Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I --- ngô quỳnh hoa thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch côn trùng bắt mồi, côn trùng ký sinh của chúng; đặc điểm sinh học, sinh thá
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
-
ngô quỳnh hoa
thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch (côn trùng bắt mồi, côn trùng ký sinh) của chúng; đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài bọ trĩ chính trên lạc vụ xuân 2007
TạI Hà Nội Và VùNG PHụ CậN
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này, đ6 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Ngô Quỳnh Hoa
Trang 3Lời cảm ơn
Có được kết quả nghiên cứu này, tôi xin được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến:
GS TS Hà Quang Hùng - Bộ môn Côn trùng Khoa Nông học Trường
Đại học Nông Nghiệp I, người đ6 hết sức tận tình, chu đáo, chỉ bảo và truyền
đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm trong suốt quá trình thực hiện luận văn nghiên cứu khoa học này
Xin được chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo Bộ môn Côn trùng
- Khoa Nông học, Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông Nghiệp I, đ6 tạo mọi điều kiện giúp đỡ và có những ý kiến góp ý quý báu để cho tôi hoàn thành tốt luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí l6nh đạo địa phương ở các huyện Gia Lâm - Hà Nội, Mê Linh - Vĩnh Phúc và bà con nông dân, nơi tôi tiến hành các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học
Cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đ6 động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 9 năm 2007 Tác giả luận văn
Ngô Quỳnh Hoa
Trang 53.3.3 Xử lý số liệu 28
4.1 Kết quả nghiên cứu về thành phần bọ trĩ thu thập đ−ợc tại Gia Lâm
- Hà Nội và Mê Linh - Vĩnh Phúctrên lạc vụ xuân 2007
4.5 Diễn biến mật độ và tình hình gây hại của Thrips palmi trên lạc vụ
xuân 2007 tại Mê Linh - Vĩnh Phúc
52
4.5.1 Diễn biến mật độ và tình hình gây hại của Thrips palmi 52 4.5.2 Diễn biến mật độ của bọ trĩ trên các trà lạc xuân năm 2007 54 4.6 Kết quả khảo sát hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với loài bọ
trĩ gây hại chính trên lạc ở lạc vụ xuân 2007 tại Mê Linh - Vĩnh Phúc
Trang 6Danh mục các bảng
Trang Bảng 2.1 Loài bọ trĩ là vectơ truyền bệnh chết chồi cho lạc ở các nước 7
Bảng 2.2 Tóm tắt một số loài thiên địch và ký sinh tự nhiên của bọ trĩ
Bảng 4.2 So sánh sự giống và khác nhau về thành phần loài bọ trĩ
theo Ngô Quỳnh Hoa (2007), Phạm Thị Vượng (1998) [14], Viện
Bảng 4.5 Tỷ lệ (%) giữa các loài bọ trĩ hại trên lạc vụ xuân năm 2007
tại Gia Lâm - Hà Nội
33
Bảng 4.6 Kích thước các pha phát dục của bọ trĩ Thrips palmi Karny 40
Bảng 4.7 Vòng đời của bọ trĩ Thrips palmi Karny trong phòng thử nghiệm 45
Bảng 4.8 So sánh vòng đời của Thrips palmi Karny trên các loại thức
ăn khác nhau với nhiệt độ và ẩm độ khác nhau
46
Bảng 4.9 Sức đẻ trứng và thời gian sống của bọ trĩ trưởng thành
Thrips palmi Karny
47
Bảng 4.10 Thành phần thiên địch của bọ trĩ hại lạc vụ xuân 2007 48
Trang 7Bảng 4.11 Biến động mật độ và tỷ lệ hại của Thrips palmi trên lạc vụ
xuân 2007 tại Mê Linh – Vĩnh Phúc
Trang 8Danh môc c¸c ¶nh
Trang
¶nh 4.13 Tr−ëng thµnh Coccinella transversalis Fabricius 49
¶nh 4.16 tr−ëng thµnh Scolothrips sexmaculatus Pergande 51
Trang 9Danh môc c¸c h×nh
Trang
H×nh 4.1 Tû lÖ (%) gi÷a c¸c loµi bä trÜ h¹i trªn l¹c vô xu©n t¹i
Mª Linh - VÜnh Phóc
32
H×nh 4.2 Tû lÖ (%) gi÷a c¸c loµi bä trÜ h¹i trªn l¹c vô xu©n
t¹i Gia L©m - Hµ Néi
Trang 10Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t
BVTV: B¶o vÖ thùc vËt
ICRISAT: ViÖn nghiªn cøu c©y cã dÇu quèc tÕ t¹i Ên §é
CTV: Céng t¸c viªn
Trang 111 mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, cây lạc (Arachis hypogeage L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao, đồng thời là cây cải tạo đất tốt Chính vì vậy
mà nhu cầu sản xuất trên thế giới và Việt nam ngày càng tăng
Cây lạc được du nhập và trồng trọt ở nước ta từ bao giờ cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào xác minh cụ thể Nhưng đến nay thì lạc là cây họ đậu có diện tích lớn nhất được gieo trồng khắp từ bắc đến nam, không những được coi là mặt hàng xuất khẩu quan trọng mà lạc còn được coi là cây cải tạo đất tốt trong hệ thống canh tác đa canh ở nước ta
ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1990 - 1995, sản xuất đ6 có xu thế tăng về diện tích và sản lượng, tuy nhiên năng suất còn thấp chỉ đạt trên 10 tạ/ha Năm 1999 năng suất đạt 14,3 tạ / ha Theo Tổng cục thống kê (2004) [8], tổng diện tích lạc của cả nước đạt 258,7 nghìn ha, năng suất trung bình 17,4 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 451,1 nghìn tấn Diện tích trồng lạc được phân bố cụ thể như sau: Vùng đồng bằng Sông Hồng 33,6 nghìn ha chiếm 12,98%; Đông Bắc bộ 34,4 nghìn ha chiếm 13,3%; Tây Bắc bộ 8 nghìn ha, chiếm 3,1%; Bắc Trung bộ 79,2 nghìn ha, chiếm 30,2%; Tây Nguyên 24,8 nghìn ha, chiếm 9,6%; Đông Nam Bộ 41,3 nghìn ha, chiếm 15,9%; và Đồng bằng Sông Cửu Long 13 nghìn
Trang 12và CTV (2005) [3] thì bọ trĩ là một trong những sâu hại nguy hiểm, gây hại nặng cho lạc trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn cây con, hại nặng có thể làm cho lá dày lên, co rúm, cong queo, cây ngừng phát triển, gây ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây lạc và làm giảm đáng
kể đến năng suất lạc
Thực tế cho thấy, trên lạc sản xuất vụ xuân, việc phòng chống bọ trĩ còn gặp rất nhiều khó khăn Biện pháp chủ yếu hiện nay vẫn là dùng thuốc hoá học, song rất khó kiểm soát sự phát sinh của bọ trĩ Số lần phun thuốc đầu vụ có xu hướng tăng lên và làm tăng nguy cơ bùng phát các loài sâu hại khác Điều này
đi ngược lại với quan điểm IPM (Nguyễn Thị Chắt và CTV, 1996) [2]
Xuất phát từ thực tiễn sản xuất lạc hiện nay, việc nghiên cứu đặc tính sinh học, sinh thái và đề xuất biện pháp phòng chống bọ trĩ có hiệu quả trong chương trình phòng chống tổng hợp sâu hại lạc là cần thiết Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch (côn trùng bắt mồi, côn trùng
