Đây là lý do để tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Vận dụng đườnglối xây dựng nền văn hoá trong thời kỳ đổi mới của Đảng để giải quyết các vấn đề văn hoá bức xúc hiện nay”.Khi nghiên cứu đề
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam- một dân tộc hơn 4000 năm lịch sử, có thể nói là mộtdân tộc có bề dày văn hoá Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ông cha ta đãxây dựng, gìn giữ cho đời sau những tinh hoa của văn hoá Cộng đồng dân tộcViệt Nam hiện nay với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, mỗi dân tộc mangmột bản sắc riêng đã tạo nên bức tranh văn hoá đậm đà bản sắc Việt Nam khôngmột dân tộc nào có được
Văn hoá có vai trò quan trọng Đại hội VII, VIII, IX,X và nhiều nghịquyết trung ương tiếp theo đã xác định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội
và coi văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển Đây là một tầmnhìn mới về văn hoá phù hợp với tầm nhìn chung của thế giới đương đại Theo
tư tưởng Hồ Chí Minh: Văn hoá là linh hồn bản sắc dân tộc Văn hoá là của mộtdân tộc, nó mang tâm hồn diện mạo dân tộc, đó chính là bản sắc dân tộc của vănhoá
Ngày nay, toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế không còn là hiện tượngmới mẻ, nó là một xu thế khách quan mà mọi dân tộc dù muốn hay không đềuchiụ tác động của nó.Bên cạnh sự trao đổi tiên tiến khoa học cộng nghệ, thì vănhoá cũng chiụ những ảnh hưởng nhất định trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách phát triển nền kinh tếphù hợp với hoàn cảnh đất nước Cương lĩnh năm 1991(được Đại hội VII thôngqua) lần đầu tiên đưa ra quan niệm nền văm hoá Việt Nam có đặc trưng:tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong thời kỳ hội nhập để xây dựng nền văn hoátiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chúng ta chủ trương bảo vệ bản sắc dân tộc,luôn phát huy những giá trị truyền thống, vưà mở rộng giao lưu, tiếp thu tinhhoa văn hoá nhân loại Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưuquốc tế tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hoá các dân tộckhác để bắt kịp sự phát triển của thời đại Chủ động tham gia hội nhập và giaolưu văn hoá với các quốc gia để xây dựng những giá trị mới của văn hoá Việt
Trang 2vực và quốc tế Đây là lý do để tôi chọn và nghiên cứu đề tài: “Vận dụng đường
lối xây dựng nền văn hoá trong thời kỳ đổi mới của Đảng để giải quyết các vấn
đề văn hoá bức xúc hiện nay”.Khi nghiên cứu đề tài này giúp tôi hiểu được thực
trạng cũng như tầm quan trọng của nền văn hoá trong bối cảnh kinh tế thịtrường, chủ trương, chính sách giải quyết của Đảng để phát triển nền văn hoátiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phù hợp với tình hình của thế giới nói chung vàViệt Nam nói riêng
2 Mục đích nhiệm vụ
Khi nghiên cứu đề tài: “ Vận dụng đường lối xây nền văn hoá trong thời
đổi mới của Đnảg để giải quyết các vấn đề văn hoá bức xúc hiện nay” với mục
đích:
- Tìm hiểu những nét chung của nền văn hoá Việt
- Tìm hiểu về thực trạng nền văn hoá trong thời kỳ đổi mới
- Tìm hiểu về đường lối xây dựng nền văn hoá trong thời kỳ đổi mới vàviệc vận dụng các đường lối đó
3 Cở sở khoa học của đề tài
- Cơ sở lý luận:chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các vănkiện của Đảng
- Cơ sở thực tiễn : Tình hình văn hoá trong gia trong thời kỳ đổi mới.Đường lối giải quyết của đảng
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài: “ vận dụng đường lối xây dựng nền văn hoá trongthời kỳ đổi mới của Đảng để giải quyết các vấn đề văn hoá bức xúc hiện nay” tôi
sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Cơ sở phương pháp luận: dựa trên thế giới quan, phương pháp luận khoahọc của chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận củaChủ Tịch Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng
- Phương pháp nghiên: sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp lịch sử, khái quát trìu tượng hoá
+ Phương pháp logic
+ Phương pháp so sánh, tổng hợp phân tích
Trang 3+ Phương pháp thống kê tình hình thực tiễn
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung gồm 2 chương:
Chương1: Lý luận chung về văn hoá
Chương2: Thực trạng văn hoá Việt Nam hiện nay
Trang 4NỘI DUNGch¬ng1 : Lý luËn chung vÒ v¨n ho¸
1.1 Khái niệm văn hoá
Từ văn hoá có rất nhiều nghĩa Trong tiếng Việt văn hoá được dùng theonghĩa thông dụng để chỉ học thức ( trình độ văn hoá), lối sống ( nếp sống vănhoá) theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn ( vănhoá Đông Sơn)…
Theo nghĩa rộng văn hoá được hiểu là: “Văn hoá Việt Nam là tổng thể
những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tao
ra trong quá trình dựng nước và giữ nước” còn theo nghĩa hẹp thì: “Văn hoá là đời sống tinh thần của xã hội”: “văn hoá là hệ các giá trị truyền thống, lối sống”…
Tháng 8- 1943, khi còn trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, lần đầu HồChí Minh đưa ra định nghĩa về văn hoá đó là: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đíchcủa cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạođức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinhhoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sángtạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thứcsinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứngnhững nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”
Theo UNESCO “văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động trong quákhứ và hiện tại qua các thời kỳ Hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệthống các giá trị, truyền thống và các thị hiếu, những yếu tố xác định tính riêngcủa từng dân tộc”
Do có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hoá nên muốn định nghĩa mộtkhái niệm trước hết cần xác định những đặc trưng cơ bản của nó Phân tích cáccách tiếp cận văn hoá phổ biến hiện nay ( coi văn hoá như tập hợp, như hệthống, như giá trị, như hoạt động như ký hiệu…) có thể xác định được 4 đặctrưng cơ bản mà tổng hợp lại ta có thể nêu ra một định nghĩa văn hoá như sau:
Trang 5Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tácgiữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
1.2.Các đặc trưng và chức năng của văn hoá
Văn hoá trước hết phải có tính hệ thống đặc trưng này cần để phân biệt
hệ thống với tập hợp; nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giũa cáchiện tượng, sự kiện thuộc một nền năn hoá; phát hiện các đặc trưng ,những quyluật hình thành và phát triển của nó
Nhớ có tính hệ thống mà văn hoá tư cách là một thực thể bao gồm mọihoạt động của xã hội thực hiện được chức năng tổ chức xã hội Chính văn hoáthường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội,cung cấp cho xã hội mọi phươngtiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.Nó là nềntảng của xã hội- có lẽ chính vì vậy mà người Việt Nam dùng từ chỉ loại “ Nền”
để xác định khái niệm văn hoá ( nền văn hoá)
Đặc trưng quan trọng thứ 2 của văn hoá là tính giá trị Văn hoá theo nghĩađen là “trở thành đẹp, thành có giá trị” Tính giá trị cần để phân biệt với phi giátrị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người
Các giá trị văn hoá, theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất và giátrị tinh thần; theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giátrị thẩm mĩ; theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cữu và giá trị nhấtthời Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có được cái nhìn biệnchứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật hiện tượng;tránh được những xu hướng cực đoan- phủ nhận sạch trơn và tán dương hết lời
Nhờ thường xuyên xem xét các giá trị mà văn hoá thực hiện được chứcnăng quan trọng thứ 2 là chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội duy trìđược trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng vớinhững biến đổi của môi trường, giúp định hướng các chuẩn mực làm động lựccho sự phát triển xã hội
Đặc trưng thứ 3 của văn hoá là tính nhân sinh.tính nhân sinh cho phépphân biệt văn hoá như một hiện tượng xã hội do con người sáng tạo, nhân tạo,
Trang 6con người sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vạtchất(như luyện quặng, đẽo gỗ…) hoặc tinh thần ( như đặt tên, truyền thuyết chocác cảnh quan thiên nhiên…).
