CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT.... CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Trang 1Khoa: Ngân hàng- Bảo hiểm
Chuyên ngành: Tài chính bảo hiểm
Học viên thực hiện : Lê Mai Anh
Người hướng dẫn : TS Trịnh Hữu Hạnh
Hà Nội, năm 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM BẮT BUỘC
TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI
NGƯỜI THỨ BA
1.1 Khái niệm chung về trách nhiệm dân sự và bảo hiểm trách
nhiệm dân sự
1.2 Sự cần thiết triển khai nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm
dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
1.3 Những nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách
nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
1.4 Quy trình phát triển nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm
dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ
BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ
XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TỔNG CÔNG TY
BẢO HIỂM BẢO VIỆT
2.1 Vài nét về tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt
Trang 3công ty bảo hiểm Bảo Việt
2.3 Đánh giá thực trạng triển khai nghiệp vụ qua một số năm
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY VIỆC TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT
3.1 Đánh giá thuận lợi và khó khắn cơ bản của công ty
3.2 Một số giải pháp
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
35
47
53
53
54
62
63
64
Trang 4ơ
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt
Tác giả luận văn
Lê Mai Anh
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Nhu cầu đi lại đã từ lâu là một nhu cầu thiết yếu của con người Nhu cầu này càng có xu hướng tăng nên cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, của tiến bộ khoa học kĩ thuật Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ về số lượng, cũng như chủng loại các phương tiện vận tải cơ giới đã đem lại cho con người một phương thức vận chuyển thuận tiện nhanh gọn và tiết kiệm
Tuy nhiên sự phát triển một cách nhanh chóng đã dẫn đến tình trạng giao thông đường bộ ngày càng trở nên phức tạp Sự phát triển bất hợp lý giữa mức độ tăng nhanh của các phương tiện cơ giới với tốc độ phát triển của
cơ sở hạ tầng giao thông cùng với việc thiếu ý thức của những người tham gia giao thông đã làm cho tai nạn giao thông xảy ra ngày càng nhiều và mức độ ngày càng nghiêm trọng gây thiệt hại về tài sản, tính mạng cho cá nhân, cũng như toàn xã hội
Để hỗ trợ, khắc phục tài chính cho các chủ phương tiện, nhằm bảo đảm
an toàn cho xã hội đồng thời bảo vệ lợi ích trong hoạt động kinh doanh, tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt đã triển khai loại hình bảo hiểm (Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ gới đối với người thứ ba) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là nghiệp vụ bảo hiểm quan trọng nó thực hiện hai mục tiêu:
- Thực hiện tốt nghị định 115/1997/NĐ/CP về việc quy định về chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới nhằm bảo vệ quyền lợi, lợi ích chính đáng và hợp pháp cho những người thiệt hại về thân thể và tài sản cho chủ xe cơ giới gây ra đồng thời giúp chủ xe khắc phục hậu quả
- Đóng góp không nhỏ trong tổng doanh thu hằng năm của tổng công ty bảo hiểm
Trang 6Bảo Việt là một công ty cổ phần hoạt động trên thị trường bảo hiểm đã sớm khẳng định được mình trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công
ty đã không ngừng phát triển, nó đóng góp không nhỏ vào tổng doanh thu hằng năm của công ty và không ngừng nâng cao uy tín của công ty trên thị trường bảo hiểm
Tuy vậy trong thực tế không thể tránh khỏi những khó khăn cũng như những thiếu xót trong quá trình hoạt động, triển khai từ khâu khai thác đến khâu giám định bồi thường Qua thực tế hoạt động của công ty, nhận thức được vai trò to lớn của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiện dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thư ba, sau thời gian thực tập tại tổng công ty bảo hiểm
Bảo Việt em đã chọn đề tài: “Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 tại tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt”
Kết cấu đề tài gồm có 3 chương:
Chương I: Tổng quan về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ
xe cơ giới đối với người thứ 3
Chương II: Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 tại tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt
Chương III Một số giải pháp thúc đẩy việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt
Để hoàn thành đề tài này, em đã nhận đươc sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ chuyên môn ở ban xe cơ giới tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt và đặc biệt là sự quan tâm chỉ bảo tận tình của cô giáo trực tiếp hướng dẫn tiến sĩ Trịnh Hữu Hạnh Nhân đây em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những quan
Trang 7tâm giúp đỡ đó Song do thời gian hạn chế về thời gian, kiến thức và kinh nghiệm thực tế nên bài viết nay không thể tránh khỏi những thiếu xót Kính mong nhận được sự góp ý chân thành của thày cô giúp em hoàn thiện hơn cho
đề tài này
Trang 8NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA: 1.1 Khái niệm chung về trách nhiệm dân sự và bảo hiểm trách nhiệm
Xuất phát từ việc cần thiết bảo vệ lợi ích chính đáng trên những quy tắc đã được thể chế hóa thành một chế tài của pháp luật dân sự đó là trách nhiệm dân sự và nó bắt buộc mọi công dân phải tuân thủ
Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm phát sinh do vi phạm nghĩa vụ dân
sự Trong đó nghĩa vụ dân sự chính là việc mà theo quy định của pháp luật thì một hoặc nhiều chủ thể không được làm hoặc bắt buộc làm một hành động nào đó đối với một hoặc nhiều chủ thể khác Người chịu trách nhiệm dân sự
mà không thực hiện đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đó thì phải chịu trách nhiệm đối với người bị hại và trước pháp luật
Nhìn chung thì trách nhiệm dân sự là trách nhiệm bồi thường về vật chất và tinh thần Trong đó trách nhiệm bồi thường về vật chất và tinh thần là trách nhiệm bồi thường những tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền
do bên vi phạm nghĩa vụ dân sự gây ra bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí ngăn chặn thiệt hại, thu nhập thực tế bị giảm sút Người thiệt hại về tinh thần đối với người khác do xâm phạm đến tính mạng sức khỏe, danh dự, uy tín của
Trang 9người khác thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị hại
Trong pháp luật dân sự thì ngoài việc gây ra thiệt hại đối với người bị hại còn phải do hành vi có lỗi của chủ thể mới phát sinh trách nhiệm dân sự
1.1.1.2 Các yếu tố phát sinh trách nhiệm dân sự:
Theo quy định của của pháp luật thì những trường hợp mà thỏa mãn các điều kiện sau đây sẽ phát sinh trách nhiệm dân sự :
- Phải có thiệt hại thực tế của bên bị hại
- Phải có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật
- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại thực tế
- Phải có tỷ lệ lỗi gây ra thiệt hại
Trách nhiệm dân sự bao gồm trách nhiệm dân sự trong và ngoài hợp đồng Trách nhiệm dân sự theo hợp đồng phát sinh trên các cơ sở những thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng Như vậy trách nhiệm dân sự theo hợp đồng chỉ phát sinh khi các bên có những mối quan hệ rằng buộc từ trước và
có các quan hệ trực tiếp đến hợp đồng ký kết, liên quan đến chủ thể ký kết hợp đồng, họ đều là những người có đầy đủ năng lực hành vi Nó khác với trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng chủ thể gây ra có thể là do người hoặc súc vật…
Bởi vậy trách nhiệm bồi thường cũng có sự khác nhau, liên quan đến những người đại diện hợp pháp hặc chủ sở hữu (đối với vật và gia súc).Đây chính là điểm khác nhau cơ bản giữa trách nhiệm dân sự trong và ngoài hợp đồng Việc phát sinh trách nhiệm dân sự thường là bất ngờ vàkhông ai có thể lường trước được Nhiều những trường hợp thiệt hại vượt quá khả năng tài chính của cá nhân, tổ chức
Trang 10Do vậy các cá nhân cũng như các tổ chức đã tìm mọi các biện pháp để hạn chế và kiểm soát tổn thất như:
- Tự chịu rủi ro
- Né tránh rủi ro
- Bảo hiểm
Tuy nhiên biện pháp ưu việt nhất, tốt nhất là các cá nhân cũng như các
tổ chức nên mua bảo hiểm Qua đó các cá nhân chuyển giao rủi ro cho nhà bảo hiểm, bù lại các cá nhân phải đóng cho nhà bảo hiểm một khoản phí và nhà bảo hiểm sẽ cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra
1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm dân sự:
Trách nhiệm dân sự mang đầy đủ những đặc điểm chung của loạihình trách nhiệm pháp lý:
Thứ nhất: Trách nhiêm dân sự được coi là một biện pháp cưỡng chế
của pháp luật được thể hiện dưới dạng trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự
và trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên bị hại
Thứ hai: Cùng với các biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ dân sự
nó sẽ đem lại cho người thực hiện nghĩa vụ dân sự những hậu quả bất lợi
Thứ ba: Trách nhiệm dân sự do các cơ quan có thẩm quyền của nhà
nước thực thi theo trình tự và thủ tục nhất định đối với những ngưòi có hành
vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác nhưng chưa đủ để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật
1.1.3 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự:
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là một loại hình bảo hiểm mà người bảo hiểm cam kết bồi thường phần trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm theo cách thức và hạn mức đã được hai bên thỏa thuận trong hợp đồng với điều kiện người tham gia bảo hiểm phải đóng một khoản phí tương ứng
Trang 11Mục đích của người tham gia chính là chuyển giao phần trách nhiệm dân sự của mình mà chủ yếu là trách nhiệm bồi thường
Nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự ra đời từ rất sớm và ngày càng phát triển Hiện nay, ở Việt Nam, có rất nhiều các nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm như:
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hành khách trên xe
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tầu biển
- Bảo hiểm trách nhiệm đối với hàng hóa vận chuyển trên xe
- Bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phẩm và của chủ lao động đối với người lao động
Đối với những chủ xe hiện nay, bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là loại hình mà tất cả các cá nhân tổ chức (bao gồm người nước ngoài) sở hữu xe tại Việt Nam đều phải tham gia theo quy định của nhà nước, nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên thứ ba trong trường hợp nếu chẳng may chủ xe, lái xe gây thiệt hại cho họ
Tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe ô tô là bạn
đã chấp hành đúng chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước và luật giao thông đường bộ Nguyên lý của bảo hiểm đó là “Lấy số đông bù cho số ít kém may mắn”, trong trường hợp có tai nạn xảy ra, các công ty bảo hiểm sẽ sử dụng số tiền bảo hiểm thu được từ số đông để bồi thường cho số ít người bị tai nạn Điều đó giúp cho một số người vì một lý do nào đó gây tai nạn không phải bỏ trốn, có trách nhiệm với tai nạn đã xảy ra theo mức trách nhiệm của bảo hiểm đã tham gia, và không bị truy cứu hình sự vì mất khả năng bồi thường cho chủ thể khác
Trang 12Chính vì vậy, trong thời gian thực tập tại tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt em đã quyết định nghiên cứu nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba
1.2 Sự cần thiết triển khai nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm
dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
1.2.1 Khái niệm về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới
đối với người thứ ba:
Trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là một loại bảo hiểm trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng trong đó quy định đối với chủ
xe cơ giới phải đền bù thiệt hại cho người thứ ba do xe cơ giới gây ra trong khi tham gia giao thông
1.2.2 Sự cần thiết triển khai nghiệp vụ bắt buộc bảo hiểm trách nhiệm dân sự
của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
1.2.2.1 Đặc điểm và tính năng động của xe cơ giới:
Xe cơ giới là tất cả các loại xe hoạt động trên đường bộ bằng chính những động cơ của mình và được phép lưu hành trên lãnh thổ của mỗi quốc gia Xe cơ giới chiếm một số lượng lớn và có một vị trí quan trọng trong ngành giao thông vận tải, một ngành kinh tế có ảnh hưởng tới tất cả các ngành
nó là một sợi dây kết nối các mối quan hệ lưu thông hàng hóa giữacác vùng, giữa trong và ngoài nước tạo điều kiện phát triển kinh tế và phục vụ nhu cầu