ký sinh) của chúng; đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài bọ trĩ chính trên lạc vụ xuân 2007 tại Hà Nội và vùng phụ cận
1.2 Mục đích của đề tài
Thu thập, xác định thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng,
đồng thời tìm hiểu đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài bọ trĩ chủ yếu trên cở sở đề xuất biện pháp phòng chống hợp lý
1.3 Yêu cầu của đề tài
1 Thu thập, xác định thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài bọ trĩ chính hại lạc
2 Tìm hiểu mối quan hệ của bọ trĩ chính với yếu tố khí hậu, thời tiết, giai
đoạn sinh trưởng của giống lạc trồng phổ biến và thiên địch của chúng
3 Bước đầu đề xuất biện pháp phòng chống bọ trĩ hại lạc một cách hợp lý
Trang 132 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1 Nghiên cứu ngoài nước
2.1.1 Phạm vi phân bố, kí chủ và sự gây hại của bọ trĩ hại lạc
Bọ trĩ là loài phản ứng nhanh nhạy với điều kiện môi trường Chúng được
đặc trưng bởi khả năng xâm chiếm, cạnh tranh trên nhiều cây trồng và phát triển quần thể nhanh (Mound, 1997) [49] Bọ trĩ được tìm thấy trên tất cả các loài thực vật còn sống và thực vật đ6 chết Chúng ở trên hoa, trên lá, trên quả, cành, vỏ cây, trên rêu, gỗ mục, nấm và cả ở trong đất (Bryom, 1975) [27]
ở nhiều nước trên thế giới, bọ trĩ là dịch hại quan trọng trên nhiều cây trồng Ananthakrishnan (1984) [20] đ6 liệt kê danh sách 82 loài bọ trĩ quan trọng, hại trên 76 loài cây trồng khác nhau, trong đó có nhiều loài đa thực, hại trên cây họ đậu và các cây có dầu trong đó có cây lạc
ở Đài Loan theo công bố của Chen (1987) [29] có tới 156 loài bọ trĩ
được phát hiện trên những cây trồng khác nhau, trong số đó có 70 loài gây hại
và chỉ có 11 loài là phổ biến, thường xuyên xuất hiện
Thrips palmi Karny có nguồn gốc từ ấn độ được Karny mô tả năm
1952 Lúc đầu chúng chỉ được biết đến ở vùng Java, Sumatra, ấn độ và gây hại ở mức thấp, nhưng sau đó loài này đ6 lây lan nhanh chóng tới nhiều vùng, trở thành dịch hại quan trọng trên nhiều loài cây trồng khác nhau và sự phân
bố của chúng khắp trên thế giới dường như không thể tránh được (Bouriner, 1985; 1987) [25], [26] Tại Philippin, kết quả nghiên cứu của Bournier (1983) [24] cho thấy bọ trĩ Thrips palmi Karny ngoài gây hại lạc, chúng còn gây hại trên nhiều loại cây trồng như bông, cà tím, hành tây và một số cây ăn quả Thrips palmi Karny phân bố khắp vùng châu á - Thái Bình Dương chúng có
Trang 14mặt ở Bangladesh, Trung Quốc, Guam, Hawaii, Hồng Kông, ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, New Caledinia, Pakistan, Philippin, Samoa, Singapore, Xu
đăng, Đài Loan, Thái Lan và Wallis (Martin và Mau, 1992) [46]
Những nghiên cứu về phạm vi phân bố của Frankliniella schultzei Trybom chỉ ra rằng: đây là loài có phân bố rất rộng trên toàn thế giới, từ úc
đến Nam mỹ và đặc biệt phổ biến là ở Châu Phi và Madagasca (Bournier, 1987) [26] Frankliniella schultzei là loài đa thực, gây hại trên nhiều loài cây trồng và cây cảnh, ký chủ chính là: lạc, đỗ, bông, bên cạnh đó còn gây hại trên cà phê, chè (Ananthakrishnan, 1984) [20] và là loài dịch hại nguy hiểm trên cây sen ấn độ (Ling và CTV, 1999) [42]
Thrips tabaci là loài đa thực nguy hiểm và phân bố rộng nhất trong các loài bọ trĩ thuộc bộ cánh tơ Chúng gây hại nhiều trên các cây trồng và cây hoang dại thuộc ít nhất 25 họ thực vật Trên cây tỏi tây, Thrips tabaci là dịch hại chính Sự gây hại sớm của chúng có thể dẫn đến mất năng suất khoảng
30 % vì việc phòng trừ bằng thuốc hoá học đối với loài này không dễ dàng (Weber, 1997) [69]
Nghiên cứu phổ ký chủ của loài Frankliniella occidentalis các tác giả Mau và Martin (1993) [48] cho biết chúng có mặt trên 500 loài cây thuộc 50
họ thực vật, trong đó có nhiều loài cây trồng nông nghiệp và hoa cây cảnh Các cây trồng bị Frankliniella occidentalis tấn công gồm có: cây họ đậu, ớt, dưa chuột, cà tím, rau diếp, hành, cà chua và dưa hấu Các loài hoa cây cảnh bao gồm cẩm chướng, cúc, lan, hoa hồng, huệ có nguồn gốc từ Bắc mỹ , Frankliniella occidentalis phân bố rộng khắp từ những vùng sát mực nước biển đến những vùng núi cao (Rude và Clark, 1984 ; Robert và CTV, 1990) [59] , [58], sau đó lan rộng tới quần đảo Canary, Kenya, Reunion và Martinique (Bournier, 1987) [26]
Trang 15Chang (1987) [28], khi nghiên cứu về bọ trĩ trên các cây có củ, cây họ
đậu và cây ngũ cốc, đ6 đưa ra bảng liệt kê các loài bọ trĩ quan trọng và chỉ ra rằng bọ trĩ là dịch hại nguy hiểm, là vectơ truyền bệnh vi khuẩn, nấm và virus cho cây trồng
Đối với cây lạc, kết quả nghiên cứu tại vùng Hyderabad, ấn Độ trong
vụ khô 1980-1981 và 1982 - 1983 cho biết năng suất lạc quả giảm 17 %, năng suất chất xanh giảm 30 % do bọ trĩ gây ra (Ranga Rao và Wightman, 1993) [54] Tuy nhiên mức độ thiệt hại còn tuỳ thuộc vào tình trạng cây trồng, giống, điều kiện thời tiết Theo Ananthakrishnan (1969) [19] tại một số vùng lạc ở ấn Độ loài Scirtothrips dorsalis làm giảm năng suất lạc quả 29 % Trong một nghiên cứu khác của Ranga Rao và Wightman (1993) [54] về nhóm sâu chích hút hại trên lạc cho thấy, nhờ phòng trừ bọ trĩ khi mật độ cao tại giai
đoạn cây con bằng thuốc nội hấp làm cho năng suất lạc tăng từ 17 - 40 % Còn tác giả Smith và Barfield (1982) [61] nhờ phòng trừ được bọ trĩ gây hại mà lạc tại Brazil tăng năng suất từ 35 - 50 %
Những bệnh chết chồi do virus lan truyền rộng r6i ở nhiều quốc gia trồng lạc trên thế giới mà cho đến nay người ta biết là do bọ trĩ truyền bệnh Ghanekar và CTV (1978) [34] cho biết, loài bọ trĩ Scitorthrip dorsalis là vectơ lan truyền bệnh Sau đó Amin, P.W (1980) [17] thông báo vectơ truyền bệnh gồm cả loài Scitorthrips dorsalis và Frankliniella schultzei gây nên, nhưng loài Scirtothrips dorsalis có khả năng truyền bệnh ít hơn loài Frankliniella schultzei Tới những năm sau thì Palmer và CTV (1990) [51] đ6 phát hiện ra loài Thrips palmi là đối tượng chính truyền bệnh chết chồi lạc Điều này Vijjaya Lakshimi.K (1994) [63] đ6 kiểm chứng trên các loài bọ trĩ: Scirtothrips, Frankliniella schultzei, và Thrips palmi Nhưng chỉ thấy Thrips palmi truyền bệnh chết chồi lạc tại ICRISAT Tại Nam Mỹ tác giả Reddy và CTV (1991) [57] đ6 xác định được hai loài bọ trĩ là vectơ truyền bệnh cho lạc