Do mang tính nhân sinh, văn hoá trở thành sợi dây nói liền con ngưòi vớicon người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại vớinhau Nếu ngôn ngữ là hình thức giao tiếp thì văn hoá là nội dung của nó
Văn hoá còn có tính lịch sử Nó cho phép phân biệt văn hoá như sản phẩmcủa một quá trình và được tích luỹ qua nhiều thế hệ với văn minh như sản phẩmcuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn Tính lịch sử tạo nên vănhoá một bề dày một chiều sâu; nó buộc văn hoá tự điều chỉnh, tiến hành phânloại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống vănhoá
Truyền thống văn hoá tồn tại nhờ giáo dục Chức năng giáo dục là chứcnăng quan trọng thứ tư của văn hoá Nhưng văn hoá thực hiện chức năng giáodục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định mà còn bằng cả những giá trị đanghình thành Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con ngườihướng tới nhờ nó mà văn hoá đóng vai trò quyết định trong việc hình thànhnhân cách Từ chức năng giáo dục, văn hoá có chức năng phái sinh là bảo đảmtính kế tục của lịch sử Nó là một thứ “gien” xav hội di truyền phẩm chất conngười lại cho các thế hệ mai sau
1.3 Các loại hình văn hoá
1.3.1.Văn hóa tinh thần
Văn hóa tinh thần hay còn gọi là văn hóa phi vật chất là những ý niệm, tínngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị, chuẩn mực, tạo nên một hệ thống Hệthống đó bị chi phối bởi trình độ của các giá trị, đôi khi có thể phân biệt một giátrị bản chất Chính giá trị này mang lại cho văn hóa sự thống nhất và khả năngtiến hóa nội tại của nó
1.3.2.Văn hóa vật chất
Ngoài các yếu tố phi vật chất như giá trị, tiêu chuẩn, nền văn hóa cònbao gồm tất cả những sáng tạo hữu hình của con người mà trong xã hội học gọichung là đồ tạo tác Những con đường, tòa cao ốc, đền đài, phương tiện giao
Trang 7thông, máy móc thiết bị đều là đồ tạo tác Văn hóa vật chất và phi vật chất liênquan chặt chẽ với nhau Khảo sát một nền văn hóa có thể thấy văn hóa vật chấtphản ánh những giá trị văn hóa mà nền văn hóa đó coi là quan trọng Ở các nướcHồi giáo, công trình kiến trúc đẹp nhất và hoành tráng nhất thường là thánhđường trong khi ở Mỹ, nó lại là trung tâm thương mại Văn hóa vật chất cònphản ánh công nghệ hiểu theo khái niệm xã hội học là sự áp dụng kiến thức vănhóa vào sinh hoạt trong môi trường tự nhiên Tháp Eiffel phản ánh công nghệcao hơn tháp truyền hình Hà Nội Ngược lại, văn hóa vật chất cũng làm thay đổinhững thành phần văn hóa phi vật chất Việc phát minh ra các biện pháp tránhthai đã góp phần làm hình thành nên tiêu chuẩn quan hệ tình dục không phải đểsinh đẻ
Trang 8Ch¬ng II: Thùc tr¹ng nÒn v¨n ho¸ viÖt nam hiÖn nay
2.1 Quan điểm của Đảng ta về vai trò và tầm quan trọng của văn hoá
2.1.1 Quá trình nhận tức và nội dung đường lối xây dựng, phát triển nền văn hoá
2.1.1.1.Thời kì trước đổi mới
Quan điểm, chủ trương về xây dựng nền văn hoá mới
Trong những năm 1943- 1954
Đầu năm 1943, Ban thường vụ Trung ương Đảng họp tại Võng La (ĐôngAnh, Phúc Yên) đã thông qua bản đề cương văn hoá do đồng chí Trường Chinhtrực tiếp dự thảo Đề cương xác định lĩnh vực văn hoá là một tong ba mặt trận(kinh tế, chính trị, văn hoá) của cách mạng Việt Nam, và đề ra ba nguyên tắc củanền văn hoá mới: Dân tộc hoá, Đại chúng hoá, Khoa học hoá Nền văn hoá mớiViệt Nam có tính chất đân tộc về hình thức, dân chủ về nội dung.Có thể coi Đềcương văn hoá Việt Nam là bản Tuyên ngôn, là Cương lĩnh của Đảng về vănhoá trước cách mạng tháng Tám mà ảnh hưởng của nó còn có tác động sâu rộngđến mãi sau này
Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủtịch Hồ Chí Minh đã trình bày với các bộ trưởng 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhànước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó có 2 nhiệm vụ cấp bách thuộc vềvăn hoá Một là, cùng với diệt giặc đói phải diệt giặc dốt Hồ Chí Minh nói: mộtdân tộc dốt là một đân tộc yếu, thế mà hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng
ta mù chữ; vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ Hai là,chế độ thực dân hủ hoá dân tộc Việt Nam bằng những thói xấu, lười biếng, gianxảo, tham ô và những thói xấu khá Vì vậy, một nhiệm vụ cấp bách là phải giáodục lại nhân dân chúng ta.Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị: mở một chiến dịchgiáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách cần, kiệm, liêm, chính Như vậy,nhiệm vụ đầu tiên về xây dựng văn hoá của nước Việt Nam độc lập là:chống nạn