đi lại của nhân dân Ngày nay vận chuyển bằng xe cơ giới là hình thức vận chuyển phổ biến và sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế quốc dân
Xe cơ giới có tính ưu điểm là tính cơ động cao và linh hoạt có thể di chuyển trên địa bàn phức tạp, tốc độ cao và chi phí tương đối là thấp Tuyvậy vấn đề an toàn đang là vấn đề lớn đang được đặt ra đối với loại hình vận chuyển này Đây là hình thức vận chuyển có mức độ nguy hiểm lớn, khả năng xảy ra tai nạn là rất cao do số lượng đầu xe dày đặc, đa dạng về chủng loại,
Trang 13bất cập về chất lượng Hơn nữa hệ thống đường xá ngày càngxuống cấp lại không được tu sửa kịp thời Đó chính là những nguyên nhânchủ yếu dẫn đến các vụ tai nạn giao thông gây thiệt hại lớn về người và của cho nhân dân gây mất trật tự an toàn xã hội
1.2.2.2 Sự cần thiết triển khai nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân
sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
Sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện cơ giới một mặt đem lại cho con người một hình thức vận chuyển thuận tiện nhanh chóng kịp thời, giá
rẻ và phù hợp với đại đa số cư dân Việt Nam hiện nay
Thống kê tới tháng 7/2016 của Viện Chiến lược & Phát triển GTVT cho thấy, từ năm 2010 - 2015, trong khi diện tích dành cho giao thông chỉ tăng trưởng bình quân 3,9%/năm thì lượng xe máy tăng 7,66%/năm (gấp 2 lần), ô
tô tăng 16,15% (gấp 4 lần) Cụ thể, cuối năm 2008, Hà Nội có 2,2 triệu phương tiện, trong đó có 185 nghìn ô tô, nhưng chỉ sau 10 năm phát triển, con
số này đến hết năm 2017 đã là 6 triệu phương tiện, tức là tăng gần 3 lần, trong
đó ô tô có hơn 540 nghìn xe, xe máy có 5,4 triệu xe
Với 8 tháng đầu năm 2018, Phòng CSGT Hà Nội cho biết, đã làm đăng ký, cấp biển số mới cho hơn 218.000 phương tiện, trong số này có hơn 38.000 ô
tô, 170 nghìn xe máy Từ lượng phương tiện gia tăng từ đầu năm 2018 đến nay, tính trung bình mỗi tháng, Hà Nội đang có thêm hơn 27 nghìn ô tô, xe máy, xe đạp điện được cấp biển số để đổ ra đường Đó là chưa kể 1,2 triệu phương tiện từ ngoại tỉnh vào Hà Nội tham gia giao thông
Với taxi và xe ô tô chở khách dưới 9 chỗ, từ năm 2012 Hà Nội đã dừng gia tăng số lượng phương tiện mới Tại thời điểm dừng, số lượng taxi trên địa bàn
Hà Nội là 17.400 taxi, tuy nhiên con số taxi thực tế được thống kê hiện nay là 20.000 xe Cùng với đó, số lượng xe chở khách dưới 9 chỗ tham gia loại hình taxi công nghệ hiện đã được Sở GTVT Hà Nội cấp phù hiệu lên đến 21.800
Trang 14xe Như vậy số lượng xe taxi và phương tiện hoạt động như taxi trên địa bàn
Hà Nội hiện nay là 41.800 xe chứ không phải 17.400 xe
Đối lập với tốc độ gia tăng của các phương tiện giao thông Tốc độ phát triển của cơ sở hạ tầng giao thông còn nhiều hạn chế Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông ở Việt Nam đa số có quy mô nhỏ bé, chưa đồng bộ và chưa tạo được sự kết nối liên hoàn, khả năng đáp ứng nhu cầu giao thông và an toàn giao thông còn hạn chế So với một số nước tiên tiến trong khu vực, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam chỉ ở mức trung bình Hiện toàn quốc mới có 765 km đường bộ cao tốc đã hoàn thành và đi vào khai thác (tính đến 2016) Cũng từ sự phát triển bất hợp lý này đã làm cho tình hình tai nạn giao thông có xu hướng ngày càng tăng
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê chiều 27/12/2019, số người chết chủ yếu xảy ra tại các vụ tai nạn giao thông thảm khốc, đặc biệt nghiêm trọng Cụ thể, trong năm 2019, trên địa bàn cả nước xảy ra 17.626 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 9.229 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 8.397 vụ va chạm giao thông, làm 7.624 người chết, 13.624 người bị thương và 8.528 người bị thương nhẹ
Trong tổng số 9.229 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên, có 9.021 vụ (chiếm 97,7%) xảy ra trên đường bộ, làm 7.458 người chết và 5.054 người bị thương Bình quân 1 ngày trong năm 2019, trên địa bàn cả nước xảy
ra 48 vụ tai nạn giao thông (giảm 2 vụ so với năm 2018), gồm 25 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 23 vụ va chạm giao thông, làm 21 người chết, 37 người bị thương và 23 người bị thương nhẹ
Đất nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới đều phải đối mặt với tình trạng tai nạn giao thông, phải đối mặt với những thiệt hại về người và của mà các chủ phương tiện và người thiệt hại phải gánh chịu
Trang 15Làm thế nào để khắc phục dược những thiệt hại và nâng cao trách nhiệm của các chủ phương tiện Từ xưa đến nay con người đã tìm ra các biện pháp kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro thế nhưng biện pháp hữu hiệu nhất là tham gia bảo hiểm Việc tham gia bảo hiểm sẽ thành lập nên một quỹ tài chính, quỹ này sẽ chi trả cho các đối tượng tham gia bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra nhằm giúp đỡ người bị hại ổn định cuộc sống
Như vậy nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba ra đời đã đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội và cũng là điều mong muốn thiết tha của các chủ phương tiện
1.2.2.3 Cơ sở hình thành tính bắt buộc của bảo hiểm trách nhiệm dân sự của
chủ xe cơ giới đối với người thứ 3:
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe được đưa vào loại hình bắt buộc, nhằm giúp chủ xe và nạn nhân có một quỹ tài chính để bình ổn trong trường hợp gặp sự cố
Tính đến cuối năm 2019, cả nước đã có gần 60 triệu xe môtô, xe máy, tăng gần 80% so với năm 2011 Cùng với sự gia tăng số lượng xe, các vụ tai nạn cũng nhiều hơn
Cụ thể, mỗi năm số nạn nhân bị thiệt mạng do tai nạn giao thông (TNGT) tại Việt Nam là trên 8.000 người, chưa kể số người bị thương tật hoặc tàn phế Việc này để lại nỗi đau dai dẳng và có thể đẩy nhiều gia đình rơi vào cảnh ly tán, tạo ra gánh nặng về kinh tế cho cả chủ xe, người bị nạn và xã hội
Thực tế cho thấy nhiều vụ tai nạn xảy ra, người gây tai nạn bỏ chạy hoặc không có đủ tiền bồi thường cho gia đình nạn nhân, khiến họ chịu cảnh mất người thân và trụ cột gia đình Nếu tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự theo quy định, chủ xe có thể chuẩn bị một quỹ tài chính bình ổn
để giảm thiểu mất mát
Trang 16Từ tháng 9/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