Trang 16là Frankliniella occidentalis và Frankliniella fusca, còn loài Thrips tabaci là vectơ truyền bệnh virus Tomato spotted wilt trên cây khác chứ không trên cây lạc Bọ trĩ được xem là dịch hại nguy hiểm bởi sự có mặt và gây hại của chúng buộc người dân phải phun thuốc hoá học mà lẽ ra không cần thiết phải phòng trừ Hậu quả của nó là làm bùng phát dịch hại khác do mất cân bằng sinh học (Lynch và CTV, 1984; Ranga Rao và Shanower, 1998) [44] , [56]
Theo Bryom (1975) [27], có khoảng 600 loài bọ trĩ đ6 được tìm thấy ở Bắc Mỹ ở Rumani có khoảng 203 loài thuộc bộ cánh tơ đ6 được ghi nhận trong hệ động vật ở đây (Liliana, 1985) [41] Trong khi đó ở Mongolia có 84 loài (Pelikans, 1985) [52] Tại úc, đ6 phát hiện được 422 loài thuộc bộ cánh tơ Trong đó có 8 loài mới phát hiện là Frankniella williamsi, Stenchaetothrips, biformis, Thrips tabaci và Frankniella schultzei là những loài gây hại ở đầu vụ (Forrester và Wilson, 1988) [32] Trong đó, Thrips tabaci và Frankniella schultzei là những loài phổ biến nhất (Wilson và Bauer; 1993) [71]
Trang 17Theo Chen (1987) [29], đ6 tìm thấy 156 loài bọ trĩ ở Đài Loan, trong đó
có 70 loài gây hại trên cây trồng, 11 loài là những dịch hại phổ biến Riêng trên cây rau (Wang, 1989) [66] có 27 loài bọ trĩ Các loài có ý nghĩa kinh tế quan trọng là: Thrips palmi, Frankniella intosa, Thrips tabaci, Thrips colouratus, Thrips flavus, Haplothrips chinensis Sự xuất hiện, mức độ gây hại và khoá phân loại của 9 loài này đ6 được xác định
Khi điều tra thành phần bọ trĩ hại trên lạc tại ICRISAT, Ranga Rao và Wightman (1993) [54] cho thấy có tới 3 loài bọ trĩ là sâu hại chủ yếu cho lạc,
tỷ lệ giữa các loài ở các giai đoạn sinh trưởng như sau: giai đoạn trước nở hoa, loài Scirtothips dorsalis chiếm ưu thế tới 72 % số bọ trĩ, loài Thrips palmi chiếm hàng thứ 2 tới 23 %, sau đó là loài Frankliniella schultzei chiếm 5 % Sau giai đoạn nở hoa, loài Scirtothips dorsalis chiếm 93 %, Thrips palmi chiếm 6 %, loài Frankliniella schultzei chiếm 1 %
Bảng 2.1 Loài bọ trĩ là vectơ truyền bệnh chết chồi
cho lạc ở các nước
Frankliniella schultzei (Trybom) ấn Độ, Mỹ
Frankliniella occidentatis (Pergande) Mỹ và Canada
Nguồn: Ranga Rao và CTV, 1993) [54] (Dẫn theo Phạm Thị Vượng, 1998) [14]
Trang 18Năm 1949 bệnh chết chồi lần đầu tiên được ghi nhận ở ấn Độ Cho tới
cuối năm 1960 người ta mới thấy rõ vai trò gây hại kinh tế của bệnh này với
100 % diện tích lạc bị bệnh của hầu hết các vùng trồng lạc của ấn Độ (Ranga Rao và CTV, 1993) [54] Trong các nghiên cứu khác, các tác giả đều
cho biết, bọ trĩ được coi là một trong các vectơ nguy hiểm, truyền nhiều bệnh
virus cho cây trồng (Bailey, S.F, 1935; Amin, P.W,1980) [ 23], [17]
Trên cây lạc Amin và Palmer (1985) [18] đ6 công bố kết quả phân loại 4 loài
bọ trĩ hại lạc tại ấn Độ là: Frankliniella schultzei, Scirtothrips dorsalis,
Megalurothrip usitatus và Caliothrips indicus Sau đó tác giả Palmer và CTV
(1989) [51] đ6 phát hiện thêm 5 loài bọ trĩ nữa đó là Megalurothrip usitatus,
Scirtothrips aurantti, Scirtothrips oligochaetus, Thrips palmi, Thrips setosus trên cây
lạc ở Châu á, Nam Phi, Malawi, ấn Độ, úc, New Zealan, New Guinea, Nhật Bản và
Triều Tiên
Ananthakrishan, T.N (1984) [20] cho biết trong các loài bọ trĩ hại cây
họ đậu và cây lấy dầu thì trong đó có 5 loài gây hại trên lạc là: Caliothrips
impurus (Priesner), Frankliniella schultzei (Trybom), Frankliniella tritici
(Fitch), Hydatothrips ramaswamiahi (Karny)
2.1.3 Đặc tính sinh học và sinh thái của bọ trĩ
Khi nghiên cứu đặc tính sinh học của bọ trĩ, Bournier (1987) [26] cho
biết có sự khác nhau đáng kể ở 2 bộ phụ thuộc bộ cánh tơ ở bộ phụ
Terebrantia, trứng được đẻ từng quả một dưới lớp biểu bì cây nhờ máng đẻ
trứng ở bộ phụ Tululifera, từng nhóm 3-5 trứng được đẻ dưới bề mặt cây và
được trộn với chất dịch nhầy bao phủ thành lớp màng đệm bảo vệ Thời gian
phát dục của trứng thay đổi từ vài ngày đến vài tuần tuỳ theo điều kiện thời
tiết và khí hậu (3-20 ngày) Sâu non có 2 tuổi, sâu non tuổi 1 lột xác sang tuổi
2 sau vài ngày (3 hoặc 4 ngày phụ thuộc vào điều kiện khí hậu) Sau 5-12
Trang 19ngày sự hoá nhộng có thể xảy ra ở đỉnh sinh trưởng hoặc trong các khe nhỏ ở trên cây, tại đó kén được tạo thành (họ Aelothripidae) hoặc bằng cách rơi xuống đất và hoá nhộng trong đất ở độ sâu khoảng 2-25 cm tuỳ thuộc vào loại đất Thời gian từ tiền nhộng chuyển sang nhộng khoảng 1-3 ngày và cũng sau một khoảng thời gian 1-3 ngày nhộng hoá trưởng thành (bộ phụ Terebrantia) hoặc chuyển sang giai đoạn nhộng thứ hai (bộ phụ Tululifera)
Bọ trĩ trưởng thành có thể sống từ 8-25 ngày
Loài bọ trĩ Thrips palmi gây hại không chỉ trên lạc mà còn gây hại trên nhiều loại cây trồng khác Tại Đài Loan, chúng còn là loài sâu hại chủ yếu trên cây hành tây Lu và Lee (1987) [45] khi nuôi loài Thrips palmi trên cây hành ở điều kiện nhiệt độ 19,53 oC; 16,2 oC và 24,0 oC cho biết, thời gian phát dục giai đoạn trứng là 4,9 - 9,5 ngày; sâu non 5,03 - 8,93 ngày; nhộng 4,4 - 8,8 ngày; trưởng thành 10,4 - 18,57 ngày Ở nhiệt độ 5,85 oC; 5,89 oC và 8,8 oC, thời gian phát dục của bọ trĩ kéo dài hơn 100; 92
và 71 ngày
Vòng đời của bọ trĩ Thrips palmi là 11 ngày ở điều kiện nhiệt độ 30 oC
và 26 ngày ở nhiệt độ 17 oC Sự hoá nhộng xảy ra trong đất hoặc trong tàn dư thực vật Trứng có màu trắng vàng và nở sau 3 ngày Sâu non tuổi 2 đẫy sức khoảng 3 ngày sau khi trứng nở, chui xuống đất và nằm yên ở đó 1 - 2 ngày trước khi hoá nhộng Giai đoạn nhộng kéo dài khoảng 3 ngày Thrips palmi là loài lưỡng tính, cá thể cái có thể sinh sản có hoặc không có giao phối Chúng
có thể đẻ trên 200 trứng trong suốt thời gian sống vào khoảng 2 tháng (Martin
và Mau, 1992) [46]
Wang và CTV (1989) [67] khi nghiên cứu ở điều kiện phòng thí nghiệm
