Trong đó phải nhắc tới ngành công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp phụ trợ nỏi riêng đã góp phần vào tiến trình CNH-HĐH của việt nam, việc giao lưu với nhiễu nước sẽ mở rộng thị trư
Trang 1Mục Lục
« Thực trạng và giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam hiện nay” .2 Phân I Tổng quan về công nghiệp phụ trỢ - + - 2 2 +E222E+E+ESEE£EeEEErEeseerrrred 2
Bê 3
1 Vai trò chung và dặc điểm của ngành Công nghiệp phụ trợ - 3
2 Vai trò của ngành Công nghiệp phụ trợ đối với phát triển kinh tế Việt Nam 5
II Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ và ảnh hưởng của nó tới kinh tế Việt
1.Các nhân tố ảnh hưởng đén công nghiệp phụ trỢ: 5- 2 25s+csc+ecesrereeed 6
2 Thực trạng công nghiệp phụ tỢ: -. << 521 3332111131 1551111585581 xxE S 2.1 Thực trạng nguồn nhân lực ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam § 2.2 Hạn chế của nguồn nhân lực trong ngành Công nghiệp phụ trợ § 2.3 Thực trạng công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam +55 + +++<<++sss 10
II Tiêm năng và giải pháp đê khăc phục những tôn tại, phát tiên CNHT hiệu 3.0 — ,Ô 15
1.Tiềm năng của ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam 25-252 +- 15
2 Danh mục các sản phẩm ưu tiên phát triễn 2 2 2s +E+x+Ee£E+EeEsrxre sa 16
Trang 2Lời mở đầu Trong bồi cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, yêu
đàm Phần côn NGƯỜI dang dược Huy: Tho BẰNG cáo cũng nghệ Hới TÌc gì hung chung của thể giỏi, Việt nam cũng đang từng bước hội nhập nên kinh tế thể giới việc đầy mạnh hợp tác quốc tế là vấn đề quan trọng của công cuộc đổi mới Trong
đó phải nhắc tới ngành công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp phụ trợ nỏi riêng đã góp phần vào tiến trình CNH-HĐH của việt nam, việc giao lưu với nhiễu nước sẽ mở rộng thị trường và tạo cơ hội cho ngành công nghiệp phụ trọ, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tiếp thu được khoa học công nghệ tiên tiễn những kinh nghiệm quỷ baú của các nước kinh tế phát triển và tạo được thuận lợi cho phát triển kinh tỄ nước ta
Mặc dù công nghiệp phụ trợ là ngành non trẻ của việt nam nhưng nó cũng là ngành kinh tẾ quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa việt nam Để biết rõ hơn về thực trạng của ngành công nghiệp phụ trợ ở việt nam trong những năm gần đây bên cạnh những thành công không thể tránh khỏi hạn chế và những giải pháp mà em đưa ra cùng với những kiến nghị dành cho ngành công nghiệp phụ trợ sẽ được trình bày một cách chỉ tiết nhất trong bài tiêu luận :
« Thực trạng và giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam hiện
Hay bó 4
Phần I Tổng quan vê công nghiệp phụ trợ
1.Khải niệm và phân loại :
Trang 3- Công nghiệp phụ trợ (CNPT) là khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò phụ trợ cho việc sản xuất các thành phân chính Cụ thẻ,
những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn,
nhuộm và cũng có thê bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế Sản phẩm CNPT thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa Theo GS Kenichi Ohno, có thể phân chia lĩnh vực CNPT thành 3 nhóm lớn như sau:
Nhóm thứ nhất, CNPT cung cấp máy móc công cụ và trang thiết bị cho nhiều ngành công nghiệp, bao gồm công nghiệp lắp ráp, chế biến và công nghiệp hỗ trợ khác
Nhóm thứ hai, CNPT cho công nghiệp chế biến cung cấp nguyên phụ liệu cho công nghiệp chế biến như dệt may, da giày Các ngành CNPT này trước kia
không đòi hỏi nhân lực có kỹ năng cao, tuy nhiên trong thời kỳ cách mạng 4.0 khi quy mô sản xuất, các thiết bị máy móc có sự thay đổi thì yêu cầu nhân lực sẽ ở tầm cao hơn