mù chữ và giáo dục lại tinh thần nhân dân
Trang 9Đầu năm 1946, Ban Trung ương vận động Đời sống mới được thành lậpvới sự tham gia của nhiều nhân vật uy tín như: Trần Huy Liệu, Dương ĐứcHiền…
Tháng 3 năm 1947, Hồ Chí Minh viết tài liệu Đời sống mới giải thích rất
dễ hiểu những vấn đề thiết thực trong chủ trương văn hoá quan trọng này, gồm
19 câu hỏi và trả lời
Đường lối văn hoá kháng chiến được dần hình thành tại chỉ thị của BanChấp hành Trung ương Đảng về “kháng chiến kiến quốc” (tháng 11 năm 1945),trong bức thư về “ nhiệm vụ văn hoá Việt Nam trong công cuộc cứu nước vàxây dựng nước” của đồng chí Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh(16-11-1946) và tại báo cáo chủ nghĩa Mac và văn hoá Việt Nam( trình bày trong hộinghị văn hoá toàn quốc lần thứ hai, 7-1948) Đường lối đó gồm các nội dung :xác định mối quan hệ giữa văn hoá và cách mạng giải phóng dân tộc, cổ độngvăn hoá cứu quốc; xây dựng nền văn hoá dân chủ mới Việt Nam có tính dân tộc,khoa học , đại chúng, mà khẩu hiệu thiết thực lúc đó là Dân tộc, Dân chủ; tíchcực bài trừ nạn mù chữ, mở đại học và trung học, cải cách việc học theo tinhthần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ; giáo dục lại nhân dân , cổ động thựchành đời sống mới; phát triển cái hay trong văn hoá dân tộc; đồng thời bài trừcái xấu xa hủ bại, ngăn ngừa sức thâm nhập của văn hoá thực dân; hình thànhđội ngũ tri thức mới đóng góp tích cực cho công cuộc kháng chiến kiến quốc 9năm và cho cách mạng Việt Nam
Đại hội IV và đại hội V tiếp tục đường lối phát triển văn hoá của đại hộiIII, xác định nền văn hoá mới là nền văn hoá có nội dung xã hội chủ nghĩa vàtính chất dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân
Trang 102.1.1.2.Trong thời kỳ đổi mới
Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hoá
Từ Đại hội VI đến đại hội X, Đảng ta đã hình thành từng bước nhận thứcmới về đặc trưng của nền văn hoá mới mà chúng ta cần xây dựng; về chức năng,vai trò, vị trí của văn hoá trong phát triển kinh tế- xã hội và hội nhập quốc tế
Đại hội VI (1986) xác định khoa học- kĩ thuật là một động lực to lớn đẩymạnh quá trình phát triển kinh tế- xã hội; có vị trí then chốt trong sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội
Cương lĩnh 1991(được Đại hội VII thông qua) lần đầu tên đưa ra quanniệm về văn hoá Việt Nam có đặc trưng; tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Đại hội VII, VIII, IX, X và nhiều nghị quyết trung ương tiếp theo đã xácđịnh văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội và coi văn hoá vừa là mục tiêu,vừa là động lực của phát triển Đây là một tầm nhìn mới về văn hoá phù hợp vớitầm nhìn của thế giới đương đại
Đại hội VII( 1991) và Đại hội VII (1996) khẳng định; khoa học và giáodục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
và bảo vệ tổ quốc , là một động lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn ,lạchậu, vươn lên trình độ tiên tiíen của thế giới Do đó phải coi sự nghiệp giáo dục– đào tạo với khoa học và cộng nghệ là quốc sách hang đầu để phát huy nhân tốcon người, động lực trực tiếp của sự phát triển xã hội
Nghị quyết trung ương 5, khoá VIII (7- 1998) nêu ra năm quan điểm cơbản chỉ đạo phát triển văn hoá trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước.Hội nghị trung ương 9 khoá IX (1-2004) xác định thêm “ phát triển vănhoá đồng bộ với phát triển kinh tế”, tiếp theo, hội nghị trung ương 10 khoá IX( 7-2004) đặt vấn đề bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế làtrung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với nhiệm vụ không ngừngnâng cao văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội
Hội nghị trung ương 10 khoá IX đã nhận định về sự biến đổi của văn hoátrong quá trình đổi mới Cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đã làm thay đỏimối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, thúc đẩy dân chủ hoá đòi sống xã hội,
đa dạng hoá thị hiếu và phương thức sinh hoạt văn hoá