về cơ chế sinh sản của Thrips palmi cho thấy, thời gian phát triển từ trứng đến trưởng thành 11,4 - 11,9 ngày Con trưởng thành cái giao phối ngay sau khi vũ hoá và sinh sản ra những cá thể đực trong 2 ngày đầu Vì vậy tỷ lệ con đực và
Trang 20con cái được sinh ra khác nhau trong quá trình đẻ trứng
Bên cạnh hại lạc, loài bọ trĩ Megalurothrips distatis là sâu hại nguy hiểm cho cây đậu triều tại ấn Độ Theo kết quả nghiên cứu của Kendre và CTV (1994) [38] về đặc tính sinh học của loài bọ trĩ Megalurothrips distatis trên đậu triều cho biết giai đoạn trứng 3-4 ngày (trung bình 3,66 ngày), sâu non 7,7 - 7,9 ngày (trung bình 7,8 ngày), nhộng 3 ngày, tiền nhộng 2 ngày, thời gian sống của trưởng thành 15 đến 22 ngày (trung bình 18,33 ngày) Vòng đời 16,22 - 16,65 ngày (trung bình 16,46 ngày) Thời gian hoàn thành một thế hệ từ 23,0 - 24,15 ngày (trung bình 23,85 ngày)
Harrison (1962) [35] đ6 công bố kết quả nuôi sinh học loài bọ trĩ Frankliniella parvula Loài này có vòng đời từ 12,5 - 13 ngày Trong đó thời gian trứng là 3 ngày, sâu non 6 ngày, tiền nhộng và nhộng 3,5 ngày Loài bọ trĩ này chỉ đẻ trên lá non Sâu non ăn các bộ phận của cây như đài hoa, lá bắc
và quả non Khi đẫy sức, sâu làm nhộng trong đất Bọ trĩ trưởng thành là loại hướng quang, do đó chúng chỉ vũ hoá và chui lên khỏi mặt đất vào ban ngày
Đất ngập nước làm giảm tỷ lệ vũ hoá của nhộng tới 56 %
Những loài bọ trĩ hại lạc khác như: Frankliniella schultzei, Scirtothrips dorsalis và Caliothrips indicus các tác giả Amin và Palmer (1985) [18] cũng
đ6 công bố các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học Giai đoạn trứng của
bọ trĩ Frankliniella schultzei và Scirtothrips dorsalis từ 6 - 8 ngày Thời kỳ sâu non 6 - 7 ngày, tiền nhộng và nhộng 2 - 4 ngày Loài Caliothrips indicus
có giai đoạn trứng dài hơn từ 7 - 10 ngày và bọ trĩ trưởng thành có khả năng sinh sản cao hơn các loài Frankliniella schultzei và Scirtothrips dorsalis
Khi nuôi bọ trĩ Thrips palmi ở các điều kiện nhiệt độ 15 oC; 20 oC;
25 oC; 30 oC; 35 oC Vijaya Laskshmi (1994) [65] thu được kết quả tương ứng như sau: thời gian trứng 6,3; 5,1; 4,0; 3,6 ngày, khả năng sinh sản của một con cái là 66,6; 68,2; 54,5; 6,2 trứng Cũng theo tác giả, nhiệt độ trên dưới 25 oC là
Trang 21thích hợp nhất cho sự sinh sản của bọ trĩ
Wang và CTV (1989) [67] cho biết một số chỉ tiêu sinh học của loài
Thrips palmi như sau: thời gian trước đẻ trứng là 1 - 3 ngày Một con cái nếu
không giao phối có thể đẻ từ 3 - 164 trứng Trong khi đó, những con cái có
giao phối đẻ từ 3 - 204 trứng trong suốt cuộc đời của chúng Bọ trĩ có xu
hướng đẻ nhiều trong thời gian 9 -16 giờ trong ngày
Một số công trình nghiên cứu về bọ trĩ vào năm 1992 - 1993 tại
ICRISAT (ICRISAT, 1993) [37] cho biết bọ trĩ Scirtothrips dorsalis nuôi ở
nhiệt độ 28 + 1 oC vào ban ngày và 21 + 1 oC vào ban đêm, với cường độ
ánh sáng là 700 lux khi chiếu trong 12 giờ, kết quả cho thấy trứng được đẻ
lồng vào mô lá, một nửa trong, một nửa ngoài Trứng có kích thước nhỏ Bọ
trĩ non có 2 tuổi, thời gian mỗi tuổi kéo dài 2 - 3 ngày Thời gian tiền
nhộng và nhộng kéo dài 2 - 3 ngày Bọ trĩ làm nhộng trên cây có giăng một
lớp màng mỏng giống như màng nhện, đôi khi rơi xuống làm nhộng trong
đất Con trưởng thành giao phối ngay sau khi vũ hoá Mỗi con cái đẻ từ
30 - 40 trứng Vòng đời kéo dài 15 - 23 ngày
Theo Ananthakrishnan (1984) [20], thời gian vòng đời một số loài bọ trĩ
hại cây trồng trong đó có cây lạc như sau: Frankliniella schultzei: trứng 2 - 4
ngày, thời gian tuổi 1 từ 1,5 - 3 ngày, thời gian tuổi 2 từ 3 - 5 ngày, thời gian
tiền nhộng và nhộng từ 3,5 - 5 ngày, thời gian từ trứng đến trưởng thành từ 9 -
6 ngày Scirtothrips dorsalis: trứng 4 - 7 ngày, thời gian tuổi 1 từ 2 - 4 ngày,
thời gian tuổi 2 từ 3 - 6 ngày, thời gian tiền nhộng và nhộng từ 3 - 6 ngày, thời
gian từ trứng đến trưởng thành từ 2 - 3 ngày
Khi nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của bọ trĩ hại lạc, có nhiều tác giả
cũng quan tâm tới thành phần loài, thời vụ, thức ăn của chúng
Ananthakrishnan (1984) [20] cũng đ6 tiến hành nghiên cứu mật độ và sự di cư
cũng như ký chủ của một số loài bọ trĩ cho thấy Caliothrips indicus là loài đa
Trang 22thực, chúng sống trên cỏ hàng năm, Achyramthes aspera trước khi nó xâm nhập hại lạc và chỉ xuất hiện trên lạc sau mọc từ 15 - 45 ngày Khi lạc có hoa thì loài Megalurothrips usitatus cũng xuất hiện, sau đó nó di cư đến cây Tephorosia purpurea và Indgofera tinctoria Bên cạnh đó loài Frankliniella schultzei và Scirtothrips dorsalis còn hại trên cây thầu dầu và cây bông Một
số loài bọ trĩ có tập tính nghỉ qua đông và qua hè khi nhiệt độ xuống dưới 5 oC
và tăng cao trên 42 oC Loài Thrips palmi ngoài hại lạc còn hại trên cả vừng, loài này có mật độ cao vào tháng 1 tại ấn Độ nhưng sau đó bỗng nhiên suy giảm quần thể vào tháng 2
Khi nhiệt độ trong khoảng 25 - 31 oC thì mật độ quần thể bọ trĩ tăng và khi nhiệt độ thay đổi trên 31 oC thì quần thể giảm nghiêm trọng Trên cây thì các bộ phận non có mật độ bọ trĩ cao hơn các bộ phận già Loài bọ trĩ Scirtothrips dorsalis ngoài gây hại lạc còn gây hại đối với cà phê, chè và cả búp non
Vì vậy cỏ dại và các loài cây trồng khác trong hệ thống sản xuất nông nghiệp đóng vai trò làm suy giảm hoặc tăng lên của quần thể bọ trĩ Sự thay
đổi mùa vụ, vùng sản xuất, cũng là yếu tố tác động lớn đến sự thiết lập hay làm giảm quần thể và mức độ gây hại của chúng
2.1.4 Thiên địch của bọ trĩ
Theo Bournier (1987) [26], mật độ bọ trĩ được kiểm soát bởi những loài nào đó hoặc loài bọ trĩ ăn thịt, loài phổ biến nhất Frankliniella occidentalis vespiformis có phổ phân bố rất rộng, săn bắt cả nhện đỏ, ve sầu nhảy và bọ phấn trắng Các loài ăn thịt khác bao gồm: Scolothrips acariphagus ở Trung
á Loài bọ trĩ Frankliniella occidentalis là thiên địch của nhện Tetranychus urticae ở Mỹ (Trichilo và Leigh, 1986) [64] Những loài ăn thịt khác thuộc các họ Anthocoridae, Lygaeidae và bộ Neuroptera (đặc biệt họ Chrysopidae),
Trang 23bọ rùa và nhện nhỏ
