1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ xác định một số dòng giống và biện pháp kỹ thuật chính góp phần nâng cao năng suất đậu tương ở huyện hoàng hoá tỉnh thanh hoá

123 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định một số dòng giống và biện pháp kỹ thuật chính góp phần nâng cao năng suất đậu tương ở huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa
Tác giả Nguyễn Trọng Trang
Người hướng dẫn TS. Vũ Đình Chính
Trường học Trường đại học nông nghiệp I
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT2000.... Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón lân đến sinh trưởng

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trường đại học nông nghiệp I

Nguyễn Trọng trang

Xác định một số dòng, giống và biện pháp

kỹ thuật chính góp phần nâng cao năng suất

đậu tương ở huyện hoằng hoá, tỉnh Thanh Hóa

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành: Trồng trọt Mã số: 60.62.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Đình Chính

Hà Nội, 2005

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã

đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Trọng Trang

Trang 3

Lời cám ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Vũ Đình Chính, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài, cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo khoa Sau Đại học, Khoa Nông học, đặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn Cây công nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội; phòng Trồng trọt và Lãnh đạo Sở Nông nghiệp & PTNT Thanh Hoá; bà con nông dân, UBND các xã Hoằng Vinh, Hoằng Đức và phòng Nông Nghiệp huyện Hoằng Hoá - tỉnh Thanh Hoá; các bạn bè, đồng nghiệp và người thân

đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Tác giả luận văn

Nguyễn Trọng Trang

Trang 4

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 5

của Việt Nam từ năm 1998 đến năm 2004 17 Bảng 3.1: Diễn biến một số yếu tố khí hậu trong thời gian

làm thí nghiệm (vụ xuân 2005) 47

Đồ thị 1: Diễn biến một số yếu tố khí hậu ở huyện Hoằng Hoá 48 Bảng 3.2: Nhiệt độ trung bình của vụ xuân một số năm (oC) 48 Bảng 3.3: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương

của Thanh Hoá từ năm 2000 đến năm 2004 49 Bảng 3.4: ý kiến của nông dân về các yếu tố hạn chế

sản xuất đậu tương trong vùng 53 Bảng 3.5: Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các dòng, giống đậu tương 54 Bảng 3.6: Thời gian sinh trưởng của các dòng, giống đậu tương (ngày) 56 Bảng 3.7: Chỉ số diện tích lá của các dòng, giống đậu tương 57 Bảng 3.8: Khả năng tích luỹ chất khô của các dòng, giống đậu tương 59 Bảng 3.9: Khả năng hình thành nốt sần của các dòng, giống đậu tương 60 Bảng 3.10: Thời gian ra hoa và tổng số hoa nở

của các dòng, giống đậu tương 62 Bảng 3.11: Chiều cao đóng quả, số cành và số đốt hữu hiệu

trên thân chính của các dòng, giống đậu tương 63 Bảng 3.12: Khả năng chống đổ của các dòng giống đậu tương 65 Bảng 3.13: Mức độ nhiễm sâu bệnh của các dòng giống đậu tương 66

Trang 6

Bảng 3.14: Các yếu tố cấu thành năng suất

của các dòng, giống đậu tương 67

Bảng 3.15: Năng suất của các dòng, giống đậu tương (tạ/ha) 69

Đồ thị 2: Năng suất của các dòng, giống đậu tương 70

Bảng 3.16: Hàm lượng protein và lipit của các dòng, giống đậu tương (%) 71

Đồ thị 3: Hàm lượng protein và lipit của các dòng giống đậu tương 71

Bảng 3.17: ảnh hưởng của thời vụ gieo đến thời gian và tỷ lệ mọc mầm 72

Bảng 3.18: ảnh hưởng của thời vụ gieo đến thời gian sinh trưởng 73

Bảng 3.19: ảnh hưởng của thời vụ gieo đến chiều cao cây và đường kính thân 74

Bảng 3.20: ảnh hưởng của thời vụ gieo đến chỉ số diện tích lá 75

Bảng 3.21: ảnh hưởng của thời vụ gieo đến khả năng tích lũy chất khô 76

Bảng 3.22: ảnh hưởng của thời vụ gieo đến khả năng hình thành nốt sần 77

Bảng 3.23: ảnh hưởng của thời vụ gieo đến mức độ nhiễm sâu bệnh 78

Bảng 3.24: ảnh hưởng của thời vụ gieo đến các yếu tố cấu thành năng suất 78

Bảng 3.25: ảnh hưởng của thời vụ gieo đến năng suất của giống ĐT2000 (tạ/ha) 79

Đồ thị 4: Năng suất của giống đậu tương ĐT2000 ở các thời vụ gieo khác nhau 80

Bảng 3.26: ảnh hưởng của liều lượng bón lân đến tỷ lệ mọc mầm (%) và thời gian sinh trưởng (ngày) 81

Bảng 3.27: ảnh hưởng của liều lượng bón lân đến chỉ số diện tích lá 82

Bảng 3.28: ảnh hưởng của liều lượng bón lân đến khả năng tích lũy chất khô 83

Trang 7

Bảng 3.29: ảnh hưởng của liều lượng bón lân đến

khả năng hình thành nốt sần 84 Bảng 3.30: ảnh hưởng của liều lượng bón lân đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT2000 87 Bảng 3.31: Thu nhập thuần của các liều lượng bón lân khác nhau 88

Đồ thị 5: Năng suất và thu nhập thuần của giống đậu tương ĐT2000

ở các liều lượng bón lân khác nhau 89 Bảng 3.32: Hiệu quả sử dụng lân ở các liều lượng bón khác nhau 90

Đồ thị 6: Hiệu quả sử dụng lân ở các liều lượng bón khác nhau 90

Trang 8

Mục lục Trang

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, yêu cầu 3

3 ý nghĩa của đề tài 3

4 Giới hạn của đề tài 4

chương I cơ sở khoa học và tổng quan tài liệu 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 9

1.3 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam 11

1.4 Những nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 19

1.5 Các yếu tố hạn chế chủ yếu đến sản xuất đậu tương ở Việt Nam 33

1.6 Nhận xét chung 36

chương II vật liệu - nội dung và phương pháp nghiên cứu 2.1 Vật liệu nghiên cứu 38

2.2 Nội dung, thời gian và địa điểm nghiên cứu 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu 39

2.4 Quy trình kỹ thuật 41

2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 42

2.5.1 Các đặc trưng hình thái 42

2.5.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển 42

Trang 9

2.5.3 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 43

2.5.4 Mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận 44

chương iII kết quả nghiên cứu và thảo luận 3.1 Khái quát đặc điểm khí hậu, thời tiết của khu vực nghiên cứu 45

3.2 Hiện trạng sản xuất đậu tương ở Thanh Hóa 48

3.3 Một số yếu tố hạn chế sản xuất đậu tương ở huyện Hoằng Hóa 50

3.4 Kết quả thí nghiệm đồng ruộng về một số biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất đậu tương 54

3.4.1 Kết quả so sánh một số dòng, giống đậu tương trong điều kiện vụ xuân tại huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa 54

3.4.1.1 Thời gian và tỷ lệ mọc mầm của các dòng, giống đậu tương 54

3.4.1.2 Thời gian sinh trưởng của các dòng giống đậu tương 55

3.4.1.3 Chỉ số diện tích lá của các dòng, giống đậu tương 57

3.4.1.4 Khả năng tích luỹ chất khô của các dòng, giống đậu tương 58

3.4.1.5 Khả năng hình thành nốt sần của các dòng, giống đậu tương 60

3.4.1.6 Thời gian ra hoa và tổng số hoa nở của các dòng, giống đậu tương 61

3.4.1.7 Chiều cao đóng quả, số cành và số đốt hữu hiệu trên thân chính của các dòng, giống đậu tương 62

3.4.1.8 Khả năng chống đổ và mức độ nhiễm sâu bệnh của các dòng, giống đậu tương 64

3.4.1.9 Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng giống đậu tương 66

3.4.1.10 Năng suất của các dòng giống đậu tương 68

3.4.1.11 Hàm lượng protein và lipit của các dòng, giống đậu tương 70

Trang 10

3.4.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT2000 72 3.4.2.1 ảnh hưởng của thời vụ gieo đến thời gian và tỷ lệ mọc mầm

của giống đậu tương ĐT2000 72 3.4.2.2 ảnh hưởng của thời vụ đến thời gian sinh trưởng

của giống đậu tương ĐT2000 73 3.4.2.3 ảnh hưởng của thời vụ gieo đến chiều cao cây và

đường kính thân của giống đậu tương ĐT2000 73 3.4.2.4 ảnh hưởng của thời vụ đến chỉ số diện tích lá

của giống đậu tương ĐT2000 74 3.4.2.5 ảnh hưởng của thời vụ đến khả năng tích lũy

chất khô của giống đậu tương ĐT2000 75 3.4.2.6 ảnh hưởng của thời vụ gieo đến khả năng hình thành

nốt sần của giống đậu tương ĐT2000 76 3.4.2.7 ảnh hưởng của thời vụ gieo đến khả năng nhiễm sâu bệnh

của giống đậu tương ĐT2000 77 3.4.2.8 ảnh hưởng của thời vụ gieo đến các yếu tố cấu thành

năng suất của giống đậu tương ĐT2000 78 3.4.2.9 ảnh hưởng của thời vụ gieo đến năng suất của giống ĐT2000 79 3.4.3 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón lân

đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và hiệu quả kinh tế

của giống đậu tương ĐT2000 80 3.4.3.1 ảnh hưởng của lượng lân bón đến tỷ lệ mọc mầm

và thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT2000 80 3.4.3.2 ảnh hưởng của liều lượng bón lân đến chỉ số diện tích

lá của giống đậu tương ĐT2000 82

Trang 11

3.4.3.3 ảnh hưởng của liều lượng bón lân đến khả năng

tích lũy chất khô của giống đậu tương ĐT2000 82 3.4.3.4 ảnh hưởng của liều lượng bón lân đến khả năng

hình thành nốt sần của giống ĐT2000 83 3.4.3.5 ảnh hưởng của liều lượng bón lân đến các yếu tố cấu thành

năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT2000 85 3.4.3.6 Hiệu quả kinh tế của các liều lượng bón lân khác nhau 87 3.4.3.7 Hiệu quả sử dụng lân ở các liều lượng bón khác nhau 89

