Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá nhu cầu, mức độ tiếp cận và sử dụng các dịch vụ ngân hàng trong phát triển du lịch cộng đồng của các hộ dân tộc thiểu số.. Hiện nay, khi xem xét hệ thống l
Trang 1NGUY ỄN HOÀNG ĐỨC
XÃ NGHĨA AN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trải qua 4 năm học tập và rèn luyện tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên được làm đề tài khóa luận tốt nghiệp thực sự là một vinh dự lớn đối với bản thân em Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua để hoàn thành được khóa luận này ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong khoa Kinh Tế & Phát Triển Nông Thôn cùng với sự hướng dẫn tận tình của TS Đỗ Xuân
Lu ận
Trước hết, em xin trân trọng cảm ơn ban giám hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên và các thầy giáo, cô giáo khoa Kinh Tế & Phát Triển Nông Thôn
đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của TS Đỗ Xuân
Lu ận trong suốt quá trình em thực tập, mặc dù rất bận rộn trong công việc nhưng
thầy vẫn luôn nhiệt tình dành thời gian trao đổi, góp ý giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Nhân đây, em cũng xin được gửi lời cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND, các hộ kinh doanh du lịch cộng đồng tại địa bàn xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin trân tr ọng cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thuật ngữ liên quan đến du lịch có sự tham gia của cộng đồng 6
Bảng 3.1: Số hộ dân tộc thiểu số được phỏng vấn tại xã Nghĩa An 26
Bảng 4.1: Các chỉ tiêu về dân số, lao động của xã Nghĩa An 30
Bảng 4.2: Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của xã Nghĩa An 31
Bảng 4.3: Đặc điểm cơ bản của người được phỏng vấn 34
Bảng 4.4: Đặc điểm cơ bản của hộ gia đình được phỏng vấn 35
Bảng 4.5: Thực trạng tham gia các khóa tập huấn về du lịch cộng đồng 37
Bảng 4.6 Những lợi thế trong quá trình phát triển du lịch cộng đồng 38
Bảng 4.7 Mức độ sử dụng các công cụ số trong kinh doanhdu lịch cộng đồng 39
Bảng 4.8: Kết quả kinh doanh du lịch cộng đồng 41
Bảng 4.9: Thực trạng tiếp cận vốn vay 43
Bảng 4.10: Đặc điểm của các khoản vốn vay 44
Bảng 4.11: Thực trạng sử dụng tài khoản ngân hàng 44
Bảng 4.12: Những kênh chính các hộ liên hệ với ngân hàng 45
Bảng 4.13: Tác động của tiếp cận tín dụng ngân hàng 46
Bảng 4.14: Những khó khăn trong quá trình kinh doanh du lịchcộng đồng 47
Bảng 4.15: Nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng trực tuyến 49
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PH ẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
1.4 Bố cục của đề tài 2
PH ẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Về cơ sở lý luận 3
2.1.1 Cộng đồng 3
2.1.2 Dân tộc thiểu số 4
2.1.3 Du lịch cộng đồng 5
2.2 Cơ sở thực tiễn 20
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở một số địa phương 20
2.2.2 Kinh nghiệm cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho quá trình phát triển du lịch cộng đồng 23
2.2.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch cộng đồng 24
PH ẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25
3.2 Nội dung nghiên cứu 25
3.3 Phương pháp nghiên cứu 26
Trang 63.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 26
3.3.2 Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu 27
3.4 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
3.4.1 Địa điểm nghiên cứu 27
3.4.2 Thời gian tiến hành 27
3.5 Các chỉ tiêu dùng trong phân tích 27
3.5.1 Chỉ tiêu về thực trạng kinh doanh du lịch cộng đồng 27
3.5.2 Chỉ tiêu về thực trạng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ ngân hàng 28
PH ẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của xã Nghĩa An 29
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 29
4.1.3 Tiềm năng du lịch cộng đồng tại xã Nghĩa An 31
4.2 Thực trạng kinh doanh du lịch cộng đồng của các hộ điều tra 33
4.2.1 Đặc điểm của các hộ khảo sát 33
4.2.2 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng của các hộ khảo sát 37
4.2.3 Tình hình tiếp cận dịch vụ ngân hàng của các hộ khảo sát 42
4.3 Những khó khăn các hộ gặp phải trong quá trình kinh doanh DLCĐ 47
4.4 Nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng trực tuyến 49
PH ẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 51
5.2.1 Đối với nhà nước 51
5.2.2 Đối với các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương 51
5.2.3 Đối với các hộ 52
5.2.4 Đối với các ngân hàng 52
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 53
PH Ụ LỤC
Trang 7PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch cộng đồng xuất hiện như một nhu cầu tất yếu nhằm hạn chế tác động tiêu cực của du lịch, góp phần đảm bảo cho sự phát triển bền vững khi những hoạt động phát triển du lịch trước đó được thực hiện chủ yếu với mục đích đơn thuần là phát triển kinh tế đã đe doạ đến môi trường sinh thái và các giá trị văn hoá bản địa
Ở nhiều nước trên thế giới, DLCĐ được hình thành vào thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ XX Hình thức du lịch này được khởi phát thông qua các tổ chức phi chính phủ, hội bảo tồn thiên nhiên thế giới Hiện nay, DLCĐ ngày càng lan rộng và có sức hấp dẫn ở các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực Châu Á như Philipin, Thái Lan,
Ấn Độ, Nepal, Đài Loan, Đó là những nơi có nền văn hóa độc đáo, đa dạng và
vẫn giữ nguyên bản sắc văn hóa bản địa
Tại Việt Nam, DLCĐ xuất hiện vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, bản Lác ở Mai Châu (Hòa Bình) là nơi đầu tiên ở khu vực miền Bắc xây dựng mô hình DLCĐ Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên (núi, rừng, biển, sông nước), hệ thực vật, động vật phong phú là điều kiện thuận lợi cho phát triển loại hình DLCĐ, DLST
Ở một số địa phương đã có rất nhiều loại hình DLCĐ phát triển khá thành công, đặc biệt là các vùng miền núi nơi có đồng bào DTTS sinh sống, những mô hình này đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực đó là: phát huy được thế mạnh văn hóa, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thêm thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân địa phương