Theo nhiều tác giả thì thiên địch quan trọng nhất của các loài bọ trĩ là các loài bọ xít ăn thịt thuộc giống Orius Loài Orius tristicolor là thiên địch chính của Frankliniella occidentalis ở California (Waterhouse và Norris, 1989) [68] ở Hawaii, bọ xít Orius persequen, Orius insidiosus và Orius tristcolor là thiên địch của loài Frankliniella occidentalis, nhưng quan trọng nhất
là loài Orius persequens (Waterhouse và Norris, 1989) [68] ở Đài Loan, Orius tantilus và Orius strigicolis là những loài thường xuyên bắt gặp trên cây bông, hoa cúc và ngô Chúng ăn bọ trĩ, rệp, bọ phấn trắng, nhện đỏ và trứng sâu bộ cánh vảy Trong đó, Orius tantilus có mật độ cao hơn Orius strigieolis (Wang, 1998) [66]
Theo Hoddle (2000) [36], loài bọ trĩ Franklinothrips vespiformis là thiên
địch của bọ trĩ hại cây trồng Loài bọ trĩ có 6 chấm Scolothrips sexmaculatus (có 6 chấm ở trên cánh trước) là loài chuyên ăn trứng, sâu non và trưởng thành nhện 2 chấm và nhện xám, đồng thời cũng là thiên địch của bọ trĩ Loài bọ trĩ
đen săn bọ trĩ Leptothrips sp ăn nhện nhỏ và bọ trĩ Loài bọ trĩ cánh khoang Aeolothrips sp tấn công rất nhiều loài bọ trĩ hại cây trồng và cả nhện, rệp mềm Các loài nhện ăn thịt có Euseius hibisci và Euseius tularensis Các loài ong ký sinh ấu trùng bọ trĩ là Thripobius semiluteus và Ceranisus menes Loài ong Megaphragma mymaripene thuộc họ Trichogrammatidae ký sinh trứng bọ trĩ 2.1.5 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bọ trĩ
2.1.5.1 Biện pháp sử dụng giống kháng
Ngày nay giống kháng sâu, bệnh đang rất được quan tâm, nó đóng vai trò quan trọng trong hệ thống IPM trên hầu hết những cây trồng nông nghiệp Cơ chế kháng sâu đ6 được đề cập tới khá lâu Theo Paitenter (1951) [50], cơ chế kháng của cây trồng bao gồm: (i) cơ chế kháng sinh và (ii) cơ chế không ưa
Trang 24thích Trong nhiều trường hợp khi cây trồng kháng một loại dịch hại nào đó thì cũng có thể mang đồng thời cả 2 hoặc 3 cơ chế kháng chúng Nhiều loại lạc dại Arachis sp có mức độ kháng cao nghĩa là sâu hại không tồn tại trên cây mà bò
đi nơi khác hoặc nếu bị giữ lại trên lá thì chết đói chứ không chịu ăn
Một số các chất trong cây là yếu tố quan trọng làm tăng khả năng chống chịu của chúng đối với sâu bệnh Hoạt động của các amino axit với các hợp chất khác nhau của đường saccaro và các đường khác là nguyên nhân kích thích quá trình ăn của bọ trĩ (Ananthakrishnan, 1984) [20]
Theo Mau và Martin (1993) [48] phát triển và sử dụng giống có khả năng kháng bọ trĩ hoặc kháng bệnh là một hướng đầy hứa hẹn, cung cấp những giải pháp có hiệu quả và kinh tế trong phòng trừ dịch hại Các đặc điểm hình thái của cây có thể ảnh hưởng tới mật độ bọ trĩ Trên cây hành, các giống
có lá phẳng và bẹ lá ôm chặt có tác dụng bảo vệ bọ trĩ khỏi các loài thiên địch, thời tiết, khí hậu bất thuận và thuốc trừ sâu Ngược lại, những cây có góc lá xoè rộng, tròn làm hạn chế những nơi ẩn náu của bọ trĩ (Fournier và CTV, 1995; Rueda và Shelton, 1995) [33], [60]
Các tác giả Rueda và Shelton (1995) [60]; Syed và CTV (1996) [63]; Williams và CTV (1998) [70] đ6 giới thiệu một số giống hành, cải và bông có khả năng kháng bọ trĩ, nhưng chưa thấy đề cập kỹ về cơ chế kháng của các giống này như thế nào mà chỉ cho rằng dạng hình của cây có ảnh hưởng đến khả năng nhiễm bọ trĩ của các giống
Trên cây lạc, vai trò của giống kháng trong chương trình IPM đ6 được biết đến từ đầu những năm 1970 Tuy nhiên, m6i cho tới những năm cuối thập
kỷ 70 mới được các nhà khoa học thực sự quan tâm và đ6 thu được nhiều thành tựu trong lĩnh vực này
Trung tâm ICRISAT tại ấn Độ đ6 lai tạo trên 6000 giống và dòng lạc với mục đích kháng sâu và cho tiềm năng năng suất cao và cũng đưa ra những
Trang 25kết quả nghiên cứu về mức độ kháng khác nhau của cây lạc với các loài sâu hại như bọ trĩ Một số dòng lạc có khả năng kháng đồng thời với vài loài sâu hại
Có tới 100 giống lạc đ6 có biểu hiện kháng với bọ trĩ như ICG 5420, dòng ICG
2271 (NC Ac 343) kháng được bọ trĩ (Ranga Rao và Wightman, 1994) [55] 2.1.5.2 Biện pháp sinh học
Ranga Rao và Wightman (1993) [54] coi biện pháp sinh học là thành phần quan trọng của IPM khi được sử dụng kết hợp với giống kháng và các biện pháp khác
Thiên địch luôn tồn tại trên đồng ruộng, chúng có vai trò điều hoà mật
độ, kìm h6m, hạn chế sự phát sinh thành dịch của sâu hại Kết quả điều tra ở nhiều nước khác nhau trên thế giới cho thấy thiên địch của sâu hại lạc khá phong phú, bao gồm cả loài bắt mồi, ký sinh và vi sinh vật gây bệnh
Những nghiên cứu về phòng trừ tự nhiên với bọ trĩ cần phải quan tâm tới các loài ăn thịt, nấm ký sinh và vi sinh vật Các loài ăn thịt của bọ trĩ thuộc các bộ Neuroptera, Coleoptera, Hymenoptera, Dipterate Các loài ký sinh của
bọ trĩ gồm các loài ong ký sinh thuộc họ Chalcids, Eulophids, Mymarids, Trichogrammatics (Ananthakrishnan T.N 1984) [20] Một số loài ăn thịt thuộc
bộ Hemiptera có khả năng ăn cả bọ trĩ non và con trưởng thành, khả năng ăn
từ 3 - 30 con/ngày Loài kiến Azteca chartifox thường được dùng để phòng trừ
bọ trĩ hại cây Cocoa tại Brazin (Ananthakrishnan, 1984) [20]
Trong các loài thiên địch thì nhện bắt mồi đóng vai trò rất quan trọng trên đồng lạc và đ6 được đầu tư nghiên cứu khá chi tiết tại Texas trong điều kiện không phun thuốc từ 1981 - 1982 (Agnew và Smith, 1989) [16] Tổng số
25000 nhện thu thập được thì thấy rằng chúng thuộc 18 họ và 79 giống Tỷ lệ giữa nhện săn mồi và nhện kéo màng là 10/1 Người ta đ6 liệt kê được danh sách con mồi gồm 220 loài, trong đó nhiều loài là thiên địch của bọ trĩ
Trang 26(Ananthakrishnan T.N, 1984) [20]
Bảng 2.2 Tóm tắt một số loài thiên địch và ký sinh tự nhiên của bọ trĩ
theo Ananthakrisnan T.N, 1984 [20]
Một số loài ăn thịt Một số loài ký sinh
Loài bọ trĩ Loài thiên địch Loài bọ trĩ Loài ký sinh Sericothrips variabilis Orius insidiosus Heliothips haemorrhoidalis Goetheana parvipennis Frankaliniella Orius tristicolor 5 loài trong đó có loài
Frankaliniella occidentalis
Ceranisus americensis
9 loài bọ trĩ Orius indicus Megalothrips spinosus Ceranisus
nubilipennis Frankaliniella schultzei Carayonocoris indicus Thrips sp Ceranisus javae Caliothrips indicus Geocoris
Ochropterus G.tricolor