Trang 12

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

chiếm vị trí quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và phát triển nông nghiệp bền vững

Từ xa xưa, cây đậu tương đã được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và ở hầu hết các tỉnh của nước Việt Nam Sở dĩ như vậy vì cây đậu tương

là loại cây trồng có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao nhờ khả năng cải tạo đất, làm tăng độ phì của đất và là nguồn cung cấp nhiều chất dinh dưỡng có giá trị cho cơ thể người và động vật nuôi

Cây đậu tương có khả năng cải tạo đất nhờ việc cố định nitơ tự do thông

qua hoạt động của vi khuẩn Rhizobium japonicum cộng sinh với rễ cây đậu

tương và tồn tại ở các nốt sần Người ta đã xác định được sau mỗi vụ trồng, cây đậu tương đã cố định và bổ sung vào đất từ 60 đến 80 kg N/ha, tương

đương 300 - 400 kg đạm sulfat [29]

Hạt đậu tương là sản phẩm chính của cây đậu tương có chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng quan trọng như protein (40 - 50%), lipit (12 - 24%), hydratcacbon và các chất khoáng, trong đó protein và lipit là 2 thành phần quan trọng nhất [5] Protein đậu tương có giá trị không những về hàm lượng lớn mà còn có đầy đủ và cân đối các loại axit amin cần thiết, đặc biệt là giàu Lizin và Triptophan, đây là 2 loại axit amin không thay thế có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của cơ thể trẻ và gia súc

Đối với công nghiệp chế biến, đậu tương là nguyên liệu quan trọng để chế biến ra các sản phẩm có giá trị như dầu ăn, bánh kẹo, sữa đậu tương, thịt nhân tạo, cà phê đậu tương, sôcôla đậu tương; khô dầu đậu tương; thức ăn chăn nuôi, nhất là thức ăn cao đạm…

Trang 13

Trong sản xuất nông nghiệp, vai trò của cây đậu tương trong hệ thống nông nghiệp ở vùng nhiệt đới ngày càng được khẳng định; có thể trồng như cây trồng chính ở vùng đất cao hạn, trồng lúa thì cao, trồng ngô thì úng mà năng suất thấp; cũng như ở các vùng đất đồi thấp, ít dốc có mưa đều quanh năm, đậu tương có thể trồng từ 1 đến 2 vụ trong năm, đem lại hiệu quả kinh tế cao

Tỉnh Thanh Hóa có điều kiện sinh thái, đất đai thuận lợi cho cây đậu tương sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao Trong những năm qua, diện tích, sản lượng đậu tương của tỉnh đã có sự gia tăng đáng kể: năm 2000, diện tích là 2.686 ha, sản lượng đạt 3.428 tấn; năm 2001 diện tích 4.686 ha, sản lượng 6.271 tấn; năm 2002, diện tích 6.697 ha, sản lượng 8.851 tấn; năm

2003, diện tích 6.722 ha, sản lượng 8.592 tấn và năm 2004, diện tích 6.151 ha,

sản lượng 8.611 tấn (Nguồn: Cục Thống kê Thanh Hoá)

Tuy nhiên, thực tế sản xuất trong tỉnh cho thấy tình hình phát triển đậu tương đang còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng về đất đai, điều kiện sinh thái và mức độ quan tâm của các cấp lãnh đạo trong tỉnh, đặc biệt là năng suất đậu tương còn thấp và không ổn định so với các tỉnh khác trong cả nước: năng suất đậu tương năm 2000 là 12,8 tạ/ha; năm 2001 là 13,4 tạ/ha; năm 2002 là 13,2 tạ/ha; năm 2003 là 12,8 tạ/ha và năm 2004 là 14 tạ/ha

(Nguồn: Cục Thống kê Thanh Hoá) Có nhiều nguyên nhân dẫn đến năng suất

đậu tương của tỉnh thấp và không ổn định, trong đó nguyên nhân cơ bản là giống và kỹ thuật canh tác Do đó, việc tìm ra được một số giải pháp về giống

và kỹ thuật canh tác góp phần nâng cao năng suất đậu tương đang là một yêu cầu cần thiết đối với sản xuất đậu tương của Việt Nam nói chung và tỉnh Thanh Hóa nói riêng

Xuất phát từ yêu cầu trên, được sự nhất trí của Bộ môn Cây công nghiệp

- Trường Đại học Nông nghiệp I, chúng tôi đã thực hiện đề tài: "Xác định một

số dòng, giống và biện pháp kỹ thuật chính góp phần nâng cao năng suất đậu tương ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa"

Trang 14

2 Mục đích, yêu cầu

2.1 Mục đích

Xác định bộ giống, biện pháp kỹ thuật chính để nâng cao năng suất đậu

tương ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa

2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được hiện trạng sản xuất đậu tương, xác định được các yếu

tố hạn chế sản xuất đậu tương ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Xác định được một số giống đậu tương có năng suất cao, phù hợp với

điều kiện sinh thái của huyện Hoằng Hóa

- Nghiên cứu xác định thời vụ gieo trồng thích hợp trong vụ xuân đối với giống đậu tương ĐT2000

- Xác định liều lượng bón lân hợp lý cho giống đậu tương ĐT2000

3 ý nghĩa của đề tài

3.1 ý nghĩa khoa học

- Nghiên cứu, đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển; các chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá; các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng, giống đậu tương là cơ sở khoa học khi đề xuất các dòng, giống làm vật liệu chọn, tạo giống cũng như đề xuất các dòng, giống có triển vọng phát triển trong sản xuất đại trà

- Đóng góp thêm phần cơ sở khoa học để hoàn thiện quy trình thâm canh đậu tương mới có năng suất cao

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học về cây đậu tương phục vụ cho công tác giảng dạy

3.2 ý nghĩa thực tiễn

Xác định được các giống và biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất đậu tương sẽ mở ra triển vọng mở rộng diện tích đậu tương, sản xuất tập trung theo hướng hàng hóa, nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh

Trang 15

tác, đồng thời góp phần xây dựng thành công cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm,

hộ nông dân thu nhập 50 triệu đồng/năm ở tỉnh Thanh Hóa

4 Giới hạn của đề tài

- Đề tài tập trung nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của các giống đậu tương DT84, D912, D140, VX93, ĐT2000, ĐT2003, ĐT2004

và dòng 64 trong điều kiện vụ xuân năm 2005 ở vùng đất cát pha của huyện Hoằng Hóa

- Về các biện pháp kỹ thuật thì đề tài chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của thời

vụ và liều lượng bón lân đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT2000 trong điều kiện vụ xuân năm 2005 ở vùng đất cát pha của huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Trang 16

chương I

cơ sở khoa học và tổng quan tài liệu

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Yêu cầu về các yếu tố khí hậu

- Địa lý: Đậu tương được trồng từ xích đạo đến vĩ độ 55o Bắc và 55o

Nam, từ vùng thấp hơn mực nước biển đến vùng cao trên 2.000 m so với mặt nước biển (Whigham, 1983)[51]

- Nhiệt độ: Đậu tương có nguồn gốc ôn đới, nhưng không phải là cây trồng chịu rét mà cần nhiệt độ ôn hoà để sinh trưởng, phát triển Tùy theo giống chín sớm hay chín muộn mà tổng tích ôn biến động từ 1.600 - 3.600oC Nhiệt

độ ảnh hưởng sâu sắc đến sinh trưởng, phát triển và các quá trình sinh lý khác của cây đậu tương Nhiệt độ tối thiểu và tối đa để hạt nảy mầm là 5oC và 40oC, nhiệt độ tối ưu cho hạt nảy mầm là 30oC (Brown, 1960) [37] ở nhiệt độ thấp 2

- 3oC, sự vận chuyển các chất trong cây ngừng lại (Lê Song Dự, 1988) [8]

Đồng thời nhiệt độ ảnh hưởng rõ rệt đến sự cố định nitơ của đậu tương Vi

khuẩn nốt sần Rhizobium japonicum bị hạn chế bởi nhiệt độ trên 33oC, nhiệt

độ 25 - 27oC hoạt động của vi khuẩn nốt sần tốt nhất Nhiệt độ thích hợp cho quang hợp từ 25 - 30 oC (Whigham, 1983) [51]

- ẩm độ: Đậu tương là cây ưa ẩm, nhu cầu nước của cây đậu tương thay

đổi tùy thuộc điều kiện khí hậu, kỹ thuật trồng trọt và thời gian sinh trưởng Thiếu nước vào thời kỳ ra hoa làm giảm tỷ lệ đậu quả, hạn vào thời kỳ quả mẩy làm giảm năng suất lớn nhất Vào thời kỳ cao điểm lượng nước cần dùng

là 7,6 mm/ngày Hệ số sử dụng nước từ 1.500 - 3.500 m3 cho việc hình thành

1 tấn hạt (Vũ Thế Hùng, 1981) [15]

Trong cả vụ, nhu cầu lượng mưa đối với cây đậu tương biến động từ 330

đến 766 mm Trong suốt thời gian sinh trưởng, nhu cầu nước của cây đậu

Trang 17

tương không đồng đều qua các giai đoạn Giai đoạn nảy mầm và cây con, tỷ lệ

sử dụng nước thấp do tán cây còn nhỏ và phần lớn lượng nước mất đi do bay hơi trên mặt đất (Ngô Thế Dân, Trần Văn Lài và cộng sự, 1999) [7]

chẽ với độ dài ngày và là cây quang hợp theo chu trình C3 Để có thể ra hoa kết quả, yêu cầu phải có ngày ngắn, tuy nhiên các giống khác nhau phản ứng với độ dài ngày khác nhau Thời kỳ cây con mẫm cảm nhất đối với ánh sáng ngày ngắn, giảm dần ở giai đoạn nụ và ngừng ở giai đoạn ra hoa Giai đoạn từ

ra hoa đến chín không thấy có sự khác nhau giữa các nhóm chín

ánh sáng là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến hình thái cây đậu tương, vì

nó làm thay đổi thời gian nở hoa và chín, do đó ảnh hưởng đến nhiều đặc tính khác của cây như chiều cao, diện tích lá Mức độ bão hoà ánh sáng đối với quang hợp của cây đậu tương tuỳ thuộc vào môi trường trồng trọt, trong nhà kính là 20.000 lux, ngoài đồng là 150.000 lux Chất lượng ánh sáng ảnh hưởng