Xuất phát từ những thực tế trên, với mục đích góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng của các hộ DTTS trong xây dựng và phát triển DLCĐ,
do đó em đã tiến hành thực hiện đề tài “Tiếp cận dịch vụ ngân hàng của các hộ
L ộ, tỉnh Yên Bái ”
Trang 81.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá nhu cầu, mức độ tiếp cận và sử dụng các dịch vụ ngân hàng trong phát triển du lịch cộng đồng của các hộ dân tộc thiểu số
- Phân tích những rào cản trong tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của các hộ dân tộc thiểu số kinh doanh du lịch cộng đồng
- Đề xuất giải pháp nhằm tăng cường tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của các
hộ dân tộc thiểu số kinh doanh du lịch cộng đồng
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của các hộ DTTS trong phát triển DLCĐ thông qua quá trình nghiên cứu đánh giá thực trạng, những rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của các hộ DTTS Từ đó lựa chọn và đề xuất những giải pháp phù hợp giúp cho các hộ DTTS tiếp cận được với các dịch vụ ngân hàng
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá thực trạng, tiềm năng thách thức trong quá trình giúp các hộ DTTS
tiếp cận được với các dịch vụ ngân hàng, làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng của các hộ DTTS trong phát triển DLCĐ
1.4 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục phụ lục, bài khóa luận được trình bày theo bố cục sau:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 9PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
tộc, một sắc tộc [23]
Theo Bùi Hải Yến trong cuốn DLCĐ, cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định được gọi tên như: làng, xã,… có những dấu
hiệu chung về thành phần giai cấp, truyền thống văn hóa, đặc điểm kinh tế [2]
Theo PGS.TS Phạm Trung Lương, cộng đồng những người sống chung trong
một thôn xóm, làng, xã, quốc gia,… họ cùng chia sẻ với nhau mảnh đất sinh sống gọi là cộng đồng thể Cộng đồng những người không sống chung nhưng lại có những sở thích, nhu cầu chung được coi là cộng đồng tính [20]
Tùy theo từng góc độ nghiên cứu khác nhau mỗi tác giả lại có một định nghĩa khác nhau về cộng đồng, nhưng nói tóm lại cộng đồng được hình thành bởi ba nhân tố chính là yếu tố kinh tế, văn hoá và khu vực lưu trú
2.1.1.2 B ản chất và phân loại cộng đồng
* Bản chất của cộng đồng được nhìn nhận qua ba phương diện sau:
- Đoàn kết xã hội: Đoàn kết xã hội là đặc tính đứng đầu của cộng đồng được quan niệm như một ý chí và tình cảm chung do quá trình cùng chung sống có những
mối quan hệ về mặt huyết tộc hay quan hệ láng giềng
Trang 10- Tương quan xã hội: Cộng đồng được coi như một tiến trình xã hội, là một hình thức tương quan giữa người với người có tính cách kết hợp, theo đó con người được gần nhau và phối hợp chặt chẽ với nhau hơn
- Cơ cấu xã hội: Cộng đồng được coi như một cơ cấu xã hội, là một đoàn thể con người có những giá trị, chuẩn mực, các khuôn mẫu với các tương quan xã hội
và vai trò được tổ chức thành cơ cấu Điều này phù hợp với định nghĩa tổng quát về một đoàn thể xã hội coi như một tập thể con người có tương quan hỗ trợ với nhau Không có giá trị chung nghĩa là không có một số định hướng để quy tụ với nhau thậm chí có nơi lại không có cả những quy tắc ứng xử quy định các hành vi ứng xử
của các thành viên trong cộng đồng thì không có cơ sở cho sự hình thành và phát cộng đồng [15]
* Phân lo ại cộng đồng:
- Cộng đồng địa lý: Bao gồm những người dân cư trú trong cùng một địa bàn
có thể có chung các đặc điểm văn hóa xã hội và có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau
Ví dụ: Cộng đồng người Thái ở Mường Lò, Cộng đồng người Tày ở Ba Bể, cộng đồng người Ê Đê ở Tây Nguyên,…
- Cộng đồng chức năng: Gồm những cá thể có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có chung lợi ích Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức Ví dụ: Cộng đồng kinh tế Châu
Âu, cộng đồng du học sinh Việt Nam tại Nhật Bản,…
2.1.2 Dân tộc thiểu số
2.1.2.1 Khái niệm dân tộc thiểu số
DTTS là khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến hiện nay với nhiều định nghĩa khác nhau
Theo đại từ điển tiếng Việt, DTTS là dân tộc có số dân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa số) sống ở vùng hẻo lánh, ngoại vi, vùng ít phát triển về kinh tế xã hội [26]
Trang 11Theo nghị định 05/2011/NĐ của chính phủ về công tác dân tộc thì khái niệm DTTS được định nghĩa như sau, DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam [5]
Ở nước ta, DTTS được xác định là những người có quốc tịch, sinh sống tại nước ta nhưng có những khác biệt nhất định về ngôn ngữ, phong tục tập quán và các đặc thù văn hoá với dân tộc kinh
2.1.2.2 Đặc trưng cơ bản của các dân tộc thiểu số ở nước ta
- Về đoàn kết dân tộc: Các DTTS ở nước ta đã cùng nhau trải qua quá trình lịch sử và quá trình đấu tranh để bảo vệ bờ cõi, xây dựng đất nước thống nhất, mặc
dù có nhiều dân tộc và chênh lệch về số lượng trên cùng một lãnh thổ quốc gia, mỗi dân tộc có điều kiện sống, phong tục tập quán riêng biệt nhưng các dân tộc nước ta đều có chung truyền thống đoàn kết, gắn bó, tương trợ lẫn nhau
- Về bản sắc văn hoá: Các DTTS ở nước ta đều có những nét riêng biệt về văn hoá, tạo nên sự đa dạng phong phú về văn hoá cho đất nước, mỗi DTTS ở nước
ta đều có ngôn ngữ riêng, có nền văn hoá truyền thống mang bản sắc riêng thể hiện trong nếp sinh hoạt hàng ngày thông qua các lễ hội, trang phục của từng dân tộc
- Về địa bàn cư chú: các DTTS ở nước ta phân bố không đồng đều, tập trung
ở một số vùng nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các DTTS khác Chính sự xen kẽ giữa các dân tộc đã tạo điều kiện để các dân tộc có điều kiện tăng cường sự hiểu biết, gắn bó với nhau nhờ đó mà các dân tộc có điều kiện học hỏi những tri thức mới, từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dân tộc
2.1.3 Du lịch cộng đồng
2.1.3.1 Khái ni ệm du lịch cộng đồng
Cộng đồng có mối quan hệ mật thiết trong vấn đề sử dụng và khai thác TNDL đặc biệt là loại hình TNDL văn hóa Vì vậy khi xem xét và phân tích các giá trị, các khả năng có thể xây dựng và hình thành sản phẩm du lịch không thể không nhìn nhận vai trò và chức năng của cộng đồng địa phương