103/2008/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới Theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, đây là loại hình các cá nhân hoặc doanh nghiệp phải mua theo luật định, được xem như chính sách an sinh xã hội của Nhà nước, nhằm bảo vệ quyền lợi cho nạn nhân trong vụ tai nạn giao thông do xe cơ giới gây ra, mặt khác góp phần bảo vệ tài chính cho chủ xe cơ giới trước những rủi
ro bất ngờ Quy định này hỗ trợ phần nào khó khăn về mặt tài chính cho chủ
xe cũng như gia đình nạn nhân
Để đảm bảo đúng các quy định của pháp luật, ngoài việc tuyên tuyền để người dân nhận thức và tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự chủ
xe cơ giới đầy đủ, Chính phủ cũng quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông tại Nghị định 46/2016/NĐ-CP
Việc tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cần thiết và mang lại lợi ích thiết thực cho chủ xe cũng như xã hội Hành động này thể hiện công dân gương mẫu tuân thủ luật pháp, bảo vệ bản thân trước các rủi ro tài chính, đảm bảo nghĩa vụ khắc phục hậu quả nếu điều không may xảy đến
1.2.2.4 Tác dụng của bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba:
Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới mang lại những lợi ích vô cùng to lớn cho người mua bảo hiểm nói riêng và cho toàn
xã hội nói chung Những lợi ích ấy được thể hiện qua các vai trò sau:
Đối với chủ xe: Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ
giới không chỉ có vai trò to lớn đối với người bị hại mà còn cả xã hội, nó là tấm lá chắn vững chắc cho chủ xe khi tham gia giao thông và tạo tâm lý yên tâm, thoải mái, tự tin khi điều khiển các phương tiện tham gia giao thông
Bởi vì khi phát sinh trách nhiệm dân sự, công ty bảo hiểm sẽ bồi thường nhanh chóng, kịp thời cho các chủ xe nhằm phục hồi lại tinh thần, ổn
Trang 17định sản suất, phát huy quyền tự chủ về tài về chính, tránh thiệt hại kinh tế cho chủ xe Không chỉ vậy, bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe
cơ giới còn có tác dụng giúp chủ xe có ý thức trong việc đề phòng và hạn chế tổn thất và phần nào giúp xoa dịu bớt căng thẳng giữa chủ xe và người bị hại
Đối với người thứ ba và hành khách trên xe: Khi chủ xe cơ giới mua
bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự bị phát sinh trách nhiệm thì nhà bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại cho nạn nhân một cách nhanh chóng kịp thời, không phụ thuộc vào tình trạng tài chính của chủ xe
Thêm vào đó, bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn giúp người thứ ba và hành khách ổn định tài chính và tinh thần
Đối với xã hội: Số phí bảo hiểm thu được từ những người tham gia bảo
hiểm sẽ hình thành một quỹ rất lớn, quỹ này ngoài việc sử dụng bồi thường cho chủ xe cơ giới khi rủi ro xảy ra, còn sử dụng để đề phòng hạn chế tổn thất như hỗ trợ đầu tư xây dựng đường lánh nạn, đường phụ, làm thêm các biển báo chỉ đường, góp phần không nhỏ làm giảm thiểu nguy cơ gây tai nạn Không chỉ vậy, bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, đồng thời góp phần tăng thu cho ngân sách
Mặt khác, chính từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp
có thể mở rộng mạng lưới kinh doanh, hệ thống đại lí, tạo nhiều việc làm cho người lao động
Như vậy với tư cách là một nghiệp vụ bảo hiểm mang tính bắt buộc nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới với người thứ ba vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội, thể hiện tinh thần tương thân tương ái, tính nhân văn, nhân đạo cao cả Mội lần nữa khẳng định tính khách quan cũng như tính bắt buộc của nghiệp vụ này
Trang 181.3 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH
NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA:
1.3.1 Đối tượng bảo hiểm:
Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba là loại hình bảo hiểm mà tất cả các cá nhân tổ chức (bao gồm người nước ngoài) sở hữu xe cơ giới tại Việt Nam đều phải tham gia theo quy định của nhà nước, nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên thứ ba trong trường hợp nếu chẳng may chủ xe, lái xe gây thiệt hại cho họ Nếu không tham gia sẽ bị cơ quan chức năng phạt hành chính và bắt buộc phải tham gia ngay
Tuy nhiên cần lưu ý rằng bên thứ ba trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba là những người trực tiếp bị thiệt hại
do hậu quả của các vụ tai nạn ngoại trừ:
- Lái, phụ xe, nguời làm công cho chủ xe
- Những người mà lái xe phải nuôi dưỡng như cha mẹ, vợ, chồng, con cái
- Hành khách đi trên xe
- Tài sản tư trang hành lý của những người nói trên
- Các khoản phạt mà chủ xe, lái xe phải gánh chịu
Đối tượng được bảo hiểm không xác định được từ trước chỉ khi nào lưu hành xe gây tai nạn có phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba thì đối tượng mới được xác định cụ thể
Các điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba bao gồm:
- Có thiệt hại về tài sản, tính mạng hay sức khỏe của bên thứ ba
Trang 19- Chủ xe phải có hành vi trái pháp luật Có thể do vô tình hay hay cố ý
mà lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ hoặc là vi phạm các quy định khác của nhà nước
- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa lỗi và thiệt hại thực tế
- Chủ xe, lái xe phải có lỗi
Trên thực tế chỉ cần đồng thời xảy ra 3 điều kiện thứ 1, thứ 2, thứ 3 là
đã phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba Nếu thiếu một trong 3 điều kiện đó thì sẽ không phát sinh trách nhiệm dân sự Điều kiện 4 có thể có hoặc không vì nhiều khi tai nạn xảy ra là do tính nguy hiểm cao độ của xe cơ giới mà hoàn toàn không có lỗi của chủ xe
1.3.1.2 Phạm vi bảo hiểm:
Người bảo hiểm nhận bảo hiểm cho các rủi ro bất ngờ, không lường trước được gây ra tai nạn và làm phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe Doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường những thiệt hại về vật chất, về người, về tài sản được tính toán theo những nguyên tắc nhất định Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm còn phải thanh toán cho chủ xe những chi phí mà họ đã chi
ra nhằm phòng ngừa hạn chế, thiệt hại Những chi phí này chỉ được bồi thường khi nó phát sinh sau khi tai nạn xảy ra và được coi là chi phí cần thiết
và hợp lý
Trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm được hạn mức trong mức trách nhiệm ghi trong hợp đồng hay giấy chứng nhận bảo hiểm Trong bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới các thiệt hại nằm trong phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm gồm:
- Thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khỏe của bên thứ ba
- Thiệt hại về tài sản, hàng hoá của bên thứ ba
- Thiệt hại về tài sản làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh hoặc làm giảm thu nhập
Trang 20- Các chi phí cần thiết và hợp lý để thực hiện các biện pháp đề phòng
và hạn chế tổn thất, các chi phí đề xuất của bên bảo hiểm
- Những thiệt hại về tính mạng và tình trạng sức khoẻ của những nguời tham gia cứu chữa, ngăn ngừa tai nạn, chi phí cấp cứu và chăm sóc nạn nhân
1.3.2 Phí bảo hiểm và phương pháp tính phí:
1.3.2.1 Phí bảo hiểm:
Phí bảo hiểm là một khoản tiền mà chủ xe cơ giới phải nộp cho nhà bảo hiểm để hình thành một quỹ tiền tệ độc lập, tập trung đủ lớn để bồi thường thiệt hại xảy ra trong năm nghiệp vụ theo phạm vi bảo hiểm và hạn mức trách nhiệm mà người tham gia đã ký với nhà bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm
Biểu phí thì do bộ tài chính quy định ngoài ra các công ty bảo hiểm có thể thoả thuận với các chủ xe cơ giới với người thứ ba theo số lượng đầu phương tiện của mình Mặt khác các đầu phương tiện lại khác nhau về chủng loại, về độ lớn, xác suất xảy ra tai nạn là khác nhau Do đó phí bảo hiểm sẽ được tính riêng cho từng loại phương tiện
Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là hình thức bảo hiểm bắt buộc nên luật pháp đưa ra biểu phí cụ thể (xem phụ lục số 01)
1.3.2.2 Bồi thường - trả tiền bảo hiểm:
Khi tai nạn xảy ra, trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho chủ xe cơ giới số tiền mà chủ xe cơ giới
đã bồi thường hoặc sẽ phải bồi thường cho người bị thiệt hại
Trường hợp chủ xe cơ giới chết hoặc bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường trực tiếp cho người bị thiệt hại
Trường hợp cần thiết, doanh nghiệp bảo hiểm phải tạm ứng ngay những chi phí cần thiết và hợp lý trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm nhằm khắc phục hậu quả tai nạn
Trang 21Mức bồi thường cụ thể cho từng loại thương tật, thiệt hại về người được xác định theo Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người theo quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư 22/2016/TT-BTC hoặc theo thoả thuận (nếu có) giữa chủ xe cơ giới và người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị thiệt hại (trong trường hợp người bị thiệt hại đã chết) nhưng không vượt quá mức bồi thường quy định tại Phụ lục trên Trường hợp có quyết định của toà án thì căn cứ vào quyết định của toà án nhưng không vượt quá mức bồi thường quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư 22/2016/TT-BTC
Trường hợp nhiều xe cơ giới gây tai nạn dẫn đến các thiệt hại về người, mức bồi thường được xác định theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới nhưng tổng mức bồi thường không vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm
Đối với vụ tai nạn được cơ quan có thẩm quyền xác định nguyên nhân
do lỗi hoàn toàn của bên thứ ba thì mức bồi thường bảo hiểm về người đối với các đối tượng thuộc bên thứ ba bằng 50% mức bồi thường quy định Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư 22/2016/TT-BTC
Mức bồi thường cụ thể đối với thiệt hại về tài sản/1 vụ tai nạn được xác định theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới nhưng không vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm
+ Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường phần vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm theo quy định tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Thông tư 22/2016/TT-BTC
+ Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính theo hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực bảo hiểm trước
Trang 221.3.3 Loại trừ bảo hiểm:
Doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp sau:
- Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe hoặc của người bị thiệt hại
- Lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe, lái xe cơ giới
- Lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không phù hợp đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe Trường hợp lái
xe bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe có thời hạn hoặc không thời hạn thì được coi là không có Giấy phép lái xe
- Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại
- Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn
Trang 23Bước 1: Tiếp thị, tìm kiếm, nhận thông tin về khách hàng, xử lý thông
tin, phân tích tìm hiểu đánh giá rủi ro
- Khai thác viên thông qua tất cả các kênh tiếp cận khách hàng: Trực tiếp, hệ thống các kênh thông tin, tuyên truyền, internet… thực hiện tuyên truyền, quảng cáo, vận động mời chào khách hàng tham gia bảo hiểm, bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự trực tiếp hoặc thông qua đại lý, cộng tác viên bảo hiểm, tổ chức môi giới bảo hiểm
- Khi nhận thông tin yêu cầu từ chủ xe, khai thác viên cần hướng dẫn chủ xe kê khai đầy đủ mọi thông tin trong Giấy yêu cầu bảo hiểm và/hoặc danh sách xe yêu cầu bảo hiểm, giải thích và cung cấp các tài liệu khác theo yêu cầu của khách hàng như Quy tắc bảo hiểm, nội dung điều khoản bổ sung…
- Tất cả các thông tin của khai thác viên khi đánh giá rủi ro đều được điền vào mẫu giấy chứng nhận bảo hiểm, đây là căn cứ thông tin ban đầu rất quan trọng trong khai thác bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe
cơ giới
- Ngoài các thông tin trên giấy chứng nhận bảo hiểm, khai thác viên đánh giá rủi ro trên cơ sở tiếp xúc trực tiếp chủ xe, tìm hiểu thêm từ công ty bảo hiểm mà chủ xe từng tham gia, tình hình tổn thất các năm trước đó
- Khi đã có các số liệu của chủ xe, khai thác viên đề xuất Lãnh đạo công ty về chính sách khách hàng, công tác quản lý rủi ro, kiểm tra các thông tin, số liệu liên quan đến các rủi ro yêu cầu bảo hiểm và đối tượng được bảo hiểm
Bước 2: Tính toán phí bảo hiểm
Sau khi có đầy đủ các thông tin chủ xe cung cấp trong giấy chứng nhận bảo hiểm, kết hợp với báo cáo đánh giá rủi ro và các số liệu thống kê, chính sách khách hàng… Phòng kinh doanh khu vực hoặc phòng nghiệp vụ của