Nhóm thứ ba, CNPT cho ngành công nghiệp lắp ráp cung cấp linh kiện, phụ tùng cho công nghiệp lắp ráp như ô tô, xe máy, điện tử Các ngành công nghiệp
hỗ trợ này đòi hỏi lao động có kỹ năng cao hơn, sản phẩm chủ yếu là các linh kiện kim loại, nhựa cao su, yêu cầu đáp ứng với các tiêu chuẩn chung và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm (Kennichi Ohno, 2007)
Như vậy, CNPT là ngành tạo ra sản phẩm sử dụng chung cho nhiều ngành sản xuất khác nhau, bao hàm trong đó nhiều lĩnh vực, nhiều loại kỹ thuật —- công nghệ, gồm: Ngành sản xuất linh kiện nhựa; Ngành sản xuất linh kiện thủy tinh; Ngành
sản xuất linh kiện kim loại màu; Ngành sản xuất hóa chất; Các ngành sản xuất
nguyên liệu thô
2 Vai trò :
1 Vai trò chung và dặc điểm của ngành Công nghiệp phụ trợ
3
Trang 4Ngành CNPT ngoài có vai trò tạo nhiều công ăn việc làm, thu hút lao động dư thừa, CNPT đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng sức cạnh tranh của sản
phẩm công nghiệp chính và đây nhanh quá trình công nghiệp hóa theo hướng vừa rộng vừa sâu
— CNPT có vai trò quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDI vào lĩnh vực công nghiệp, đồng thời kích thích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước
— CNPT thúc đây việc chuyên giao công nghệ, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất Dưới áp lực cạnh tranh, các công ty CNPT phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập khẩu Tiềm năng đó sẽ thành hiện thực nhờ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI
- CNPT góp phần tạo công ăn việc làm, thu hút lao động dư thừa trên các địa bàn sản xuất của doanh nghiệp và khu vực lân cận Mở rộng khả năng thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp
Công nghiệp hỗ trợ không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập
khẩu Dù những sản phẩm này có thể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng
vì chủng loại quá nhiều, phí tổn chuyên chở, bảo hiểm sẽ làm tăng phí tổn đầu vào
Đó là chưa nói đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu và gia
tăng nhập siêu, ảnh hướng tiêu cực đến cán cân thương mại quốc gia (thâm hụt thương mại) Công ty đa quốc gia sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý dây chuyền cung cấp nêu phải nhập khẩu phần lớn linh kiện bộ phận, và các sản phẩm CNPT khác Vì lý do này, CNPT không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ thiếu sức cạnh tranh và phạm vi cũng giới hạn trong một số ít các ngành
Đặc điểm : Các ngành công nghiệp phụ trợ này không đòi hỏi nhân lực có kĩ năng cao, sản xuất Ít loại nguyên liệu và không tác động lón đến sản phẩm, cung
Trang 5cấp máy móc công cụ và trang thiết bị cho nhiễu ngành công nghiệp, bao gôm công nghiệp lắp ráp, chế biến và công nghiệp hỗ trợ khác Trong hoạch định chiến lược và chính sách công nghiệp của một quốc gia, quan hệ giữa một ngành sản xuất công nghiệp với các ngành phụ trợ của nó là vấn đề quan trọng phát triển hợp lý công nghiệp phụ trợ sẽ đóng góp quan trọng vào sự phát triển công nghiệp
và kinh tế của quốc gia, lâu nay khi nói đến hạn chế trong thu hút đầu tư vào nước
ta người ta cho rằng lỗi là do cơ sở hạ tầng bất cập, thủ tục hành chính rườm rà tuy nhiên nhiễu địa phương đã nỗ lực cải thiện môi trường đâu tr nhung sức ra vẫn còn yếu đến nay, các nhà quản lý nhận ra răng một trong những yếu tổ cốt lỗi
là do chính sách nội tại các doanh nghiệp trên địa bàn, nhất là các doanh nghiệp tham gia vào các hoat động phụ trợ