Caliothrips fasciatus Mymaridae
Thrips tabaci Coccinella
novummotata
Liothrips oleae Tetrastichus gentilei
Frankaliniella sp Spilomena barberi Thrips tabaci Eulophidae
Nguồn: Ananthakrisnan T.N, 1984 [20] ( Dẫn theo Phạm Thị Vượng, 1998) [14]
2.1.5.3 Biện pháp canh tác và vật lý cơ giới
Con người nhận thấy rằng, hàng loạt các biện pháp kỹ thuật hạn chế
được mật độ và tác hại của bọ trĩ nói riêng và sâu hại nói chung Tuy nhiên hiệu quả của biện pháp canh tác đến dịch hại còn phụ thuộc vào đặc điểm của
Trang 27hệ thống trồng trọt, bao gồm đa dạng hoá cây trồng, cây hàng năm, cây lâu năm… (Southwood, 1978) [62]
Việc bố trí thời vụ hợp lý giúp ngăn cản sự di chuyển của bọ trĩ từ cây
ký chủ phụ sang cây trồng và hạn chế sự gây hại của chúng Trong thực tế, bọ trĩ không phải là vấn đề đáng lo ngại trong mùa mưa Bởi vì mưa làm rửa trôi một lượng đáng kể bọ trĩ cũng như côn trùng nhỏ trên cây Mật độ bọ trĩ thường đạt cao nhất vào cuối mùa khô (Rueda và Shellton, 1995) [60] Hạn hán kéo dài làm tăng khả năng gây hại của bọ trĩ trên hành Vì vậy, tưới nước hợp lý là một nhân tố quan trọng trong việc giảm thiểu thiệt hại (Fournier và CTV, 1995) [33] ở một số nước, như úc nông dân sử dụng hình thức tưới phụ mưa và luôn đảm bảo đủ nước tưới cho cây để phòng trừ bọ trĩ Cây bị thiếu nước thường bị bọ trĩ gây hại nặng hơn Bọ trĩ khi di chuyển ở những khoảng cách xa phải nhờ gió, vì vậy những ruộng gieo sau nên bố trí phía trên gió so với các ruộng đ6 gieo để hạn chế sự lây lan của bọ trĩ vào ruộng mới trồng (Rueda và Shellton, 1995) [60]
Việc tiêu huỷ cỏ dại trên đồng ruộng cũng có thể làm giảm mật độ bọ trĩ Vì đây là những chỗ qua đông và tái xâm nhiễm của bọ trĩ (Knepper, 2001) [39] Trên cây hành, việc tiêu huỷ tàn dư cây trồng và các cây ký chủ phụ, xen canh với cây trồng khác không phải là ký chủ của bọ trĩ có tác dụng làm giảm mật độ trên cây trồng chính (Mau và Martin, 1991; Rueda và Shellton, 1995) [47], [60] Theo Anon (1992) [21], việc lựa chọn các cây trồng xen có thể ảnh hưởng tới số lượng của bọ trĩ qua đông
Từ thực tế là bọ trĩ có đặc tính dễ bị hấp dẫn bởi màu sắc, người ta đ6 đề xuất sử dụng những tấm thảm màu trong phòng trừ bọ trĩ Những nghiên cứu ở Loiuisiana đ6 chỉ ra rằng loại màng phủ được tráng nhôm có tính phản quang
có khả năng làm giảm mật độ bọ trĩ từ 33 % đến 68 % (Quarles và William, 1990) [53] ảnh hưởng của các loại màng phủ màu đen, màng bị bóc lớp tráng
Trang 28bạc và các màn phủ màu ánh bạc đến mật độ bọ trĩ đ6 được so sánh trên ruộng dưa chuột Kết quả cho thấy mật độ bọ trĩ tăng 3 - 4 con cái/ lá trong suốt 25 ngày sau mọc trên cả hai công thức không phủ và phủ màng đen Trên công thức phủ màng không tráng bạc có mật độ thấp hơn với 2 con cái/lá Công thức phủ màng màu ánh bạc cho hiệu quả tốt nhất trong phòng chống bọ trĩ , với mật độ khoảng 0,5 con cái/lá (Chu, 1987) [30] Các loại màng bằng chất dẻo có khả năng hấp thụ tia cực tím được sử dụng để làm các đường bờ trong ruộng có khả năng bảo vệ cây trồng chống lại bọ trĩ Frankliniella occidentalis, bọ phấn trắng hại khoai lang và rệp bông cũng như các loại bệnh
do chúng truyền (Antignus, Yeheskek và CTV, 1996) [22]
Mặc dù có rất nhiều yếu tố vật lý ảnh hưởng đến tập tính của côn trùng nhưng ánh sáng và màu sắc thường được sử dụng trong phòng chống bọ trĩ Sử dụng tấm nhựa có khả năng hấp thụ bước sóng ánh sáng < 40 nm làm vật liệu che phủ nhà kính đ6 làm giảm 30 % mật độ Thrips palmi so với nhà được che bằng tấm nhựa thường Nhờ đó tỷ lệ quả ớt ngọt bị hại giảm 20 % khi so với công thức không sử dụng loại nhựa che này Các loại băng dính màu xanh dương cũng được sử dụng để thu bắt bọ trĩ (Chu, 1987) [30]
Khi nghiên cứu mật độ và thời vụ, thấy rằng trồng lạc khoảng cách dày
và trồng sớm giúp cho lạc tránh được sự gây hại của bọ trĩ và hạn chế bệnh chết chồi Mặt khác, thu hoạch sớm hoặc đúng thời vụ hạn chế được tác hại của mối và một số sâu đục quả khác (Lynch và CTV, 1986) [43]
2.1.5.4 Biện pháp hoá học
Biện pháp phòng trừ bọ bĩ bằng thuốc trừ hoá học thường cho thấy khó khăn vì chúng có cơ thể nhỏ và ẩn náu ở những nơi kín Vì vậy, dùng thuốc để kiểm soát loài dịch hại này phụ thuộc vào hiệu lực của thuốc và phương pháp phun phù hợp Bọ trĩ ăn trên bề mặt mô lá, vì thế các thuốc tiếp xúc, vị độc tỏ
Trang 29ra có hiệu quả hơn các loại thuốc nội hấp (Knepper, 2001) [39]
2.2 Nghiên cứu trong nước
2.3.1 Nghiên cứu về thành phần, tác hại và đặc tính sinh học của bọ trĩ
ở Việt nam, các nghiên cứu về lạc đ6 được tiến hành từ nhiều năm, tập trung ở các cơ quan như: Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt nam, Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, Viện Bảo vệ thực vật, Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Khoa học nông nghiệp miền nam…
Theo Lương Minh Khôi và CTV (1991) [4] cho biết, đồng lạc vùng Hà Nội có 21 loài thường xuyên xuất hiện gây hại, trong đó phá hoại nhiều hơn cả là bọ trĩ Thrips sp Bọ trĩ thường gây hại nặng ngay đầu vụ lạc hè thu Bọ trĩ
có cao điểm vào giữa và cuối tháng 4 đạt mật độ từ 1,1 đến 1,7 con/cây
Vùng Hà Nội, bọ trĩ xuất hiện trên lạc quanh năm, ngay cả vào vụ
đông Có 3 cao điểm trong vụ lạc xuân, đỉnh cao nhất là vào tháng 4, 5 và 2 cao điểm trong vụ lạc thu, đỉnh cao nhất là tháng 9, 10 khi nhiệt độ ôn hoà trên dưới 25 oC Thành phần bọ trĩ trên lạc gồm 4 loài: Scirtothrips dorsalis, Frankliniella schultzei, Thrips palmi và Megalurothrips usitatus Trong đó, Scirtothrips dorsalis là loài gây hại chủ yếu, chiếm tỷ lệ cao nhất trên đồng ruộng Ngoài vai trò gây hại trực tiếp cho cây lạc, còn xác định thêm rằng bọ trĩ Thrips palmi trên lạc là một loại vectơ lan truyền bệnh virus chết chồi (Phạm Thị Vượng, 1998) [14]
Khi nghiên cứư đặc tính sinh học của bọ trĩ trên lạc, Phạm Thị Vượng (1998) [14] cho biết nhiệt độ có liên quan chặt chẽ đến thời gian phát dục của bọ trĩ Nhiệt độ càng cao thì thời gian phát dục càng ngắn Thời gian phát dục qua các pha của Scirtothrips dorsalis ở các nhiệt độ nuôi 18,5 oC, 26,4 oC và 30,5 oC tương ứng như sau: trứng 10,96; 6,28 và 4,48 ngày; sâu non tuổi 1: 3,49; 1,89 và 1,63 ngày; sâu non tuổi 2: 5,84; 2,25 và 2,43 ngày; nhộng: 4,44 ngày; trưởng
