của hành vi được giải thích bởi thuyết TPB (Ajzen, 1991; Werner, 2004) Hạn chế thứ hai là thời gian để nhận thức các yếu tố cá nhân Trong khoảng thời gian có thể nhận thức được thì yếu tố tâm sinh lý của con người cũng đã thay đổi Hạn chế cuối cùng là con người hành động dựa trên một chuẩn mực đã đề ra, nhưng trên thực tế thì con người luôn thay đổi chuẩn mực trong quyết định của họ
Xu hướng hành vi
Trang 232.3 Các khái niệm liên quan
2.3.1 Khái niệm về sự tham gia
Theo Van de Valde và cộng sự (2010) sự tham gia là quá trình tham gia vào một hoạt động hoặc là quá trình trải qua các hoạt động trong thực tế khu vực họ đang sống.Theo ADB (2013), sự tham gia là cần thiết vì những chương trình được thực hiện nhằm mục đích lợi ích của người dân tại khu vực và thực chất bản thân một chương trình được thực hiện và đánh giá đạt yêu cầu vẫn có xu hướng tốn rất nhiều kinh phí, chương trình thực hiện kém hiệu quả nếu không có sự tham gia của người dân và các bên liên quan Sự tham gia được xem là cần thiết để phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hiện nay nhằm tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa chính phủ và người dân để lựa chọn
và đóng góp vào hoạt động, đồng thời cùng hợp tác, thực hiện và tìm kiếm những vấn
đề hay những ảnh hưởng có thể xảy ra để hoàn thiện
2.3.2 Môi trường và rác thải
Môi trường
Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam định nghĩa khái niệm môi trường như sau: Môi trường có quan hệ tác động chặt chẽ lẫn nhau gồm 2 yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo hoạt động xung quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất,
sự sống của con người và môi trường tự nhiên Môi trường tự nhiên cung cấp cho trái đất khoáng sản, không khí, sinh vật sống động thực vật… giúp cho đời sống của loài người đa dạng và phong phú Môi trường tự nhiên duy trì hệ sinh thái lành mạnh, giúp các hệ sinh vật phát triển có lợi cho môi trường sống của con người, bên cạnh đó con người cũng tạo ra môi trường nhân tạo như máy bay, công trình nhà cửa, công viên cây xanh nhân tạo…Tóm lại môi trường bao gồm tất cả các nhân tố tự nhiên và nhân tạo cần thiết cho quá trình sống và phát triển của sự sống, sản xuất của con ngưởi
Rác thải
Rác thải là một chu trình của môi trường sống mà mỗi hoạt động của con người thải ra Rác thải là phần bỏ đi hoặc được tái chế theo quy định Chất thải rắn
Trang 24sinh hoạt (CTRSH) được tạo ra từ thói quen sinh hoạt của con người Rác sinh hoạt được thải ra ở mọi nơi, mọi lúc trong phạm vi thành phố hoặc khu dân cư, từ các hộ gia đình, khu chợ, nhà hàng, khu vui chơi, bệnh viện, trường học (Tabios và David, 2002) Theo Basu (2010) rác thải có nhiều nguồn khác nhau, gồm rác thải từ hộ gia đình, rác thải công nghiệp, thương mại, y tế, động vật, nông nghiệp, khoáng chất…
Rác thải có nhiều loại như rắn, khí, lỏng
Chất thải rắn
Là dạng chất thải cô đặc và có tính chất cứng, chúng được hình thành từ các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, dịch vụ… Nó bao gồm chất thải rắn thông thường và nguy hại Chất thải rắn sinh hoạt xuất hiện trong sinh hoạt mỗi hộ gia đình, nơi công cộng Chất thải rắn công nghiệp xuất hiện ở các khu sản xuất công nghiệp, kinh doanh
Khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì hoạt động tập hợp, phân loại, tái chế, lưu trữ sẽ được tập trung tại một địa điểm theo quy định trước khi chúng được đưa đến nơi đủ điều kiện để xử lý
Để xử lý CTR cần phải có một quá trình sử dụng các biện pháp kỹ thuật, công nghệ cao nhằm loại bỏ, tiêu hủy các độc tính và bên cạnh đó thu hồi, tái chế sử dụng lại các thành phần có ích trong CTR
2.3.3 Nguồn gốc phát sinh và phân loại chất thải rắn sinh hoạt
CTR sinh hoạt là những phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng Các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bao gồm:
Khu tập trung nhiều người; siêu thị; quán ăn, chợ…
Các nơi chuyên gia nghiên cứu
