Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cũng như được sự đồng ý của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên đề:
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH VĂN NHẬT
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN TẠI TRẠI CHĂN NUÔI AN HƯNG, XÃ DANH THẮNG, HUYỆN HIỆP
HOÀ, TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2016 - 2020
Trang 3ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH VĂN NHẬT
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN TẠI TRẠI CHĂN NUÔI AN HƯNG, XÃ DANH THẮNG, HUYỆN HIỆP
HOÀ, TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thu Trang
Thái Nguyên, năm 2020
Trang 4Qua một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tại cơ sở, nhờ sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè em đã hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp.
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình chỉ bảo, truyền tải kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập tại trường.
Đặc biệt, em cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của cô TS Nguyễn Thu Trang – là
người hướng dẫn trực tiếp, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận.
Cũng qua đây cho em gửi lời cảm ơn đến cán bộ và công nhân tại trại chăn nuôi An Hưng, đã tạo điều kiện cho em thực hiện chuyên đề tốt nghiệp và nâng cao tay nghề.
Trong quá trình thực tập, bản thân em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 5năm 2020
Sinh viên
Đinh Văn Nhật
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình đào tạo Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường Đây là khoảng thời gian củng cố và
hệ thống hóa lại toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen dần với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao được trình độ chuyên môn, nắm bắt được phương pháp tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, tạo cho mình tác phong làm việc nghiêm túc.
Xuất phát từ quan điểm trên và được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự nhất trí của giáo viên hướng dẫn và sự giúp đỡ tận tình của trại chăn nuôi An Hưng
em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang”.
Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nên trong bản khóa luận tốt nghiệp này không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót.
Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của bạn bè, đồng nghiệp để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 6LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
1.1 Đặt vấn đề 6
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 6
1.2.1 Mục tiêu 6
1.2.2 Yêu cầu 7
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
2.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của trại 8
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 8
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại 8
2.1.3 Cơ sở vật chất trang trại 8
2.1.4 Tình hình sản xuất của trại 8
2.1.5 Đánh giá chung 11
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến đề tài 12
2.2.1 Tổng quan tài liệu 12
2.2.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 21
2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 12
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn mẹ 12
2.2.5 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 31
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 33
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 33
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30
Trang 7Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 32
3.1 Đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32
3.3 Nội dung nghiên cứu 32
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 32
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 32
3.4.2 Phương pháp thực hiện 32
3.4.2.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại 32
3.4.3 Công thức tính toán từng chỉ tiêu 40
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 41
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng , huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang 42
4.2 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh sát trùng 42 4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn con 40
Quy trình phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin 40
4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái và đàn lợn con 43
4.4.1 Kết quả chẩn đoán bệnh cho đàn lợn nái và đàn lợn con 43
4.4.2 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái và lợn con 50
4.5 Kết quả thực hiện công tác khác 51
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 8Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại qua 3 năm 42
Bảng 4.2 Lịch sát trùng 43
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh sát trùng 39
Bảng 4.4 Lịch phòng bệnh cho lợn bằng thuốc và vắc xin 41
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn con 42
Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái và đàn lợn con tại trại 44
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái và đàn lợn con 51
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện công tác khác 52
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nước ta hiện nay đang hội nhập mạnh mẽ với kinh tế thế giới, nhằm đưa kinh
tế nước ta phát triển nhanh hơn, mạnh hơn Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách mới trong sự phát triển của đất nước, đặc biệt quan tâm chú trọng cho phát triển ngành chăn nuôi Với tiền đề là một nước nông nghiệp đi lên cùng với sự giúp
đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước cũng như sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chăn nuôi đang có những bước trở mình mạnh mẽ, không những giúp người dân xóa đói giảm nghèo mà còn đang góp phần vào công cuộc làm giàu của đất nước.
Đặc biệt là chăn nuôi lợn, hiện nay không chỉ còn là chăn nuôi theo phương thức hộ gia đình nhỏ lẻ, sử dụng con giống nội giá trị kinh tế thấp Mà còn nhờ có chính sách mở cửa, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự tham gia của các công ty trong nước và ngoài nước trong việc chăn nuôi đã được tăng cường mở rộng theo hướng công nghiệp tập trung, sử dụng con giống ngoại nhập, công nghệ tự động Chăn nuôi lợn hiện nay đã đem lại một nguồn lợi kinh tế lớn và góp phần thúc đẩy cho sự phát triển của kinh tế Tuy nhiên, do đặc điểm về địa lý cũng như khí hậu nóng ẩm ở nước ta, mà chăn nuôi cũng gặp không ít khó khăn Từ những điều kiện trên ta cần thực hiện một quy trình chăn nuôi có thể đáp ứng được các yêu cầu trong nước về điều kiện ngoại cảnh cũng như điều kiện vật chất.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cũng như được sự đồng ý của nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập em
tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn tại trại chăn nuôi An Hưng, xã Danh Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang”.
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
Nắm vững quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đối với đàn lợn nái và lợn con theo mẹ qua từng giai đoạn.
Trang 11Hiểu biết về quy trình vệ sinh, phòng và trị một số bệnh mắc phải ở lợn nái
và lợn con tại trại chăn nuôi
Đánh giá tình hình mắc một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và lợn con tại trại chăn nuôi
Tiến hành điều trị lợn mắc bệnh bằng một số phác đồ điều trị.
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của trại
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Trại chăn nuôi An Hưng thuộc địa bàn thôn Đại Đồng, xã Danh thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.
Về địa lý, Danh Thắng là một xã thuộc huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang, với diện tích tự nhiên 9,37 km2 Là vùng chuyển tiếp giữa đồi núi và đồng bằng Cách trung tâm huyện Hiệp Hoà 5,3 km, cách trung tâm thành phố Bắc Giang 27km Dân số có 7613 người, mật độ dân số đạt 812 người/km2 (tính đến 2016).
Về khí hậu, Danh Thắng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đông Bắc, một năm có bốn mùa rõ rệt, mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân, thu khí hậu ôn hoà Nhiệt độ trung bình 22 - 230C, độ ẩm dao động lớn, từ 73 - 87%.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại
2.1.3 Cơ sở vật chất trang trại
Trại chăn nuôi được xây dựng năm 2008, với quy mô xây dựng cho tổng số nái là 600 con nhưng hiện tại đã giảm xuống còn 160 con Hoạt động theo phương thức nuôi nái sinh sản, bán lợn giống và lợn thịt.
Trại được xây dựng trên diện tích gần 3 ha chia làm 2 khu vực chính là: khu sinh hoạt chung cho công nhân và khu sản xuất.
Trong đó khu sinh hoạt chung cho công nhân gồm có: cổng ra vào trại, phòng sinh hoạt ngoài giờ làm của công nhân, nhà ăn… các khu phục vụ cho các nhu cầu
Trang 13Thứ 2 là hệ thống chuồng bầu với 2 chuồng chính, trong mỗi chuồng được lắp đặt 100 ô, kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô Cũng như chuồng đẻ, chuồng bầu cũng có dàn mát, cuối mỗi chuồng có 5 quạt thông gió, ngoài ra trong mỗi chuồng bầu còn
có hệ thống làm mát cho lợn bằng nước.
Thứ 3 là chuồng cai sữa gồm 10 ô, có hệ thống quạt gió, giàn mát và quây úm,
có đường nước riêng để tiện cho pha thuốc
Thứ 4 là chuồng nuôi lợn thịt, được trang bị đầy đủ quạt hút gió và giàn mát, các ô lợn đều có máng tắm và máng ăn là máng gõ
Ngoài chuồng đẻ, chuồng bầu, chuồng cai sữa còn có chuồng cách ly dùng để nhốt lợn mới nhập, lợn có dấu hiệu bị bệnh và thêm 1 phòng tinh.
Sau mỗi chuồng đều có đường rãnh thoát nước thải, các đường rãnh này đều thông về một bể chứa nước thải tập trung.
Nguồn nước được sử dụng trong trại được cung cấp từ hệ thống giếng khoan, nước sau khi được bơm lên 1 bể được xử lý bằng hóa chất Sau đó được bơm lên một bể ở trên cao, lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ thống cung cấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh.
2.1.4 Tình hình sản xuất của trại
Công tác chăn nuôi
Đặc điểm là trại sản xuất con giống nên nhiệm vụ chính của trại là sản xuất giống thương phẩm, xuất bán cho các trại nuôi lợn thịt.
Trang 14Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2 - 2,5 lứa/năm Số con sơ sinh là 13,25 con/đàn, số con chọn nuôi là 12,63; số con cai sữa là 12,18 con/đàn Tại trại, lợn con sẽ được nuôi theo mẹ cho đến khoảng 20 đến 24 ngày tuổi, những lợn con chưa đủ khối lượng sẽ được ghép đàn nuôi với những đàn có số ngày tuổi nhỏ hơn, còn những lợn con đã quá ngày xuất bán nhưng chưa có đợt sẽ được nhốt sang chuồng cai sữa Những lợn con này sau đó sẽ được chuyển tới các trang trại nuôi lợn thịt.
Trong trại có 1 lợn đực giống Duroc đã được sử dụng nhằm mục đích khai thác tinh và kích thích sự lên giống của lợn nái Tinh dịch sau khi được pha loãng trong môi trường sẽ được bảo quản lạnh, mỗi lợn nái sau khi được phát hiện lên giống sẽ được đem đi phối 3 lần.
Thức ăn phục vụ cho lợn trong trại được mua tại công ty Greenfeed, là loại thức
ăn hỗn hợp với các loại khác nhau dành cho lợn ở các lứa tuổi và các chu kỳ khác nhau.
Công tác phòng bệnh: theo lịch của công ty, lợn trong trại sẽ được tiêm phòng vắc xin để phòng một số bệnh thường gặp trên lợn Từ đó tăng sức đề kháng cho lợn
mẹ và lợn con sau sinh, lợn con cũng được tiêm phòng các loại vắc xin theo ngày tuổi.
Công tác trị bệnh: Lợn luôn được kỹ sư theo dõi, giám sát, mọi con lợn có biểu hiện bất thường đều sẽ được nhốt riêng cách ly theo dõi và có các biện pháp điều trị cũng như xử lý kịp thời.
Trang 15Công tác vệ sinh: Công nhân trước khi vào chuồng sẽ được tắm và thay đồng phục tại nhà tắm sát trùng Mọi dụng cụ khi đưa vào khu vực sản xuất đều được cách ly, phun sát trùng Định kỳ sẽ có các công nhân làm nhiệm vụ vệ sinh, sát trùng trong chuồng và ngoài chuồng Các chuồng sau khi xuất hết lợn con sẽ được vệ sinh ngâm tẩy bằng hóa chất, được cách ly trước khi cho lợn nái mới lên đẻ.
Công tác phòng bệnh: theo lịch của công ty, lợn trong trại sẽ được tiêm phòng vắc xin để phòng một số bệnh thường gặp trên lợn Từ đó tăng sức đề kháng cho lợn mẹ và lợn con sau sinh, lợn con cũng được tiêm phòng các loại vắc xin theo ngày tuổi.
Công tác trị bệnh: Lợn luôn được theo dõi dám sát của 1 kỹ sư và 1 tổ trưởng, mọi con lợn có biểu hiện bất thường đều sẽ được nhốt riêng các ly theo dõi và có các biện pháp điều trị cũng như xử lý kịp thời.
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.
Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình và
có tinh thần trách nhiệm trong sản xuất.
Chuồng trại có hệ thống điện lưới và nước sạch luôn cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt và chăn nuôi.
Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại.
Trang 162.1.5.2 Khó khăn
Điều kiện thời tiết trong những năm gần đây diễn biến khá phức tạp kèm theo dịch bệnh xảy ra khó kiểm soát gây khó khăn cho chăn nuôi Do đó đòi hỏi công tác phòng chống dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn cần phải được đẩy mạnh Đội ngũ công nhân trong trại còn thiếu, do đó ảnh hưởng rất nhiều đến tiến độ công việc.
Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất.
Ngoài ra, quy mô chăn nuôi lớn nên lượng chất thải nhiều, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn.
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến đề tài
2.2.1 Tổng quan tài liệu
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
Sự thành thục về tính
Một cơ thể được coi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thểcăn bản đã phát triển toàn diện Dưới tác động của thần kinh nội tiết tố (các phản
xạ về sinh dục), cơ quan sinh dục lợn nái có các noãn bào trứng dụng
Ở lợn nái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như: Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi độngdục Mùa hè lợn cái hạu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông
Mật độ nuôi nhốt: mật độ nuôi nhốt đông trên một dơn vị diện tích trongsuốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục, nhưng cần tránh nuôi lợn náihậu bị trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu của Hughes và cs (1996)[31], cho thấy việc nuôi nhốt lợn nái hậu bị riêng biệt từng cá thể sẽ làm chậmthành thục về tính so với lợn nái hậu bị được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnhnhững yếu tố trên thì đực giống cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dụccủa lợn nái hậu bị Nếu lợn cái thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanhđộng dục hơn so với lợn nái hậu bị không thường xuyên tiếp xúc với lợn
Trang 17đực giống Theo Hughes và cs (1996) [31], lợn nái hậu bị ngoài 90 kg thể trọng
ở 165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20phút thì tới 83% lợn nái sẽ động dục lần đầu( Muirhead M., Alexander T.,2010) [41]
+ Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục củalợn nái được diễn ra liên tục và có chu kỳ Do trứng dụng có tính chu kỳ nênđộng dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [7]
Trứng chín: dưới ảnh hưởng của thùy trước tuyến yên, trứng phát triểnrất nhanh , lớp tế bào hạt phát triển thành nhiều lớp, hình thành thể vàng, tiếtdịch nang trứng làm cho kích thước nang trứng tăng nhanh, nổi lên bề mặtbuồng trứng như bóng nước Tế bảo trứng nằm trong nang trứng tiến hànhphân chia giảm nhiễm lần thứ nhất cho ra noãn tử để phát triển thành tế bàotrứng chín
Hiện tượng rụng trứng: noãn bào lớn dần lên Nổi rõ trên bề mặt củabuồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp xuất Noãn bào vỡgiải phóng tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Hiện tượng giảiphóng tế bào khỏi noãn bào trứng ra ở từng loài gia súc khác nhau
Sự hình thành thể vàng: Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra.Màng trên bị xẹp xuống đường kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng tạo nênnhững nếp nhăn trên vách ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng.Xoang chứa đầy dịch và một ít máu chảy từ vách xoang ra Dịch và máu đọng lại
và lấy đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng khôngtăng nhưng kích thước lại tăng nhanh Trong các tế bào hạt có chứa lipoit và sắc
tố màu vàng Như vậy, trong tế bào trứng đã chứa đầy các tế bào hạt (gọi là tếbào lutein) Như vậy, do sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thànhnên thể vàng Đây chính là nơi tạo ra progesterone Trong một thời gian vài ngàythể vàng sẽ đầy xoang của tế bào trứng, nó tiếp tục phát triển Nếu gia súc không
có thai thì thể vàng sẽ nhanh chóng đạt đến độ tối đa rồi thoái hóa
Trang 18dần Thời gian tồn tại của thể vàng từ 3 – 15 ngày Nếu gia súc có thai, nó sẽtồn tại trong suốt thời gian mang thai đến khi gia súc gần đẻ.
Niêm dịch: Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy racũng là kết qảu của quá trình rụng trứng Sự thay đổi hàm lượng các kích tốtrong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra âm dịch Đồng thời
ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra
Tính dục: do kết quả của quá trình dụng trứng hàm lượng oestrogentăng lên ở trong máu nên có một loại biến đổi khác với bình thường, gia súccái đứng nằm không yên, kém ăn, kêu rống, thích gần con đực
Tính hưng phấn: Thường kết hợp song song với tính dục, con vật cómột loạt biến đổi về bên ngoài, thường không yên, khi có người hoặc lợn đực
đi qua lợn có biểu hiện tai dựng đứng, người ở tư thế chịu đực Cao điểm nhất
là lúc tế bào trứng rụng Khi tế bào trứng rụng đã rụng thì tính hưng phấngiảm đi rõ rệt
Chu kỳ động dục: Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [27] cho biêt: Chu
kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục
Đây là giai đoạn dầu của chu kỳ động dục, lúc này buồng trứng tohơn bình thường Cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy
ra nhiều, lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
- Giai đoạn động dục
Lúc này cơ thể gia súc cái có biểu hiện hàng loạt những biến đỏi sinh
lý Bên ngoài âm hộ xưng đỏ, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốtchảy ra nhiều, conv ật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yêntĩnh, ăn uống giảm, kêu rống phá chuồng hay nhảy lên lưng con khác
- Gai đoạn sau động dục
Trang 19Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bìnhthường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn mất dần đi rồi mất hẳn, convật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh
- Giai đoạn nghỉ ngơi
Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính gia súc ở thời kỳ nàyyên tĩnh hoàn toàn
2.2.1.2 Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đang mang thai
Quá trình chăm sóc lợn nái mang thai là quá trình quan trọng, nhằm đạtmục tiêu: lợn nái đẻ sai con, lợn con sinh ra đồng đều và đạt khối lượng sơsinh cao nhất có thể, lợn nái mang thai phải đủ thể trạng trước khi đưa lên đẻtránh hao mòn trong thời kỳ tiết sữa nuôi con Để đạt những mục tiêu trên,trong quá trình chăm sóc lợn nái mang thai cần chú trọng những vấn đề sau:
Sau khi phối giống qua 21 ngày cần kiểm tra lại nếu không thấy lợn nái
có biểu hiện động dục trở lại có nghĩa là lợn đã mang thai, nếu lợn có biểuhiện động dục trở lại cần đưa trở lại chuồng phối, công việc nên thực hiệnkiểm tra vào ban đêm lúc yên tĩnh nhất Nhưng sau 3 tháng tiếp theo lợn náikhông có biểu hiện của quá trình mang thai (bầu vú phát triển, hai hàng vú tạothành hai bẹ sữa chạy dọc vùng bụng, có rành phân chia riêng biệt, thì lợnchắc chắn đã chửa giả không sinh sản được
Thời gian mang thai của lợn nái là 114 ± 3 ngày Sẽ có trường hợp lợn
đẻ quá số ngày và có trường hợp đẻ sớm Trường hợp lợn đẻ non quá sớm sẽrất khó nuôi con con
Trong quá trình mang thai, thức ăn đóng ai trò quan trọng trong việcphát triển và sinh trưởng của con con vì vậy thức ăn đủ chất cho lợn nái mangthai là rất cần thiết Để đạt được hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản cao nhấtthì cần phải có một chương trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai saocho đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng, duy trì và dinh dưỡng của lợn náimang thai
Trang 20* Dinh dưỡng cho lợn nái mang thai
Một quy trình chăm sóc lợn nuôi dưỡng lợn nái chửa đạt tiêu chuẩn cầnphải đáp ứng đủ nhu cầu sinh trưởng, duy trì và phát triển của thai Nếu thức
ăn kém dinh dưỡng sẽ gây ảnh hưởng xấu đến thai ở giai đoạn đầu và giai
đoạn cuối của thai: giai đoạn đầu thức ăn kém dinh dưỡng sẽ gây hiệntượng tiêu thai, khi đẻ còn ít thai sống và nhiều thai khô (gỗ), giai đoạn cuốigiai đoạn thai phát triển mạnh nếu thức ăn kém dinh dưỡng, con non khi sinh
ra nhỏ, yếu ớt, sức sống kém, thể trạng nái không đủ để tiết sữa nuôi con
Nhưng nếu khẩu phần ăn thừa dinh dưỡng cũng sẽ gây nên tình trạng bàothai phát triển quá to hoặc thức ăn sẽ được con nái hấp thu vào chính cơ thể nódẫn đến con nái quá mập gây hiện tượng đẻ khó, phải can thiệp kéo thai, mócthai, gây tổn thương bộ phận sinh dục, sau khi đẻ rất dễ mắc các bệnh (viêm tửcung, mất sữa), hội chứng M.M.A Gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
Từ những nguyên nhân trên cho thấy, cân bằng dưỡng chất, tránh dưthừa năng lượng, dư thừa chất béo, thai sinh ra yếu, chết do thiếu dinh dưỡng,viêm vú viêm tử cung do sinh khó Vì vậy người chăn nuôi cần lưu ý khẩuphần cho lợn nái chửa
Bảng 2.1 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại mang thai
(kg thức ăn tinh/nái/ngày)
Trang 22Thức ăn cần phải được kiểm tra độc tố nấm mốc và các chất dinhdưỡng sao cho phù hợp nhất với con nái qua từng giai đoạn sao cho, con nái
và thai đạt hiệu quả tốt nhất
Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ máng ăn, tránh nấm mốc phát triển
Công tác vệ thú y đối với lợn nái chửa -
Tiêm vắc - xin phòng bệnh
Cần tiêm đủ các loại vaccine Dịch tả, FMD, PRRS… cho lợn nái từ 80
-100 ngày sau khi phối giống Định kỳ tẩy nội, ngoại ký sinh trùng cho lợn nái
2.2.1.3 Kỹ huật chăm sóc lợn nái đẻ
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đếnnăng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs,(2004) [21] cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát bầu vú,thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trườnghợp bất thường để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cầnchuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nềnchuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo,
ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng
từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn náisạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùngkhăn thấm nước muối lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy
cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩngây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từchuồng chửa sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và quan trọng
đó là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con, ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó
có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mớisinh lợn con còn yếu, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi
Trang 23phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt
là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ổ úm tạo điều kiện thuận lợicho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 -
10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày
dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm:1,2m x 1,5m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
- Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21], thức ăn cho lợn nái nuôi conphải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó
là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,
cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn
bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cholợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ănhỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo
đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêuchuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 -1,0%, phospho 0,7%
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng vàảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ,chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡngcho lợn mẹ, trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại:
+ Ngày cắn ổ đẻ: Cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg)hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ
1 - 2 - 3 kg tương ứng
Trang 24+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4 kg thức ăn hỗn
hợp/nái/ngày
+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu
Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảmbảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinhchuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ, chuồng lợn nái nuôi con phải có ô
úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp
là 18 - 20oC, độ ẩm 70 - 75%
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng chủ yếu không thể thay thế được trongnhững giai đoạn đầu tiên sau khi sinh của lợn con, sản lượng của sữa mẹ và
Trang 25khối lượng của lợn con khi cai sữa liên quan mật thiết đến nhau, nếu lợn mẹ
có sản lượng sữa cao thì khối lượng lợn con khi cai sữa cao và ngược lại Dovậy việc áp dụng các biện pháp để nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ là rấtquan trọng Muốn đạt được mục đích trên yêu cầu phải nắm được quy luật tiếtsữa và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái, từ đó đề rabiện pháp kỹ thuật có hiệu quả
- Sinh lý tiết sữa
Tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phứctạp, do có những đặc điểm khác với gia súc khác là bầu vú của lợn nái không có
bể sữa nên lợn nái không dự trữ sữa trong bầu vú, do vậy lợn mẹ không tiết sữatùy tiện được và lợn con không phải lúc nào cũng bú được sữa mẹ
Quá trình tiết sữa của lợn nái là một phản xạ, do những kích thích vàobầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từtrước ra sau Trong đó yếu tố thần kinh giữ vai trò chủ đạo, khi lợn con thúc
vú mẹ, những kích thích này truyền lên vỏ não, vào vùng Hypothalamus, từ
đó kích thích tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytoxin tiết vào trong máu, kích
tố này đi vào tuyến bào kích thích lợn nái thải sữa Do tác động của oxytoxintrong máu khác nhau cho nên các vú khác nhau có sản lượng sữa khác nhau,những vú ở phần ngực tiết sữa nhiều hơn những vú ở phần sau
Lợn con dùng mõm thúc vào vú lợn mẹ, thời gian thúc vú của lợn con
có thể từ 5 - 7 phút, sau đó nằm im hoàn toàn và bú Sữa tiết ra rõ nhất là lúclợn mẹ kêu ịt ịt, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thẳng vào bầu
vú, nằm yên theo sự tiết sữa của lợn mẹ Do thời gian tiết sữa của lợn mẹ rấtngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây, nên một ngày lợn con phải bú nhiều lần mới đủ
so với nhu cầu Trong những ngày đầu sau khi sinh lợn con bú từ 20 - 25 lầntrên ngày, mỗi lần lượng sữa tiết ra 25 - 35 gam/con
Lượng sữa của lợn nái tiết ra cao dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc 21ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần
Trang 26Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái như giống,
cá thể, tuổi và lứa đẻ, số con đẻ ra/lứa, nuôi dưỡng và chăm sóc
Cắt rốn: dùng dây chỉ đã ngâm với sát trùng, độ dài rốn để lại từ 4 – 5
cm thắt rốn lại rồi cắt, sau đó sát trùng vết cắt
Đẻ được 4 – 5 con thì cho lợn con bú sữa đầu
Mài nanh: Dùng máy mài nanh, số nanh phải mài là 8 cái, trong đó 4răng nanh và 4 răng cửa sau Không mài quá nông vì mài nông răng vẫn sắc
và nhọn gây ảnh hưởng vú lợn mẹ, mài quá sâu gây ảnh hưởng đến lợi của lợncon
Cắt duôi: Để tránh hiện tượng cắn đuôi nên cắt đuôi cho lợn con mớisinh sau 24 giờ để giảm stress co lợn con Sử dụng kéo bấm đuôi hoặc kìmbấm đuôi để bấm
2 2.2 Kỹ thuật chăm sóc lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi
2.2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục của lợn con:
- Khái niệm sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý hóa phức tạp, duy trì từ khi phôithai hình thành đến khi thành thục về tính Sinh trưởng là quá trình tích lũycác chất đồng hóa và dị hóa: là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiềungang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính ditruyền từ thế hệ trước Thực chất sinh trưởng là sự tăng trưởng và sự phânchia các tế bào trong cơ thể
Trang 27Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dụcnhanh Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa trọng lượng của lợn con tăng 10 – 12lần So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơngấp nhiều lần (Nguyễn Quang Linh và cs, 2003) [14]
Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảochất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm làm cho sự sinh trưởng chậm lại vàtăng trọng lượng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh củalợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [13]
- Khái niệm phát dục
Cùng với quá trình sinh trưởng, các tổ chức trong cơ thể luôn hoànthiện chức năng sinh lý của mình dẫn đến phát dục Phát dục là một quá trinhthay đổi về chấ lượng tức là sự thay đổi tăng thêm và hoàn chỉnh các tínhchất, chức năng của cơ quan, bộ phận trong cơ thể nhờ vậy vật nuôi hoànthiện chức năng của cơ thể sống (Pensaet M.B và cs (1978) [35]
Lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời kỳ quan trọng, chúng ta cần tìmhiểu rõ để có biện pháp tác động thích
hợp * Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:
Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn
về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể
mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếunuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Mặt khác, lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹvừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồiphục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc tốt lợn con ở giaiđoạn này để giảm tỷ lệ chết
* Thời kỳ 3 tuần tuổi:
Trang 28Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn
mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ởgiai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi
đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng,phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫnnày, cần tập ăn sớm cho lợn con
* Thời kỳ ngay sau khi cai sữa:
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn,
do yếu tố cai sữa gây nên Mặc khác thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủyếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giaiđoạn này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ còi cọc,mắc bệnh đường tiêu hóa, hô hấp
Chú ý: Trong chăn nuôi lợn nái theo phương thức công nghiệp, tiếnhành cai sữa lúc 21 ngày thì thời kỳ khủng hoảng thứ 2 và thứ 3 trùng nhau,hay nói cách khác ta làm giảm được một thời kỳ khủng hoảng của lợn con
Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ gồm các thao tác cơ bản sau:+ Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con
+ Bổ sung sắt cho lợn con
+ Tập cho lợn con ăn sớm
2.2.2.2 Cho bú sữa đầu
Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiếtsữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với
cả đàn là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì nên chonhững con đẻ trước bú trước
Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng proteintrong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin Cgấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng
Trang 29globulin mà sữa thường không có Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu có tác dụngtẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai, để hấp thuchất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg++ thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy với tỷ lệ chết cao
2.2.2.3 Tập cho lợn con ăn sớm
Mục đích của việc cho lợn con ăn sớm là để bổ sung thức ăn sớm cholợn con Lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng: Đảm bảo cho lợn consinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụtdinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khicai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ
Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoànthiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích vào tế bào vách
dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị
Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không bổ sung thức ăn sớm cholợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôikém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm(tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%)
Nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con, qua nghiên cứu cho thấyrằng khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trongkhi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ khoảng 38% và khối lượng sơ sinh là 5%.Qua nhiều thí nghiệm và thực tế chứng minh rằng những lợn con được tập ănsớm thì tăng khối lượng nhanh hơn, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn Giúp cho lợn conlàm quen với thức ăn và sớm biết ăn để tạo điều kiện cho việc cai sữa sớmhơn Hạn chế tình trạng nhiễm ký sinh trùng và vi khuẩn do lợn con hay gặmnhấm nền chuồng, thành chuồng Thường sau 6 - 10 ngày tuổi lợn con mọcthêm răng nên hay ngứa lợi, nên có thức ăn nhấm nháp cả ngày đỡ ngứa lợithì lợn con bớt gặm lung tung
Trang 30Lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 5ngày tuổi, tốt nhất là nên sử dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêngcho lợn con tập ăn đến 8 kg Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thànhdạng mảnh như cốm, thơm ngon, vệ sinh sạch sẽ.