Trang 12Hiện nay, khi xem xét hệ thống lý thuyết về phát triển du lịch có sự tham gia
của cộng đồng, trong giới hạn đề tài này tập trung làm rõ hai thuật ngữ có liên quan như sau:
B ảng 2.1: Thuật ngữ liên quan đến du lịch có sự tham gia của cộng đồng
Community - Based Tourism Du lịch dựa vào cộng đồng
Community – Participation in Tourism Du lịch có sự tham gia của cộng đồng
Nguồn: Võ Quế, 2006
- Tại Thái Lan thuật ngữ Community - Based Tourism – Du lịch dựa vào cộng đồng được định nghĩa như sau: “Du lịch cộng đồng (DLCĐ) là loại hình du lịch được quản lý và có bởi chính cộng đồng địa phương, hướng đến mục tiêu bền vững về mặt môi trường, văn hóa và xã hội Thông qua DLCĐ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức về lối sống của cộng đồng địa phương” (REST, 1997)
Thuật ngữ này cũng được nhắc đến trong chương trình nghiên cứu của các tổ chức xã hội trên thế giới như:
- Tổ chức Pachamana (hướng đến việc giới thiệu và bảo tồn văn hóa bản địa khu vực Châu Mỹ) đã đưa ra quan điểm của mình về Community - Based Tourism như sau: “DLCĐ là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để tìm hiểu về phong tục, lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương Cộng đồng địa phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quá trình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó tăng cường khả năng tự quản, tăng cường phương thức sinh kế và phát huy giá trị truyền thống của địa phương”
- Tổ chức Istituto Oikos (1996) ra đời tại Ý (tổ chức hướng đến việc hỗ trợ các nghiên cứu, huy động nguồn lực tài chính trong công tác bảo tồn về mặt sinh thái tự nhiên và văn hóa cho các quốc gia đang phát triển trên thế giới, tổ chức này
có tầm ảnh hưởng ở khu vực Châu Âu) đã đề cập đến nội dung của DLCĐ như sau:
“DLCĐ là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến và có lưu trú qua đêm tại
Trang 13không gian sinh sống của cộng đồng địa phương (thường là các cộng đồng ở nông thôn hoặc các cộng đồng nghèo hoặc sinh sống ở những vùng có điều kiện kinh tế khó khăn) Thông qua đó du khách có cơ hội khám phá môi trường thiên nhiên hoang dã hoặc tìm hiểu các giá trị về văn hóa truyền thống, tôn trọng tư duy văn hóa
bản địa Cộng đồng địa phương có cơ hội thụ hưởng các lợi ích kinh tế từ việc tham gia vào các hoạt động khám phá dựa trên các giá trị về tự nhiên và văn hóa xã hội tại khu vực cộng đồng địa phương sinh sống”
- Tổ chức mạng lưới DLBV vì người nghèo đã nêu “DLCĐ là một loại hình DLBV thúc đẩy các chiến lược vì người nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng Các sáng kiến của DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như các
di sản thiên nhiên.”
- Tại Việt Nam, DLCĐ được nhìn nhận như sau:
“DLCĐ là hoạt động tương hỗ giữa các đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ được môi trường và mang đến cho du khách kinh nghiệm mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương có dự án.” (Trần Thị Mai, 2005) [24]
“Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên.” (Võ Quế, 2006) [25]
“DLCĐ có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi HĐDL Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được
phần lớn lợi nhuận thu được từ HĐDL nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường DLBV, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách.” (Bùi Thị Hải Yến, 2012) [2]
Trang 14Nói tóm lại, thuật ngữ DLCĐ chứa đựng các nội dung chủ yếu như sau:
- Du khách là tác nhân bên ngoài là tiền đề mang lại lợi ích kinh tế và sẽ có
những tác động nhất định kèm theo việc thụ hưởng các giá trị về môi trường sinh thái tự nhiên và văn hóa khi đến với một cộng đồng địa phương cụ thể
- Cộng đồng địa phương là người kiểm soát các giá trị về mặt TNDL để
hỗ trợ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thức của mình khi có cơ hội tiếp cận hệ thống TNDL tại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương
- Cộng đồng địa phương sẽ nhận được lợi ích về mặt kinh tế, mở rộng tầm hiểu biết về đặc điểm tính cách của du khách cũng như có cơ hội nắm bắt các thông tin bên ngoài từ du khách
- Cộng đồng địa phương ngày càng được tăng cường về khả năng tổ chức, vận hành và thực hiện các hoạt động, xây dựng các sản phẩm du lịch phục vụ cho
du khách Từ đó, cộng đồng ngày càng phát huy vai trò làm chủ của mình
Hoặc khái niệm DLST được đưa ra trong Hội thảo Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam vào tháng 09 năm 1999: “DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp
nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Phạm Trung Lương, 2003) [20]
Khi nhắc đến nội dung của phát triển DLBV, mục tiêu mang lại lợi ích kinh
tế, hạn chế tổn thương về mặt văn hóa - xã hội cho cộng đồng địa phương được xem
là một trong những nội dung được chú trọng Có thể thấy rõ vấn đề vừa nêu thông qua định nghĩa DLBV như sau: “DLBV là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và
cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương” (Nguyễn Đình Hòe, 2002) [14]
Đồng tình với quan điểm trên Phạm Trung Lương (2003) đã khẳng định phát triển DLBV là một hoạt động khai thác một cách có quản lí các giá trị tự nhiên và
Trang 15văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn văn hóa để phát triển HĐDL trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương [20]
Qua đó có thể thấy được sự tham gia một cách tích cực của cộng đồng được xem là động lực có giá trị mạnh mẽ cho việc duy trì phát triển du lịch một cách bền vững ổn định và lâu dài
Nói chung DLCĐ là một mô hình phát triển du lịch, trong đó cộng đồng dân
cư là người cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách du lịch Cộng đồng dân cư cũng chính là người có trách nhiệm bảo vệ TNDL và họ được chia sẻ các nguồn lợi kinh tế do phát triển du lịch tạo ra Phát triển DLCĐ sẽ tạo ra thêm công ăn việc làm
và tăng thêm thu nhập cho cộng đồng dân cư bản địa, góp phần cho việc xóa đói giảm nghèo của địa phương
2.1.3.2 Các hình th ức du lịch cộng đồng
- Du lịch sinh thái: là một hình thức du lịch diễn ra trong khu vực tự nhiên và
kết hợp tìm hiểu bản sắc văn hóa – xã hội của địa phương có sự quan tâm đến vấn