Khu xử lý nước thải
Các trung tâm dịch vụ
Trang 25Để phân loại chất thải rắn sinh hoạt có thể dựa vào rất nhiều tiêu chí khác nhau như: phân loại theo vị trí hình thành, theo thành phần vật lý, hoá học, theo tính chất rác thải
Theo vị trí hình thành: Dựa vào đặc tính của rác hình thành ở vị trí nào mà người ta sẽ phân loại riêng biệt như rác thải hộ dân, rác thải khu công nghiệp, rác thải bệnh viện…
Theo thành phần hóa học và vật lý: dựa vào nguyên lý cấu tạo của rác mà phân loại chúng theo đặc tính kim loại, vô cơ hay hữu cơ
Chất thải được phân thành các loại sau:
Chất thải nguy hại: bao gồm các hoá chất dễ phản ứng, các chất độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, dễ gây nổ, chất thải phóng xạ
Chất thải không nguy hại: Là những chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp
2.3.5 Tác động của rác thải sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
Rác khi thải vào bề mặt trái đất gây ô nhiễm các nguồn tài nguyên sống Bên cạnh đó, rác thải còn gây nguy hiểm đến sức khỏe con người, gây dơ dáy làm mất
vẻ đẹp của cảnh quan Rác thải là chỗ gây ra các loại virus tiềm ẩn có thể gây ra các bệnh dịch tràn lan và không có vacxin cứu chữa Độ ảnh hưởng của rác thải ảnh hưởng tới môi trường nhiều hay ít còn phụ thuộc vào nền kinh tế của từng quốc gia, trình độ hiểu biết của người dân và quy trình tiên hành xử lý rác thải nghiêm ngặt
Trang 26hay lỏng lẻo của chính quyền Khi công nghệ máy móc ngày càng tối tân thì việc phân loại biến rác thải thành nguồn nguyên liệu mới có ích cho sản xuất trồng trọt hay các công trình xây dựng thì vấn đề cải tạo môi trường sẽ theo chiều hướng tích cực hơn
Ảnh hưởng đến môi trường không khí: Nguồn rác thải từ các hộ gia đình thường là các loại thực phẩm chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ khối lượng rác thải ra Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều ở nước ta là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân huỷ, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa và tạo nên mùi khó chịu cho con người Các chất thải khí phát ra từ các quá trình này thường là H2S, NH3, CH4, SO2, CO2
Ảnh hưởng đến môi trường nước: Đây là ảnh hưởng trầm trọng nhất hiện nay, nhất là tình trạng rác thải nhựa trên biển và đại dương, bên cạnh đó còn nguồn rác thải ở các bề mặt sông hồ, cống rãnh Một phần chất độc của nguồn rác này có thể phân hủy này sẽ ngấm vào lòng đất, nguồn nước sinh hoạt của con người Gây ách tắc tù đọng ao hồ, cống rảnh Hậu quả của hiện tượng này là hệ sinh thái nước ngấm nhiều chất độc, gây ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của con người và vật nuôi, gây ra các bệnh lạ mà hiện nay chưa có thuốc chữa dứt điểm
Ảnh hưởng của rác thải tới môi trường đất: Trong thành phần rác thải có chứa nhiều các chất độc, do đó khi rác thải được đưa vào môi trường đất thì sẽ tiêu diệt hết phần lớn các vi sinh vật có lợi cho nền nông nghiệp, làm mất cân bằng hệ sinh thái, chuỗi thức ăn của động thực vật, sản sinh ra các độc tố xâm nhập vào đất
sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất như: giun, vi sinh vật Với nhu cầu sinh hoạt cao với việc sử dụng túi ni-long đựng vật dụng hàng ngày, cũng đặc biệt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ô nhiễm môi trường, với đặc tính phân hủy từ 70-
80 năm vật này gây cản trở sự phân hủy, sự trao đổi các chất dinh dưỡng trong môi trường đất, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, dẫn đến năng suất cây trồng thấp, từ đó ảnh hưởng đến nền kinh tế nông nghiệp
Trang 27Ảnh hưởng của rác thải đối với sức khoẻ con người: Rác thải không được thu gom, tồn đọng trong không khí, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người sống xung quanh Những người như công nhân vệ sinh tiếp xúc lâu với rác thải dễ mắc các bệnh về da, ung thư, làm giảm tuổi thọ Theo thống kê của tổ chức y khoa thế giới thì hàng năm số người chết vì ô nhiễm rác thải là hơn 6 triệu người và hơn
35 triệu trẻ em mắc các bệnh về đường ruột và hô hấp Theo nghiên cứu của tác giả
Lê Huy Bá ( 2002) thì việc phân hủy các loại động vật gây ra chất amin và sufua hydro ảnh hưởng đến những người có bệnh nhạy cảm như hen suyễn, cao huyết áp
và tim mạch
Các bãi rác công cộng không hoặc xử lý lâu ngày là những nguồn ủ dịch bệnh, lây lan thành đại dịch trên toàn cầu, là vấn đề nghiêm trọng cả thế giới hiện nay đang quan tâm
2.3.6 Nguyên tắc quản lý chất thải rắn sinh hoạt
Phân loại chất thải rắn tại nguồn
Khái niệm này được hiểu là với nguồn rác ngay tại nơi ban đầu sẽ được phân loại ra từng loại khác nhau tùy theo đặc tính của rác, ví dụ như rác ở hộ gia đình sẽ được phân thành 2 loại rác dễ tiêu hủy dung được sau khi tái chế để bón cây, hoặc làm thức ăn cho vật nuôi Rác thải tại khu vực y tế sẽ được phân loại ngay tại cơ sở, rác sinh hoạt của bệnh nhân hay rác y tế cần có quá trình xử lý nghiêm ngặt để tiêu diệt mầm bệnh, tránh lây lan ra cộng đồng
Thu gom chất thải rắn sinh hoạt
Là hoạt động khoanh vùng và gom lại theo từng hộ gia đình hay theo khu vực, sau đó vận chuyển đến các nhà máy xử lý rác thải theo quy định để phục vụ cho việc phân loại và tái chế
Quy hoạch thu gom chất thải rắn sinh hoạt: Đánh giá cách thức sử dụng các nhân lực, phương tiện sao cho có hiệu quả nhất Các yếu tố cần quan tâm khi quy hoạch quản lý chất thải rắn sinh hoạt:
Trang 28- Chất thải rắn tạo ra (nguồn phát sinh, khối lượng, thành phần );
- Phương thức thu gom;
- Mức độ dịch vụ cần cung cấp;
- Tần suất và năng suất thu gom;
- Thiết bị thu gom;
- Mật độ dân số;
- Đặc điểm địa hình, khí hậu khu vực;
- Đối tượng và khu vực;
- Nguồn tài chính và nguồn nhân lực…
Trung chuyển và vận chuyển: Trung chuyển là hoạt động mà các chất thải sẽ được vận chuyển tập hợp vào một xe lớn bằng cách thu gom ở các xe nhỏ Các phương tiện thu gom này thường có kích thước nhỏ để tiện lợi luồn lách vào các hẻm trong khu dân cư, sau khi thu gom thì sẽ vận chuyển đến các nơi tập kết hoặc
xe gom rác thải lớn hơn Các hoạt động trung chuyển và vận chuyển cũng được sử dụng kết hợp hay liên kết với những trạm thu hồi vật liệu để vận chuyển các vật liệu tái chế đến nơi tiêu thụ, hay vận chuyển phần vật liệu không thể tái sinh đến bãi chôn lấp
Mục tiêu của xử lý chất thải rắn là giảm hoặc loại bỏ các thành phần không mong muốn trong chất thải như các chất độc hại, không hợp vệ sinh, rác đã nén ép này được sử dụng vào việc đắp các bờ chắn hoặc san lấp những vùng đất trũng sau khi được phủ lên các lớp đất cát Để tạo cảnh quan sạch đẹp thì trên bề mặt những nơi xử lý rác này sẽ được trồng cây xanh, hoặc xây dựng các công trình công cộng nhỏ như công viên, vườn hoa với mục đích chính vừa tiết kiệm không gian, vừa là
sự kết hợp mang lại tính thẩm mỹ cao cho xã hội
Trang 292.4 Quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại một số nước trên Thế giới
Hiện nay ở các nước phát triển đã có những mô hình phân loại, thu gom, xử
lý chất thải rắn sinh hoạt rất hiệu quả Tại các nước phát triển quá trình phân loại rác tại nguồn đã diễn ra cách đây 30 - 40 năm và đến nay hầu hết đã đi vào nền nếp
Ở mức độ thấp, rác thải được tách thành 2 loại là hữu cơ dễ phân huỷ và loại khó phân huỷ Ở mức độ cao hơn, rác được tách thành 3 hay nhiều loại hơn nữa ngay từ
hộ gia đình hoặc ở các điểm tập kết trong khu dân cư Nhờ đó công tác tái chế rác thải đạt hiệu quả cao hơn, tốn ít chi phí hơn
Nhưng sự thành công của việc sử dụng lại và tái chế chất thải là kết quả của
ba yếu tố có liên quan mật thiết với nhau Một là, quá trình kiên trì vận động, tuyên truyền và cưỡng chế người dân thực hiện phân loại rác tại nguồn Hai là, sự đầu tư thoả đáng của Nhà nước và xã hội vào các cơ sở tái chế rác thải để đủ năng lực tiếp nhận và tiếp tục phân loại, tái chế lượng rác đã được phân loại tại nguồn Ba là, trình độ phát triển của xã hội cả về mặt kinh tế, nhận thức và sự đầu tư cơ sở vật chất để thực hiện tái chế phần lớn lượng rác thải ra hàng ngày và tiêu dùng các sản phẩm tái tạo từ chất thải
