Đặc thù của nền kinh tế Việt Nam hiện nay...2 Chương II: Thực trạng vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế nước ta trong thời gian qua và những giải pháp đề ra nhằm vận dụng quy luật
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DẦN
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TẬP LỚN
MÔN HỌC: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
Đề tài: Trình bảy nội dung quy luật giá trị và vận dụng quy luật giá trị trong điều
kiện kinh tế thị trường của nước ta
Giảng viên :PSG.TS ĐẶNG VĂN THẮNG
Lớp tín chỉ : KTCT - 02
Mã sinh viên ; 11191929
Họ và tên sinh viên: Hà Minh Hiệu
Hà Nội —- 2020
Trang 2Mục Lục
Chương I: Nội dung của quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế
hàng hoá mà đỉnh cao là nền kinh tế thị trường 2
1.1 Quy luật giá trị
1.1.1.Nội dung của quy luật giá trị 3
1.1.2.Các hình thức chuyển hoá của quy luật giá trị 3
1.2.VaI trò của quy luật giá trị 4
1.3 Đặc thù của nền kinh tế Việt Nam hiện nay 2
Chương II: Thực trạng vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế nước ta trong thời gian qua và những giải pháp đề ra nhằm vận dụng quy luật giá trị và nền kinh tế Việt Nam 7
2.1 Thực trạng việc vận dụng quy luật giá trị vào nên kinh tế Việt Nam 7
2.2 Những giải pháp nhằm vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế nước ta trong thời gian tới S
Trang 3Lời mớ đầu
Trong thời kỳ hiện đại hoá toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ như ngày nay thì việc phát triển kinh tế - tiềm lực của một quốc gia trở nên sôi động và quyết liệt hơn bao giờ hết Thế nhưng đứng trước xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới thì Việt Nam ta vẫn còn
là một trong những nước có nền kinh tế vẫn tương đối chậm phát triển, nghèo nản và lạc
hậu Cơ sở hạ tầng còn thấp kém, trình độ quản lý lạc hậu, tham ô, ô nhiễm môi trường,
đạo đức kinh doanh, Tuy nhiên cũng không thế khắc phục những hạn chế đó trong một sớm một chiều mà chúng ta cần thời gian để sửa đổi và cải thiện Chúng ta phải đề ra và
áp dụng những biện pháp cụ thể nhằm phát triển kinh tế Muốn thực hiện được điều đó thì bắt buộc chính sách phát triển của quốc gia phải được dựa trên nền tảng cơ sở lý thuyết vững chắc về các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật giá trị Vậy tại sao lại nói quy luật giá trị là quy luật quan trọng nhất? Và đối với nước ta hiện nay là một nền kinh
tế thị trường mang định hướng xã hội chủ nghĩa liệu có chịu ảnh hưởng của quy luật này? Nếu trả lời được câu hỏi trên hay nói cách khác là nghiên cứu quy luật giá trị thì ta
nhận định được thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay từ đó có được những lý
luận chung về những tổn tại, những tiến bộ cũng như hướng phát triển Mặt khác tác
dụng của quy luật giá trị tuy thuộc vào trình độ phát triển của LLSX, mức độ hoàn thiện của QHSX và khả năng nhận thức, tổ chức các hoạt động kinh tế của nhà nước Bên
cạnh đó quy luật giá trị mang tính chất khách quan nên khả năng nhận thức của con người và cách vận dụng sẽ quy định tính chất tích cực hay tiêu cực của việc vận dụng
nó tới xã hội Vì vậy với vai trò là một thành viên tương lai của đất nước em xin chọn
đề tài này nhằm tìm hiểu rõ hơn về quy luật giá trị:”Trình bày nội đung quy luật giá trị
và vận dụng quy luật giá trị trong điều kiện kinh tế thị trường của nước ta.”