Trang 112.1.2.Quan điểm của Đảng ta về vai trò và tầm quan trọng của văn hoá
Một là, văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội
Quan điểm này chỉ rõ chức năng, vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của vănhoá đối với sự phát triển của xã hội
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội
Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặtcủa cuộc sống diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại ; quahang bao thế kỉ nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống và lốisống mà trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình
Các giá trị nói trên toạ thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó đượcthấm nhuần trong mỗi con người và trong cả cộng đồng; được truyền lại, tiếpnối và phát huy qua các thế hệ Vì vậy, chúng ta chủ trương làm cho văn hoáthấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các giá tri văn hoá trở thànhnền tảng tinh thần bền vững của xã hội, trơ thành động lực để phát triển linh tế,
kĩ năng xã hội Đó cũng là con đường xây dựng con người mới, xây dựng môitrường văn hoá lành mạnh đủ sức đề kháng và đẩy lùi các tiêu cực của xã hội,đẩy lùi sự thâm nhập của tư tưởng, văn hoá phản tiến bộ
-Văn hoá là động lực thúc đẩy sự phát triển
Nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một dân tộc thấm sâu vào vănhoá Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới, tiếp cận cái mới, tạo racái mới, nhưng lại không tách khỏi cội nguồn Phát triển phải dựa trên cộinguồn, bằng cách phát huy cội nguồn Cội nguồn đó của mỗi dân tộc, của mỗiquốc gia là văn hoá
Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hoá dựa vào tiêu chuẩn của cáiđúng, cái tốt, cái đẹp để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừngphát huy sang kiến, cải tiến kĩ thuật, nâng cao tay nghề, sản xuất ra hang hoá với
số lượng và chất lượng ngày càng đáp ứng nhu cầu của xã hội Mặt khác, vănhoá sử dụng sức mạnh của giá trị truyền thống, của đạo lý dân tộc để hạn chếễuhướng sung bái lợi ích vật chất, sung bái tiền lệ
Trang 12Trong vấn đề bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững, văn hoá giúphạn chế lối sóng chạy theo ham muốn quá mức của xã hội tiêu thụ, dẫn đến chỗlàm cạn kiệt tài nguyên , ô nhiễm môi trường sinh thái.
- Văn hoá là một mục tiêu phát triển
Mục tiêu xây dựng một xã hội Việt Nam “ dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng và văn minh “ chính là mục tiêu của văn hoá
Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 1991-2000 xác định “ mục tiêu vàđộng lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người”, đồng thời nêu
rõ yêu cầu “ tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, pháttriển văn hoá, bảo vệ môi trường “ Phát triển hướng tới mục tiêu văn hoá- xãhội mới đảm bảo phát triển bền vững , trường tồn
Để làm cho văn hoá trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển thìchúng ta chủ trương phát triển văn hoá gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn pháttriển kinh tế xã hội.Cụ thể là:
Khi xác định mục tiêu giải pháp phát triển văn hoá phải căn cứ và hướngtới mục tiêu giải pháp phát triển kinh tế - xã hội , làm cho phát triển văn hoá trởthành động lực phát triển kinh tế- xã hội
Khi xác định mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội phải đồng thời xác địnhmục tiêu văn hoá, hướng tới xã hội công bằng, dân chủ văn minh phải có chínhsách kinh tế trong văn hoá để gắn văn hoá vốihạt động kinh tế, khai thác tiềmnăng kinh tế , tài chính hổ trợ cho phát triển văn hoá Xây dựng chính sách vănhoá trong kinh tế để chủ động đưa các yếu tố văn hoá thâm nhập vào các hoạtđộng kinh tế xã hội , xây dựng văn hoá kinh doanh, đạo đức kinh doanh, vănminh thương nghiệp; xây dựng đội ngũ doanh nhân thời hội nhập
-Văn hoá có vcai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưõng, phát huynhân tố con người và xây dựng xã hội mới
Việc phát triển kinh tế xã hội cần đến nhiều nguồn lực khác nhau: tàinguyên thiên nhiên, vốn …Những nguồn lực này đều có hạn và có thể được khaithác cạn kiệt Chỉ có tri thức con người là nguồn lực vô hạn có khả năng tái sinh
và tự sinh không bao giờ cạn kiệt Các nguồn lực khác sẽ không được sử dụng