2 Vai trò của ngành Công nghiệp phụ trọ dỗi với phát triển kinh tế Việt Nam
- Đóng góp vào giải quyết việc làm: Theo thông kê số liệu của Bộ Công
Thương, số DN đang hoạt động trong ngành công nghiệp hỗ trợ hiện chiếm gần 4,5% tông số DN Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, tạo việc làm cho hơn
550.000 lao động Các ngành công nghiêp dêt - may, da — giày, cơ khí chế tạo,
điên tử - tin học, chế biến gỗ thu hút nhiều lao đông vào làm viêc Năm 2018 các
nhóm ngành này thu hút 864,7 ngàn người, chiếm 77,2% lao động toàn ngành công nghiệp Tốc độ tăng bình quân lao động làm việc ở các nhóm ngành này giai đoạn 2015-— 2018 đạt 19,25%/năm
Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế: Ngành CNPT phát triển mạnh kéo theo chỉ
số sản xuất toàn ngành công nghiệp năm 2017 tăng 9,4% so với năm 2016, năm
2018 tăng 10,6% so với năm 2017, đạt mức tăng trưởng cao nhất kỳ từ năm 2012 trở lại đây, qua đó đóng góp lớn vào tăng trưởng chung của nền kinh tế Trong đó, các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo năm 2017 tăng 14,5%, đóng góp
Trang 6vào tăng trưởng chung toàn ngành công nghiệp với 10,2 điểm phần trăm, năm
2018 tăng 12,9% Đóng góp 9,9 điểm phân trăm vào mức tăng trưởng chung
Đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu: Giai đoạn 2015 - 2018 cơ câu kinh tế theo giá trị sản xuất thực tế các ngành CNPT tăng từ 34,7% năm 2015 lên 51,3% năm
2018 Đóng góp vào chuyên dịch cơ cấu kinh tế ngành chủ yếu tập trung chủ yếu vào sản xuất linh kiện ô tô, điện tử, dệt may Thực tế cho thấy, đóng góp của ngành CNPT chưa tương xứng với tỷ lệ sử dụng lao động của ngành này Năng suất lao động nhóm ngành CNPT thấp hơn năng suất lao động bình quân toàn ngành công nghiệp
Theo khảo sát của Công ty Reed Tradex (Thái Lan), ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam ngày càng phát triển và có vai trò quan trọng trong việc tham gia vào
chuỗi cung ứng cũng như chuỗi giá trị toàn cầu Các công ty, tập đoàn lớn của
nước ngoài đã thiết lập nhiều nhà máy chế tạo và lắp ráp tại Việt Nam Điều đó chứng tỏ họ kỳ vọng vào việc cắt giảm chi phí vận chuyên và rủi ro, vì thế nó sẽ tạo cơ hội lớn cho các nhà cung cấp phụ tùng trong nước phát triển sản xuất Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ được xem là một trong những chính sách ưu tiên
hàng đầu của Việt Nam nhằm thúc đầy sự phát triển của ngành công nghiệp, góp phân đây nhanh quá trình công nghiệp hóa — hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam còn yêu và cần những chính sách
phù hợp để phát triên
Tóm lại, trong tương lai đến năm 2020, ngành CNPT sẽ tăng trướng nhanh, thu hút một lực lượng lớn lao động vào làm việc và tạo ra giá trị sản xuất to lớn
lHÌ Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ và ảnh hưởng
của nó tới kinh tế Việt Nam
1.Các nhân tô ảnh hướng đén công nghiệp phụ trợ:
Có 3 yếu tô ảnh hưởng dến sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ, gồm quy mô thị trường; mình bạch thông tin và nguồn nhân lực, cụ thể :
Trang 7- Thị trường sản phẩm nguồn.Nhu cầu sản phẩm nguồn phải tạo ra thị trường
ồn định đề phát triển hiệu quả các ngành phụ trợ Nếu sản phẩm nguồn có quy mô nhỏ và chủng loại đa dạng thì số lượng sản xuất của các ngành phụ trợ sẽ nhỏ, giá thành sản xuất cao Nếu tiêu thụ sản phẩm nguồn nội địa không lớn các nhà sản xuất nguồn sẽ không tham gia thị trường và ngành sản xuất sản phẩm phụ trợ gặp khó khăn
- Nguồn lực tài chính: Đầu tư vào các ngành sản xuất phụ trợ bất lợi hơn so với đầu tư vào sản xuất nguôn (thường là lắp ráp): Suất đầu tư lớn; công nghệ phức tạp; thời hạn đầu tư và hoàn vốn dài; độ rủi ro trong đầu tư cao Nguồn lực tải