Trang 30thành 10,7 ngày Thời gian sống của trưởng thành là 20,8; 7,03 và 6,28 ngày 2.3.2 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bọ trĩ
Nghiên cứu phòng trừ bọ trĩ bằng thuốc hoá học
Nhìn chung, trong hầu hết các báo cáo về biện pháp phòng trừ bọ trĩ nói chung và bọ trĩ hại lạc nói riêng, ở nước ta các tác giả cũng tập trung nhấn mạnh chủ yếu vào biện pháp phòng trừ bằng thuốc hoá học
Theo Trần Văn Lợi (2001) [7], thử nghiệm trong phòng một số loại thuốc phòng trừ bọ trĩ cho kết quả như sau: Tập kỳ 1,8 EC (nồng độ 0,1 %), Arrivo 10
EC (nồng độ 0,1 %) và Vibsa 50 ND (nồng độ 0,2 %) đều có hiệu lực trừ bọ trĩ Trong đó Tập kỳ 1,8 EC là thuốc có hiệu lực cao nhất, đạt 87,18 % sau khi phun 24 giờ
Trên bông, Admire 50 EC và Confidor 100 SL là những thuốc phun qua lá thường được sử dụng để trừ bọ trĩ và có hiệu lực khá tốt [11] Trên cây nho, Confido 100 SL (0,3 lít/ha) có hiệu lực trừ bọ trĩ cao, tiếp đến là Regent 80 WP (0,04 kg/ha) có hiệu lực khá [10] Hai thuốc này cũng cho hiệu lực cao đối với
bọ trĩ Thrips palmi trên cây dưa hấu (Trần Thị Thiên An, 1999) [1]
Theo Hà Quang Hùng và CTV (2005) [3], để phòng chống bọ trĩ hại lạc nên xử lý lạc trước khi gieo bằng GAUCHO 7 WS, liều lượng dùng 3,5 g.a.i/
kg hạt; có thể sử dụng Ridomil ZM 72 WP nồng độ 0,3 %; trồng xen hướng dương với lạc hoặc sử dụng giống lạc chống chịu với bọ trĩ (ICG 10974) Nghiên cứu về giống có năng suất cao có khả năng chống chịu bọ trĩ Những yếu tố hạn chế năng suất lạc tại Việt nam là các yếu tố nông sinh học và sâu bệnh hại (Trần Văn Lài, 1991) [5], tác giả cho rằng muốn khắc phục tình trạng trên, vấn đề cấp thiết là phải chọn tạo giống ngắn ngày
có năng suất cao, thích ứng rộng và chống chịu sâu bệnh
Trang 31Các công trình nghiên cứu về lai và chọn tạo giống lạc có năng suất cao, thích ứng rộng và có phẩm chất tốt đ6 được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về cây lạc ở Việt nam Từ 1991-1995 Trung tâm nghiên cứu
Đậu Đỗ (Viện KHKTNNVN) đ6 hợp tác với ICRISAT, trung tâm rau màu Châu á (AVRDC) và Viện nhiệt đới Quốc tế (IITA) đ6 xây dựng được một tập đoàn giống lạc bao gồm 52 mẫu giống trong nước và 919 mẫu giống nhập nội (Trần Văn Lài, 1995) [6]
Trang 323 NộI DUNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
3.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Các ruộng lạc điều tra đ−ợc tiến hành tại huyện Gia Lâm - Hà Nội và huyện Mê Linh - Vĩnh Phúc
3.1.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài đ−ợc tiến hành thực hiện trong thời gian từ tháng 12 năm 2006
đến tháng 6 năm 2007
3.2 Đối t−ợng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
3.2.1 Đối t−ợng nghiên cứu
- Sâu hại: bọ trĩ hại lạc
- Thiên địch: côn trùng bắt mồi, côn trùng ký sinh bọ trĩ hại lạc
3.2.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
3.2.2.1 Vật liệu nghiên cứu
Trang 333.2.2.2 Dụng cụ nghiên cứu
- Dụng cụ thu bắt bọ trĩ: Vợt, ống hút, túi nilon, ống nghiệm, hộp nhựa trắng thu mẫu, lọ đựng mẫu
- Dụng cụ nuôi sâu: Hộp nuôi sâu, lồng lưới nuôi sâu (bao gồm lồng to có kích thước 100 x 100 x 120cm, lồng nhỏ có kích thước 40 x 40 x 60cm, đĩa petri, chậu trồng cây, bút lông, giấy thấm v.v…
- Dụng cụ thí nghiệm: ống đong, bình phun thuốc (loại bơm tay thể tích
1 lít và loại đeo vai thể tích 12 lít)
- Hoá chất giữ mẫu: cồn 70 o
- Các dụng cụ khác: nhiệt ẩm kế, kính lúp tay độ phóng đại 10 lần, kính lúp hai mắt soi nổi, panh, kéo, giấy lọc
3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.3.1 nội dung nghiên cứu
+ Thu thập và xác định các loài bọ trĩ gây hại trên lạc và thiên địch của chúng ở Gia Lâm - Hà Nội và Mê Linh - Vĩnh Phúc
+ Nghiên cứu một số đặc tính sinh học (vòng đời, khả năng sinh sản…) của loài bọ trĩ chính gây hại trên lạc
+ Điều tra biến động mật độ của bọ trĩ trên lạc và các yếu tố sinh thái
ảnh hưởng
+ Bước đầu đề xuất biện pháp phòng chống loài bọ trĩ chính gây hại trên lạc vùng nghiên cứu
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.3.2.1 Điều tra thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng
Phương pháp điều tra thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng
được tiến hành theo quy định lấy mẫu của Cục Bảo vệ Thực vật (1995)
Trang 34Thời gian tiến hành lấy mẫu: 5-7 ngày một lần, điều tra liên tục theo giai
đoạn sinh trưởng của cây lạc
Trên ruộng điều tra, chọn 10 điểm ngẫu nhiên
+ Thu thập bọ trĩ có mặt trên cây lạc bằng cách ngắt bộ phận bị hại: lá non, lá bánh tẻ sau đó cho vào hộp nhựa màu trắng, đậy kín nắp và lắc 3 lần, mỗi lần lắc 5-7 lá Lấy lá lạc ra, dùng bút lông thấm cồn cho từng cá thể bọ trĩ vào lọ đựng mẫu và đếm bọ trĩ tổng số có trong hộp Trong lọ đựng mẫu có nh6n ghi bằng bút chì các nội dung sau:
+ ngày thu mẫu
+ cây trồng, giống
+ địa điểm thu mẫu
Phân tích mẫu dưới kính lúp hai mắt, đếm số lượng bọ trĩ từng loài
- Các chỉ tiêu điều tra:
+ Tên loài bọ trĩ gây hại (tên Việt nam, tên khoa học) do GS.TS Hà Quang Hùng phân loại kết hợp với chuyên gia phân loại của úc và Nhật Bản + Mức độ phổ biến của bọ trĩ ở từng giai đoạn sinh trưởng của cây lạc
được tính theo tần suất xuất hiện của chúng qua mỗi lần điều tra trên ruộng
Tần suất xuất hiện (%) = x 100
Quy ước mức độ xuất hiện:
+ ít (từ 1 % đến 5 %)
++ trung bình (từ 26 % đến 50 %)
+++ nhiều (trên 50 %)
Tổng số điểm có loài bọ trĩ cần xác định Tổng số điểm điều tra
Trang 35Phương pháp kiểm tra loài sinh vật hại nói chung, côn trùng nói riêng nghi ngờ là thiên địch của bọ trĩ:
- Đối với những loài nghi ngờ là thiên địch của bọ trĩ chúng tôi phân tích hình thái tham khảo tài liệu đ6 công bố trong và ngoài nước về danh mục và phân loại các loài thiên địch của bọ trĩ để xác định tên loài, bộ, họ của chúng
- Thử tập tính bắt mồi ăn thịt của nó bằng cách: thả côn trùng nghi ngờ là thiên địch vào hộp nuôi bọ trĩ ở pha sâu non hoặc trưởng thành xem nó có khả năng ăn bọ trĩ không?