đến sinh trưởng, phát triển của cây Cường độ ánh sáng yếu lóng vươn dài, cây

có xu hướng leo và năng suất hạt thấp; cường độ ánh sáng giảm 50% so với bình thường làm giảm số cành, đốt mang quả và năng suất có thể giảm 50%; cường độ ánh sáng mạnh cây sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao (Lê Song Dự, 1988) [8]

1.1.2 Yêu cầu về đất đai

Đậu tương có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, nhưng thích hợp nhất là trên đất cát pha hoặc thịt nhẹ Đất có pH từ 6 - 7 thích hợp cho đậu tương sinh trưởng và hình thành nốt sần Nói chung, đất chuyên màu hoặc đất

2 lúa tiêu, thoát nước chủ động có thể trồng được đậu tương tốt; đất đỏ bazan,

đất nâu xám, đất nương rẫy vùng đồi núi vẫn trồng được đậu tương Trên đất

thịt nặng đậu tương khó mọc, nhưng khi mọc lại thích ứng tốt hơn so với các cây trồng hoa màu khác Trên đất cát đậu tương thường cho năng suất không

ổn định (Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996) [23]

Trang 18

1.1.3 Yêu cầu dinh dưỡng

Các nguyên tố N, P, K cần thiết cho cây đậu tương trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển Nếu thiếu hoàn toàn hoặc thiếu bất cứ một nguyên tố

nào đều ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây

- Đạm: Đạm trong đất, phân đạm bón vào đất và đạm do vi khuẩn nốt sần cố định đều thích hợp cho sinh trưởng của cây đậu tương, nhưng yêu cầu

về đạm của cây đậu tương không cao

- Lân: Cây đậu tương được bón lân đầy đủ sẽ giảm tỷ lệ rụng nụ, rụng hoa, tăng tỷ lệ hạt chắc và tăng năng suất rõ rệt Lân làm tăng hoạt động cố

định đạm của vi khuẩn nốt sần Tùy theo năng suất đậu tương cao hay thấp và thành phần lân có sẵn trong đất để xác định mức bón lân cho hợp lý Lượng lân thường được bón 250 - 300 kg super lân/ha, bón lót cùng với phân hữu cơ

- Kali: Kali đối với đậu tương rất quan trọng, nó cần một lượng lớn hơn cả đạm và lân Tỷ lệ sử dụng kali cao nhất ở giai đoạn sinh trưởng thân lá (trước lúc ra hoa), sau đó thấp dần cho đến bắt đầu hình thành hạt và ngừng sử dụng kali vào 2 đến 3 tuần trước khi hạt chín Kali cần được bón sớm với lượng bón thích hợp là 80 - 150 kg KCl hoặc K2SO4

- Vôi: Bón vôi cho đất chua để tạo pH khoảng 6 - 6,5 là yếu tố quan trọng để sản xuất đậu tương có hiệu quả, bón vôi để trung hoà độ chua đất, vôi tạo môi trường trung tính cho vi khuẩn nốt sần hoạt động

Ngoài các yếu tố đa lượng, cây đậu tương cũng rất cần các nguyên tố vi lượng như Mo, Mn, Cu, Bo, Fe… để sinh trưởng, phát triển bình thường (Ngô Thế Dân, Trần Văn Lài và cộng sự, 1999) [7]

Từ yêu cầu về điều kiện sinh thái, đất đai, dinh dưỡng của cây đậu tương; xét trong điều kiện khí hậu, thời tiết; đất đai, thổ nhưỡng; mùa vụ ở Việt Nam thì cây đậu tương có thể trồng được cả 3 vụ (vụ xuân, vụ hè thu và

vụ đông) trên nhiều loại đất khác nhau, từ đất chuyên màu đến đất 2 lúa thoát nước tốt hay ở đất sườn đồi có độ dốc thấp

Trang 19

Mặc dù trong từng vụ cũng có những yếu tố bất lợi như vụ xuân, giai

đoạn nảy mầm thường nhiệt độ còn thấp ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm, hoặc

vụ hè có thể có mưa to kéo dài kết hợp với gió bão gây ngập úng làm thối hạt

ở miền Bắc Việt Nam, mùa đông có nhiệt độ thấp vào tháng 12 và tháng 1, nhưng một vài năm gần đây mùa đông có xu hướng ấm lên; điển hình như mùa đông năm 2003, nhiệt độ bình quân tháng 12 và tháng 1 là 19,0 và 17,4oC

do vậy đậu tương vụ đông cho năng suất không thua kém vụ hè thu Tuy nhiên, lượng mưa chỉ đạt khoảng 200 - 255 mm nên không đáp ứng được nhu cầu của cây đậu tương, do đó cần phải tưới nước bổ sung vào những thời kỳ cần thiết

1.1.4 Cơ sở khoa học của việc bố trí thời vụ trồng

Bố trí thời vụ gieo trồng hợp lý là một trong những biện pháp kỹ thuật quan trọng để né tránh điều kiện thời tiết bất thuận, sâu bệnh hại và làm tăng năng suất đậu tương

Việc bố trí thời vụ quá sớm hoặc quá muộn, hay nói cách khác là bố trí thời vụ không hợp lý sẽ làm cho cây đậu tương sinh trưởng, phát triển trong

điều kiện không thuận lợi về nhiệt độ, ẩm độ (lượng mưa), ánh sáng, dinh dưỡng; đồng thời giai đoạn xung yếu của cây đậu tương trùng với giai đoạn phát triển mạnh của dịch hại làm giảm năng suất đậu tương, thậm chí thất thu

Do vậy, cần phải nghiên cứu, xác định thời vụ gieo trồng đậu tương hợp

lý để đảm bảo được các mục tiêu sau [20]:

- Thuận lợi cho việc gieo trồng mà vẫn đảm bảo cho cây đậu tương sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao

- Tạo ra sự lệch pha giữa giai đoạn xung yếu của cây đậu tương và giai

đoạn phát triển của dịch hại

1.1.5 Cơ sở khoa học của việc bón lân

Lân là một trong những yếu tố dinh dưỡng đặc biệt quan trọng đối với cây đậu tương, nhất là đối với sự hình thành và hoạt động của nốt sần, tỷ lệ

Trang 20

rụng nụ, rụng hoa, tỷ lệ quả chắc, khối lượng hạt… và từ đó ảnh hưởng đến năng suất đậu tương [23]

Tuy nhiên, không phải bất kỳ một loại đất trồng nào cũng cần bón nhiều lân thì cây đậu tương mới cho năng suất cao Tuỳ theo từng loại đất trồng mà quyết định nên bón lân hay không bón lân cho cây đậu tương và nếu bón thì bón với liều lượng là bao nhiêu kg/ha là hợp lý Đối với đất nghèo lân (hàm lượng lân dễ tiêu dưới 5mg/100g đất), nếu bón nhiều lân sẽ cho hiệu lực cao; đối với đất có hàm lượng lân dễ tiêu trung bình (5 - 10 mg/100 g đất) thì nên bón lân để nâng cao năng suất đậu tương; đối với đất giàu lân (hàm lượng lân dễ tiêu trên 10 mg/100g đất) thì nên bón ít lân, vì nếu bón nhiều hiệu lực của lân sẽ không cao [14]

Như vậy, cần phải xác định được lượng lân cần bón vào đất để cây đậu tương sử dụng có hiệu quả nhằm phát huy được tiềm năng năng suất cao nhất

và thu được hiệu quả kinh tế cao

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Thực tiễn sản xuất cho thấy, hiện nay cây đậu tương là cây trồng cạn quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Cây đậu tương được đưa vào các công thức luân canh, xen canh; trong các hệ thống nông nghiệp khép kín, bền vững của hầu hết các tỉnh trong cả nước nhằm nâng cao giá trị sản lượng/đơn vị diện tích đất canh tác, đồng thời duy trì và bảo vệ được đất trồng Theo nhận xét của nhiều địa phương, luân canh cây đậu tương với lúa, ngô hoặc trồng xen đậu tương với ngô đều làm tăng năng suất lúa và ngô, đồng thời nâng cao giá trị sản lượng/đơn vị diện tích canh tác

Từ cuối những năm 1980, phong trào sản xuất đậu tương đông ở miền Bắc được triển khai và ngày càng phát triển Vụ đông năm 1980, toàn miền Bắc trồng được 3.000 ha đậu tương, năm 1981 diện tích tăng lên 9.000 ha [9]

Từ đó đến nay diện tích đậu tương đông ngày càng được mở rộng; vụ đông

2004 chỉ tính riêng tỉnh Hà Tây, diện tích đậu tương đông là 23.705 ha

Trang 21

(Nguồn: Cục Nông nghiệp, 2005) Như vậy, điều kiện khí hậu miền Bắc cho

phép mở rộng diện tích và tăng năng suất đậu tương bằng cách trồng 3 vụ đậu tương trong năm, đưa cây đậu tương vào hệ thống luân canh với cây lúa nước (lúa xuân - lúa mùa sớm - đậu tương đông) vừa góp phần cải tạo đất vừa tăng thêm thu nhập cho người nông dân

Năm 2003, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc "Xây dựng cánh đồng đạt giá trị sản lượng 50 triệu đồng/ha/năm và hộ nông dân thu nhập 50 triệu đồng/năm" Nhiều tỉnh đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ đã xây dựng mô hình cánh đồng "50 triệu" trong đó cây đậu tương

được coi là cây trồng quan trọng trong các mô hình này

Một số công thức luân canh, xen canh có đưa cây đậu tương vào đạt hiệu quả cao ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ như:

+ Đậu tương xuân - lúa mùa sớm - cây vụ đông

+ Lúa xuân - đậu tương hè - cây vụ đông

+ Lạc xuân - đậu tương hè - cây vụ đông

+ Lúa xuân - lúa mùa sớm - đậu tương đông

+ Mía - trồng xen đậu tương, lạc và chăn nuôi bò thịt Đây là mô hình (hệ thống) sản xuất nông nghiệp khép kín hiện đang được thử nghiệm tại Công

ty đường Lam Sơn và Nông Cống - Thanh Hóa (công thức 2 cây 1 con), bước

đầu cho kết quả khả quan, được cán bộ và nhân dân trong vùng đánh giá cao

Thanh Hoá ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng trong hệ thống nông nghiệp, do vậy được chú ý phát triển và mở rộng diện tích ở cả 3 vụ Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất ở nhiều nơi người dân còn sử dụng các giống đậu tương có tiềm năng năng suất thấp, gieo chưa đúng thời vụ, bón ít phân, nhất

là phân hữu cơ và phân lân dẫn đến năng suất đậu tương thấp, sản xuất chưa

có hiệu quả Do vậy, việc xác định được bộ giống đậu tương có tiềm năng năng suất cao, xây dựng được quy trình kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc đậu

Trang 22

tương, khuyến cáo cho sản xuất nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế trong sản xuất đậu tương, góp phần nâng cao giá trị sản lượng/đơn vị diện tích canh tác vừa là nhu cầu của cán bộ và nông dân tỉnh Thanh Hoá vừa là xu thế tất yếu của sản xuất nông nghiệp mang tính hàng hoá và bền vững trong giai

đoạn hiện nay

1.3 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới

Đậu tương là cây trồng ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh

tế cao, đồng thời có phạm vi thích ứng rộng, có thể trồng trên nhiều loại đất

Do vậy, hiện nay đậu tương được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới nhưng tập trung nhiều nhất là ở các nước khu vực châu Mỹ, chiếm 73,03%; tiếp đến

là các nước thuộc khu vực châu á, chiếm 23,15% (Lê Hoàng Độ và cộng sự, 1977) [10]

Theo số liệu thống kê của Tổ chức nông lương thế giới (FAO) năm

2005, diện tích đậu tương trên toàn thế giới năm 2004 là 91,61 triệu ha, tăng 29,65 triệu ha so với năm 1995 và 16,56 triệu ha so với năm 2000 (bảng 1.1)

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương trên thế giới

Năm Diện tích

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Trang 23

Cùng với việc mở rộng diện tích, năng suất đậu tương trên thế giới cũng không ngừng được nâng cao; năng suất đậu tương bình quân của toàn thế giới năm 2004 là 22,53 tạ/ha, tăng so với năm 1995 gần 2 tạ/ha

Do việc mở rộng diện tích và không ngừng nâng cao năng suất nên sản lượng đậu tương trên toàn thế giới tăng lên một cách nhanh chóng, năm 2004 sản lượng đậu tương đạt 206,41 triệu tấn, tăng hơn 1,6 lần so với năm 1995 và 1,2 lần so với năm 2000

Nhìn chung, diện tích trồng đậu tương hàng năm trên thế giới tăng lên bình quân trên dưới 1 triệu ha; năng suất có tăng nhưng chậm, trung bình khoảng 1 tạ/ha/năm Sản lượng đậu tương toàn thế giới giai đoạn 1995 - 2004

đạt cao nhất là 206,41 triệu tấn vào năm 2004

Hiện nay, đậu tương đã được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới, trong đó 4 nước sản xuất đậu tương lớn nhất thế giới là Mỹ, Brazil, Argentina

và Trung Quốc; các nước này chiếm khoảng 90 - 95% tổng sản lượng đậu tương của thế giới

Quê hương của cây đậu tương là Đông Nam châu á, nhưng 45% diện tích và 55% sản lượng đậu tương của thế giới lại nằm ở Mỹ Mỹ là nước sản xuất đậu tương đứng đầu thế giới cả về diện tích, năng suất và sản lượng; năm

2004 diện tích là 29,94 triệu ha, năng suất 28,6 tạ/ha (bảng 1.2) Diện tích đậu tương ở Mỹ đứng thứ 3 sau cây lúa mỳ và cây ngô, nhưng về giá trị kinh tế thì cây đậu tương xếp thứ 2 Sản lượng đậu tương của Mỹ năm 2004 đạt 85,74 triệu tấn; trong đó xuất khẩu đạt 27,49 triệu tấn, tăng 24,09 triệu tấn so với

năm 2003 (Nguồn: Sản xuất thị trường nông nghiệp và PTNT số 52/2004 và

FAOSTAT, 2005)

Nước sản xuất đậu tương lớn thứ 2 sau Mỹ là Brazil, tiếp theo là Argentina và Trung Quốc Mặc dù đứng thứ tư trên thế giới, nhưng Trung Quốc vẫn là nước đứng đầu châu á về sản xuất đậu tương Tuy nhiên, so với các nước

Mỹ, Brazil, Argentina năng suất đậu tương của Trung Quốc đang còn rất thấp,

Trang 24

năng suất đậu tương năm 2004 là 16,8 tạ/ha; thấp hơn gần 12 tạ/ha so với Mỹ

và trên 6 tạ/ha so với Brazil và Argentina

ở Trung Quốc đậu tương được trồng chủ yếu ở vùng Đông Bắc, với 52% về diện tích và sản lượng của cả nước Trước đại chiến thế giới lần thứ 2, Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản lượng đậu tương (chiếm 63% diện tích và 90% sản lượng trên thế giới)

Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương

một số nước chủ yếu trên thế giới, thời kỳ 2001 - 2004

Đơn vị tính: Diện tích (triệu ha), năng suất (tạ/ha), sản lượng (triệu tấn)

Tại Pháp đậu tương được trồng lần đầu tiên vào năm 1740 ở vườn thực vật Pari Sau một thời gian chậm phát triển, đến năm 1860 Chính phủ Pháp đã quyết định đưa cây đậu tương sản xuất trên diện rộng và đã đạt được những kết quả khả quan, nhiều vùng đã đạt năng suất vượt trội (50 tạ/ha) và cũng từ

đó cây đậu tương được đưa vào chương trình phát triển nông nghiệp của quốc gia Năm 1990, diện tích trồng đậu tương tại Pháp đạt 135.000 ha, năng suất bình quân 36,5 tạ/ha, sản lượng 492.750 tấn [33]

Theo Nagata (2000)[46] cây đậu tương được đưa vào Nhật Bản khoảng năm thứ 50 sau CN, nhưng mãi đến năm 1960, cây đậu tương mới được chú ý

Trang 25

phát triển ở Nhật Bản Diện tích đậu tương năm 1966 là 340.000 ha, năng suất bình quân 78,5 tạ/ha (cao nhất thế giới), các giống chủ yếu là Miyagi và Shironma

Số liệu của Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu á (AVRDC) cho biết, ở ấn Độ đậu tương là một những cây trồng được chú ý phát triển khá mạnh Năm 1997 diện tích đậu tương là 5,1 triệu ha, chiếm 7,59% tổng diện tích thế giới; năng suất 10,5 tạ/ha; sản lượng 5,35 triệu tấn, chiếm 3,38% sản lượng đậu tương thế giới Thời gian gần đây diện tích đậu tương của ấn Độ có tăng nhưng chậm, tuy nhiên năng suất bình quân toàn quốc đã tăng lên đáng kể, năng suất năm 2002 đạt 26,7 tạ/ha (cao nhất từ trước đến nay ở ấn Độ) [48]

Châu á mới sản xuất ra một nửa số lượng đậu tương cần dùng, hàng năm châu á phải nhập 8 triệu tấn đậu tương, 1,5 triệu tấn dầu và 1,8 triệu tấn sữa đậu nành Các nước nhập khẩu đậu tương nhiều nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Triều Tiên, Indonesia, Malyasia, Philippin Một số nước Đông

Âu cũng có nhu cầu nhập đậu tương lớn, các nước ở khu vực này chủ trương

đẩy mạnh công nghiệp chế biến trong nước và nhập khẩu đậu tương nguyên liệu chủ yếu từ Mỹ và Brazil (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [7]

Hiện nay, xu hướng sản xuất đậu tương của một số nước trên thế giới là sản xuất các giống "Đậu tương công nghệ sinh học" (Biotech Soybean) như

đậu tương chống chịu chất diệt cỏ, đậu tương Oleic axit, đậu tương có hàm lượng Linoleic thấp… Đậu tương chống chịu chất diệt cỏ cho phép khống chế

cỏ dại tốt hơn và làm giảm thiệt hại do cỏ dại gây ra; giống đậu tương này hoàn toàn giống các loại đậu tương khác về dinh dưỡng, cấu tạo và phương thức chế biến thành thực phẩm và thức ăn gia súc Giống đậu tương này đã

được trồng ở một số nước như Argentina, Australia, Brazil, Canada, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Mỹ, Thụy Điển, Mexico và Uruguay

Trang 26

Đậu tương Oleic axit là giống đậu tương chuyển gen có hàm lượng axit oleic cao, đây là một loại axit béo không no có tác dụng rất tốt cho sức khỏe của con người Đậu tương thông thường có thành phần axit oleic là 24%, trong khi đó giống đậu tương mới này có thành phần axit oleic lên tới trên 80% và hiện đang được trồng nhiều ở Mỹ và Canada Dầu chế biến từ

giống đậu tương này có giá trị như dầu lạc và dầu oliu (Nguồn: Website

http://www.biotechvn.com.vn/vietnam/AchievementTechnology.asp)

1.3.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam

Việt Nam có lịch sử trồng đậu tương lâu đời hơn các nước châu Âu và châu Mỹ, cách dùng hạt đậu tương để chế biến thành thức ăn đã thành tập quán của nhân dân đến mức được đưa vào các câu cao dao dân gian như “Còn

ao rau muống còn đầy chum tương”, song trong một thời gian dài cây đậu tương vẫn chiếm một vị trí khiêm tốn trong sản xuất nông nghiệp Sau khi thống nhất đất nước (năm 1975) cây đậu tương mới được chú ý phát triển, khoảng 60% diện tích được trồng ở các tỉnh Sơn La, Cao Bằng, Bắc Giang,