chính cho đầu tư phát triển công nghiệp và chính sách huy động nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển bền vững
- Tiến bộ khoa học và công nghệ: Do yêu cầu cải tiến liên tục để nâng cao năng lực cạnh tranh, việc thiết kế và chế tạo mới sản phẩm nguồn yêu cầu công nghiệp phụ trợ phải thường xuyên đổi mới, nghiên cứu và sản xuất phụ liệu, phụ
tùng hay chỉ tiết phù hợp
- Bảo đảm yêu cầu nghiêm ngặt về (QCD) chất lượng, chỉ phí và thời hạn
cung ứng (các sản phẩm phụ trợ) nhằm đáp ứng những cam kết với khách hàng của sản xuất nguồn Nguồn linh kiện, phụ kiện sản xuất trong nước phong phú, chất lượng cao sẽ tích cực hạ giá thành sản phẩm nguồn
- Sự phát triển công nghệ thông tin và thương mại điện tử hiện nay tạo điều kiện cung và cầu (sản phẩm phụ trợ và sản phẩm nguồn) gần nhau hơn, giảm thời gian giao dịch, mở rộng phạm vi quan hệ giữa hai khu vực
- Quan hệ giữa sản phẩm phụ trợ và sản phẩm nguồn không chỉ giới hạn
trong phạm vi quốc gia, mà phải phát triển trong phạm vi khu vực và toàn cầu để nâng cao hiệu quả - Hoạch định chiến lược phát triển các ngành công nghiệp phụ
trợ là một phần của chính sách phát triển kinh tế quốc gia, thu hút đầu tư nước
7
Trang 8ngoài và phân công lao động hiệu quả giữa sản xuất trong nước và các tập đoàn đa quốc gia
Ngoài ra, những chính sách của chính phú như chính sách thuế (giảm thuế và u đãi về thuế) và các chính sách hỗ trợ khác (hỗ trợ công nghệ, tài chính, đào tạo ) là công cụ quan trọng trong việc thúc đấy công nghiệp phụ trợ
phát triển
3 Thực trạng công nghiệp phụ trợ:
2.1 Thực trạng nguồn nhân lực ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam
Về độ tuổi tham gia lao động: Với dân số ước tính khoảng 94 triệu người vào năm 2018, trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,12 triệu người, tăng 1,1% so với năm 2017 và tỉ lệ lao động nữ tăng 0,37%; khu vực thành thị tăng 1,25%
Số liệu thống kê cho thấy, lực lượng lao động của Việt Nam dồi dào, phong phú nhưng lại thiếu lực lượng kỹ sư có trình độ trung cấp, cao cấp Số lượng kỹ sư tốt nghiệp đại học được tuyến dụng có đủ năng lực để đáp ứng nhu cầu về quản lý
lại rất thiếu, đặc biệt là ở miền Bắc
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đã
qua đào tạo có băng/chứng chỉ từ 3 tháng trở lên năm 2918 là 15,01 triệu người, tăng 267 nhìn người so với năm 2017 Trong đó, tăng mạnh nhất ở nhóm cao đẳng
(11, 37%), tiếp đó là đại học và trên đại học (2,2%) và nhóm sơ cấp nghề chỉ tăng
rất nhẹ (0,02%); giảm ở nhóm trung cấp (1,47 %)
Thực tế cho thấy, tỷ lệ nguồn nhân lực cho ngành CNPT ở Việt Nam rất thấp,
do ngành nghề trong các lĩnh vực chế tạo thường ít được xã hội coi trọng, với tâm
lý khó tìm việc và công việc vất vả Chính vì vậy, việc giáo dục, đảo tạo kỹ sư chế tạo ở các trường đại học, cao đẳng cũng thường ít hơn các ngành khác
2.2 Hạn chế của nguôn nhân lực trong ngành Công nghiệp phụ trợ
Trang 9Theo đánh giá, hiện nay, nguồn nhân lực còn thiếu và yếu đang là trở ngại lớn của nhiều DN hoạt động trong ngành công nghiệp hỗ trợ Nhiều DN công nghiệp
hỗ trợ vẫn than thở rằng, đang gặp khó khăn bởi nguồn lực lao động đa phần chưa
đáp ứng được yêu câu Cụ thể:
Thứ nhất, thê chất của lực lượng lao động còn yếu: Về cơ bản thể chất của người lao động của lao động Việt Nam đã được cải thiện nhưng còn thấp SO VỚI các nước trong khu vực, thể hiện ở các khía cạnh tầm vóc, sức khỏc, sức bền, khả năng chịu áp lực đặc biệt thiếu khả năng ứng dụng và tính sáng tạo Nguồn nhân lực của Việt Nam thiếu sự tích lũy về trình độ công nghệ do sự chậm trễ trong chuyển giao công nghệ, yêu cầu về hiệu suất cao và thiếu sự tin cậy và nhận thức
