HƯỚNG DẪN CÁCH ĐỌC KẾT QUẢ XÉTNGHIỆM TỔNG PHÂN TÍCH TẾ BÀO MÁU TRÊN MÁY TỰ ĐỘNG Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu là một trong các xét nghiệm thường quy được thực hiện khi khám sức kh
Trang 1HƯỚNG DẪN CÁCH ĐỌC KẾT QUẢ XÉT
NGHIỆM TỔNG PHÂN TÍCH TẾ BÀO MÁU
TRÊN MÁY TỰ ĐỘNG
Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu là một trong các xét nghiệm thường quy được thực hiện khi khám sức khỏe, khám bệnh, cấp cứu và theo dõi quá trình điều trị của bệnh nhân Sau đây là cách đọc và ý nghĩa của sự thay đổi các chỉ số trong xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu được thực hiện trên máy tự động:
1 RBC (Red Blood Cell – Số lượng hồng cầu trong một thể tích máu):
- Tăng: mất nước, chứng tăng hồng cầu
- Giảm: thiếu máu
2 HBG (Hemoglobin – Lượng huyết sắc tố trong một thể tích máu):
- Huyết sắc tố là một loại phân tử protein của hồng cầu có vai trò vận chuyển oxy từ phổi đến các cơ quan trao đổi và nhận CO2 từ các cơ quan vận chuyển đến phổi trao đổi để thải CO2
ra ngoài và nhận oxy Huyết sắc tố đồng thời là chất tạo màu đỏ cho hồng cầu
- Tăng: mất nước, bệnh tim và bệnh phổi,
- Giảm: thiếu máu, chảy máu và các phản ứng gây tan máu,
3 HCT (Hematocrit – Tỷ lệ thể tích hồng cầu/ thể tích máu toàn bộ):
- Tăng: dị ứng, chứng tăng hồng cầu, hút thuốc lá, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh mạch vành, ở trên núi cao, mất nước, chứng giảm lưu lượng máu,
- Giảm: mất máu, thiếu máu, thai nghén,
4 MCV (Mean corpuscular volume - Thể tích trung bình của hồng cầu):
- Được tính từ hematocrit và số lượng hồng cầu
- Tăng: thiếu hụt vitamin B12, thiếu acid folic, bệnh gan, nghiện rượu, chứng tăng hồng cầu, suy tuyến giáp, xơ hoá tuỷ xương,…
- Giảm: thiếu hụt sắt, hồng cầu thalassemia và các bệnh hemoglobin khác, thiếu máu trong các bệnh mạn tính, suy thận mạn tính, nhiễm độc chì,
5 MCH (Mean Corpuscular Hemoglobin – Lượng huyết sắc tố trung bình có trong một hồng cầu):
- Tăng: thiếu máu đa sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự
có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh
- Giảm: bắt đầu thiếu máu thiếu sắt, thiếu máu nói chung, thiếu máu đang tái tạo
6 MCHC (Mean Corpuscular Hemoglobin Concentration – Nồng độ huyết sắc tố trung bình trong một thể tích máu):
- Giá trị này được tính bằng cách đo giá trị của hemoglobin và hematocrit
Trang 2- Tăng: thiếu máu đa sắc hồng cầu bình thường, chứng hồng cầu hình tròn di truyền nặng, sự
có mặt của các yếu tố ngưng kết lạnh
- Trong thiếu máu đang tái tạo, có thể bình thường hoặc giảm do giảm folate hoặc vitamin B12,…
7 RDW (Red Cell Distribution Width – Độ phân bố hồng cầu):
- Giá trị này càng cao nghĩa là độ phân bố của hồng cầu thay đổi càng nhiều
+ RDW bình thường và:
MCV tăng, thường gặp trước bệnh bạch cầu
MCV bình thường: Thiếu máu trong các bệnh mạn tính, mất máu hoặc tan máu cấp tính, bệnh enzym hoặc bệnh hemoglobin không thiếu máu
MCV giảm: thiếu máu trong các bệnh mạn tính, thalassemia dị hợp tử
+ RDW tăng và:
MCV tăng: thiếu hụt vitamin B12, thiếu hụt folate, thiếu máu tan huyết do miễn dịch, ngưng kết lạnh, …