Trang 24công ty bảo hiểm tiến hành tính toán mức phí phù hợp cho chủ xe theo các quy tắc hiện hành áp dụng tại công ty bảo hiểm đó
Bước 3: Đàm phán chào phí và kết quả
- Trên cơ sở phương án bảo hiểm đã được Lãnh đạo phòng kinh doanh khu vực hoặc phòng nghiệp vụ của công ty bảo hiểm duyệt, khai thác viên tiến hành chào phí bảo hiểm cho chủ xe
- Sau khi có thông tin phản hồi từ phía chủ xe, khai thác viên tiến hành các bước như sau:
+ Chủ xe chấp nhận bản chào phí bảo hiềm, tiến hành ký kết hợp đồng bảo hiểm, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, thu phí, báo phát sinh, quản lý giấy chứng nhận bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm
+ Nếu chủ xe không chấp nhận bản chào phí bảo hiểm: khai thác viên
và Lãnh đạo phòng kinh doanh khu vực hoặc phòng nghiệp vụ của công ty bảo hiểm tiến hành thảo luận và đàm phán với chủ xe để sửa đổi bản chào phí
Bước 4: Ký kết hợp đồng bảo hiểm, cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, thu
phí, bán phát sinh, quản lý hợp đồng bảo hiểm – giấy chứng nhận bảo hiểm
- Sau khi hoàn tất quá trình đàm phán, khai thác viên tiến hành cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, chi tiết cấp giấy chứng nhận bảo hiểm:
+ Thực hiện thông báo tới khách hàng và thu phí bảo hiểm theo đúng quy định hiện hành của Công ty bảo hiểm
+ Vào sổ cập nhật phát sinh doanh thu theo quy định
- Ký kết hợp đồng bảo hiểm: Khi chủ xe yêu cầu ký kết hợp đồng bảo hiểm, khai thác viên lập hợp đồng bảo hiểm theo mẫu quy định chuyển Lãnh đạo Phòng khai thác/ Phòng nghiệp vụ kiểm tra và trình ký Lãnh đạo Đơn vị
- Quản lý đơn bảo hiểm/ hợp đồng bảo hiểm (Hồ sơ khai thác): Các Hồ
sơ khai thác này được lấy theo số hợp đồng bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm
Trang 25Bước 5: Theo dõi thu phí chi trả hoa hồng bảo hiểm
- Sau khi hợp đồng bảo hiểm được giao kết, khai thác viên thường xuyên phối hợp với Phòng Kế toán theo dõi đôn đốc việc thu/nộp phí từ khách hàng
- Thực hiện cấp hóa đơn tài chính (Hóa đơn VAT) cho khách hàng (chỉ thực hiện cấp hóa đơn VAT cho khách hàng khi có cơ sở chắc chắn thu được tiền từ khách hàng)
- Lập bảng thanh toán hoa hồng chi trả cho đại lý (Trường hợp khai thác qua đại lý)
- Khi chủ xe yêu cầu sửa đổi nội dung hợp đồng bảo hiểm bằng văn bản, khai thác viên lập Phụ lục hợp đồng bảo hiểm theo mẫu quy định, bổ sung vào Hồ sơ khai thác và thực hiện các bước lưu trữ hồ sơ cần thiết
Văn bản yêu cầu sửa đổi nội dung hợp đồng bảo hiểm bắt buộc phải đóng dấu công văn đến, được đính kèm và là bộ phận không thể tách rời với hợp đồng bảo hiểm/Phụ lục hợp đồng bảo hiểm
- Khai thác viên thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền, đề phòng hạn chế tổn thất… chủ động thu thập thông tin, phục vụ cho các nhu cầu bảo hiểm tiếp theo của khách hàng, hoặc tái tục bảo hiểm sau này
Bước 6: Xem xét gia hạn nợ phí, duyệt gia hạn nợ phí (nếu phát sinh),
xử lý nợ quá hạn
- Trường hợp không cho khách hàng nợ phí, khai thác viên thực hiện thu tiền ngay tại thời điểm cấp đơn, sau đó thực hiện nộp tiền về công ty bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản Ngân hàng theo quy định
- Trường hợp cho nợ phí: Hai bên phải thực hiện ký kết hợp đồng bảo hiểm và việc gia hạn thanh toán phí phải được quy định rõ tại điều khoản thanh toán trong hợp đồng bảo hiểm và tuân thủ theo quy định hiện hành của doanh nghiệp bảo hiểm và Pháp luật (Hiện tại thực hiện theo quy định tại
Trang 26Thông tư 50/2017/TT-BTC ngày 15/05/2017 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thi hành Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm)
- Đối với hợp đồng bảo hiểm thanh toán phí một lần: Thời hạn thanh toán phí bảo hiểm không vượt quá 30 ngày kể từ ngày bắt đầu thời hạn bảo hiểm Trường hợp thời hạn bảo hiểm dưới 30 ngày, thời hạn thanh toán phí bảo hiểm không vượt quá thời hạn bảo hiểm
- Đối với hợp đồng bảo hiểm thu phí theo kỳ: Thời hạn thanh toán phí bảo hiểm của kỳ đầu tiên không vượt quá 30 ngày kể từ ngày bắt đầu thời hạn bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm Các kỳ thanh toán phí tiếp theo được thực hiện theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm tại hợp đồng bảo hiểm đã giao kết ban đầu Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không được thỏa thuận thay đổi thời hạn thanh toán phí bảo hiểm trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng Trong mọi trường hợp thời hạn thanh toán phí bảo hiểm không vượt quá thời hạn bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm
Bước 7: Báo cáo nghiệp vụ, thông báo tái bảo hiểm
- Thực hiện các báo cáo nghiệp vụ: Định kỳ hàng tháng, quý, đơn vị lập báo cáo số liệu doanh thu, bồi thường tháng, quý để làm cơ sở đánh giá tình hình kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe
cơ giới
- Thông báo tái bảo hiểm: Đối với những hồ sơ phải thông báo tái bảo hiểm hoặc tất cả các sửa đổi bổ sung điều chỉnh đơn bảo hiểm thuộc diện phải thông báo tái bảo hiểm trước khi cấp đơn, thì đơn vị chỉ được cấp bảo hiểm khi có phê chuẩn của công ty bảo hiểm Với những Hồ sơ khai thác trên phân cấp phải báo tái bảo hiểm theo quy định, định kỳ khai thác viên, cán bộ thống
Trang 27kế có trách nhiệm lập hồ sơ báo tái gửi Phòng kinh doanh nghiệp vụ, Phòng nghiệp vụ liên quan, Phòng bảo hiểm xe cơ giới và Phòng tái bảo hiểm để quan sát
Bước 8: Lưu hồ sơ khai thác, thực hiện công tác sau bán hàng
Khai thác viên thực hiện lưu trữ hồ sơ khai thác, kịp thời cung cấp thông tin chủ xe, đối tượng bảo hiểm khi cần thiết
1.4.2 Công tác đề phòng hạn chế tổn thất:
Đề phòng hạn chế tổn thất có tác dụng làm giảm tần suất hoặc mức độ trầm trọng của các tổn thất vì thế nó không những là chức năng của doanh nghiệp bảo hiểm mà còn là yêu cầu bức xúc của người tham gia bảo hiểm Ngày nay các nhà chuyên môn của ngành bảo hiểm đều thống nhất cho rằng,
đề phòng hạn chế tổn thất là kết hợp của hai yếu tố: đề phòng tổn thất và hạn chế tổn thất
Đề phòng tổn thất là các biện pháp được sử dụng để hạ thấp tần suất tổn thất hay nói cách khác là để ngăn ngừa các tổn thất xảy ra Hạn chế tổn thất là các biện pháp sử dụng nhằm dảm bớt mức độ trầm trọng của các tổn thất khi rủi ro xảy ra