về chất lượng, chi phí, thời hạn giao hàng, dịch vụ và tốc độ
Thứ hai, nhân lực phục vụ ngành CNPT chưa đáp ứng được yêu câu cả về số lượng và chất lượng, chủ yếu là do suất đầu tư thấp, DN và nhà trường chưa hình
thành liên kết bền vững hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau Ngược lại, chất lượng đào tạo
nhân lực thấp đã ảnh hưởng đến chất lượng của các nghiên cứu khoa học ứng
dụng, chất lượng kỹ sư, công nghệ viên, kỹ thuật viên và công nhân nói chung
Thứ ba, về cơ bản đội ngũ lao động Việt Nam giỏi lý thuyết nhưng kém về năng lực thực hành, ứng dụng công nghệ cao, quá trình lao động, ngoại ngữ và hạn chế trong việc thích nghi môi trường có áp lực cạnh tranh cao
Tứ rr, nhiều DN chưa gắn kế hoạch phát triển nguồn nhân lực với mục tiêu phát triển sản xuất nên có sự hụt hãng về đội ngũ, không chủ động nguồn Chất lượng đào tạo thấp đã làm ảnh hưởng đến chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học ứng dụng, chất lượng kỹ sư, công nghệ viên, kỹ thuật viên và công nhân
Nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trên có nhiều nhưng tựu chung là do quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực ngành CNPT còn nhiều vấn đề bất cập so với yêu câu Chưa có một chiên lược phát triên nguôn nhân lực trong ngành
Trang 10CNPT một cách toàn diện và dài hạn, mang tầm quốc gia để định hướng các cơ
quan, đoàn thể cùng phối hợp hành động
Hệ thống giáo dục từ cấp phổ thông, đến đào tạo nghề, đại học, sau đại học là lược lượng nòng cốt trong quá trình đạo tạo và phát triển nguồn nhân lực còn nhiều
bộc lộ, hạn chế, dù đã trải qua rất nhiều cải cách, đổi mới Quá trình hợp tác và hội
nhập quốc tế trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực ngành CNPT chưa theo kịp
quá trình hội nhập kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng sâu rộng của Việt Nam
2.3 Thực trạng công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam
Hiện nay, một số ngành công nghiệp có thế mạnh của Việt Nam như điện tử, dệt may, da giày, lắp ráp ô tô, xe máy hầu như chưa có công nghiệp hỗ trợ đi
kèm, nên phải phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, khiến sản xuất nhiều
khi còn manh mún, bị động, chi phí sản xuất cao
Trong thời gian qua, nhà nước cũng đã có định hướng ưu đãi cho các doanh nghiệp hỗ trợ tuy nhiên những ưu đãi này chưa rõ ràng và đang dưới hình thức cào
băng Đối tượng được hưởng nhiều ưu đãi nhất lại không phải là doanh nghiệp nội
mà chiếm tới 70% là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trong giai đoạn đầu của chính sách thu hút đầu tư nước ngoài với bối cảnh Việt nam chưa gia nhập WTO, AFTA chính sách bảo hộ mậu dịch còn lớn, khi đó các doanh nghiệp nước ngoài với mục tiêu nhắm tới là mở rộng thị trường tại Việt nam nên chỉ đầu tư vào lắp ráp sản phẩm tiêu thụ ở thị trường trong nước với số vốn không lớn chỉ cần từ vài đến vài chục triệu USD và thời gian cũng không dài,
từ 10 đến 15 năm với hình thức liên doanh để hưởng các ưu đãi về bảo vệ sản xuất
của Việt Nam Hệ quả là hầu như không có doanh nghiệp có vốn nước ngoài nào đầu tư thực sự cho công nghệ cao hoặc chuyển giao công nghệ nên chúng ta chỉ thu được một số kinh nghiệm về tổ chức sản xuất và quản lý chất lượng
Tuy nhiên với tình hình hiện nay, sau khi Việt nam đã gia nhập WTO, AFTA những doanh nghiệp FDI còn trụ lại hoặc đầu tư mới, họ thực sự mong muốn tìm