MCV bình thường: thiếu sắt giai đoạn sớm, thiếu hụt vitamin B12 giai đoạn sớm, thiếu hụt folate giai đoạn sớm, thiếu máu do bệnh globin,
MCV giảm: thiếu sắt, bệnh HbH, thalassemia,
8 WBC (White Blood Cell – Số lượng bạch cầu trong một thể tích máu):
- Tăng: viêm nhiễm, bệnh máu ác tính, các bệnh bạch cầu,
- Giảm: giảm sản hoặc suy tủy, thiếu hụt vitamin B12 hoặc folate, nhiễm khuẩn,
9 NEUT (Neutrophil - Bạch cầu trung tính):
- Giá trị tăng cao trong nhiễm khuẩn cấp, nhồi máu cơ tim cấp, stress, ung thư, bệnh bạch cầu dòng tuỷ,…
- Giảm: nhiễm virus, giảm sản hoặc suy tủy, các thuốc ức chế miễn dịch, xạ trị,
10 LYM (Lymphocyte - Bạch cầu Lymphô):
- Tăng: nhiễm khuẩn mạn, lao, nhiễm một số virus khác, bệnh CLL, bệnh Hogdkin,…
- Giảm: giảm miễn nhiễm, nhiễm HIV/AIDS, ức chế tủy xương do các hóa chất trị liệu, các ung thư, tăng chức năng vỏ thượng thận, sử dụng glucocorticoid…
11 MONO (Monocyte - Bạch cầu Mono)
- Tăng: chứng tăng bạch cầu đơn nhân do nhiễm khuẩn của nhiễm virus khác, bệnh bạch cầu dòng mono, trong rối loạn sinh tủy,…
- Giảm trong các trường hợp thiếu máu do suy tủy, các ung thư, sử dụng glucocorticoid…
12 EOS (Eosinophil – Bạch cầu đa múi ưa axit)
Trang 3- Tăng: nhiễm ký sinh trùng, dị ứng,…
13 BASO (Basophil – Bạch cầu đa múi ưa kiềm)
- Tăng: một số trường hợp dị ứng, bệnh bạch cầu, suy giáp
14 LUC (Large Unstained Cells)
- Có thể là các tế bào lympho lớn hoặc phản ứng, các monocyte hoặc các bạch cầu non
- Tăng: bệnh bạch cầu, suy thận mạn tính, phản ứng sau phẫu thuật và sốt rét, nhiễm một số loại virus (LUC bình thường ko loại trừ nhiễm virus vì không phải tất cả các virus có thể làm tăng số lượng LUC),…
15 PLT (Platelet Count – Số lượng tiểu cầu trong một thể tích máu):
- Tiểu cầu không phải là một tế bào hoàn chỉnh, mà là những mảnh vỡ của các tế bào chất (một thành phần của tế bào không chứa nhân của tế bào) được sinh ra từ những tế bào mẫu tiểu cầu trong tủy xương
- Tiểu cầu đóng vai trò sống còn trong quá trình đông máu, có tuổi thọ trung bình 5- 9 ngày
- Số lượng tiểu cầu quá thấp có thể gây ra chảy máu Còn số lượng tiểu cầu quá cao sẽ hình thành cục máu đông, làm cản trở mạch máu có thể gây nên đột quỵ, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch phổi, tắc nghẽn mạch máu,
- Tăng: rối loạn tăng sinh tuỷ xương, bệnh tăng tiểu cầu vô căn, xơ hoá tuỷ xương, sau chảy máu, sau phẫu thuật cắt bỏ lách, các bệnh viêm
- Giảm: ức chế hoặc thay thế tuỷ xương, các chất hoá trị liệu, phì đại lách, đông máu trong lòng mạch rải rác, các kháng thể tiểu cầu, ban xuất huyết sau truyền máu, giảm tiểu cầu do miễn dịch đồng loại ở trẻ sơ sinh
16 PDW (Platelet Disrabution Width – Độ phân bố tiểu cầu):
- Tăng: K phổi, bệnh hồng cầu liềm, nhiễm khuẩn huyết gram dương, gram âm
- Giảm: nghiện rượu
17 MPV (Mean Platelet Volume - Thể tích trung bìnhcủa tiểu cầu):
- Tăng: bệnh tim mạch, tiểu đường, hút thuốc lá, stress, nhiễm độc do tuyến giáp
- Giảm: thiếu máu do bất sản, thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ, hoá trị liệu ung thư, bạch cầu cấp