Trang 4CHƯƠNG T: Nội dung của quy luật giá trị và vai trò của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá mà đỉnh cao là nền kinh tế thị trường
1.1 Quy luật giá trị
1.1.1 Nội dung của quy luật giá trị
- Quy luật giá trị là quy luật của nền sản xuất hàng hoá và trao đổi theo các quan hệ tỷ lệ phản ánh hao phí lao đồng xã hội cần thiết Giá trị là hình thức biểu hiện các hao phí đó trên cơ sở quy tất cả các loại lao động cụ thê thành lao động trừu tượng và quy lao động phức tạp thành lao động đơn gian Giá trị là phương thức điều tiết các mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá trong quá trình trao đổi hoạt động
- Quy luật giá trị quy định việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tiễn hành trên cơ sở hao phí lao động xã hội tất yếu Có nghĩa là giá trị hàng hoá đo lao động trừu tượng của
người sản xuất hàng hoá tạo nên và lượng giá trị của hàng hoá cá biệt phải phù hợp với lượng lao động xã hội tất yếu để làm ra loại hàng hoá đó Trao đổi phải tiến hành trên nguyên tắc ngang giá Đó chính là yêu cầu của quy luật giá trị
- Quy luật giá trị vận động thông qua sự vận động của giá cả hàng hoá Giá cả thị trường lên xuống bởi nhiều yếu tố tác động, xoay quanh giá trị là sản phẩm của nền kinh tế tự
do cạnh tranh và thể hiện sự tác động của quy luật giá trị trong điều kiện sản xuất và trao đổi hàng hoá tự nhiên
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tẾ căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hoá, ở đâu
có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị Mọi hoạt động của các chủ thê kinh tế đều chịu sự tác động và chi phối của quy
luật này Tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị thì mới có lợi nhuận, mới tỒn tại và phát
triển được, ngược lại sẽ bị thua lỗ và phá sản
1.1.2 Các hình thức chuyển hoá của quy luật giá trị
- Tiền tệ là một loại hàng hoá đặc biệt được dùng làm thước đo giá trị của các loại hàng hoá khác nhằm thống nhất sự quy đổi, tạo ra sự thuận tiện trong việc mua bán và trao
đổi hàng hoá
Trang 51.2 Vai trò của quy luật giá trị trong việc phát triển sản xuất hàng hoá
* Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá:
- Phân bô các yêu tô sản xuât giữa các ngành, các lĩnh vực của nên kinh tê thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu
+Nêu cung < câu: Giá cả lớn hơn giá trị => hàng hoá sản xuât ra có lãi Giá cả cao hơn giá trị sẽ kích thích mở rộng và đây mạnh sản xuât đê tăng cung; ngược lại cầu giảm do giá tăng
+ Nêu cung > câu: sản phâm sản xuât ra quá nhiêu so với nhu câu, giá cả thâp hơn giá trị, hàng hoá khó bán => sản xuât không có lãi, thậm chí lỗ Từ đó, tự
người sản xuât sẽ ra quyêt định ngừng hoặc giảm sản xuât; ngược lại giá giảm sẽ kích thích tăng cầu tự nó là nhân tố làm cho cung tăng
+ Cung = câu: cung câu tạm thời cân băng, giá cả băng với giá trị Hiện tượng này trong kinh tế thường gọi là “bão hoà”
Tuy nhiên nên kinh tê luôn luôn vận động, do đó quan hệ giá và cung câu cũng thường
xuyên biên động liên tục Như vậy, sự tác động trên của quy luật giá trị đã dẫn đến sự di
chuyên sức lao động và tư liệu sản xuât giữa các ngành sản xuât khác nhau Đây là vai trò điều tiết sản xuất của quy luật giá trị
+ Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua diễn biến giá cả
trên thị trường.,Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hút luông hàng
tử nơi giá cả thâp đến nơi giả cả cáo, do đó làm cho lưu thông hàng hoá thông suốt
Như vậy, sự biến động của giả cả trên thị trường không những chỉ rõ sự biến động về kinh tê, mà còn có tác động điêu tiệt nên kinh tê hàng hoá
* Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đây lực lượng sản xuât xã hội phát triên:
- Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất hàng hoá là một chủ thể kinh tế độc
lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nhưng do điều kiện sản ,
xuất khác nhau nên hao phi lao động cá biệt của mỗi người khác nhau, người sản xuât
4
Trang 6nảo có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hoá ở thế có lợi sẽ thu được lãi cao Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí
lao động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn Đề giành lợi thế trong cạnh tranh, và
tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình sao cho
bằng hao phí lao động xã hội cần thiết Muốn vậy, họ phải luôn tìm cách cải tiền kỹ
thuật, cải tiến tộ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động Sự
cạnh tranh quyết liệt càng thúc đây quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã
hội Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đây phát triển mạnh mẽ
* Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất hàng hoá thành người
glào, người nghèo:
- Từ quá trình cạnh tranh về giá trị dẫn đến hệ quả tất yếu là những người có điều kiện
sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh
chóng Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại những người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi, hoặc gặp rủi ro trong kinh
doanh nên bị thua lỗ dẫn đến phá sản trở thành nghèo khó
1.3 Đặc trưng của nên kinh tế Việt Nam hiện nay
- Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế hiện được nhiều quốc gia lựa chọn đề thúc đây kinh tế phát triển Việt Nam cũng không là ngoại lệ Mặc dù vẫn mang những đặc trưng của kinh tế thị trường nói chung nhưng kinh tế thị trường ở Việt Nam có tính đặc thù
riêng, là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khác biệt về bản chất so với
kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Có thể hiểu, kinh tế thị trường là kiểu tổ chức nền kinh tế dựa trên các nguyên tắc và tuân thủ những quy luật của kinh tế thị trường Kinh
tế thị trường là mô hình kinh tế mở trong đó coi trọng vả tuân thủ các quy luật vận
động, điều tiết của thị trường, tôn trọng tự do cạnh tranh, tự do hợp tác, mở rộng ø1ao lưu thương mại, tạo cơ hội cho mọi chủ thê kinh tế tham gia thị trường, tìm kiếm lợi nhuận,
- Đó là mô hình kinh tế thị trường hỗn hợp, vừa vận hành theo cơ chế thị trường, vừa có
sự điều tiết của nhà nước Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam không phải là cái khác biệt
Trang 7mà đó vẫn là “nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật khách quan của kinh tế thị trường” như quy luật tự do cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị;
thực hiện tự do hoá thương mại, Tuy nhiên, nên kinh tế thị trường đó không phải là kinh tế thị trường tự do mà có sự điều tiết, quản lý của nhà nước XHCN Việt Nam, bảo
đảm định hướng XHCN nền kinh tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước
đàn hành nàn kinh Lệ bồng chiến Thế HH ø chiên lược, quy hoạch, kê hoạch, chính sách, pháp luật, và nh kế nh HỆ Sàn nhấp Mắt vế:
bằng cả sức mạnh vật chất của lực lượng kinh tế nhà nước; thực hiện sự điều tiết ở tầm
vĩ mô, “định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh binh đăng, minh bạch” bảo đảm cho thị trường phát triển lành mạnh, tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường, tương thích với thông lệ của các nước; “sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đây sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường, thực hiện tiễn bộ, công bằng xã hội