Đắc Lắc, một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long Cho đến nay cây đậu tương đã trở nên quen thuộc và được coi là cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta

- Về giống đậu tương: Trong sản xuất hiện nay ở nước ta, giống đậu tương đang được sử dụng khá phong phú, bao gồm các giống nhập nội, giống lai tạo, giống đột biến Tuỳ theo mùa vụ, điều kiện đất đai hay cơ cấu cây trồng của từng địa phương mà sử dụng các giống đậu tương thích hợp Theo Cục Nông nghiệp (2004) các giống đậu tương đang sản xuất ở Việt Nam có thể phân ra các nhóm chính như sau:

+ Các giống thích hợp cho vụ xuân: XV92, TL57, AK06, D140, ĐT2000… + Các giống thích hợp cho vụ hè: DT84, M103, ĐT93, ĐT12…

+ Các giống thích hợp cho vụ thu đông và vụ đông: VX93, AK05, DT95, D96-02, ĐT21…

Trang 27

+ Bộ giống của các tỉnh phía Nam: MTĐ176, HL92, HL-2…

Cũng theo Cục Nông nghiệp (2005), nhu cầu về giống đậu tương còn rất lớn Hiện nay diện tích trồng các giống mới chỉ chiếm khoảng 30 - 40% tổng diện tích trồng đậu tương toàn quốc nên chưa tạo bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng (bảng 1.3)

Bảng 1.3: Nhu cầu về giống đậu tương giai đoạn 2003 - 2005

Nhu cầu giống mới cho 50% diện tích trồng (nghìn tấn) 4,2 - 6,0 Nhu cầu sản xuất giống mới nguyên chủng (nghìn tấn) 300 - 500

2003

Nhu cầu sản xuất giống mới siêu nguyên chủng ( tấn) 20 - 30

Nhu cầu giống mới cho 70% diện tích trồng (nghìn tấn) 10,5

Nhu cầu sản xuất giống mới nguyên chủng (nghìn tấn) 840

2005

Nhu cầu sản xuất giống mới siêu nguyên chủng ( tấn) 56

(Nguồn: Website http://www.cucnongnghiep.gov.vn)

Kết quả điều tra, đánh giá của các tác giả Bùi Chí Bửu, Phạm Đồng Quảng, Nguyễn Thiên Lương, Trịnh Khắc Quang cho thấy, năm 2003 cả nước

có 87 giống đậu tương đang được gieo trồng trong sản xuất; trong đó có 13 giống chủ lực với diện tích gieo trồng mỗi giống trên 1000 ha, được phân bố như sau: DT84, Bông Trắng (trên 10.000 ha) MTD176, DT99, 17A (5.000 - 10.000 ha), AK03, ĐT12, Nam Vang, ĐH4, V74, AK05, VX93 (1.000 - 5.000 ha) Đối với đậu tương, định lượng đóng góp của các giống mới cho sản xuất

có vẻ còn khiêm tốn hơn các giống khác Tuy vậy, 7 giống được công nhận chính thức giai đoạn 2001 - 2004 được gieo trồng trên diện tích 7.097 ha, làm

Trang 28

tăng sản lượng 944 lần, làm lợi cho sản xuất khoảng 4,8 tỷ đồng (Nguồn:

Website http://www.clrri.org/vi/tbtt/bcgiong20nam.htm)

- Về diện tích, năng suất và sản lượng:

Hiện nay, cây đậu tương được quan tâm và đưa vào vị trí xứng đáng trong cơ cấu cây trồng ở các địa phương trong cả nước Theo Nguyễn Sinh Cúc (1995) [6] năm 1998, diện tích đậu tương cả nước là 40.000 ha, năng suất bình quân 7 tạ/ha; năm 1990 diện tích tăng lên 110.000 ha, năng suất bình quân từ 8,5 - 9 tạ/ha Như vậy, sau 10 năm diện tích gieo trồng đậu tương của cả nước tăng lên gấp 3 lần và năng suất tăng gần 30%

Bảng 1.4: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương

của Việt Nam từ năm 1998 đến năm 2004 Năm Diện tích (1.000 ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (1.000 tấn)

(Nguồn: Tổng cục thống kê và Cục Nông nghiệp năm 2005)

Theo Tổng cục Thống kê (bảng 1.4) thì tình hình sản xuất đậu tương của Việt Nam trong 3 năm từ 1998 đến 2000 ít có sự thay đổi lớn; diện tích biến động từ 122,3 - 129,4 nghìn ha, năng suất 11,3 - 11,6 tạ/ha, sản lượng 141,9 - 147,2 ngàn tấn Tuy nhiên, từ năm 2001 - 2004 diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương của Việt Nam có sự gia tăng đáng kể, năm sau cao hơn năm trước Năm 2001, diện tích đậu tương của cả nước là 140,3 nghìn ha, tăng

18 nghìn ha so với năm 2000; năng suất 12,6 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha so với năm

Trang 29

2000; sản lượng đạt 176,8 nghìn tấn Năm 2003, diện tích 165,6 nghìn ha, tăng 43,3 nghìn ha so với năm 2000 và 25,3 nghìn ha so với năm 2001, sản lượng đạt 220,2 nghìn tấn tăng 78,3 nghìn tấn so với năm 2000 và 43,4 nghìn tấn so với năm 2001 Năm 2004, diện tích 182,6 nghìn ha, tăng 17 nghìn ha so với năm

2003, sản lượng đạt 242,9 nghìn tấn, tăng 22,7 nghìn tấn so với năm 2003 Như vậy, chỉ tính trong 5 năm (2000 - 2004) sản lượng đậu tương của cả nước đã tăng lên một cách nhanh chóng, điều này chứng tỏ cây đậu tương

đang được chú ý phát triển, diện tích được mở rộng, nông dân đầu tư thâm canh tăng năng suất từ đó tăng sản lượng đậu tương

Hiện nay, một số tỉnh ở đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ, để tranh thủ thời vụ sau khi thu hoạch lúa mùa sớm, nông dân đã trồng đậu tương đông theo phương thức gieo vãi mà không cần làm đất hoặc làm đất tối thiểu Điển hình như tỉnh Hà Tây và huyện Yên Định (Thanh Hoá) Vụ đông năm 2004, tỉnh Hà Tây trồng 24.000 ha đậu tương, thì có gần 10.000 ha đậu tương gieo

vãi, năng suất bình quân đạt 15 tạ/ha (Nguồn: Cục Nông nghiệp năm 2005);

huyện Yên Định (Thanh Hoá) giao vãi 150 ha đậu tương đông, năng suất bình

quân đạt 17 tạ/ha (Nguồn: Sở Nông nghiệp & PTNT Thanh Hóa)

- Về thời vụ trồng đậu tương: Nhìn chung, ở miền Bắc và Bắc Trung bộ

có 3 vụ đậu tương trong một năm:

Vụ xuân: Gieo từ 10/2 - 10/3, thu hoạch tháng 5, tháng 6

Vụ hè: Gieo từ 20/5 - 15/6, thu hoạch tháng 9, tháng 10

Vụ đông: Gieo từ 5/9 - 5/10, thu hoạch tháng 12, tháng 1

Các tỉnh thuộc khu IV cũ (Thanh Hoá, Nghệ An…) vụ đậu tương xuân thường gieo sớm hơn, từ cuối tháng 1 để tránh gió Tây Nam xuất hiện từ cuối tháng 4 Các tỉnh phía Nam chỉ có 2 vụ đậu tương trong một năm và tuỳ từng vùng cụ thể có thời vụ gieo trồng thích hợp

Vùng Tây Nguyên vụ 1 gieo tháng 4 tháng 5 và thu hoạch tháng 8, 9;

vụ 2 gieo tháng 8, 9 thu hoạch tháng 12, 1 Vùng đồng bằng sông Cửu Long

Trang 30

vụ 1 gieo tháng 12, thu hoạch tháng 2, 3; vụ 2 gieo cuối tháng 2 đầu tháng 3 thu hoạch vào cuối tháng 5, tháng 6 (Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996) [23]

1.4 Những nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới

1.4.1.1 Kết quả nghiên cứu về phân bón trên cây đậu tương

Sự ra đời của phân bón hoá học đã có tác động mạnh mẽ trong việc nâng cao năng suất cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng, cho đến nay trên thế giới đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về phân bón trên cây đậu tương

Đậu tương là cây họ đậu có khả năng cố định đạm tự do để cung cấp cho cây Do vậy, tuy đậu tương cần nhiều N để tạo một lượng protein cao, nhưng người ta thường bón ít phân đạm cho đậu tương mà sử dụng khả năng

cố định đạm của vi khuẩn nốt sần để đáp ứng nhu cầu đạm của cây đậu tương Khả năng cố định N của vi khuẩn nốt sần phụ thuộc vào nhiều yếu tố Harper (1974) thấy rằng việc cố định N2 và sử dụng nitrat (NO3-) có tầm quan trọng

để thu được năng suất tối đa Tuy nhiên, ông cho rằng nếu dư thừa nitrat thì sẽ

ảnh hưởng đến năng suất Cũng về vấn đề này, theo Porter và cộng sự (1981) thì trên đất giàu dinh dưỡng, đáp ứng đủ nhu cầu NO3- cho cây đậu tương thì việc bón đạm không có tác dụng làm tăng năng suất [7]

Khi bón lân để tăng năng suất đậu tương, thì các đòi hỏi về kali của cây cũng tăng lên ở Brazil người ta thường thấy xuất hiện những triệu trứng suy giảm kali tiếp sau 1 hay 2 năm đạt sản lượng cao do điều chỉnh pH của đất và bón thêm phân lân Trên những đất đó mức kali ban đầu thường được đánh giá

là đủ, nhưng lượng kali vốn có đã hao hụt nhanh do những vụ đậu tương cao sản gây ra (Hinson K và E E Hartwig, 1990) [12]

ở Australia, Dickson và cộng sự (1987) [39] khi tiến hành những thí nghiệm về lượng lân được bón tại 27 cánh đồng ở vùng Queensland đã chỉ ra rằng, năng suất đậu tương tăng lên đáng kể khi được bón phân lân, sự mẫn