18 Xét nghiệm AST là gì?
- Xét nghiệm AST (aspartate aminotransferase) là một loại xét nghiệm máu, đánh giá tổn thương tế bào gan Các aminotransferase là chỉ điểm rất nhạy trong đánh giá tổn thương tế bào gan bao gồm aspartate aminotransferase (AST) và alanine aminotransferase (ALT) AST được tìm thấy trong gan, cơ tim, cơ xương, thận, não, tụy, phổi, bạch cầu, hồng cầu, với hoạt tính theo thứ tự giảm dần Bác sĩ có thể chỉ định xét nghiệm này để chẩn đoán bệnh lý gan, phân biệt và theo dõi các bệnh gan mật, chứng nhồi máu cơ tim và tổn thương cơ xương hoặc theo dõi quá trình điều trị
Trang 4- Gan đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất mật để hỗ trợ cơ thể phân hủy thức ăn, loại
bỏ các chất độc hại khỏi máu và sản xuất các loại protein giúp máu đông AST là một loại men được sản xuất chính bởi gan và lượng AST trong máu thường thấp Khi gan xuất hiện tổn thương, lượng AST trong máu tăng
19 Chỉ số ALT (SGPT)
- So với chỉ số AST, ALT (hay còn gọi là SGPT) là chỉ số đặc hiệu, cảnh báo rõ nét hơn những tổn thương ở gan do nằm chủ yếu trong bào tương ở gan (chỉ một số ít trong tế bào cơ vân và tim)
- ALT (SGPT) được tìm thấy phần lớn ở trong gan Mặc dù không thể nói rằng men này chỉ hiện diện duy nhất tại gan, nhưng có thể nói gan là nơi mà nó tập trung nhiều nhất Nó được phóng thích vào máu khi có hiện tượng tổn thương gan Do đó có thể xem men này là một dấu chỉ tương đối đặc hiệu cho tình trạng của gan
20.Quy trình chuyển hóa ure máu
- Chất đạm mà con người tiêu thụ hàng ngày được gọi là protein ngoại sinh Sau khi vào cơ thể, nó được các protease của đường tiêu hóa chuyển hóa và tạo thành các axit amin Khi các axit amin tiếp tục chuyển hóa sẽ tạo thành NH3 và CO2 Ure là sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa chất đạm và từ gan vào máu rồi đến thận và được đào thải ra ngoài theo nước tiểu
- Ure máu luôn được bổ sung vào cơ thể hàng ngày thông qua các thực phẩm giàu chất đạm như thịt, cá, trứng, sữa
- Thông thường, một người trưởng thành sẽ bài tiết mỗi ngày khoảng 30g urê qua đường nước tiểu và một lượng nhỏ qua mồ hôi Khi cơ thể khỏe mạnh, khả năng bài tiết ure tốt và lượng ure máu ở giới hạn bình thường
- Ure là chất tương đối ít độc, kể cả khi nồng độ của nó trong máu khá cao Tuy nhiên, nếu muốn đánh giá khả năng lọc thải của thận thì các bác sĩ thường dựa vào chỉ số ure máu, chỉ số càng cao thì chức năng thận càng kém và ngược lại Nếu xét nghiệm máu cho thấy định lượng ure trong máu cao hơn bình thường thì chứng tỏ thận đang gặp phải vấn đề
21 Xét nghiệm cholesterol toàn phần là gì?
Cholesterol là chất béo có trong máu và tất cả tế bào trong cơ thể Cholesterol có vai trò quan trọng, giúp cấu tạo nên màng tế bào, tạo ra mật giúp tiêu hóa thức ăn chứa chất béo, đóng vai trò trung tâm cho nhiều phản ứng sinh hóa, cần thiết cho sự sản xuất hormon tuyến sinh dục, tuyến thượng thận, Có hai nguồn cung cấp cholesterol cho cơ thể, đó là cholesterol do cơ thể tự sản xuất ở gan (chiếm 80%) và cholesterol ngoại sinh, được cung cấp qua thức ăn, đặc biệt là thức ăn giàu cholesterol như phủ tạng động vật, lòng đỏ trứng, thịt, sữa,
Như vậy, cholesterol là vô cùng cần thiết và không thể thiếu trong cơ thể Tuy nhiên, nếu cơ thể được cung cấp quá nhiều cholesterol, lượng cholesterol không được sử dụng có thể tích tụ trong mạch máu, thời gian dài sẽ tạo thành các mảng xơ vữa, gây thu hẹp, tắc nghẽn mạch máu, gây nhiều bệnh tim mạch và nguy cơ đột quỵ Do đó, theo dõi và duy trì ổn định lượng cholesterol, có vai trò quan trọng đối với sức khỏe
Trang 5Trong cơ thể có nhiều loại cholesterol, xét nghiệm định lượng cholesterol toàn phần là xét nghiệm cho biết tổng lượng cholesterol được tìm thấy trong máu người bệnh Nồng độ cholesterol toàn phần được tạo thành từ:
+ LDL-Cholesterol (Low density lipoprotein cholesterol): Có tên đầy đủ là “lipoprotein cholesterol tỷ trọng thấp” LDL được cấu tạo bởi lớp ngoài là lipoprotein và lõi là cholesterol LDL được gọi là “cholesterol xấu” vì chúng thường tích tụ trên thành động mạch gây tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành và đột quỵ Giá trị bình thường của LDL-Cholesterol là
<130mg/dL, lượng LDL-Cholesterol càng cao so với giá trị bình thường, nguy cơ mắc bệnh
lý tim mạch càng cao
+ HDL- Cholesterol (High density lipoprotein cholesterol): Gọi là “lipoprotein cholesterol tỷ trọng cao” HDL-cholesterol được gọi là “cholesterol tốt” vì chúng giúp loại bỏ, thu nhặt LDL và các cholesterol xấu khác, vận chuyển các cholesterol xấu về gan để xử lý HDL-cholesterol giúp bảo vệ thành mạch, giữ sạch mạch máu, giúp mạch máu khỏe mạnh Nếu lượng HDL-cholesterol >60mg/dL, đây là dấu hiệu tốt đối với sức khỏe tim mạch Nếu HDL
<40mg/dL đây là dấu hiệu không tốt
+ Triglycerid: Là chất béo trung tính trong máu Nồng độ triglycerid bình thường
<150mg/dL, từ 150-199mg/dL là cao nhẹ, từ 200-499mg/dL là mức cao và > 500mg/dL là mức rất cao Tăng triglycerid làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạch vành và các bệnh tim mạch nguy hiểm khác