đề môi trường Nó thúc đẩy một hệ sinh thái bền vững thông qua một quá trình quản
lý môi trường có sự tham gia của tất cả các bên liên quan
- Du lịch văn hóa: là một trong những thành phần quan trọng nhất của du lịch dựa vào cộng đồng từ khi văn hóa, lịch sử, khảo cổ học, là yếu tố thu hút khách chủ
yếu của cộng đồng địa phương Ví dụ về du lịch đưa vào văn hóa gồm khám phá các di tích khảo cổ học, địa điểm tôn giáo nổi tiếng hay trải nhiệm cuộc sống địa phương tại một ngôi làng DTTS
- Du lịch nông nghiệp: là một hình thức du lịch tại các khu vực nông nghiệp như vườn cay ăn quả, trang trại nông lâm kết hợp, trang trại thảo dược và các trang trại động vật đã được chuẩn bị phục vụ cho khách du lịch
Trang 16- Du lịch bản địa: đề cập đến một loại du lịch nơi đồng bào DTTS hoặc người dân bản địa tham gia trực tiếp vào HĐDL, nền văn hóa vốn có của họ chính
là yếu tố thu hút khách du lịch
- Du lịch làng: Khách du lịch chia sẻ các hoạt động trong cuộc sống thôn bản
và các làng nông thôn thu được lợi ích kinh tế từ các HĐDL Dân làng cung cấp các dịch vụ ăn ở, nhà trọ cho khách nghỉ ngơi Nhà trọ chính là các điểm kinh doanh du lịch, ngoài ra khách du lịch có thể lựa chọn nhà nghỉ, các nhà nghỉ này được hoạt động bởi một hợp tác xã, làng hoặc cá nhân cung cấp cho khách du lịch không gian riêng tư hơn, thoải mái cho khách du lịch
- Nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ: Nghệ thuật và sản xuất thủ công mỹ nghệ
ở địa phương có một lịch sử lâu dài Nó không phải là một hình thức độc lập của du lịch, mà chính là một thành phần của các loại hình khác nhau của du lịch Du lịch không chỉ mang lại cơ hội kinh doanh tốt cho ngành công nghiệp thủ công mỹ nghệ
của khu vực, doanh số bán hàng của thủ công mỹ nghệ cũng có thể giúp người dân địa phương tìm hiểu thêm về di sản văn hóa và nghệ thuật phong phú, độc đáo của
phần bảo tồn tài nguyên môi trường đảm bảo cho sự phát triển bền vững
- DLCĐ góp phần tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng, làm thay đổi cơ cấu, nâng cao trình độ lao động từ đó hạn chế tình trạng di cư của cộng đồng
- DLCĐ giúp cộng đồng địa phương được hưởng lợi từ cơ sở hạ tầng xã hội Đây cũng sẽ là yếu tố tích cực để đảm bảo sự công bằng trong phát triển DLCĐ, một trong những nội dung quan trọng của phát trển DLBV
Trang 17- DLCĐ mang lại lợi ích cho các thành viên trong cộng đồng tham gia trực tiếp cung cấp các dịch vụ cho khách du lịch, đồng thời các thành viên khác cũng được hưởng lợi từ sự đóng góp của DLCĐ
- DLCĐ tạo điều kiện đẩy mạnh giao lưu văn hoá và giao lưu kinh tế giữa các vùng miền, giữa nước ta với các nước trên thế giới Ý nghĩa này là yếu tố quan trọng góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của nước ta đồng thời là cơ hội để thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở những vùng khó khăn
- DLCĐ tạo ra sự đa dạng cho sản phẩm du lịch của các địa phương, góp phần thu hút khách du lịch và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói chung và TNDL nói riêng
chức và thực hiện các HĐDL
- Tôn trọng các giá trị văn hoá của cộng đồng, trên thực tế cho thấy bất kỳ chương trình du lịch nào cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cộng đồng địa phương, do đó các giá trị văn hoá của cộng đồng phải được bảo vệ và giữ gìn với sự đóng góp của tất cả các thành phần tham gia vào HĐDL đặc biệt là người dân địa phương
- Phù hợp với khả năng của cộng đồng bao gồm khả năng nhận thức của cộng đồng về vai trò và vị trí của mình trong việc sử dụng tài nguyên, nhận thức được những tiềm năng to lớn của du lịch cho sự phát triển của cộng đồng, biết được các bất lợi từ HĐDL và khách du lịch đối với tài nguyên thiên nhiên Ngoài ra, các điều kiện về khả năng tài chính và nhân lực cộng đồng để đáp ứng các yêu cầu phát triển DLCĐ
- Chia sẻ lợi ích từ DLCĐ, theo nguyên tắc này cộng đông phải cùng được hưởng lợi, lợi ích kinh tế từ phát triển DLCĐ sẽ được phân chia công bằng cho mọi
Trang 18thành viên tham gia và một phần đóng góp vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng tại địa phương [24]
2.1.3.4 Các y ếu tố ảnh hưởng và điểu kiện phát triển du lịch cộng đồng
- Bảo tồn và phát triển sự độc đáo riêng có của từng cộng đồng dân cư về
di tích, cảnh quan, nếp sống, các lễ hội và các nghề thủ công truyền thống Khuyến khích cộng đồng dân cư khôi phục và tổ chức lễ hội dân gian truyền thống phục vụ phát triển du lịch, khôi phục các làng nghề, phố nghề sản xuất hàng lưu niệm bằng vật liệu địa phương, tránh sao chép, làm dối không mang tính chất văn hóa của cộng đồng, không đúng với tính chất phác của người dân
- Thị trường khách du lịch, muốn phát triển DLCĐ hay bất cứ loại hình du
lịch nào khác thì điểm đến cần có thị trường khách bao gồm thị trường khách nội địa và khách quốc tế, ở đây có thể là thị trường khách hiện tại hoặc thị trường khách tiềm năng Khách du lịch là những người tiêu dùng sản phẩm DLCĐ, phần tiền thu được từ khách du lịch sẽ đóng góp vào việc duy trì và phát triển các sản phẩm, dịch
vụ du lịch đồng thời giúp tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, giúp các doanh nghiệp du lịch tồn tại và từ đó phát triển HĐDL tại các điểm đến
- Các cấp lãnh đạo địa phương, Chính quyền địa phương là cơ quan trực tiếp quản lý và điều hành các HĐDL ở mỗi điểm du lịch Việc sử dụng công cụ chính trị
của chính quyền bao gồm việc đánh giá tác động của du lịch đến môi trường, kinh
tế, xã hội và các kế hoạch quản lý có thể mang lại hiệu quả đảm bảo cho sự phát triển du lịch một cách phù hợp Tuy nhiên, sự liên kết bằng các công cụ chính sách
giữa các tổ chức ở các cấp quản lý khác nhau không chặt chẽ sẽ dẫn đến tình trạng gây khó khăn hoặc thậm chí phá hoại đến việc phát triển của một điểm du lịch, một
Trang 19địa phương hoặc một quốc gia Do đó, cần có những nguyên tắc được lập ra để mỗi
cơ quan, tổ chức tùy theo mức độ ảnh hưởng của mình cũng như vai trò khác nhau trong việc thực thi chính sách phát triển du lịch của điểm đến
* Điều kiện để phát triển DLCĐ