Trang 31

cảm của đậu tương đối với lân phụ thuộc vào độ chua của đất, hàm lượng chất hữu cơ và thành phần cơ giới đất

ở Indonesia bón phân lân cho đất có hàm lượng lân dễ tiêu dưới 18 ppm

đã làm tăng năng suất đậu tương lên đáng kể Thiếu lân dễ tiêu thường gắn liền với đất chua, hàm lượng Fe, Al, Mn cao gây trở ngại lớn cho sinh trưởng, phát triển, hình thành năng suất đậu tương (Johnson, 1995) [43]

Nhiều tác giả còn cho rằng đất nhiệt đới giàu Fe, Al thì super lân sẽ bị

cố định thành phosphat sắt, phosphat nhôm khó hoà tan nên cây trồng không

sử dụng được

Như vậy, trong đất chua khả năng giữ chặt lân thường cao, gây thiếu lân nghiêm trọng làm cho khả năng hấp thu các yếu tố dinh dưỡng của cây đậu tương bị hạn chế Chính vì vậy việc nâng cao pH bằng cách bón vôi sẽ nâng cao hàm lượng lân dễ tiêu đối với cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng Bên cạnh việc bón lân cũng cần bón thêm các loại phân khác như: đạm, phân chuồng mới nâng cao hiệu quả sử dụng phân lân Borkert và Sfredo (1994) [36] cho rằng mặc dù các giống đậu tương có phản ứng khác nhau với

độ chua và hàm lượng nhôm trao đổi của đất, song nhìn chung năng suất đậu tương đều thấp trong điều kiện đất chua Tuy nhiên, không phải bất cứ việc bón vôi nào để nâng cao độ pH của đất cũng đều có lợi cho sinh trưởng, phát triển của cây đậu tương Bón vôi với hàm lượng quá cao có thể gây hại cho

đậu tương ở vùng nhiệt đới, pH thích hợp cho đậu tương là 5,5 - 6 với đất có thành phần cơ giới nặng và 5 - 5,5 với đất có thành phần cơ giới nhẹ Bón vôi quá liều lượng sẽ làm giảm khả năng dễ tan của một số nguyên tố dinh dưỡng

và làm tăng sự rửa trôi của các cation kiềm, ngoài ra còn gây hại cho kết cấu

và phức hệ của đất

1.4.1.2 Kết quả nghiên cứu về giống đậu tương

Theo Norman (1967)[47] để tạo ra giống đậu tương người ta đã ứng dụng nhiều phương pháp khác nhau như lai hữu tính, gây đột biến, đa bội…

Trang 32

tạo ra các kiểu gen mới có nhiều ưu điểm hơn bố mẹ và thông qua các phương pháp chọn lọc khác nhau để chọn tạo ra giống mới

Bằng phương pháp gây đột biến, từ năm 1961 Viện khoa học Nông nghiệp Đài Loan đã bắt đầu chương trình chọn tạo giống và đã đưa vào sản xuất các giống Kaohsiung 3, Tainung 3, Tainung 4…, các giống được xử lý bằng nơtron và tia X, cho các giống đột biến Tainung Tainung 1 và Tainung 2

có năng suất cao hơn giống khởi đầu và quả không bị nứt Các giống này, nhất

là các giống Tainung 4 đã được dùng làm nguồn gen kháng bệnh trong các chương trình lai tạo ở các cơ sở khác nhau như Trạm thí nghiệm Majio (Thái Lan), Trường Đại học Philippin [13]

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa tương quan di truyền và kiểu hình của tất cả các dạng kết hợp có thể có của 7 tính trạng trong 3 quần thể đậu tương ở thế hệ F2, Weber và Moorthy (1952) [50] cho biết năng suất hạt có mối tương quan thuận với ngày chín, chiều cao cây và trọng lượng hạt Nhưng Kwon và cộng sự (1972) [45] khi nghiên cứu tập đoàn giống đậu tương lại cho rằng năng suất hạt có tương quan nghịch với thời gian sinh trưởng và giai đoạn

từ gieo đến ra hoa Cùng thời gian đó, Kaw và Menon (1972) [44] vẫn khẳng

định về mối tương quan chặt giữa năng suất hạt với số quả trên cây, chiều cao cây, thời gian 50% ra hoa và thời gian sinh trưởng

Hiện nay nguồn gen đậu tương trên thế giới được lưu giữ chủ yếu ở 14 nước: Đài Loan, Australia, Trung Quốc, Pháp, Nigieria, ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Nam Phi, Thụy Điển, Thái Lan, Mỹ và Liên Xô với tổng số 45.038 mẫu giống [21]

Mỹ và Canada là những nước chú ý đến việc chọn tạo giống đậu tương,

ở 2 nước này có khoảng 10.000 mẫu giống, đưa vào sản xuất hơn 100 dòng có

khả năng chống chịu tốt với bệnh Phytophthora và thích ứng rộng như Amsoy

71, Lec 36, Clark 63 Hướng chủ yếu trong công tác nghiên cứu của các nhà di truyền, chọn giống Mỹ là sử dụng các tổ hợp lai phức tạp, cũng như nhập nội

Trang 33

thuần hoá trở thành giống thích nghi với vùng sinh thái, đặc biệt nhập nội để

bổ sung vào quỹ gen Đồng thời công tác chọn giống ở Mỹ là hướng mục tiêu vào việc chọn ra những giống có khả năng thâm canh cao, phản ứng yếu với quang chu kỳ, chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, hàm lượng protein cao,

dễ bảo quản và chế biến (Johnson H.W., Bernard, 1976) [42]

Brazil là nước sản xuất đậu tương đứng thứ 2 trên thế giới, từ 1976 gần 1.500 dòng đậu tương đã được trung tâm nghiên cứu quốc gia chọn và tạo ra các giống Doko, Numbaira, IAC-8, Cristalina là những giống thích hợp cho vùng đất thấp ở trung tâm Brazil Năng suất cao nhất là giống Cristalina đạt 3,8 tấn/ha Hướng nghiên cứu trong thời gian tới của Brazil cho vùng đất này

là chọn ra những giống đậu tương có thời gian từ trồng đến ra hoa là 40 - 50 ngày, đến chín là 107 - 120 ngày, có năng suất cao, chất lượng hạt tốt và kháng sâu bệnh như BR79-1098, BR-10…[49]

Châu á được coi là khu vực sản xuất đậu tương quan trọng của thế giới,

ở đây có các khu thí nghiệm chọn tạo giống hiện đại do sự tài trợ của nhiều cơ quan và tổ chức quốc tế như: Viện Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (IITA), Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu á (AVRDC), Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), Trung tâm đào tạo và nghiên cứu nông nghiệp vùng

Đông Nam á, Chương trình đậu tương quốc tế (INTSOY và ISVES) Các cơ quan, tổ chức này được thành lập với mục tiêu là tập hợp, phân phối các bộ giống đậu tương tiến bộ cho các điểm tham gia thí nghiệm nhằm xác định và phổ biến các giống có khả năng thích ứng rộng rãi với điều kiện các nước trong khu vực

Đặc biệt từ những năm 1970 đến nay, Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu châu á đã thành công trong việc tạo ra giống đậu tương G2120 bán hữu hạn, hạt nhỏ đã đánh dấu một bước mới trong việc tạo giống có tiềm năng năng suất cao (70 tạ/ha) Giống đậu tương có năng suất cao nhất thế giới

Trang 34

trong những năm 70 là giống Miyakishrome ở Nhật với năng suất tiềm năng là

78 tạ/ha Những kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra rằng vùng nhiệt đới hoàn

toàn có thể có những giống đậu tương đạt năng suất rất cao [35]

Trung Quốc và ấn Độ là 2 quốc gia đi đầu trong việc sản xuất và chọn

tạo giống đậu tương ở châu á Mấy năm gần đây, Trung Quốc đã thu thập

được nguồn vật liệu di truyền khá phong phú ở nhiều quốc gia và các vùng

sinh thái khác nhau; đồng thời không ngừng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ

thuật để cải tiến các giống cũ, nhờ vậy họ đã tạo ra các dạng giống mới có

năng suất, chất lượng, chống chịu tốt với sâu bệnh và cỏ dại, phù hợp với điều

kiện sinh thái Các giống điển hình là CN001, CN002, YAT12, HTF 18… đều

cho năng suất bình quân 34 - 42 tạ/ha trên diện tích sản xuất rộng tại nhiều

tỉnh (FAO, 2003) [40]

Ngay từ năm 1963, ấn Độ đã bắt đầu khảo nghiệm các giống địa

phương và nhập nội tại Trường Đại học tổng hợp Pathaga Năm 1967, ấn Độ

thành lập tổ chức AICRPS (The all India Convidinated research project on

soybean) và NRCS (National Research Centre for Soybean) đã tập trung

nghiên cứu về genotype và phát hiện ra 50 tính trạng phù hợp với điều kiện khí

hậu nhiệt đới, đồng thời phát triển giống có sức chống chịu cao với bệnh khảm

virus, tạo ra được một số giống mới có triển vọng như Birsasoil, ĐS74-24-2…

Năm 1985, hai tác giả là Gingh và Chaudhary đã xác định được 6 giống trong

32 giống đậu tương triển vọng có năng suất cao và ổn định như HM93,

PK73-92, PK73-94, PK321, Bragg và SH1 [40]

Các công trình nghiên cứu về cây đậu tương ở Indonesia trong nhiều

năm gần đây đều nhằm mục đích cải tiến giống, hoàn chỉnh bộ giống có năng

suất cao, ổn định trong nhiều năm, có khả năng trồng ở những chân ruộng sau

khi thu hoạch lúa, thời gian sinh trưởng 70 - 80 ngày, chống chịu được bệnh gỉ

sắt Nhiều giống tốt đã được các cơ quan khuyến cáo và đưa vào sản xuất trên

Trang 35

diện rộng ở nhiều vùng sinh thái; trong đó phải kể đến giống Willi, Kerinci và Rinjani có nhiều ưu điểm mong muốn, năng suất phổ biến ở các vùng sinh thái biến động từ 25,2 - 38,4 tạ/ha, đặc biệt là giống Lomphatang trồng trên

đất ướt 2 vụ lúa năng suất đạt 24,7 - 26,8 tạ/ha và chỉ đầu tư ở mức tối thiểu (FAO, 2002) [11]

Các nghiên cứu về đậu tương ở các quốc gia và các cơ quan khoa học quốc tế hiện nay tập trung vào các bước sau:

- Thu thập các tài liệu di truyền sau đó tiến hành lai tạo, chọn lọc, tuyển chọn các giống phù hợp với các tiêu chuẩn của một giống tốt

- Tạo biến dị bằng lai hữu tính và các tác nhân gây đột biến để tạo ra giống mới có nhiều đặc tính quý

- Xác định các biện pháp kỹ thuật tiên tiến thâm canh đậu tương đạt năng suất cao, chất lượng tốt

- Khảo nghiệm các giống đậu tương ở các vùng sinh thái khác nhau để tìm khả năng thích ứng cao cho mỗi vùng sinh thái

- Xác định vùng sinh thái địa lý và thời vụ trồng đậu tương thích hợp để

đạt năng suất cao

1.4.1.3 Kết quả nghiên cứu về xác định thời vụ gieo trồng

Tác giả Hinson K và E E Hartwig (1990) [12] cho rằng, ở vùng nhiệt

đới thời vụ gieo trồng đậu tương phần lớn do mùa mưa quyết định Thời gian gieo trồng thay đổi trong năm, có nghĩa là cây đậu tương sẽ mọc dưới điều kiện thời gian chiếu sáng khác nhau của quang chu kỳ Thời gian chiếu sáng

có thể ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương Trong thực tế ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, hiệu quả của quang chu kỳ

đối với sự sinh trưởng và phát triển của đậu tương phụ thuộc vào các giống và thời gian kéo dài của mùa vụ gieo trồng Các giống thích nghi với mùa vụ gieo trồng ngắn thì ít có phản ứng với những thay đổi về độ dài ngày Điều đó không có nghĩa là chúng không nhạy cảm với chu kỳ ánh sáng mà là chu kỳ

Trang 36

sáng khá ngắn cũng đủ để kích thích sự ra hoa sớm vào bất cứ thời điểm gieo trồng nào trong năm ở những nơi mùa mưa kéo dài hoặc nơi xa xích đạo, các giống gieo trồng có phản ứng rõ hơn đối với những biến đổi về chu kỳ sáng Với độ ẩm thích hợp thì thời gian sinh trưởng của cây khoảng 110 - 130 ngày thường đi đôi với năng suất tối đa Vì thời gian sinh trưởng dài của giống biến thiên theo thời điểm gieo trồng, nên muốn đạt được năng suất mong muốn đòi hỏi phải có sự đồng bộ chặt chẽ giữa thời điểm gieo trồng và giống

1.4.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam

Như trên đã nói, ở nước ta cây đậu tương được biết đến từ rất sớm, "Từ thời Hùng Vương dân cư nước Văn Lang đã biết trồng khoai và trồng đậu nành" Tuy nhiên, những nghiên cứu về cây đậu tương (giống, kỹ thuật canh tác…) chưa nhiều Từ sau năm 1975, đặc biệt là từ năm 1990 công tác nghiên cứu mới được các tổ chức, cơ quan và các nhà khoa học tập trung phát triển

1.4.2.1 Nghiên cứu về phân bón trên cây đậu tương

Khác với các cây trồng khác, cây đậu tương có khả năng cố định đạm tự

do để cung cấp cho cây và làm giàu cho đất thông qua hoạt động của vi khuẩn

Rhizobium japonicum Sau khi có 2 - 3 lá thật cây đậu tương có khả năng cố định

đạm để cung cấp cho hoạt động sống của mình, do đó lân và kali là 2 yếu tố dinh dưỡng quan trọng hơn cả đối với cây đậu tương, đặc biệt là lân ở nước ta phân lân dùng bón cho đậu tương được sử dụng từ lâu, những kết quả nghiên cứu và

thực nghiệm hiệu quả bón lân cho đậu tương đã đưa ra nhiều kết luận khả quan

Các yếu tố đa lượng (đạm, lân, kali) có tác dụng thúc đẩy nhau, hỗ trợ cho nhau trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cây đậu tương, thiếu một trong các yếu tố này đều làm cho cây sinh trưởng, phát triển không bình thường Lê

Đình Sơn (1988) [26] cho rằng lân và đạm có tác dụng thúc đẩy nhau trong việc làm tăng số cành cho quả, số quả trên cây Việc bón lân trên nhiều loại

đất đều có tác dụng nâng cao năng suất đậu tương, trong đó bón lân có hiệu quả nhất là bón cho đất phèn (Phan Thị Lãng, 1990) [19]

Trang 37

Theo TS Vũ Đình Chính (1998) [4] việc bón kết hợp N, P, K trên đất bạc màu, ngèo dinh dưỡng, bón lân cho đậu tương với mức 90 kg P2O5 trên nền có 40 kg N đã làm tăng số lượng nốt sần, số quả chắc trên cây và năng suất hạt Cũng theo tác giả thì công thức bón phân khoáng thích hợp nhất cho giống đậu tương xanh lơ (Hà Bắc) trong điều kiện vụ hè trên đất bạc màu Hiệp Hòa - Bắc Giang là 20 kg N + 90 kg P2O5 + 90 kg K2O

Tác giả Trần Văn Điền (2001) [9] khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến năng suất và khả năng cố định đạm của đậu tương trên đất

đồi núi trung du phía Bắc Việt Nam đã cho thấy, trên đất đồi dốc miền núi phía Bắc khi lượng phân lân bón cho đậu tương tăng lên đã có tác dụng tăng năng suất hạt và thân lá cho những giống đậu tương có nốt sần, trong khi đó giống

đậu tương không có nốt sần thì hầu như không có phản ứng với lượng lân bón

Theo Nguyễn Văn Bộ (2001) [2] ở Việt Nam trên đất phèn nếu không bón phân lân cây trồng chỉ hút được 40 - 50 kg N/ha, nếu bón lân cây trồng có thể hút được 120 - 130 kg N/ha

Để đánh giá khả năng cung cấp lân trong đất cho cây trồng màu nói chung và cây đậu tương nói riêng người ta thường dựa vào hàm lượng lân dễ tiêu Theo Hội khoa học đất Việt Nam (2000) [14] thì hàm lượng lân dễ tiêu trong đất có thể phân ra như sau:

- Đất có hàm lượng P2O5 dễ tiêu dưới 5 mg/100g đất là đất nghèo lân, nếu bón lân sẽ có hiệu lực cao

- Đất có hàm lượng P2O5 dễ tiêu từ 5 - 10 mg/100g đất là trung bình, nên bón lân để nâng cao năng suất cây trồng

- Đất có hàm lượng P2O5 dễ tiêu trên 10 mg/100g đất là giàu lân, không nên bón lân vì nếu bón thì thường không có hiệu lực

Như vậy, dựa vào kết quả nghiên cứu trên, người ta có thể xác định

được lượng lân cần bón vào đất để cây đậu tương sử dụng có hiệu quả nhằm phát huy được tiềm năng năng suất cao nhất và thu được hiệu quả kinh tế cao

Trang 38

Sự sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương không chỉ chịu ảnh hưởng của lượng lân mà còn chịu sự tác động các yếu tố dinh dưỡng khác, nhất là đạm và kali

Theo Võ Minh Kha (1996) [17] thì trên đất đồi chua hàm lượng Fe và

Al cao, bón phân lân và đạm có tác dụng nâng cao năng suất đậu tương rõ rệt Cũng theo tác giả, trên đất tương đối giàu dinh dưỡng, bón đạm làm tăng năng suất đậu tương lên 10 - 20%; trong khi đó trên đất nghèo dinh dưỡng, bón đạm năng suất đậu tương tăng tới 40 - 50%

Theo Nguyễn Văn Bộ (2000) [2] nếu bón riêng đạm chỉ cho năng suất

14 tạ/ha, trong khi đó cũng với lượng đạm như vậy sẽ cho bội thu 23 tạ/ha khi trên nền có bón lân Lân chỉ phát huy hết tác dụng khi bón thêm đạm và kali trong đất có hàm lượng lân thấp

TS Trần Danh Thìn (2001) [27] sau khi nghiên cứu vai trò của cây đậu tương, cây lạc và một số biện pháp kỹ thuật thâm canh ở một số tỉnh trung du, miền núi phía Bắc đã đề xuất: Đối với đất đồi chua nghèo dinh dưỡng, bón với lượng phân cao (100 kg N + 100 đến 150 kg P2O5 + 50 kg K2O + 800 kg vôi/ha) sẽ cho năng suất và hiệu quả kinh tế của đậu tương và lạc cao Đồng thời, để nâng cao năng suất đậu tương và lạc trên đất đồi vùng Đông Bắc, cần phổ biến kỹ thuật bón đạm, lân và vôi cho nông dân Tuỳ theo điều kiện kinh

tế cụ thể mà có thể bón riêng rẽ hoặc phối hợp 3 yếu tố dinh dưỡng này Tuy nhiên, bón phối hợp cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất Đối với các giống có khả năng chịu thâm canh cao như AK03, VX93, K30 trong vụ xuân

và K30 trong vụ hè thu có thể bón với nền phân 100 kg N + 100 đến 150 kg

P2O5 + 50 kg K2O/ha; trong đó phân đạm nên bón rải 3 lần (lót 1/3, thúc ra hoa 1/3 và 1/3 còn lại bón khi quả vào chắc) Còn các giống chịu thâm canh thấp như Cúc nên bón ở mức 50 kg N + 100 kg P2O5 + 50 kg K2O/ha

Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của mức lân, kali đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương, tác giả Nhữ Thị Ngọc Anh (2003) [1] xác định

Trang 39

mức đầu tư phân bón thích hợp nhất để cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao

đối với sản xuất đậu tương ở đất xám bạc màu là: 5 tấn phân chuồng + 40 kg

N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O + 300 kg vôi bột cho 1 ha