trong từng bước, từng chính sách phát triển ”*9.Thông qua những chính sách kinh tế,
những biện pháp tài chính cần thiết, nhà nước phát hu ,cao độ những mặt tích cực, „
những ưu thê của nên kinh tê thị trường, hạn chê và khăc phục mặt tiêu cực của cơ chê
thị trường, tạo điều kiện cho thị trường phát triển mạnh mẽ hơn và lành mạnh hơn, bảo
vệ lợi ích hợp pháp của nhân dân
- Mô hình kinh tế thị trường với đa dạng các hình thức sở hữu và đa dạng các thành phần kinh tế; đất đai thuộc sở hữu toàn dân Trong đó, kinh tế nhà nước phải được củng
có và phát triển ở các vị trí then chốt của nền kinh tế, ở lĩnh vực an ninh quốc phòng, ở
các lĩnh vực dịch vụ xã hội cần thiết mà các thành phần kinh tế khác không có điều
kiện hoặc không muôn đâu tư
Trang 8CHƯƠNG 2: Thực trạng vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế nước ta trong thời gian qua và những giải pháp đề ra nhằm vận dụng
quy luật giá trị và nền kinh tế Việt Nam
2.1 Thực trạng việc vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế Việt Nam
- Trong thời kỳ đầu vận dụng các quy luật giá trị vào nền kinh tế, với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp mà đặc trưng là nhà nước trực tiếp điều khiển nền kinh tế bằng hệ
thống các chỉ tiêu pháp lệnh: chỉ tiêu về sản lượng, về thu nhập, về nộp ngân sách và
tiêu thụ, về vốn và lãi suất tín dụng ngân hàng, giá cả do nhà nước quy định thực chất
cũng là một chỉ tiêu pháp lệnh mà giá cả lại là biểu hiện của quy luật giá trị Chính vì
vậy có thể nói trong thời kỳ này quy luật giá trị được áp dụng một cách cứng nhắc ,áp đặt này vào nền kinh tế thông qua việc định giá theo những chỉ tiêu có sẵn mà không để
ý đến thực trạng của nên kinh tế Việt Nam
- Trong thời kỳ đổi mới xuất phát từ việc cần kíp phải đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp chuyển sang nền KTTT và hội nhập quốc tế Chủ trương đó nhanh chóng được các nhà đầu tư trong, ngoài nước và đông đảo người sản xuất, tiêu dùng hưởng ứng Các doanh nghiệp tư nhân trong nước và có vốn nước ngoài xuất hiện ngày càng
nhiều, hộ nông dân chuyên sang kinh doanh hàng hóa, hộ tư thương phát triển mạnh, thị
trường hàng hóa và dịch vụ phát triển với quy mô ngày càng lớn, chủng loại phong phú hơn Thị trường tài chính, nhất là thị trường tín dụng và chứng khoán phát triển khá nhanh Thị trường bất động sản, thị trường lao động và khoa học - công nghệ, đủ còn chưa phát triển một cách chuẩn tắc, nhưng cũng đã hình thành Xuất khẩu, nhập khẩu phát triển mạnh, đưa nước ta trở thành nước có nền kinh tế mở ở mức độ cao trong khu
vực
Tuy nhiên, các yếu tố XHCN hoặc xuất hiện nhưng không có hiệu quả, hoặc chưa rõ nét Cụ thể là, thành phần kinh tế nhà nước tuy chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế nhưng hiệu quả thấp Thậm chí một số tập đoàn kinh tế nhà nước lớn lâm vào tình trạng
mất vốn, phá sản, nợ nần (nợ của doanh nghiệp nhà nước đến năm 2013 đạt con số hơn
1 triệu tỷ đồng) Hợp tác xã còn yếu kém hơn, đặc biệt là không hấp dẫn nông dân Nhà
nước quản lý nền kinh tế chủ yếu theo chính sách ngắn hạn, hiệu lực và hiệu quả thấp,
Trang 9các vấn đề về lũng đoạn thị trường, gian lận, hàng giả diễn ra phổ biến Nhà nước làm mất dần niềm tin ở nhân dân do quản lý nền kinh tế chưa thực sự hiệu quả và công bằng, đo “lợi ích nhóm” chỉ phối nên nhiều chính sách kinh tế chưa thực sự xuất phát từ lợi ích chung của quảng đại nhân dân lao động Sự phân hóa giàu - nghèo ngày cảng gia tăng, tệ quan liêu, lãng phí và tham nhũng chưa được ngăn ngừa hiệu quả Số đông