- Điều kiện về cộng đồng dân cư: Các yếu tố liên quan đến cộng đồng dân cư bao gồm số lượng thành viên, bản sắc dân tộc, phong tục tập quán của cộng đồng địa phương, các yếu tố nhân khẩu học, trình độ học vấn, mức độ nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng về TNDL của địa phương cũng như việc phát triển DLCĐ Chính những yếu tố này là tiền đề tạo nên tính hấp dẫn về TNDL văn hóa đối với du khách cũng như quyết định sự thành công của dự án phát triển DLCĐ tại địa phương
Ngoài ra, để phát triển DLCĐ tại địa phương thì nhất thiết cần có sự tự nguyện của cộng đồng địa phương đối với các đề xuất phát triển DLCĐ Đây được xem là điều kiện đặc thù rất quan trọng để phát triển loại hình DLCĐ bởi nếu người dân địa phương không tham gia vào HĐDL hoặc không có sự đồng thuận, ủng hộ của họ thì không thể phát triển DLCĐ được
- Điều kiện về thị trường khách du lịch: Muốn phát triển DLCĐ hay bất cứ
loại hình du lịch nào khác thì điểm đến cần có thị trường khách bao gồm thị trường khách nội địa và khách quốc tế, ở đây có thể là thị trường khách hiện tại hoặc thị trường khách tiềm năng Khách du lịch là những người tiêu dùng sản phẩm DLCĐ, phần tiền thu được từ khách du lịch sẽ đóng góp vào việc duy trì và phát triển các
sản phẩm, dịch vụ du lịch đồng thời giúp tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, giúp các doanh nghiệp du lịch tồn tại và từ đó phát triển hoạt động du lịch
điểm đến
- Điều kiện hỗ trợ khác: Cần phải có cơ chế chính sách hợp lý tạo môi trường
thuận lợi cho việc phát triển du lịch và sự tham gia của cộng đồng Trong DLCĐ, việc tham gia của cộng đồng đại phương vào HĐDL được chia thành ba mô hình: Toàn bộ cộng đồng cùng tham gia vào mô hình DLCĐ
Trang 20Thực tế cho thấy sự tham gia của cộng đồng địa phương thường đòi hỏi nhiều thời gian và trình độ quản lý rất cao, mà cả hai điều đó đều không được người
phụ trách dự án hay chương trình phát triển chào đón hay sẵn lòng thực thi, trừ khi
họ nhận thức được rằng sự tham gia của cộng đông địa phương chính là yếu tố góp phần vào việc đảm bảo sự thành công cho chương trình hay dự án phát triển tại một địa phương Vì thế, để tập trung vào việc duy trì và nâng cao các hoạt động mang tính lâu dài của các dự án nhằm hướng tới khuyến khích phát triển DLBV trên ba mặt kinh tế - xã hội - sinh thái đặc biệt với các hoạt động tiến tới xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ, tạo công ăn việc làm cho người dân thì hoạt động DLCĐ cần có những định hướng giúp người dân hưởng lợi từ các HĐDL trên chính địa phương của họ [22]
2.1.3.5 M ục tiêu phát triển du lịch cộng đồng
* Về mặt kinh tế:
Mục tiêu đầu tiên mà DLCĐ hướng tới đó là mang lại lợi ích kinh tế cho người nghèo thông qua việc cho phép họ tham gia trực tiếp cung cấp các dịch vụ cho khách du lịch Hơn một nửa số nước nghèo nhất thế giới đã coi ngành du lịch là công cụ hiệu quả để giúp những nước này tham gia nền kinh tế toàn cầu và giảm đói nghèo Phần lớn, đóng góp đó là bởi sự phát triển của DLCĐ, cụ thể là khi DLCĐ phát triển thì vùng đất đó là vùng hấp dẫn du khách đến và tiêu thụ sản phẩm du lịch của địa phương, DLCĐ đã cung cấp một thị trường cho hàng hóa và dịch vụ địa phương, tạo điều kiện để phát triển kinh tế địa phương thông qua việc bán các sản
phẩm và dịch vụ của du lịch Có thể họ sẽ làm việc cho các doanh nghiệp du lịch (nhà hàng, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, vận chuyển…), hay có thể trực tiếp sản xuất các đồ thủ công truyền thống làm thành đồ lưu niệm bán cho khách du lịch
* V ề mặt xã hội:
Phát triển DLCĐ là cách tốt nhất để tạo ra công ăn việc làm cho cộng đồng địa phương Bằng tài nguyên tự nhiên vốn có ở địa phương đó, hay bởi chính văn hóa, nếp sinh hoạt hàng ngày của cư dân địa phương đã làm tiền đề để DLCĐ giúp
Trang 21người dân có được việc làm mới, giúp thay đổi cơ cấu việc làm địa phương và giảm
di cư từ nông thôn ra các đô thị lớn
Ngoài ra, DLCĐ không chỉ đơn thuần nhắm tới phát triển du lịch, mà sự phát triển ấy còn thúc đẩy sự công bằng xã hội bằng việc mang lại cho toàn bộ cộng đồng những lợi ích từ việc cung cấp các dịch vụ du lịch và cơ sở hạ tầng, bất kể họ
có tham gia vào du lịch hay không, như giao thông tốt hơn, đường điện, nguồn nước sinh hoạt… tốt hơn, từ đó góp phần thay đổi bộ mặt xã hội của địa phương
* Về mặt môi trường
Khi điều kiện sống khó khăn và lạc hậu, trình độ dân trí thấp và thiếu hiểu biết, nên vấn đề về bảo vệ tài nguyên môi trường có thể sẽ còn bị hạn chế đối với một số cộng đồng địa phương DLCĐ phát triển sẽ góp phần phục hồi và phát triển các giá trị văn hóa cũng như bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Chính DLCĐ tạo cơ
hội cho người dân địa phương giao lưu học hỏi từ khách du lịch, từ đó còn giúp họ nâng cao hiểu biết và kiến thức Họ sẽ nhận ra việc bảo vệ tài nguyên chính là bảo vệ quyền lợi của họ Tài nguyên thiên nhiên càng được bảo tồn thì càng có giá trị để thu hút khách du lịch, từ đó kéo theo việc làm và thu nhập của họ [22]
2.1.4 Vai trò của dịch vụ ngân hàng đối với phát triển du lịch cộng đồng
2.1.4.1 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng là một trong những loại hình dịch vụ chất lượng cao, có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, đời sống và quá trình hội nhập quốc tế Trong một số năm gần đây, với yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng trở nên khẩn trương hơn, quan niệm về dịch vụ ngân hàng đã được đổi mới theo thông lệ quốc tế Theo đó, khái niệm dịch vụ ngân hàng có thể được hiểu chung nhất đó là các công việc trung gian về tiền tệ của các tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng về sinh lời, đầu tư, giữ hộ hay bảo đảm an toàn, đem lại nguồn thu cho tổ chức cung ứng dịch vụ
Theo cuốn nghiệp vụ ngân hàng hiện đại của tác giả David Cox, dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh của họ nhờ đó ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí [6]
Trang 22Nói cách khác, dịch vụ ngân hàng là những đặc điểm, tính năng, công dụng
do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn nhận được của khách hàng, tổ chức tài chính
lớn hơn lượng giá trị ban đầu (Nguyễn Thị Oanh, 2010) [17]
Tín dụng là phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay, trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử
dụng tiền hoặc hàng hóa cho người đi vay trong thời gian nhất định, khi tới thời hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc hàng hóa cho người cho vay kèm theo một khoản lãi [17]
Theo đại từ điển kinh tế thị trường, tín dụng là những hành động cho vay, bán chịu hàng hóa và vốn giữa những người sở hữu khác nhau Tín dụng không
phải là hoạt động vay tiền đơn giản mà là hoạt động vay tiền có điều kiện, tức là phải bồi hoàn thanh toán lợi tức Tín dụng là hình thức đặc thù vận động giá trị khác với lưu thông hàng hóa đơn thuần: vận động giá trị nên dẫn tới phương thức mượn tài khoản, bồi hoàn và giá trị thanh toán [10]
Theo Lê Văn Tề (2006), tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay
sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán [12]
Trang 23Nói tóm lại, tín dụng là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hóa, nó phản ánh quan hệ kinh tế giữa người sở hữu với người sử dụng các nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả vốn và lời tức khi đến hạn
* B ản chất của tín dụng
Tín dụng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau Ở bất kỳ phương thức sản xuất nào, tín dụng cũng biểu hiện ra bên ngoài như là sự vay mượn tạm thời tài sản, hàng hoá hoặc một số vốn tiền tệ, nhờ vậy mà người ta có thể sử dụng được giá trị của hàng hoá hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trao đổi Để hiểu rõ bản chất của tín dụng cần phải nghiên cứu mối liên hệ kinh tế trong quá trình hoạt động của tín dụng và mối liên quan của nó với quá trình tái sản xuất
Tín dụng rất đa dạng và phong phú về hình thức Bản chất của tín dụng được thực hiện ở các điểm sau:
- Người sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người khác sử
dụng trong một thời gian nhất định
Các Mác viết về bản chất của tín dụng như sau: Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữu trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người
sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền không phải được bỏ ra để thanh toán, cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với điều kiện là nó sẽ quay về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định [4]
Có nhiều cách diễn đạt về tín dụng nhưng đều phản ánh một bên là người cho vay, bên kia là người đi vay Quan hệ giữa hai bên được ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, chính sách lãi suất và pháp luật hiện hành Sự hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù khác
* Vai trò của tín dụng trong phát triển du lịch cộng đồng
- Tín dụng là công cụ quan trọng để huy động và cung ứng vốn cho quá trình phát triển kinh tế nói chung, cho quá trình phát triển DLCĐ nói riêng Thông qua chức năng phân phối lại tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả của tín dụng, các nguồn
vốn bằng tiền và hiện vật được đưa vào luân chuyển và khai thác sử dụng một cách hiệu quả, hợp lý trong kinh doanh DLCĐ
Trang 24- Tín dụng là phương thức tài trợ vốn hiệu quả và phù hợp nhất đối với hoạt động kinh doanh, phát triển DLCĐ, nhờ có tín dụng các hộ kinh doanh DLCĐ có đủ
vốn để đầu tư, khắc phục những khó khăn về tài chính
- Tín dụng là công cụ quan trọng để thực hiện mục tiêu tài trợ của nhà nước đối với các đối tượng được ưu tiên trong quá trình phát triển DLCĐ Những tài trợ của nhà nước thường được thực hiện thông qua các tổ chức tín dụng chính thức (NHCSXH,…)
- Tín dụng góp phần làm tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống của các hộ kinh doanh DLCĐ Nhờ việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng các hộ đã xây dựng và phát triển DLCĐ qua quá trình kinh doanh đã tạo nên nguồn thu nhập cho các hộ kinh doanh DLCĐ
b, V ốn
* Khái niệm về vốn:
Vốn là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất đối với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia Việt Nam là nước đang phát triển, có nhu cầu vốn lớn để đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước Tuy nhiên, do tích
luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân thấp, khả năng thu hút vốn từ nước ngoài còn hạn hẹp nên lượng vốn đầu tư phát triển kinh tế rất thấp Vì vậy, nhận thức và vận dụng đúng đắn phạm trù vốn sẽ là tiền đề thúc đẩy việc khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng vốn để đầu tư phát triển nền kinh tế nói chung, nông nghiệp, nông thôn nói riêng, hội nhập tốt vào nền kinh tế thế giới
Trong lịch sử phát triển kinh tế, khái niệm vốn được tiếp cận dưới nhiều góc
độ khác nhau
Trước Các Mác, các nhà kinh tế học khi nghiên cứu vốn thông qua phạm trù
tư bản đi đến kết luận: Vốn là phạm trù kinh tế Các Mác khi nghiên cứu sự chuyển hoá của tiền thành tư bản đã khẳng định: Như vậy là giá trị ứng ra lúc ban đầu không những được bảo toàn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn
cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tự tăng thêm giá trị Chính sự vận động ấy
đã biến nó thành tư bản [4]
Trang 25Sau Mác, phạm trù vốn trong phát triển kinh tế vẫn được các nhà kinh tế học tiếp tục nghiên cứu và tiếp cận nó trên nhiều bình diện khác nhau
Dưới góc độ tài chính - tiền tệ, trong ấn phẩm Chú giải thuật ngữ kế toán
Mỹ, tác giả Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín cho rằng Vốn là Tổng số tiền biểu hiện nguồn gốc hình thành của tài sản được đầu tư trong kinh doanh để tạo ra thu nhập
và lợi tức [11]
Dưới góc độ tài sản, cuốn Dictonary of Economic của Penguin Reference, do Phạm Đăng Bình và Nguyễn Văn Lập dịch lại đưa ra khái niệm: Vốn là những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập và bản thân của nó cũng được cái khác tạo ra [18]
Ở Việt Nam, cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học cũng chỉ ra:
“Vốn là tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất kinh doanh, nhằm mục tiêu sinh lời” [26]
Như vậy, vốn sẽ bao gồm bất cứ thứ gì đem lại một luồng thu nhập qua thời gian, sự phát triển có thể coi như là một quá trình khái quát của sự tích luỹ Như cách tiếp cận trên đây về vốn đã nêu rõ tính đa dạng, về hình thái tồn tại của vốn Vốn có thể là tiền hay tài sản được giá trị hoá Mặt khác, với tư cách là vốn thì tiền hay tài sản phải được đầu tư vào hoạt động sản xuất - kinh doanh để tạo ra hàng hoá, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương lai Nghĩa là, vốn luôn gắn với