Hoạt động đề phòng hạn chế tổn thất được thực hiện qua ba khâu của một quá trình:
Bước 1: Khảo sát điều tra thực tế
- Điều tra, thu thập các thông tin liên quan đến đối tượng được bảo hiểm, đến đặc điểm của rủi ro liên quan đến chính bản thân khách hàng
Bước 2: Phân tích và tư vấn cho khách hàng trong công tác quản lý rủi
ro
- Sau khi nắm bắt được những thông tin cơ bản ở khâu điều tra khảo sát, bộ phận đề phòng hạn chế tổn thất sẽ phân tích những tổn thất trong quá
Trang 28khứ của khách hàng và tư vấn cho họ những vấn đề cụ thể liên quan đến công tác quản lý rủi ro Nội dung tư vấn thường bao gồm:
+ Chương tình an toàn cho từng đối tượng bảo hiểm Chương trình này
là một loạt các chủ đề liên quan đến công tác an toàn mà người được bảo hiểm cần nắm vững để nâng cao sự hiểu biết cũng như nhận thức ủa họ
+ Cung cấp các thông tin nghiệp vụ liên quan đến các rủi ro và phương pháp kiểm soát tổn thất đối với các rủi ro
+ Kiểm tra, đánh giá và tư vấn
Bước 3: Thực hiện chương trình quản lý rủi ro
1.4.3 Công tác giám định bồi thường:
1.4.3.1 Công tác giám định:
Công tác giám định là khâu trung gian giữa khâu khai thác và bồi thường Nó tác dụng cho việc tính toán bồi thường được chính xác và kịp thời Quy trình giám định tổn thất:
Bước 1: Nhận thông tin từ khách hàng:
Cán bộ nhân viên nhận thông báo tổn thất hoặc yêu cầu giám định từ khách hàng liên quan đến đối tượng được bảo hiểm bị tổn thất/bị tai nạn, đồng thời thu thập các thông tin liên quan đến tổn thất của đối tượng được bảo hiểm
Bước 2: Xử lý thông tin ban đầu:
Trên cơ sở các thông tin khách hàng cung cấp, giám định viên hướng dẫn khách hàng những xử lý ban đầu theo đúng những quy định trong Đơn bảo hiểm, quy tắc bảo hiểm hoặc Hợp đồng bảo hiểm Hướng dẫn khách hàng chuẩn bị những giấy tờ pháp lý liên quan đến khiếu nại và tranh chấp đối với bên thứ ba
Báo cáo Công ty đối với các tổn thất lớn, phức tạp, ước vượt mức phân cấp của đơn vị để xử lý trên phân cấp
Trang 29Bước 3: Phê duyệt giám định
Căn cứ vào yêu cầu hoặc thông tin tổn thất ban đầu, giám định viên xem xét đánh giá về mức độ tổn thất và trình Lãnh đạo đơn vị bồi thường/Lãnh đạo đơn vị việc thuê công ty giám định độc lập hay tự tiến hành giám định
Bước 4: Tiến hành giám định
Bước 4.1 Chuẩn bị giám định
Bước 4.2 Tiến hành giám định tại hiện trường
Bước 4.3 Thỏa thuận và theo dõi khắc phục hậu quả
Bước 4.4 Xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất
Bước 5: Lập chứng thư giám định
Biên bản giám định là tổng hợp kết quả của toàn bộ quá trình giám định
và phải được lập theo mẫu
Bước 6: Cấp/nhận chứng thư giám định và thu/trả phí giám định
Bước 6.1 Cấp chứng thư giám định và thu phí giám định
Bước 6.2 Nhận chứng thư giám định và trả phí giám định
2.4.3.2 Công tác bồi thường:
Quy trình bồi thường:
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ khiếu nại
- Tiếp nhận hồ sơ khiếu nại của khách hàng, hồ sơ do Người được bảo hiểm gửi đến
- Lấy số hồ sơ bồi thường trên phần mềm hoặc đối chiếu số hồ sơ mà Đơn vị đã nhập trên phần mềm
Bước 2: Kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ
- Căn cứ vào loại hình tham gia bảo hiểm, đơn bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm và quy tắc bảo hiểm liên quan đến hồ sơ khiếu nại, kiểm tra lại tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ đính kèm của hồ sơ
Trang 30Bước 3: Trình duyệt bồi thường:
- Trên cơ sở hồ sơ khiếu nại đầy đủ và hợp lệ, xác định trách nhiệm và tính toán số tiền bồi thường
- Làm tờ trình duyệt bồi thường
- Đối với những vụ tổn thất lớn, phức tạp, có dấu hiệu trục lợi bảo hiểm
có thể đề xuất chuyển qua lấy ý kiến của các phòng/ban liên quan
Bước 4: Thông báo phương án và thanh toán bồi thường
Bước 4.1: Thông báo phương án bồi thường:
Bước 4.2: Thanh toán bồi thường:
Bước 4.3 Thu đòi Tái bảo hiểm:
Bước 4.4 Thu đòi đồng bảo hiểm:
Bước 5: Bồi thường người thứ ba
Bước 6: Lưu hồ sơ
Trang 31CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ BẮT BUỘC CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT:
2.1 Vài nét về tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt:
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt:
Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (Bảo hiểm Bảo Việt - Baoviet Insurance) là công ty thành viên được Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt đầu tư 100 vốn
Trải qua chặng đường gần nửa thế kỷ hình thành và phát triển (từ 15/01/1965 đến nay), Bảo hiểm Bảo Việt tự hào là doanh nghiệp bảo hiểm lâu đời nhất tại Việt Nam, luôn khẳng định vị trí dẫn đầu thị trường cả về thị phần, doanh thu phí bảo hiểm gốc lẫn quy mô vốn điều lệ Bảo hiểm Bảo Việt
đã nỗ lực không ngừng để thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của nhà bảo hiểm hàng đầu Việt Nam trong công tác hỗ trợ, giải quyết bồi thường cho khách hàng cũng như trong công tác an sinh xã hội; nhằm bảo đảm phát triển bền vững và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng
- Tên công ty bằng tiếng Việt: Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
- Tên công ty bằng tiếng Anh: Bao Viet Insurance
Trang 32- 1964: Công ty Bảo hiểm Việt Nam được thành lập theo Quyết định 179/CP của Chính phủ ngày 17/12
- 1965: Chính thức đi vào hoạt động kinh doanh Bảo hiểm Phi Nhân thọ từ ngày 15/01 với trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh duy nhất tại Hải Phòng
- 1965 -1974: Phục vụ một nhóm nhỏ khách hàng là các đơn vị kinh tế Nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và tàu biển ở miền Bắc
- 1975-1982: Là doanh nghiệp bảo hiểm Nhà Nước lớn nhất và duy nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam với mạng lưới rộng khắp và các sản phẩm bảo hiểm đa dạng như bảo hiểm hàng không, bảo hiểm con người, bảo hiểm
xe cơ giới, bảo hiểm tàu sông – tàu cá…
- 1989: Phát triển thành Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam theo Quyết định số 27-TCQĐ-TCCB ban hành bởi Bộ Tài chính ngày 17/02
- 1996: Được xếp hạng “Doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt”, là một trong 25 doanh nghiệp Nhà nước lớn nhất tại Việt Nam
- 1996-2007: Trong giai đoạn này, Bảo Việt tiếp tục đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ với slogan “Phục vụ khách hàng tốt nhất để phát triển”