Tại Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định: rác hữu cơ, rác vô
cơ, giấy, vải, thủy tinh, rác kim loại Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác còn lại như: giấy, vải, thủy tinh, kim loại… đều được đưa đến cơ sở tái chế hàng hóa Tại đây, rác được đưa đến hầm ủ
có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để Sau quá trình xử lý đó, rác chỉ còn như một hạt cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm Các cặn rác không còn mùi sẽ được đem nén thành các viên lát vỉa hè rất xốp, chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa
Tại Mỹ: Hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố Mỹ lên tới 210 triệu tấn, tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2kg rác/ngày Hầu như thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn về tỷ lệ, cao nhất
Trang 30không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là thành phần chất thải vô
cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dễ lý giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu có nguồn gốc vô cơ Trong thành phần các loại sinh hoạt thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và tỷ lệ kim loại cũng khá cao là 7,7% Như vậy, rác thải sinh hoạt các loại ở Mỹ có thể phân loại và xử lý chiếm tỉ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thủy tinh, sứ chiếm khoảng 20%)
Tại Pháp: Ở nước này quy định phải đựng các loại vật liệu, nguyên liệu hay nguồn năng lượng nhất định để tạo điều kiện dễ dàng cho việc khôi phục các loại vật liệu thành phần Theo đó đã có các quyết định cấm các xử lý hỗn hợp mà phải
xử lý theo phương pháp nhất định Chính phủ có thể yêu cầu các nhà chế tạo và nhập khẩu không sử dụng các loại vật liệu tận dụng để bảo vệ môi trường hoặc giảm bớt sự thiếu hụt vật liệu nào đó Tuy nhiên, cần phải tham khảo và thương lượng để
có sự nhất trí cao của các tổ chức, nghiệp đoàn khi áp dụng các yêu cầu này
Tại Singapore: Đây là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới Để có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền
đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được, được đưa về nhà máy khác để tiêu hủy Ở Singapore có 2 thành phần chính tham gia vào thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát, kiểm tra trực tiếp của Sở Khoa học công nghệ và môi trường Ngoài ra, các hộ dân và các công ty của Singapore được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho các hộ dân vào các công ty Chẳng hạn, đối với các hộ dân thu gom rác thải trực tiếp tại nhà phải trả phí 17đôla Singapore/tháng, thu gom gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí 7đôla Singapore/tháng
Trang 31Một số nước đang phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới cũng đang bắt đầu triển khai chương trình 3R (Reduce, Reuse, Recycle - giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế) Chương trình khuyến khích mọi người giảm thiểu lượng rác thông qua việc thay đổi lối sống và cách tiêu dùng, cải tiến các quy trình sản xuất, mua bán sạch…Ví dụ:
Sử dụng làn hay túi vải để đi chợ thay cho túi nilon để nhằm giảm lượng rác thải phát sinh từ túi nilon Khuyến khích tái sử dụng là việc sử dụng lại các sản phẩm hay một phần của sản phẩm cho chính mục đích cũ hay cho một mục đích khác Còn tái chế là
sử dụng rác thải làm nguyên liệu sản xuất ra các vật chất có ích khác
2.5 Lược khảo nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu 2.5.1 Nghiên cứu nước ngoài
Trọng tâm của đề tài là nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định phân loại rác thải rắn sinh hoạt của người dân Tp Nha Trang cho nên tác giả chỉ tham khảo các công trình nghiên cứu tương tự - nghĩa là các nghiên cứu về tác động đến ý định (tâm lý ảnh hưởng đến hành vi), chứ không phải về phương pháp quản lý hoặc kỹ thuật xử lý rác thuộc về chuyên môn của ngành môi trường