sự vận động và đảm nhiệm chức năng sinh lời
* Vai trò c ủa vốn trong phát triển du lịch cộng đồng
- Vốn là cơ sở để hình thành, xây dựng mô hình DLCĐ, để đưa và giữ chân
du khách đến với các điểm DLCĐ trước hết cần phải đầu tư xây dựng các cơ sở lưu trú, hoàn chỉnh hệ thống thông tin liên lạc, cung cấp đầy đủ những thứ cần thiết cho điểm DLCĐ
- Vốn là cơ sở để DLCĐ phát triển, tiếp tục hoạt động kinh doanh, khi có nguồn vốn đầu tư các hệ thống cơ sở vật chất sẽ được nâng cấp sửa chữa, ngoài ra còn có thể mở rộng quy mô của DLCĐ, đồng thời cũng nâng cao chất lượng phục
vụ góp phần đáp ứng sự hài lòng của khách du lịch khi đến với điểm DLCĐ
Trang 26- Vốn đầu tư vào DLCĐ còn làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó nâng dần tỷ trọng của các ngành dịch vụ trong cơ cấu GDP, giảm dần tỉ trọng của các ngành nông lâm nghiệp, việc sử dụng vốn đầu tư một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện cho DLCĐ phát triển bền vững, khai thác tốt các tiềm năng tự nhiên và bảo vệ cảnh quan môi trường
2.1.4.3 Vai trò c ủa dịch vụ ngân hàng đối với phát triển du lịch cộng đồng
- Dịch vụ ngân hàng tạo ra nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình triển khai, xây dựng, đồng thời thúc đẩy phát triển DLCĐ
- Dịch vụ ngân hàng thúc đẩy sự tiến bộ của các hộ kinh doanh DLCĐ thông qua những công nghệ hiện đại
- Dịch vụ ngân hàng thúc đẩy sự phát triển của hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng tại địa phương, nâng cao đời sống của các hộ kinh doanh DLCĐ
- Dịch vụ ngân hàng giúp cho các hộ kinh doanh DLCĐ tiết kiệm thời gian, chi phí khi thực hiện các giao dịch qua tài khoản ngân hàng
- Dịch vụ ngân hàng giúp cho các hộ kinh doanh DLCĐ tăng thêm sự tự tin
và năng lực quản lý tài chính
- Dịch vụ ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến thông qua internet banking giúp cho khách du lịch thanh toán 1 cách nhanh chóng thuận lợi còn các hộ kinh doanh DLCĐ dễ dàng theo dõi và kiểm soát các hóa đơn mà du khách thanh toán để tránh xẩy ra sự nhầm lẫn trong quá trình thanh toán
Ba Bể
Trang 27Vườn quốc gia Ba Bể nằm trên địa phận huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn cách thủ
đô Hà Nội khoảng 150 km Vào năm 1988, ban quản lý vườn quốc gia Ba Bể đã
tiến hành phát triển các HĐDL như xây dựng các tuyến đi bộ, leo núi, các homestay
ở bản Pác Ngòi Pác Ngòi là một bản nằm trọn trong vùng lõi của vườn quốc gia Ba
Bể, đây là địa bàn cư trú chủ yếu của đồng bào dân tộc Tày với những nét văn hoá độc đáo
Đến với Pác Ngòi du khách sẽ được tìm hiểu bản sắc văn hoá, phong tục tập quán, đời sống sinh hoạt và hoà mình vào các làn điệu dân ca miền núi như hát then,
si, múa khèn, tham gia các lễ hội mùa xuân của bản làng vào những dịp tháng riêng
âm lịch với các trò chơi dân gian độc đáo như: Ném còn, đua thuyền độc mộc,… và được thưởng thức những món ăn truyền thống của người Tày như: Cá chép hồ Ba
Bể, lợn bản quay, tép chua hồ Ba Bể, măng nứa, rau rừng và rượu ngô men lá
Hiện nay Pác Ngòi có 95 hộ trong đó có 20 hộ kinh doanh DLCĐ và tại đây
đã thành lập được 2 đội văn nghệ thường xuyên phục vụ du khách khi họ có nhu cầu nhờ đó đã duy trì và lưu giữ được những nét văn hoá đặc sắc của địa phương thu hút đông đảo khách tham quan du lịch
DLCĐ tại Pác Ngòi phát triển đã đóng góp tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu lao động, xoá đói giảm nghèo, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân địa phương được kinh doanh du lịch tại chính ngôi nhà của mình, đồng thời người dân cũng được giao lưu, học hỏi nét đẹp văn hoá của các vùng miền, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, cảnh quan du lịch từ đó góp phần phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của địa phương
2.2.1.2 T ại bản Hồ - Sapa – Lào Cai
Sapa nằm bên cạnh dẫy Hoàng Liên Sơn, đây là nơi có khí hậu ôn hoà mát
mẻ quanh năm, là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào DTTS, mỗi dân tộc có một nét văn hoá riêng Đặc trưng nổi bật của Sapa là các lễ hội của người Giáy, người Mông, người Dao đỏ Sapa có nhiều cảnh đẹp tự nhiên như thác Bạc cao khoảng 200m, cầu Mây là một di tích lịch sử của người dân tộc, cổng Trời là điểm cao nhất
mà đường bộ có thể đi tới để đứng ngắm đỉnh Phan Xi Păng, rừng Trúc, động Tả
Trang 28Phìn, bãi đá cổ Sa Pa nằm trong Thung lũng Mường Hoa Ngoải ra, Hàm Rồng là nơi trồng rất nhiều loại hoa, màu sắc sặc sỡ và được trồng theo từng khuôn viên Ở nơi đây cũng có vườn lan với nhiều loại hoa quý hiếm
Phát huy những thế mạnh về điều kiện tự nhiên và bản sắc văn hóa của các dân tộc địa phương, Sapa đã hình thành nên các địa điểm DLCĐ tại địa phương Mô hình DLCĐ ở Sapa đầu tiên phải kể đến đó là bản Hồ
Bản Hồ thuộc huyện Sapa tỉnh Lào Cai, ban đầu là điểm dừng chân trong các tuyến du lịch đi bộ dài ngày, tại đây người dân thường bán đồ ăn và thức uống cho
du khách Vào năm 2005 có hơn 4000 du khách tới thăm bản Hồ, khoảng 10% trong
số đó có sử dụng dịch vụ lưu trú
Theo mô hình phát triển thì cộng đông địa phương đã liên kết hợp tác với các công ty lữ hành tại Sapa đưa khách du lịch đến với bản Hồ Tại đây khách tham quan có thể được hướng dẫn bởi địa phương, ở tại nhà của cư dân địa phương và tham gia cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người tày Chính quyền địa phương giữ vai trò thiết yếu trong việc đưa ra các chính sách, tiêu chuẩn dịch vụ, ngoài ra các tổ chức phi chính phủ như SNV hay IUCN hỗ trợ trong việc đào tạo, xây dựng tổ chức
cộng đồng, phát triển cơ cấu và sản phẩm du lịch
Nguồn lợi nhuận thu được từ DLCĐ ngoài việc phân chia cho cộng đồng thì còn bổ sung vào nguồn vốn xã hội cho địa phương Ngoài ra DLCĐ góp phần vào việc giữ gìn truyền thống văn hóa, bản sắc của dân tộc Việc nhận thức tốt vấn đề môi trường giúp cải thiện điều kiện sinh hoạt, đồng thời bảo vệ môi trường và cảnh quan tự nhiên
2.2.1.3 T ại bản Lác – Mai Châu – Hòa Bình