người dân làm nông nghiệp có thu nhập thấp, hầu như rất khó thoát nghèo
- Kinh tế vĩ mô tuy cơ bản ồn định nhưng chưa vững chắc, còn phải đối mặt với nhiều
khó khăn, thách thức Kinh tế phục hồi còn chậm, việc thực hiện tái cơ cấu tổng thể
nên kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng gặp nhiều khó khăn và chưa đáp ứng được
yêu cầu Những kết quả bước đầu của việc thực hiện ba đột phá chiến lược chưa đủ để
tạo ra sự chuyền biến về chất trong đổi mới mô hình tăng trưởng Chất lượng tăng
trưởng chưa thật sự được nâng cao và duy trì một cách bền vững Các lĩnh vực văn hóa,
xã hội còn nhiều hạn chế, yếu kém Công tác quản lý tài nguyên, môi trường còn nhiều bắt cập Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu, mục tiêu đề ra
là ngăn chặn, từng bước đầy lùi An ninh chính trị vẫn còn tiềm ấn những nhân tổ có thê gây mất ồn định; bảo vệ chủ quyền quốc gia còn nhiều thách thức; trật tự, an toàn
xã hội vẫn còn nhiêu bức xúc“
2.2 Những giải pháp nhằm vận dụng quy luật giá trị vào nền kinh tế nước ta
trong thời gian tới
* Đâu tư vào nghiên cứu, ứng dụng và triên khai khoa học công nghệ
_ - Trong tình trạng nước ta còn thiến thốn trầm trạng các thành tựu khoa, học kỹ thuật như hiện nay, chủng ta cân phải có biện pháp cụ thê nhắm hồ trợ các đê tải
nghiên cứu khoa học Đặc biệt là các đê tài phục vụ trực tiêp cho việc chuyên đôi cơ câu kinh tê, cơ cầu sản xuât, thực hiện cơ chê đặt hàng trực tiêp g1iữa nhà nước, doanh
nghiệp và các cơ sở nghiên cứu khoa học, tránh tình trạng bỏ phí vôn đâu tư do tách rời giữa khâu nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn
- Nâng cao trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn cho nguồn nhân lực
Chú trọng đến công tác đào tạo chuyên môn từng ngành nghề, những kiến thức có tính ứng dụng thực tiễn, cần thiết thay vì những kiến thức chỉ mang tính chất trên giấy
không có tác dụng thực tế
§
Trang 10* Lưu thông hàng hoá, tăng khả năng cạnh tranh hàng hoá của Việt Nam
- Một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh
của hàng hoá Việt Nam là cơ cầu lại và tăng cường năng lực cạnh tranh của khu vực
doanh nghiệp, trong đó có vai trò quan trọng của khu vực nhà nước vì khu vực này nắm giữ phần lớn tài sản của quốc gia, nguồn lao động, kỹ thuật và tài nguyên, giữ vai trò
chủ đạo trong thành phần kinh tế Khu vực doanh nghiệp cần thiết lập được chiến lược,
kê hoạch cụ thê nhăm tôi ưu hoá dây chuyên sản xuât, tôi thiêu chỉ phí sản xuât
- Nhà nước cần thực hiện chính sách hỗ trợ có điều kiện trong một khoảng thời gian nhất định đề dần dần tăng năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm,
mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu
* Cải cách chính sách, hành chính
- Không ngừng tạo ra các quy chế đảm bảo tính tổ chức và văn minh của các giao dịch trên thị trường, nhất là về phương diện giảm thiểu chỉ phí và rủi ro cho các chủ thể kinh
tế, trong đó chú ý tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, cung cấp thông tin về sản phẩm, kỷ luật hợp đồng và thanh toán không dùng tiền mặt Từng bước phát triển các phương thức giao dịch phái sinh và hỗ trợ (giao dịch tương tác, bảo hiểm )
- Tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, xây dựng khuôn khổ chính sách tạo điều kiện
để thúc đây doanh nghiệp tái cơ cầu, nâng cao khả năng cạnh tranh
- Loại bỏ các thủ tục rườm rà nhắm giảm thiêu chi phí và thời gian sản xuât