Nghiên cứu của Tonglet và cộng sự (2004) Nhằm nghiên cứu các yếu tố tác
động đến ý định tái chế chất thải của các hộ dân thành phố Brixworth, Vương quốc Anh, Tonglet và cộng sự (2004) đã sử dụng mô hình lý thuyết hành vi có hoạch định – TPB điều tra 191 hộ dân
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Tonglet và cộng sự (2004)
Trang 32Các phát hiện cho thấy thái độ, sự bất tiện và kinh nghiệm thực hiện tái chế
tác động đến ý định tái chế chất thải Thái độ bao gồm các yếu tố như cơ hội, phương tiện và kiến thức; sự bất tiện bao gồm các yếu tố như thời gian, không gian, kinh phí Kinh nghiệm tái chế trước đây, và mối quan tâm đối với cộng đồng và hậu quả của việc tái chế cũng là những yếu tố dự báo đáng kể về hành vi tái chế
Nghiên cứu của Mahmud và Osman (2010)
“Mahmud và Osman (2010) sử dụng mô hình lý thuyết hành vi có hoạch định –TPB để nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của 400 học sinh cấp 2 tại Malaysia Các tác giả đã đề xuất có 3 yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn gồm: (1) Thái độ; (2) Nhận thức chủ quan
và (3) Nhận thức kiểm soát hành vi.”
Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Mahmud và Osman (2010)
Nguồn: Mahmud và Osman (2010)
Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố nhận thức về kiểm soát hành vi có tác động mạnh nhất đến ý định phân loại với hệ số là 0.687, tiếp đó là chuẩn chủ quan với hệ số là 0.593 Trong khi đó, không tìm thấy mối tương quan giữa thái độ và ý định phân loại
Nghiên cứu của Desa và cộng sự (2011):
Desa và cộng sự nghiên cứu ý định tái chế chất thải của các sinh viên năm thứ nhất các trường đại học ở Malaysia thông qua khảo sát 589 sinh viên
Trang 33
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Desa và cộng sự (2011)
Nguồn: Desa và cộng sự (2011)
Kết quả nghiên cứu cho thấy chuẩn mực đạo đức, kiến thức về luật chất thải,
sự tiện lợi tái chế, tác động đến ý định tái chế chất thải Tuy nhiên, kinh nghiệm tái
chế chất thải và sự sẵn có của dụng cụ tái chế không có ý nghĩa thống kê
Nghiên cứu của Philippsen (2015)
Philippsen tiến hành khảo sát ý định tái chế chất thải tại Đại học Twente, Hà Lan thông qua mạng nội bộ của trường Nghiên cứu sử dụng lý thuyết về hành vi có
kế hoạch với việc mở rộng các biến nhận thức về đạo đức, hành vi trong quá khứ, kiến thức và sự bất tiện Kết quả phân tích hồi quy bội cho thấy chuẩn chủ quan, nhận thức nghĩa vụ đạo đức, hành vi trong quá khứ và sự bất tiện tác động đáng kể
ý định tái chế trong khi thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi không tác động đến ý định tái chế của sinh viên
Trang 34Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu của Philippsen (2015)
Nguồn: Philippsen (2015)
Nghiên cứu của Wang và cộng sự (2016)
Wang và cộng sự (2016) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi tái chế chất thải điện tử của người dân ở 7 vùng địa lý, 22 tỉnh của Trung Quốc
Hình 2.8 Mô hình nghiên cứu của Wang và cộng sự (2016)
Trang 35Dựa trên lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB), nghiên cứu sử dụng mô hình phương trình cấu trúc để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi tái chế chất thải điện tử Kết quả cho thấy các yếu tố ảnh hưởng chính là nhận thức về môi trường, thái độ, Thu nhập, phổ biến thông tin và chi phí tái chế Các yếu tố này tác động cùng chiều đối với ý định hành vi tái chế
Nghiên cứu Ayob và cộng sự (2017)
Ayob và cộng sự (2017) sử dụng mô hình lý thuyết hành vi có hoạch định –TPB để nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của sinh viên Đại học Teknologi Các tác giả đã đề xuất có 3 yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn gồm: (1) Thái độ; (2) Nhận thức chủ quan và (3) Nhận thức kiểm soát hành vi