Mai Châu là không gian sinh sống của nhiều dân tộc anh em, trong đó người Thái chiếm tới 60%, ngoài ra còn có dân tộc Mường, Mông, Kinh, Hoa…; Cộng đồng dân cư các dân tộc Mai Châu cấu thành từng xóm, bản riêng biệt, phù hợp tới tập quán canh tác, sinh hoạt của mỗi dân tộc Việc giao lưu, trao đổi hàng hóa thông qua các phiên chợ trong tuần, trong tháng Mỗi phiên chợ đều mang nét độc đáo của các vùng miền Tại đây vẫn duy trì bản sắc văn hóa của các dân tộc, từ trang phục,
Trang 29ngôn ngữ, nếp sống hằng ngày, lời ca, điệu múa cồng chiêng, múa sạp, nếp nhà sàn xinh xắn với các thiếu nữ dệt vải thổ cẩm bên hiên nhà
Vẻ đẹp của bản Lác khiến cho mô hình DLCĐ Mai Châu thêm đặc sắc không chỉ ở cảnh núi non hùng vĩ, mà còn ở con người nơi đây, bản sắc văn hóa cùng những món ăn ngon, đậm đà vị dân tộc, Đến với Bản Lác theo mô hình DLCĐ Mai Châu, du khách không chỉ được thưởng thức những món ăn ngon như xôi nếp nương Ngoài ra, bản Lác còn được biết đến như là một địa điểm chỉ bán và sản xuất những đồ lưu niệm cho khách du lịch như khăn quàng cổ, ví cầm tay, dây đeo tay, váy Mông,…
Bản Lác là một trong những điểm sáng trong DLCĐ ở Mai Châu, một địa chỉ quen thuộc với khách du lịch gần xa Không sầm uất, đông đúc hay tráng lệ, Bản Lác vẫn là nét giản đơn đầy mộc mạc của núi rừng Tây Bắc, nhưng cũng đủ khiến
du khách phải vấn vương
2.2.2 Kinh nghiệm cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho quá trình phát triển du lịch cộng đồng
* Cách thức giải ngân vốn:
Tại Mộc Châu, Sơn La ngân hàng Agribank đã cung cấp vốn đầu tư cho các
hộ kinh doanh DLCĐ, việc triển khai cho vay vốn đối với các hộ gia đình, cá nhân thông qua tổ vay vốn thông qua các tổ vay vốn thủ tục khi thành lập và tham gia các
tổ vay vốn; triển khai văn bản thỏa thuận liên ngành giữa ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Mộc Châu với hội nông dân, Hội liên hiệp phụ nữ huyện
Mộc Châu về việc thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn,…
* Lượng vốn giải ngân:
Năm 2016, tổng dư nợ trong lĩnh vực nông nghiệp của đơn vị tại địa bàn huyện Mộc Châu là 1.712 tỷ đồng, tăng 353 tỷ đồng Riêng xã Chiềng Khừa, ngân hàng đã cho 28 hộ vay với số tiền trên 1,9 tỷ đồng Từ nguồn vốn vay ưu đãi, nhiều hộ đã có
vốn sản xuất, kinh doanh DLCĐ, phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Trang 30* Hi ệu quả của nguồn vốn giải ngân:
Nhờ có nguồn vốn vay từ ngân hàng mà DLCĐ tại bản Áng ngày càng phát triển, nếu như trước đây tại bản Áng chỉ có một vài hộ làm DLCĐ thì hiện tại đã có hơn 30 cơ sở kinh doanh DLCĐ và hầu hết luôn kín khách vào mỗi mùa du lịch Đến với bản Áng, du khách được đắm mình trong không gian thiên nhiên thơ mộng, trong lành; được thả hồn cùng rừng thông rộng lớn và được cảm nhận sự hồn hậu, chất phác, mến khách của đồng bào dân tộc Thái nơi đây
2.2.3 Bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch cộng đồng
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển DLCĐ chúng ta rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Phát triển DLCĐ thúc đẩy các hộ DTTS phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần Trong đó, các DTTS tại địa phương tham gia DLCĐ với tư cách vừa là nhà tổ chức, vừa là người hưởng thụ, lại vừa chủ động cung cấp các dịch vụ như nhà nghỉ, phương tiện vận chuyển, phục vụ ăn uống, bán hàng lưu niệm, hỗ trợ du khách… Cùng với du khách, người dân là đối tượng được thụ hưởng những lợi ích hữu hình cũng như vô hình của hoạt động này, phát triển DLCĐ thì phải có trách nhiệm với xã hội Để phát triển kinh tế địa phương, tôn trọng những giá trị bản địa, giá trị cộng đồng thì loại hình du lịch có trách nhiệm sẽ là giải pháp để phát triển DLCĐ đúng hướng và bền vững Nói tóm lại thì kết quả cuối cùng của phát triển DLCĐ là các hộ DTTS ở địa phương phải được hưởng lợi từ sự phát triển DLCĐ, phát triển DLCĐ đồng nghĩa với đảm bảo sự công bằng trong việc chia sẻ nguồn thu nhập du lịch cho cộng đồng giữa các bên tham gia
- Điều kiện thuận lợi để phát triển DLCĐ chính là cộng đồng được tổ chức chặt chẽ, trong đó người dân địa phương là người đóng vai trò chủ đạo để phát triển DLCĐ và họ cũng chính là người được hưởng lợi chính từ DLCĐ, ngoài ra cần có
sự liên kết của nhiều thành phần trong và ngoài cộng đồng, phát triển DLCĐ phải gắn liền với việc bảo tồn tài nguyên của địa phương (văn hóa, phong tục tập quán, môi trường tự nhiên) Phát triển DLCĐ cần phải có sự đoàn kết của cộng đồng địa phương, cần có sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương vào hoạt động DLCĐ ở địa phương nhằm bảo vệ lợi ích của cộng đồng
Trang 31PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhu cầu, thực trạng tiếp cận, sử dụng và những rào cản trong tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của các hộ kinh doanh DLCĐ trên địa bàn
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu về tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của các hộ DTTS tham gia kinh doanh DLCĐ trên phạm vi xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp của đề tài được thu thập trong 3 năm,
từ năm 2017 - 2019 Số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2020 thông qua phỏng vấn trực tiếp các hộ kinh doanh DLCĐ và các bên liên quan tại vùng nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Tiếp cận các dịch vụ ngân hàng của các hộ DTTS có thể liên quan đến nhiều bên như phía cầu (các hộ DTTS), phía cung (ngân hàng cung cấp các dịch vụ) và các bên liên quan khác như nhà nước, các doanh nghiệp lữ hành, Tuy nhiên, nội dung chính trong nghiên cứu này tập trung vào thực trạng tiếp cận, sử dụng và những rào cản trong tiếp cận dịch vụ ngân hàng với góc nhìn từ các hộ kinh doanh DLCĐ
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình kinh doanh du lịch của các hộ được phỏng vấn (Tuổi, giới tính,
thành phần dân tộc, trình độ học vấn, kinh nghiệm kinh doanh DLCĐ của chủ hộ, vốn, tài sản và thực trạng sử dụng tài sản cho kinh doanh DLCĐ, thực trạng ứng dụng các công nghệ số trong kinh doanh DLCĐ của các hộ DTTS: đăng ký các kênh du lịch trực tuyến, xây dựng trang web, tạo trang facebook; lượng du khách trong và ngoài nước tới tham quan trải nghiệm, các hoạt động trải nghiệm của du khách, những hỗ trợ của chính quyền địa phương trong phát triển DLCĐ,…)