- Tiếp tục nuôi các pha của bọ trĩ trong phòng thí nghiệm cho đến khi xuất hiện loài thiên địch tương ứng với các pha của bọ trĩ Thu mẫu, xác định tên khoa học 3.3.2.2 Nghiên cứu đặc tính sinh học và sinh thái học của loài bọ trĩ gây hại chính
Chúng tôi tiến hành thu bắt 100 Thrips palmi trên ruộng lạc, sau đó
đem về nhân nuôi theo phương pháp nuôi cá thể, bằng cách thả bọ trĩ trên lá lạc sạch (ngắt trên cây lạc trồng cách ly) có sẵn trong hộp nuôi sâu có quấn bông ướt để cho lá tươi Thả 5 bọ trĩ vào mỗi hộp 2-3 ngày thay lá lạc
và giấy lọc đựng trong hộp đồng thời chuyển bọ trĩ trưởng thành sang lá lạc có giấy lọc mới Sau đó theo dõi trứng nở, các pha phát dục khác của bọ trĩ tới kết thúc thí nghiệm
- Thời gian phát dục của cá thể (từng pha) được tính theo công thức:
Thời gian phát dục của một cá thể
X : thời gian phát dục trung bình
Xi: thời gian phát dục cá thể thứ i
Trang 36Khoảng biến động
n
St X
t: tra ở độ tin cậy P = 95 % độ tin cậy V = N - 1
3.3.2.3 Điều tra tình hình gây hại và biến động mật độ của bọ trĩ chủ yếu hại lạc tại vùng nghiên cứu
+ Chọn ruộng điều tra: Chọn ruộng đại diện cho yếu tố thời vụ (Xuân sớm, xuân trung và xuân muộn) Mỗi thời vụ chọn 3 ruộng đại diện
+ Phương pháp điều tra : 7 ngày/ lần Điều tra theo 5 điểm chéo góc trên mỗi ruộng, mỗi điểm 10 lá theo phương pháp ngẫu nhiên Ngắt bộ phận bị hại cho vào túi nylon (của mỗi điểm), sau đó đem về phòng thí nghiệm cho lá lạc vào hộp nhựa màu trắng có nắp đậy kín và lắc 3 lần, mỗi lần lắc 5 - 7 lá Lấy lá lạc ra, dùng bút lông thấm cồn cho từng cá thể bọ trĩ vào lọ đựng mẫu và phân tích các chỉ tiêu
- Tỷ lệ phần trăm của một loài được tính theo công thức:
Tổng số lá điều tra
Trang 37- Tỷ lệ hại của bọ trĩ được tính theo công thức:
Số lá bị hại bởi bọ trĩ
Tỷ lệ hại (%) =
Tổng số lá điều tra x 100 3.3.2.4 Nghiên cứu biện pháp hoá học phòng chống bọ trĩ
Khảo sát hiệu lực thuốc hoá học trên đồng ruộng
Thí nghiệm gồm 4 công thức trong đó có 3 công thức thí nghiệm tương ứng với 3 loại thuốc và 1 công thức đối chứng (phun nước l6) được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) Mỗi công thức lặp lại 3 lần Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 30 m2, dải bảo vệ rộng 1,0 m và khoảng cách giữa các ô là 0,5 m (theo hình 3.1) Xác định mật độ Thrips palmi và Thrips tabaci trước khi phun 1 ngày Sau đó theo dõi mật độ Thrips palmi và Thrips tabaci sau phun 2, 4, 6 ngày để xác định hiệu lực thuốc trừ sâu trên hai loài bọ trĩ này
Trang 38Các loại thuốc thí nghiệm đ−ợc bố trí với các công thức:
HL: Hiệu lực thuốc ở ngoài đồng
Trang 394 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Kết quả nghiên cứu về thành phần bọ trĩ thu thập đ−ợc tại Gia Lâm -
Hà Nội và Mê Linh - Vĩnh Phúc trên lạc vụ xuân 2007
Chúng tôi tiến hành điều tra trên các giống lạc đang trồng phổ biến trên
đồng ruộng của nông dân ở các vùng lạc thuộc Gia Lâm - Hà Nội và Mê Linh
- Vĩnh Phúc Kết quả thu đ−ợc về thành phần có sự khác nhau ở hai địa điểm :
ở Hà Nội chúng tôi phát hiện 5 loài là : Scirtothrips dorsalis Hood, Frankliniella schultzei Trybom, Thrips palmi Karny, Thrips tabaciLindeman
và Haplothrips sp., còn ở Mê Linh - Vĩnh Phúc chúng tôi thu thập đ−ợc 6 loài
là Scirtothrips dorsalis Hood, Frankliniella schultzei Trybom, Thrips palmi Karny, Thrips tabaci Lindeman, Thrips hawaiiensis Trybom, Megalurothrips
sp Nh− vậy, tổng số bọ trĩ gây hại qua quá trình điều tra cả ở Gia Lâm - Hà Nội và Mê Linh - Vĩnh Phúc là 7 loài, kết quả thành phần bọ trĩ đ−ợc trình bày trong bảng 4.1 (ảnh 4.1 - 4.7)
Bảng 4.1 Thành phần bọ trĩ hại lạc tại Gia Lâm - Hà Nội và
Mê Linh - Vĩnh Phúc trên lạc vụ xuân 2007
STT Tên khoa học Họ Gia Lâm -
Hà Nội
Mê Linh - Vĩnh Phúc
1 Scirtothrips dorsalis Hood Thripidae + +
2 Frankliniella intonsa Trybom ″ + +
4 Thrips tabaci Lindeman ″ + +
6 Thrips hawaiiensis Morgan ″ - +
7 Haplothrips sp Phlaeothripidae + -
Ghi chú : + : có, - : không có
Trang 40Kết quả điều tra lần này của chúng tôi có sự khác biệt so với kết quả nghiên cứu trước đây khi điều tra về thành phần bọ trĩ hại lạc Trong kết quả
điều tra của Viện Bảo vệ thực vật (1968) [12] trên lạc chưa phát hiện loài bọ trĩ nào, nhưng kết quả điều tra của Viện Bảo vệ thực vật (1978) [13] đ6 phát hiện và xác định 3 loài là Calliothrips indicus Bagnal, Haplothrips aculeatus Fabricius, và Scirtothrips dorsalisHood Còn tác giả Phạm Thị Vượng (1998) [14] đ6 công bố thành phần bọ trĩ hại lạc gồm có 4 loài sau: Scirtothrips dorsalis Hood, Frankliniella schultzei Trybom, Thrips palmi Karny và Megalurothrips usitatus Bagnall
Bảng 4.2 So sánh sự giống và khác nhau về thành phần loài bọ trĩ Theo Ngô Quỳnh Hoa (2007), Phạm Thị Vượng (1998) [14] ,
Viện Bảo vệ thực vật (1978) [13]
Tên loài Ngô Quỳnh
Hoa (2007)
Phạm Thị Vượng (1998) [14]
Viện Bảo vệ thực vật (1978) [13] Scirtothrips dorsalis Hood + + +
Frankliniella intonsa Trybom + - -
Thrips hawaiiensis Trybom + - -
Frankliniella schultzei Trybom - + -
Megalurothrips usitatus Bagnall - + -
Calliothrips indicus Bagnal - - +
Haplothrips aculeatus Fabricius - - +
Ghi chú : + có , - : không có
Như vậy thành phần bọ trĩ đ6 rất biến động và thay đổi theo thời gian và kết quả điều tra lần này của chúng tôi có thành phần bọ trĩ là nhiều nhất từ trước tới nay