Bảng câu hỏi gồm 19 câu hỏi bao gồm; (1) Thái độ (6 câu hỏi), (2) Nhận thức chủ quan (4 câu hỏi); (3) Nhận thức kiểm soát hành vi (5 câu hỏi) và (4) Ý định phân loại (4 câu hỏi) được phát cho 500 sinh viên của trường để thực hiện điều tra, khảo sát
Trang 36Nghiên cứu của Strydom (2018)
Strydom (2018) khảo sát 2004 hộ gia đình ở Nam Phi về ý định phân loại chất thải Nghiên cứu sử dụng mô hình lý thuyết TPB và áp dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định mô hình Kết quả phân tích SEM cho thấy sự phù hợp của dữ liệu khảo sát với mô hình lý thuyết về mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch, giải thích được 44,4% ý định phân loại chất thải
2.5.2 Nghiên cứu trong nước
Nguyễn Đức Phương (2019) với nghiên cứu “Những yếu tố tác động đến ý
định phân loại chất thải rắn sin hoạt của người dân trên địa bàn Quận 3, thành phố
Hồ Chí Minh” Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí
Minh Các mục tiêu nghiên cứu mà tác giả này đặt ra gồm: thứ nhất, xác định các yếu tố tác động đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn của người dân tại Quận 3; thứ hai, đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn của người dân tại Quận 3; thứ ba, đề xuất, khuyến nghị các hàm ý quản trị nhằm nâng cao ý định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn tại Quận 3 Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS, dữ liệu
Trang 37nghiên cứu được thu thập bằng bảng câu hỏi khảo sát gửi đến các đối tượng khảo sát gồm: những gia đình đang sống trên địa bàn Quận 3 Cụ thể các yếu tố và mức
độ tác động của các yếu tố đến biến phụ thuộc được sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp như sau: (1) Kiến thức, (2) Công tác tuyên truyền, (3) Chuẩn chủ quan, (4) Thái độ, (5) Các quy định của nhà nước
Nguyễn Thanh Hiệp (2019) với nghiên cứu “Nghiên cứu các yếu tố ảnh
hưởng đến hành vi dự định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương” Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường
Đại học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh Các mục tiêu nghiên cứu mà tác giả này đặt ra gồm: thứ nhất, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi dự định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Bàu Bàng; thứ hai, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi dự định của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Bàu Bàng; thứ ba, đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Bàu Bàng Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS, dữ liệu nghiên cứu được thu thập bằng bảng câu hỏi khảo sát gửi đến các đối tượng khảo sát gồm: những người dân đang sống trên địa bàn huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Cụ thể các yếu tố và mức độ tác động của các yếu tố đến biến phụ thuộc được sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp như sau: (1) Chuẩn chủ quan, (2) Thái độ, (3) Nhận thức kiểm soát hành vi
Ngô Đức Tuấn (2018) với nghiên cứu “Phân tích hành vi của người dân
trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn” Luận văn thạc sĩ kinh
tế, Trường Đại học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh Mục tiêu nghiên cứu của tác giả: Phân tích hành vi của người dân trong hoạt động phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải rắn, hướng tới thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đô thị Kết quả nghiên cứu sẽ là dữ liệu giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách có những giải pháp hiệu quả hơn đối với sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động quản lý rác thải đô thị Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết
Trang 38hợp nghiên cứu định tính, xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS, dữ liệu nghiên cứu được thu thập bằng bảng câu hỏi khảo sát gửi đến các đối tượng khảo sát gồm: những người dân đang sống trên địa bàn Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh Cụ thể các yếu tố và mức độ tác động của các yếu tố đến biến phụ thuộc được sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp như sau: (1) Thái độ của người dân về hành động thiết thực, (2) Nhận thức về việc tăng cường các kênh tuyên truyền và được lắng nghe góp ý kiến, (3) Quan ngại của người dân về thời gian, kinh phí cùng hành vi của người trong gia đình
Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm
Tác giả Năm Không gian
nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
(1) Thái độ; (2) Nhận thức chủ quan; (3) Sự bất tiện
Mahmud
và Osman 2010
400 sinh viên cấp 2 tại Malaysia
Thái độ; (2) Nhận thức chủ quan; (3) Nhận thức kiểm soát hành vi
Desa và
cộng sự 2011
589 sinh viên năm thứ nhất tại các trường Đại học tại Malaysia
(1) Chuẩn mực đạo đức; (2) Kiến thức về chất thải; (3) Sự tiện lợi; (4) Kinh nghiệm thực hiện tái chế; (5) Thu nhập
Philippsen 2015
Đại học Twente, Hà Lan
(1) Thái độ; (2) Chuẩn chủ quan; (3) Nhận thức kiểm soát hành vi; (4) Hành vi trong quá khứ; (5) Nghĩa vụ đạo đức; (6)
Sự bất tiện; (7) Kiến thức
Trang 39Tác giả Năm Không gian
nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
Wang và
cộng sự 2016
22 tỉnh của Trung Quốc
(1) Thái độ; (2) Nhận thức về môi trường; (3) Thu nhập; (4) Phổ biến thông tin; (5) Chi phí tái chế
Ayob và
cộng sự 2017
Sinh viên Đại họcTeknologi tại Malaysia
(1) Thái độ; (2) Nhận thức chủ quan; (3) Nhận thức kiểm soát hành vi
Strydom 2018
2004 hộ gia đình ở Nam Phi
(1) Thái độ; (2) Nhận thức chủ quan; (3) Nhận thức kiểm soát hành vi
(1) Kiến thức, (2) Công tác tuyên truyền, (3) Chuẩn chủ quan, (4) Thái độ, (5) Các quy định của nhà nước
(1) Chuẩn chủ quan, (2) Thái
độ, (3) Nhận thức kiểm soát hành vi
(1) Thái độ của người dân về hành động thiết thực, (2) Nhận thức về việc tăng cường các kênh tuyên truyền và được lắng nghe góp ý kiến, (3) Quan ngại của người dân về thời gian, kinh phí cùng hành vi của người trong gia đình
Trang 40Như vậy, qua khảo sát các nghiên cứu trước, nhận thấy mỗi nghiên cứu đều đưa ra những nhận định, đánh giá và kết luận về phân loại chất thải rắn tại nguồn khác nhau do sự khác biệt về lĩnh vực, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu Đây là nguồn tham khảo hữu hiệu, củng cố nền tảng cho lý thuyết nghiên cứu
2.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết
2.6.1 Dựa trên các mô hình nghiên cứu trước để tìm ra mô hình nghiên cứu hợp lý với thực tiễn và đối tượng nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận văn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định phân loại chất thải rắn sinh hoạt của người dân trên địa bàn Tp Nha Trang Vì vậy, phải cụ thể hóa lý thuyết hành vi có kế hoạch
Qua khảo sát các nghiên cứu trước, nhận thấy mỗi nghiên cứu đều đưa ra những nhận định, đánh giá và kết luận về phân loại chất thải rắn tại nguồn khác nhau do sự khác biệt về lĩnh vực, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu cho thấy có những yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi như: Thái độ đối với hành vi; Chuẩn chủ quan (Áp lực xã hội, Chuẩn mực xã hội); Nhận thức kiểm soát hành vi; Niềm tin hành vi, Kỳ vọng của gia đình; Động lực tự quyết cao; Kiến thức; Trách nhiệm đạo lý; Tuyên truyền, Ý kiến nhóm tham khảo, Thủ tục tham gia… Đây là nguồn tham khảo hữu hiệu, củng cố nền tảng cho lý thuyết nghiên cứu
Đối với các mô hình nghiên cứu trước đây, tác giả nhận thấy các yếu tố Thái
độ không ảnh hưởng nhiều trong nghiên cứu của Mahmud và Osman (2010), Philippsen (2015) Tuy nhiên, Tác giả cho rằng việc thải rác sinh hoạt là việc cần thiết hàng ngày của mỗi gia đình và của cả cộng đồng, nhằm giữ gìn môi trường sống vệ sinh, sạch sẽ Nếu như có một gia đình nào đó không giữ vệ sinh, xả rác bừa bãi thì sẽ bị cộng đồng đánh giá thấp Do đó, yếu tố Thái độ có ảnh hưởng nhiều đến ý định phân loại rác thải
Riêng đối với yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi, Domina và Koch (2002)
và Kelly và cộng sự (2006) khi nghiên cứu hành vi phân loại chất thải cho rằng sự