2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
2.2.3.1 Phòng bệnh
Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnhđược đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặnđược bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàngđầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việcphòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [20] bệnh xuất hiện trong một đàn lợnthường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc khôngtruyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa
ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phầnlớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhângây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs, (1993) [25], vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là
vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vâṭ chủ Khi môi trườngquá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn,
điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E.coli,
bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trongphòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rấtcần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khảnăng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinhtiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27 - 30oC đốivới lợn sơ sinh và 28 - 30oC với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không
Trang 31thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầuxuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngàythời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả caotrong chăn nuôi
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [21] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,
ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất nhưCrezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợnnái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoángmát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau
đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với nhữngchuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cầnphải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử
lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng vàphun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng
cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trongchăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửachuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phunsát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưavào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
- Phòng bệnh bằng vắc - xin:
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quảnhất
Trang 32Theo Nguyễn Bá Hiên và Cs, (2012) [11] vắc - xin là một chế phẩm sinhhọc mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễmnào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền nhưARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô hoạt bằng các tác nhân vật lý,hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới
- vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đốitượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễndịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh củamầm bệnh tương ướng
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
2.2.3.2 Điều trị bệnh
Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012) [11] nguyên tắc để điều trị bệnh là:+ Toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùngthuốc
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơthể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bịtái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thểchữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kémvượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
- Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
Trang 33+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệsinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp,phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đốiphó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậythường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằngkháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụngtrung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầmbệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vikhuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc vàtính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phốihợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăncản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng khángsinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làmgiảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gâynên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của khángsinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
Trang 34- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian
để phát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng vàđộc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tácdụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, nước sinh lý…
2.2.4 Một số bệnh thường gặp ở lợn mẹ
2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung
Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộphận sinh dục hoạt động nhiều, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất làtrong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kémthì bệnh dễ xảy ra
Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh vàhiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh, TrầnNgọc Bích và cs, (2016) [2], đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đườngsinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13%
Viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinhsản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay cáctầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái, làm ảnh hưởng lớn, thậm chílàm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái (Trần Tiến Dũng và cs, 2002) [8]
Theo Nguyễn Văn Thanh và cs, (2016) [26], viêm tử cung là một hộichứng thường xuất hiện trên lợn nái sau khi đẻ Lợn nái viêm tử cung sẽ bị tổn
thương lớp niêm mạc Từ đó gây ảnh hưởng sự tiết Prostagladin F 2 và làmxáo trộn chu kỳ động dục làm tăng tình trạng chậm sinh và vô sinh
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2002) [13], Nguyễn Xuân Bình (2000) [3],
Lê Minh và cs, (2017) [16] bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do cácnguyên nhân sau:
Trang 35- Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàngquang hoặc các bệnh truyền nhiễm: Sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung.
- Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột,protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu
dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm
- Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn
- Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền bệnh sang lợn nái
- Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [17], yếu
tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc viêm tử cung: Mùa Hạ có
tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa Đông 46,05%, mùa Thu 43,70%
Viêm tử cung là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái, nếu không đượcchữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng
cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển củatinh trùng, tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc tố làm tiêu
Trang 36tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụ gâybất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môitrường dạ con bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm, 1999) [18].
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [8], triệu chứng viêm tử cung thểhiện qua 3 thể viêm: Viêm nội mạc, viêm cơ, viêm tương mạc
2.2.4.2 Bệnh viêm vú
+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho
thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là: Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes (Christensen R V và cs, (2007) [29].
+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn,
Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú +
Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợnnái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sauvài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn
xâm nhập gây viêm như: E.coli, Streptococus, Staphylococus, Klebsiella…
2.2.5 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
2.2.5.1 Hội chứng tiêu chảy
- Hội chứng tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đườngtiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiềunước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch hoặc chỉphản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc đang thích ứng