Cũng như lân, để đánh giá khả năng cung cấp kali của đất cho cây trồng (trong đó có cây đậu tương), người ta thường dựa vào hàm lượng kali dễ tiêu Theo Hội khoa học đất Việt Nam (2000) [14] có thể phân ra như sau:

- Đất có hàm lượng K2O dễ tiêu nhỏ hơn 10 mg/100 g đất là nghèo kali

Đất này bón kali sẽ cho hiệu lực cao và hiệu quả rõ rệt

- Đất có hàm lượng K2O dễ tiêu từ 10 - 20 mg/100g đất là trung bình kali

- Đất có hàm lượng K2O dễ tiêu lớn hơn 20 mg/100 g đất là giàu kali

Đất này nếu bón kali sẽ có hiệu lực không cao và hiệu quả kinh tế của việc bón kali thường thấp

Nhìn chung, đất Việt Nam đa số có quá trình phong hoá mạnh, silicat bị phá huỷ nên lượng kali còn lại để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng tương

đối thấp Khi bón nhiều phân đạm thì nhu cầu kali cũng tăng

1.4.2.2 Nghiên cứu về chọn giống

nhiên, thành tựu về nghiên cứu, sản xuất giống phục vụ sản xuất đại trà còn hạn chế

Từ năm 1990 đến nay, công tác nghiên cứu, chọn tạo và sản xuất giống

đậu tương đã có những bước phát triển rõ rệt Nhiều tác giả, cơ quan nghiên cứu đã tạo ra được nhiều giống mới đáp ứng được cho các mùa vụ và các vùng sinh thái khác nhau

Viện sỹ, TSKH Trần Đình Long là một trong những người đầu tiên thành công về chọn tạo giống đậu tương bằng phương pháp xử lý đột biến Năm 1978 ông đã dùng tia γ và các loại hóa chất gây đột biến tác động vào nguồn vật liệu khởi đầu, từ đó phân lập được nhiều dòng đậu tương có triển vọng Trên cơ sở đó tác giả đã chọn tạo được một số giống có năng suất cao,

Trang 40

chịu được khí hậu khô nóng của vùng nhiệt đới ẩm, trong đó đáng chú ý là giống M103 thích hợp với vụ hè và vụ hè thu (Ngô Thế Dân, Trần Đình Long

Cũng bằng phương pháp gây đột biến, năm 2001 Bộ môn Di truyền chọn giống - Trường Đại học Nông nghiệp I đã tạo được các dòng A1, A5, A7 làm cơ sở để tạo ra các giống có năng suất, chất lượng Phương pháp tạo giống bằng xử lý đột biến đã làm đa dạng và phong phú tài nguyên di truyền và là tiền đề để sản xuất ra các giống có năng suất, chất lượng, thích hợp với các

điều kiện sinh thái ở các vùng của nước ta [33]

Trần Tú Ngà (1994) [24] khi nghiên cứu ứng dụng đột biến thực nghiệm trong chọn giống đậu tương đã chọn ra một số dòng có triển vọng Phần lớn các dòng có thời gian sinh trưởng ngắn và năng suất cá thể tăng từ

100 - 165% so với đối chứng

Bên cạnh việc tạo vật liệu khởi đầu bằng phương pháp gây đột biến, các nhà chọn giống đậu tương Việt Nam đã tạo ra các giống mới bằng phương pháp lai hữu tính và đã có nhiều kết quả khả quan Tác giả Hà Hữu Tiến và cộng sự (1989) [28] qua thời gian nghiên cứu bằng phương pháp lai hữu tính

đã chọn tạo được giống HL2 từ tổ hợp lai VX87C2 x Xuân Nam Vang cho năng suất trung bình 16,3 tạ/ha có tán gọn, thích hợp cho trồng xen, thời gian sinh trưởng trong vụ xuân từ 85 - 90 ngày

Bộ môn Cây công nghiệp - Trường Đại học Nông nghiệp I và Trung tâm nghiên cứu đậu đỗ - Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam, năm 1996 tiến

Ngày đăng: 26/07/2021, 09:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nhữ Thị Ngọc Anh (2003), Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu góp phần nâng cao năng suất đậu tương trên đất lúa cao hạn tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu góp phần nâng cao năng suất đậu t−ơng trên đất lúa cao hạn tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Nhữ Thị Ngọc Anh
Năm: 2003
2. Nguyễn Văn Bộ (2001), Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng
Tác giả: Nguyễn Văn Bộ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
3. Vũ Đình Chính (1995), Nghiên cứu tập đoàn giống để chọn giống đậu tương thích hợp cho vụ hè vùng đồng bằng trung du Bắc bộ, Luận án Tiến sỹ Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tập đoàn giống để chọn giống "đậu t−ơng thích hợp cho vụ hè vùng đồng bằng trung du Bắc bộ
Tác giả: Vũ Đình Chính
Năm: 1995
4. Vũ Đình Chính (1998), "Tìm hiểu ảnh hưởng của N, P, K đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của đậu tương hè trên đất bạc màu Hiệp Hòa - Bắc Giang", Thông tin KHKTNN, ĐHNNI - Hà Nội, (2), tr.1 - 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ảnh hưởng của N, P, K đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của đậu tương hè trên đất bạc màu Hiệp Hòa - Bắc Giang
Tác giả: Vũ Đình Chính
Năm: 1998
5. Nguyễn Thế Côn (2004), “Cây họ đậu”, Bài giảng dùng cho cao học và nghiên cứu sinh, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây họ đậu”, "Bài giảng dùng cho cao học và nghiên cứu sinh
Tác giả: Nguyễn Thế Côn
Năm: 2004
6. Nguyễn Sinh Cúc (1995), Nông nghiệp Việt Nam 1945 - 1955, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Việt Nam 1945 - 1955
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
7. Ngô Thế Dân, Trần Đình Long, Trần Văn Lài, Đỗ Thị Dung, Phạm Thị Đào (1999), Cây đậu t−ơng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đậu t−ơng
Tác giả: Ngô Thế Dân, Trần Đình Long, Trần Văn Lài, Đỗ Thị Dung, Phạm Thị Đào
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
8. Lê Song Dự (1988), Cơ cấu mùa vụ đậu tương ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu mùa vụ đậu t−ơng ở đồng bằng và trung du Bắc bộ
Tác giả: Lê Song Dự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1988
9. Trần Văn Điền (2001), "ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến năng suất và khả năng cố định đạm của cây đậu tương trên đất đồi trung du miền núi phía bắc Việt Nam", Hội thảo quốc tế về đậu t−ơng, 22-23/3/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến năng suất và khả năng cố định đạm của cây đậu tương trên đất đồi trung du miền núi phía bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Điền
Năm: 2001
10. Lê Hoàng Độ và cộng sự (1977), T− liệu về đậu t−ơng, NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: T− liệu về đậu t−ơng
Tác giả: Lê Hoàng Độ và cộng sự
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1977
11. FAO (2002), Sản xuất đậu tương ở vùng nhiệt đới. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất đậu t−ơng ở vùng nhiệt đới
Tác giả: FAO
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2002
12. Hinson K. và E. E. Hartwig (1990), Sản xuất đậu t−ơng ở vùng nhiệt đới, (Trương Cam Bảo dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất đậu t−ơng ở vùng nhiệt "đới
Tác giả: Hinson K. và E. E. Hartwig
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1990
13. Vũ Tuyên Hoàng, Trần Minh Nam, Từ Bích Thuỷ (1995), Thành tựu của phương pháp tạo giống mới bằng đột biến phóng xạ trên thế giới, Tập san tổng kết KHKT Nông lâm nghiệp số 2, NXB TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu của ph−ơng pháp tạo giống mới bằng đột biến phóng xạ trên thế giới
Tác giả: Vũ Tuyên Hoàng, Trần Minh Nam, Từ Bích Thuỷ
Nhà XB: NXB TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1995
14. Hội khoa học đất Việt Nam (2000), Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Việt Nam
Tác giả: Hội khoa học đất Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
15. Vũ Thế Hùng (1981), "ảnh hưởng của độ ẩm đất, hạn, úng đến năng suất đậu t−ơng". Kết quả NCKHNN 1976 - 1978, Viện KHKTNN Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh hưởng của độ ẩm đất, hạn, úng đến năng suất đậu t−ơng
Tác giả: Vũ Thế Hùng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1981
16. Nguyễn Thu Huyền (2004), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh tr−ởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu t−ơng trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất Gia Lâm - Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh tr−ởng và thời vụ gieo trồng của một số dòng, giống đậu t−ơng trong điều kiện vụ hè thu và vụ xuân trên đất Gia Lâm - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thu Huyền
Năm: 2004
17. Võ Minh Kha (1996), “Điều kiện địa lý, thổ nh−ỡng Việt Nam và vấn đề phân bón cho cây đậu tương”, Hôi thảo quốc tế đậu nành, 29- 31/01/1996, Biên Hoà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện địa lý, thổ nh−ỡng Việt Nam và vấn đề phân bón cho cây đậu tương”, "Hôi thảo quốc tế đậu nành
Tác giả: Võ Minh Kha
Năm: 1996
18. Trần Văn Lài, Đào Thế Tuấn, Nguyễn Thị Chinh (1987), “Giống đậu t−ơng ngắn ngày AK02”, Tạp chí KHKTNN, tháng 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống đậu t−ơng ngắn ngày AK02”, "Tạp chí KHKTNN
Tác giả: Trần Văn Lài, Đào Thế Tuấn, Nguyễn Thị Chinh
Năm: 1987
19. Phan Thị Lãng (1990), Tìm hiểu một số đặc điểm nông hoá liên quan đến tính chịu thiếu lân của một số giống lúa, Luận án Tiến sỹ khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số đặc điểm nông hoá liên quan đến tính chịu thiếu lân của một số giống lúa
Tác giả: Phan Thị Lãng
Năm: 1990
20. Phạm Văn Lầm (1999), Biện pháp canh tác phòng chống sâu bệnh và cỏ dại trong nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp canh tác phòng chống sâu bệnh và cỏ dại trong nông nghiệp
Tác giả: Phạm Văn Lầm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w