- 2007: Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam đổi tên thành Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (tên giao dịch là Bảo hiểm Bảo Việt) với slogan Niềm tin vững chắc, cam kết vững bền
- 2013: Bảo hiểm Bảo Việt tăng vốn điều lệ từ 1.800 tỷ đồng lên 2.000
tỷ đồng, trở thành doanh nghiệp đứng đầu về quy mô vốn điều lệ trong lĩnh vực Bảo hiểm Phi Nhân thọ tại Việt Nam
Với hệ thống mạng lưới gồm 67 công ty thành viên và hơn 300 phòng kinh doanh phục vụ khách hàng trên toàn quốc, hơn 3.000 cán bộ nhân viên
có trình độ chuyên môn cao, tiềm lực tài chính vững mạnh, sản phẩm đa dạng
Trang 33và ưu việt, năng lực quản trị – kinh doanh, quản lý rủi ro và giải quyết bồi thường tốt, Bảo hiểm Bảo Việt tự tin về khả năng tư vấn và đáp ứng mọi yêu cầu bảo hiểm của khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp
Trong những năm gần đây, Bảo hiểm Bảo Việt là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong việc triển khai mô hình kinh doanh theo định hướng quản lý tập trung, đa dạng hóa sản phẩm và kênh phân phối, đẩy mạnh công tác quản lý rủi ro và xây dựng hệ thống công nghệ thông tin tiên tiến nhằm mang đến cho khách hàng những dịch vụ hoàn hảo và giá trị lâu bền
2.1.2 Các nghiệp vụ được triển khai tại tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt:
Hiện nay tổng công ty đang triển khai nghiệp vụ sau:
* Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải
- Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển
- Bảo hiểm thân tầu và bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tầu
- Bảo hiểm sông tầu cá
- Bảo hiểm nhà thầu đóng tầu
* Nghiệp vụ bảo hiểm phi hàng hải
- Bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm kết hợp con người
- Bảo hiểm cho hành khách
- Bảo hiểm cho học sinh, sinh viên
- Bảo hiểm cho khách du lịch
* Nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật
- Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng lắp đặt
- Bảo hiểm hoả hoạn và rủi ro đặc biệt
- Bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp
- Bảo hiểm trách nhiệm
- Bảo hiểm máy móc
* Nghiệp vụ tái bảo hiểm và các hoạt động khác
Trang 342.1.3 Cơ cấu tổ chức:
Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt có mạng lưới hoạt động gồm 67 Công ty thành viên và trên 300 Phòng phục vụ khách hàng tại tất cả các tỉnh, thành trên toàn quốc
Bộ máy quản lý và điều hành doanh nghiệp gồm những lãnh đạo giàu kinh nghiệm, có trình độ cao về bảo hiểm và quản trị doanh nghiệp, am hiểu thị trường bảo hiểm trong và ngoài nước Đội ngũ cán bộ nhân viên của Bảo hiểm Bảo Việt được thị trường đánh giá là có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm và được đào tạo bài bản
Tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
hàng
hải
Phòng kiểm tra nội
bộ
Phòng tổng hợp
Bảo hiểm
kĩ thuật
Bảo hiểm cháy
và rủi
ro kĩ thuật
Bảo hiểm quốc phòng
Giám định bồi thường
Trang 352.1.4 Khách hàng:
Khách hàng của bảo hiểm Bảo Việt được phân loại như sau:
- Theo đối tượng bao gồm:
Khách hàng cá nhân là các cá nhân có nhu cầu về bảo hiểm Đây là đối tượng dễ tiếp cận nhưng doanh thu mang lại thấp và chỉ giới hạn tham gia trong một vài dịch vụ như: xe cơ giới, sức khỏe, du lịch
Khách hàng là các tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu tham gia bảo hiểm Đây là nhóm khách hàng có giá trị bảo hiểm hoặc số tiền bảo hiểm lớn, doanh thu phí bảo hiểm từ nhóm khách hàng này chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tổng doanh thu của công ty (chiếm trên 80% doanh thu toàn công ty) Nhóm khách hàng này rất khó tiếp cận nhưng mang lại hiệu quả lớn vì: nhu cầu bảo hiểm lớn, có nhu cầu bảo hiểm
- Phân chia khách hàng theo các kênh phân phối:
+ Kênh phân phối trực tiếp: Bao gồm khách hàng cá nhân và các tổ chức, doanh nghiệp do các cán bộ kinh doanh trực tiếp tìm kiếm và khai thác (chiếm khoảng trên 30% doanh thu )
+ Phân phối thông qua môi giới bảo hiểm và các đại lý, cộng tác tác viên
Khách hàng thông qua kênh phân phối này chỉ tập trung ở một số dịch
vụ bảo hiểm và tỷ lệ doanh thu không cao ( chiếm khoảng 10% cơ cấu doanh thu của cả công ty) cụ thể:
Qua môi giới chỉ tập trung ở các nghiệp vụ có doanh thu lớn trên 1 hợp đồng như: con người, xây dựng, kỹ thuật
Qua đại lý, cộng tác viên bảo hiểm thực hiện khai thác ở các nghiệp vụ đơn giản như TNDS về xe cơ giới
2.1.5 Kênh phân phối:
Sản phẩm được cung cấp đến khách hàng qua ba kênh phân phối chính:
Trang 36- Phân phối qua các chi nhánh ngân hàng mà bảo hiểm Bảo Việt liên kết, đại lý và trực tiếp
- Đại lý: Mạng lưới đại lý của công ty trên địa bàn Hà Nội Công ty có thể cung cấp dịch vụ bảo hiểm đến khách hàng trong thị trường mục tiêu của mình trên phạm vi cả nước
- Kênh phân phối trực tiếp: là các khách hàng có được do công ty trực tiếp liên hệ hoặc khách hàng trực tiếp liên hệ với Bảo Việt và cung cấp dịch vụcho khách hàng, với đối tượng chính là các công ty có vốn đầu tư nước ngoài vừa và nhỏ
2.1.6 Những thành tựu mà tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt đạt được:
Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt là đơn vị nòng cốt và lâu đời nhất trong hệ thống các Công ty thành viên thuộc Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt, hiện là doanh nghiệp bảo hiểm hàng đầu tại Việt Nam với trên 55 năm kinh nghiệm hoạt động, 3.000 nhân viên, gần 30.000 đại lý, gần 80 công
ty thành viên và gần 700 phòng bảo hiểm khu vực trải rộng khắp các tỉnh, thành phố trên toàn quốc
Liên tiếp đứng trong vị trí top đầu thị trường cả về doanh thu, thị phần, tăng trưởng, Bảo hiểm Bảo Việt luôn tiên phong ứng dụng công nghệ và các giải pháp thành tựu của cách mạng công nghệ 4.0 không chỉ trong khâu bán hàng, quản lý nghiệp vụ, quản lý bồi thường, kiểm soát dữ liệu khách hàng
mà còn trong việc tương tác với khách hàng để mang lại sự thuận tiện cao nhất, đáp ứng các nhu cầu ngày một đa dạng của thị trường Các quy trình và giao dịch được chuyển đổi qua công nghệ số, giúp việc tra cứu và truy cập thông tin nhanh chóng, hiệu quả, tiết kiệm thời gian; thông tin dữ liệu được quản lý có hệ thống, tăng tính bảo mật và được dự phòng
Bảo hiểm Bảo Việt nhiều năm liền được nhận các giải thưởng uy tín, trong đó có: “Thương hiệu bảo hiểm tốt nhất Việt Nam” do Tạp chí Global