có hiệu quả nếu không có những con người có đủ trí tuệ và năng lực khai thác
Trang 13chúng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải
có con người xã hội chủ nghĩa Như vậy văn hoá trực tiếp tạo dựng và năng caovốn “tài nguyên người”
Hai là, nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc
Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lậpdân tộc và chủ nghia xã hội theo chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,nhằm mục tiêu tất cả vì con người Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà
cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung
Bản sắc dân tộc là sức sống bên trong của dân tộc, là quá trình dân tộcthường xuyên tự ý thức tự khám phá, tự vượt qua chính bản thân mình, biết cạnhtranh và hợp tác để tồn tại và phát triển Bản sắc dân tộc thể hiện trong tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội: cách tư duy, cách sống, cách dựng nước, giữ nước,cách sáng tạo trong văn hoá…nhưng được thể hiện sâu sắc nhất trong hệ giá trịcủa dân tộc , nó là cốt lõi của một nền văn hoá
Để xây dựng nền văn hoá tỉên tiến đậm đà bản sắc dân tộc chúng ta chủtrương vừa bảo vệ bản sắc dân tộc, vừa mở rộng giao lưu, tiếp thu tinh hoa vănhoá nhân loại.Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế,tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hoá các dân tộc khác đểbắt kịp sự phát triển của thời đại Chủ động tham gia hội nhập và giao lưu vănhoá với các quốc gia để xây dựng những giá trị mới của văn hoá Việt Namđương đại.Xây dựng Việt nam thành một địa chỉ giao lưu văn hoá khu vực vàquốc tế.Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống những cái lạc hậu, lỗi thờitrong phong tục, tập quán và lề thói cũ
Ba là, nền văn hoá Việt nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Nét đặc trưng nỗi bật của văn hoá Việt Nam là sự thống nhất đa dạng, là
sự hoà quyện bình đẳng, sự phát triển độc lập của văn hoá các dân tộc anh emcùng sống trênlãnh thổ Việt Nam Mỗi thành phần dân tộc có truyền thống vàbản sắc riêng của mình, cả cộng đồng dân tộc Việt Nam có nền văn hoá chung
Trang 14nhất Sự thống nhất bao gồm cả tính đa dạng ; đa dạng trong sự thống nhất ,không có sự đồng hoá hoặc thôn tính, kỳ thị bản sắc văn hoá của các dân tộc
Bốn là, xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp chung của toàn dân
do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ tri thức đống vai trò quan trọng
Mọi người Việt Nam phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh , xã hội công bằng, dân chủ văn minh đều tham gia sự nghiệp xaay dựng và phát triển nền văn hoánước nhà Công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân,cũng là nên tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá dưới sự lãnh đạocủa đảng, quản lý của nhà nước
Để xây dựng đội ngũ trí thức, Đảng ta đã khẳng định: giáp dục và đào tạo,cùng với khoa học và công nghệ dược coi là quốc sách hàng đầu
Phát triển nhậ thức đã nêu ra từ Đại hội VI(1986), Hội nghị Trung ương 2,khoá VIII( tháng 12- 1996) khảng định: cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế- xã hội, làđiều kiện cần thiết để giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa xãhội
Thực hiên quốc sách này chúng ta chủ trương:
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chếquản lý, nội dung, phương pháp dạy và học, thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá,
xã hội hoá”, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam bồi dưỡng các giá trị văn hoátrong thanh niên, học sinh, sinh viên đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lựctrí tuệ, đạo đức và bản lĩnh sang tạo của con người Việt Nam
- Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở- môhình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo lien tục, lien thônggiữa các bậc học, nghành học; xây dựng vá phát triển hệ thống học tập cho mọingười và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tậpthường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sựcông bằng xã hội trong gioá dục
- Đổi mới mạnh mẽ giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông Khẩ trươngđiều chỉnh, khắc phục tình trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình