1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tinh thần đoàn kết của nhân dân hai miền nam bắc trong cuộc kháng chiến chống mỹ, thống nhất đất nước (1954 – 1975)

39 125 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tinh Thần Đoàn Kết Của Nhân Dân Hai Miền Nam Bắc Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ, Thống Nhất Đất Nước (1954 – 1975)
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát huy truyền thốngđánh giặc, giữ nước của tổ tiên lên tầm cao mới thời đại Hồ Chí Minh, cùng vớiđường lối đúng đắn, sáng tạo, độc lập tự chủ, nghệ thuật mở đầu và kết thúcchiến tranh

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh,thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm không chỉ có đường lốichiến lược, chiến thuật độc đáo, đúng đắn, mà còn phải kể đến nhân tố conngười - quyết định trực tiếp đến thắng lợi cuối cùng của cuộc chiến tranh Nhân

tố con người được kết tinh bởi lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tực lực

tự cường, tự tôn dân tộc của người Việt Nam yêu nước Mỗi khi có giặc ngoạixâm, muôn người Việt Nam như một, đoàn kết một lòng “Vua tôi đồng lòng,anh em hòa thuận, cả nước góp sức” hay “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nướcsông chén rượu ngọt ngào” Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của một dân tộcyêu chuộng hoà bình đã chống lại mọi áp bá cường quyền và sự xâm lược củacác thế lực ngoại quốc, bảo vệ nền độc lập chủ quyền Phát huy truyền thốngđánh giặc, giữ nước của tổ tiên lên tầm cao mới thời đại Hồ Chí Minh, cùng vớiđường lối đúng đắn, sáng tạo, độc lập tự chủ, nghệ thuật mở đầu và kết thúcchiến tranh nhân dân, về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợpsức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại… Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôncoi trọng bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người Việt Nam trong kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước - một bài học hết sức quý giá không chỉ làm nên thắng lợicủa Đại thắng Mùa xuân năm 1975 mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với phát huynhân tố con người vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay

Chiến tranh không chỉ là thử thách khắc nghiệt đối với mỗi cộng đồng dântộc mà đối với mỗi con người, thử thách còn khắc nghiệt gấp bội phần, vì mỗingười đều phải trực tiếp giải quyết các mâu thuẫn giữa nghĩa vụ và quyền lợi,giữa sự sống và cái chết, giữa gia đình và Tổ quốc… nảy sinh từ chính cuộcchiến tranh Và, trong mỗi con người Việt Nam, ý thức sâu sắc về vận mệnh củađất nước, sự tồn vong của dân tộc luôn được đặt lên hết thảy Đó cũng là lý dotrong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mọi người Việt Nam từ hậu phương tớitiền tuyến đều nhận rõ vai trò và trách nhiệm của mình, đặt sang một bên quyền

Trang 2

lợi riêng, lấy lợi ích và quyền dân tộc làm mục đích sống, phương châm chiếnđấu Thế hệ cha anh của chúng ta đã hy sinh cho sự nghiệp giữ gìn và bảo vệtoàn vẹn lãnh thổ , để chúng ta có được cuộc sống hòa bình ấm no Vì vậy, mỗingười con của đất nước phải luôn nhớ về và biết ơn lớp thế hệ cha anh đi trước,đồng thời phải trau dồi cho mình không chỉ là kiến thức thời đại mà cần phảihiểu biết về lịch sử dân tộc theo tinh thần:

“Dân ta phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Để từ đó phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc điều chỉnhhoàn thiện bản thân, góp sức mình vào công cuộc xây dựng quê hương đất nướcngày càng giàu đẹp

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về tinh thần đoàn kết của nhân dân hai miềnNam Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước (1954 – 1975)

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận khi thực hiện đề tài là dựa trên cơ sở lý luận của chủnghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng CộngSản Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: bao gồm phương pháp lịch sử và phươngpháp logic Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp liên ngành: điều tra xã hội

Trang 3

học, điền dã dân tộc học, phỏng vấn báo chí… nhằm đảm bảo tính khoa học củaquá trình phân tích, lí giải các sự kiện

4 Đóng góp của luận văn

Luận văn đem đến một bức tranh toàn cảnh về tinh thần đoàn kết củanhân dân hai miền Nam Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thống nhất TổQuốc (1954- 1975) Trên cơ sở phân tích những hoạt động xây dựng, hỗ trợ, kếthợp chiến đấu của nhân dân hai miền để đánh giá tầm quan trọng và yếu tốkhông thể thiếu của tinh thần đoàn kết toàn dân trong bất kỳ cuộc kháng chiếngiải phóng của dân tộc nào Luận văn là nguồn tham khảo tốt cho công việc tìmhiểu về cội nguồn, về lịch sử dân tộc, về những nhân tố làm nên thắng lợi củacuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước

5 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dungchính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Biểu hiện của tinh thần đoàn kết của nhân dân hai miền Nam,Bắc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thống nhất Tổ Quốc (1954 –1975)

Chương 3: Tinh thần đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng đất nướchiện nay

Trang 4

NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận

1.1 Lịch sử nghiên cứu:

Đề tài tinh thần đoàn kết dân tộc không còn xa lạ, đó là chủ đề được nhiềunhà nghiên cứu dân tộc học lựa chọn vì tầm quan trọng cũng như sự ảnh hưởngcủa nó đối với sự tồn tại và phát triển của một dân tộc Từ xưa đến nay có rấtnhiều công trình nghiên cứu về tinh thần dân tộc được coi là tổng hợp tri thứccách mạng và hiểu biết của nhân loại như:

- Trong học thuyết lý luận chính trị của chủ nghĩa Mác – Lênin:

+ Trong quan niệm về tinh thần đoàn kết trên phạm vi rộng hơn đó là tinhthần đoàn kết các dân tộc bị áp bức bóc lột ở các nước thuộc địa

+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin coi cách mạng là sự nghiệp củaquần chúng Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quầnchúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiệnđược vai trò lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc; liên minh công nông là

cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng

- Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần đại đoàn kết dân tộc với quanđiểm:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”

- Hiện nay, có nhiều giáo sư, tiến sĩ, các nhà sử học đề cập và nghiên cứu

về tinh thần dân tộc ở nhiều khía cạnh Tiêu biểu có giáo sư Trần Lâm Biền khinói đến điểm mạnh-yếu của người Việt trên con đường hội nhập GS Trần LâmBiền cho rằng: “Tinh thần đoàn kết chính là sức mạnh lớn nhất của người Việt,giúp người Việt giữ và xây dựng đất nước bao đời nay…”

Trang 5

1.2 Một số khái niệm

1.2.1 Khái niệm Dân tộc:

Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trướckhi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấpđến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc

Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau,trong đó có hai nghĩa được dùng phỏ biến nhất

Một là: dân tộc chỉ mọt cộng đồngngười có mối liên hệ chặt chẽ, bềnvững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặcthù, Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của quốcgia- Quốc gia có nhiều dân tộc

Hai là: dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân mộtnước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ýthức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị,kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong cuộc suốtquá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Với nghĩa này, dân tộc là toàn

bộ nhân dân của quốc gia đó- Quốc gia dân tộc

1.2.2 Khái niệm Đoàn kết:

Đoàn kết là kết hợp các cá thể trong một khối chung, tập hợp nhữngngười có chung một mục đích thành một khối thống nhất, khăng khít với nhau

Có được sự kết hợp ấy ắt hẳn sẽ đạt được thắng lợi và cũng có thể gặt hái đượcnhiều thành công vang dội

Hay nói cách khác đoàn kết là tập hợp mọi người thành một khối thốngnhất gắn kết chặt chẽ với nhau không thể tách rời, cùng đồng lòng chung sức,

hỗ trợ nhau để giải quyết công việc

1.2.3 Khái niệm Đại đoàn kết dân tộc:

Quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc bao gồm:

- Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quyết định thànhcông của cách mạng

Trang 6

- Đại đoàn kết là mục tiêu, là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng.

- Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân

- Đại đoàn kết phải biến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vậtchất có tổ chức thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhấtdưới sự lãnh đạo của Đảng

1.3 Khái quát về đặc điểm và vai trò tình đoàn kết của nhân dân Việt Nam trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước

Đoàn kết dân tộc là truyền thống và di sản văn hóa quý báu của dân tộc ta,được hun đúc qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Nhờ truyềnthống đó mà dân tộc ta đã đánh thắng biết bao kẻ thù xâm lược, giữ vững độclập, chủ quyền, xây dựng đất nước ngày càng phát triển Sinh thời Chủ tịch HồChí Minh đã dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công,đại thành công” Đoàn kết là chìa khoá của thành công Có lần Người còn căndặn:“Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gìmạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân” Đoàn kết là truyền thống quý báungàn đời của dân tộc ta, là sức mạnh vô địch để dân tộc ta chiến đấu và chiếnthắng, vượt qua thách thức của lịch sử Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựngkhối đại đoàn kết dân tộc chính là xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân Chữ dânđược hiểu đó là đồng bào cả nước, đồng bào các thành phần dân tộc Việt Nam

dù ở bất cứ nơi nào trên trái đất này Đó là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là vấn

đề sinh tồn của dân tộc Chỉ có đoàn kết dân tộc mới tồn tại, nhân dân và chế độmới tồn tại

Kế thừa truyền thống quý báu đó, ngay từ khi thành lập, Đảng ta luônluôn coi trọng việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp,đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôngiáo, tạo nên sức mạnh vô địch đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân

ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng đấtnước Việt Nam ngày càng hùng cường, phát triển

Trang 7

Ngày nay, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn là nguồn lựcquan trọng nhất, mạnh mẽ nhất để Đảng ta, nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn,thử thách, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa,hội nhập quốc tế, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa

Trang 8

Chương 2: Biểu hiện của tinh thần đoàn kết của nhân dân hai miền Nam Bắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975)

2.1 Đặc điểm cách mạng hai miền Nam,Bắc trong nội dung đường lối kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975)

2.1.1 Trong giai đoạn 1954 – 1964

 Bối cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam sau tháng 7–1954

Sau Hội nghị Giơnevơ, cách mạng Việt Nam vừa có những thuận lợi mới,vừa đứng trước nhiều khó khăn, phức tạp

Thuận lợi: Hệ thống của xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế,

quân sự, khoa học – kỹ thuật, nhất là Liên Xô; Phong trào giải phóng dân tộctiếp tục phát triển ở châu Á, châu Phi và khu vực Mĩ latinh; phong trào hòa bình,dân chủ lên cao ở các nước tư bả chủ nghĩa; miền Bắc được hoàn toàn giảiphóng, làm căn cứ địa vững chắc cho cả nước, thế và lực của cách mạng đã lớnmạnh sau hơn chín năm kháng chiến có ý chí độc lập thống nhất Tổ quốc củanhân dân từ Bắc chí Nam

Khó khăn: Đế Quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, âm mưu

làm bá chủ thế giới với các chiến lược toàn cầu phản Cách mạng; thế giới bướcvào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và

tư bản chủ nghĩa; xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất làLiên Xô và Trung Quốc; đất nước ta bị chia làm hai miền, kinh tế miền Bắcnghèo nàn lạc hậu, miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ và Đế quốc

Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta

Một Đảng lãnh đạo hai cuộc cách mạng khác nhau, ở hai miền đất nước

có chế độ chính trị khác nhau là đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt NamViệt Nam sau tháng 7 – 1954 Đặc điểm bao trùm và các thuận lợi, khó khănnêu trên là cơ sở để Đảng ta phân tích hoạch định đường lối chiến lược chungcho cách mạng cả nước trong giai đoạn mới

Trang 9

 Nội dung đường lối:

Quá trình đề ra và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương chính làquá trình hình thành đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước, đượchoàn chỉnh tại Đại hội III của Đảng

Đại hội lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến ngày10- 9-1960 Đại hội đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạngViệt Nam trong giai đoạn mới Cụ thể là:

Nhiệm vụ chung: “Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranhgiữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thờiđẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thốngnhất nước nhà trên cơ sở độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phầntăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới”

Nhiệm vụ chiến lược: “Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại cóhai nhiệm vụ chiến lược Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miềnBắc Hai là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của chủ nghĩa Đế quốc Mỹ

và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoạt thành độc lập và dân tộc dânchủ trong cả nước” “ Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và nhiệm vụ cách mạng

ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyêt yêucầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt Hai nhiệm

vụ đó lại nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta và đếquốc Mỹ và bọn tay sai của chúng, thực hiện mục tiêu trước mắt là hòa bìnhthống nhất Tổ quốc”

Mối quan hệ của cách mạng hai miền: Do cùng thực hiện một mục tiêuchung nên “hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tácdụng thúc đẩy lẫn nhau”

Vai trò nhiệm vụ của cách mạng mỗi miền đối với cách mạng cả nước:Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng tiềm lực và bảo

vệ căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cảnước đi lên chủ nghĩa xã hôi về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất đối với sự

Trang 10

phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhấtnước nhà Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyếtđịnh trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của Đếquốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thànhcách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước

Con đường thống nhất đất nước: Trong khi tiến hành đồng thời hai chiếnlược cách mạng, Đảng kiên trì con đường hòa bình thống nhất gtheo tinh thầnHiệp nghị Giơnevơ, sẵn sàng thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử hòa bìnhthống nhất Việt Nam, vì đó là con đường tránh được sự hao tổn xương máu chodân tộc ta và phù hợp với xu hướng chung của thế giới “ Nhưng chúng ta phảiluôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi tình thế Nếu Đế quốc

Mỹ và bọn tay sai của chúng liều lĩnh gây ra chiến tranh hòng xâm lược miềnBắc, thì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng dậy đánh bại chúng hoàn thànhđộc lập và thống nhất Tổ quốc”

Triển vọng của cách mạng Việt Nam: Cuộc đấu tranh nhằm thực hiệnthống nhất nước nhà là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổphức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng ở miền Nam.Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về nhân dân ta, Nam Bắc nhất định sumhọp một nhà, cả nước sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội

2.1.2 Trong giai đoạn 1965-1975

Thuận lợi: Khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cách

mạng thế giới đang ở thế tiến công Ở miền Bắc, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đã

Trang 11

đạt và vượt các mục tiêu về kinh tế, văn hóa Sự chi viện sức người sức của củamiền Bắc cho cách mạng miền Nam được đẩy

Ở miền Nam, vượt qua những khó khăn trong những năm 1962-1962, từnăm 1963, cuộc đấu tranh của quân dân ta đã có bước phát triển mới Ba “chỗdựa” của “chiến lược chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ được triển khai đếnmức cao nhất đã cơ bản bị phá sản

Khó khăn: Sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc càng trở nên gay gắt

và không có lợi cho cách mạng Việt Nam Việc đế quốc Mỹ mở rộng “cuộcchiến tranh cục bộ”, ồ ạt đưa quân đội viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu vàotrực tiếp xâm lược miền Nam đã làm cho tương quan lực lượng trở nên bất lợicho ta

Tình hình đó đặt ra yêu cầu mới cho Đảng ta trong việc xác định quyếttâm và đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhằm đánh thắng giặc

Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

 Nội dung đường lối:

Trước hành động gây “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam tiến hành chiếntranh phá hoại ra miền Bắc của Đế quốc Mỹ, Hội nghị Trung ương lần thứ 11(tháng 3-1965)và lần thứ 12 (tháng 12-1965) đã tập trung đánh giá tình hình và

đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên cả nước

Về nhận định tình hình và chủ trương chiến lược: Trung ương Đảng cho

rằng, cuộc “chiến tranh cục bộ” mà Mỹ đang tiến hành ở miền Nam vẫn là mộtcuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới, buộc phải thực thi trong thế thua, thếthất bại và bị động, cho nên nó chứa đựng đầy mâu thuẫn về chiến lược từ sựphân tích và nhận định đó, Trung ương Đảng quyết định phát động cuộc khángchiến chống Mỹ cứu nước, trong toàn quốc, coi chống Mỹ, cứu nước là nhiệm

vu thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc

Quyết tâm và mục tiêu chiến lược: Nêu cao khẩu hiệu “quyết tâm đánh

thắng giặc Mỹ xâm lược”, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của

Đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền

Trang 12

Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước tiến tớthực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”

Phương châm chỉ đạo chiến lược: Tiếp tục và đẩy mạnh cuộc chiến tranh

nhân dân chống chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam, đồng thời phát độngchiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc; thực hiệnkháng chiến lâu dài, dựa vào sức mình là chính, càng đánh càng mạnh và cốgắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng của cả hai miền để mở cuộc tiến cônglớn, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắntrên chiến trường miền Nam

Tư tưởng chỉ đạo và phương châm đấu tranh ở miền Nam: Giữ vững vàphát triển thế tiến công, kiên quyết tiến công và liên tục tiên công: “tiếp tục kiêntrì phương châm đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, triệt để vậndụng ba mũi giáp công”, đánh địch trên cả ba vùng chiến lược Trong giai đoạnhiện nay, đấu tranh quân sự có tác dụng quyết định trực tiếp và giữ một vị tríngày càng quan trọng

Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc: Chuyển hướng xây dựng kinh tế, bảo

đảm tiếp tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng trongđiều kiện có chiến tranh, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranhphá hoại của đế quốc Mỹ để bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, độngviên sức người sức của ở mức cao nhất để chi viện cho cuộc chiến tranh giảiphóng miền Nam, đồng thời tích cực chuẩn bị đề phòng để đánh bại địch trongtrường hợp chúng liều lĩnh mở rộng “chiến tranh cục bộ” ra cả nước

Nhiệm vụ và mối quan hệ giữa cuộc chiến đấu ở hai miền: Trong cuộc

chiến tranh chống Mỹ của nhân dân cả nước, miền Nam là tiền tuyến lớn, miềnBắc là hậu phương lớn Bảo vệ miền Bắc là nhiệm vụ của cả nước, vì miền Bắc

xã hội chủ nghĩa là hậu phương vững chắc trong cuộc chiến tranh chống Mỹ.Phải đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ ở miền Bắc và ra sứctăng cường lực lượng miền Bắc về mọi mặt nhằm bảo đảm chi viện đắc lực chomiền Nam càng đánh càng mạnh Hai nhiệm vụ trên đây không tách rời nhau,

Trang 13

mà mật thiết găn bó với nhau Khẩu hiệu chung của nhân dân cả nước lúc này là

“tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”

2.2 Thực hiện đường lối của Đảng, tinh thần đoàn kết được phát huy cao độ trong thực tiễn đấu tranh.

Việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước là sự tiếp nối đường lối đoàn kết dân tộc của Đảng ta trongcuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; mà theo đó, tư tưởng “Đoàn kết, đoànkết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” của lãnh tụ Hồ ChíMinh đã được vận dụng một cách sáng tạo, với nhiều hình thức phong phú, vàođiều kiện lịch sử mới - điều kiện đất nước tạm thời bị chia làm hai miền, cả nướcđồng thời thực hiện hai chiến lược cách mạng, dưới sự lãnh đạo của một Đảng

2.2.1 Ở miền Bắc

Trên miền Bắc, trong điều kiện mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đượcthành lập để tăng cường củng cố khối thống nhất nhân dân, thực hiện nhiệm vụvừa xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vừa thực hiện nghĩa vụ hậuphương lớn chi viện cho chiến trường miền Nam, vừa chiến đấu Trong quátrình hoạt động, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thực sự phát huy được sức mạnhmới của toàn dân, của cả dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc,đồng thời phát huy vai trò quyết định của hậu phương chiến lược đối với côngcuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Nhận xét về công tác tổ chức,động viên đoàn kết trên miền Bắc, nhà sử học Mỹ Gabriel Kolko đã viết:

“Đường lối quần chúng và sự động viên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tỏ ra

là một phương pháp rất có hiệu quả và nếu không làm được như vậy thì sự sốngcòn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ bị nguy hại hay ít ra sẽ không đủ khảnăng để duy trì cuộc chiến tranh ở miền Nam”

Phát huy vai trò của hậu phương miền Bắc trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước, với đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.Dựa trên nền tảng chế độ xã hội mới được xây dựng trong 10 năm hòa bình(1954 1964), được củng cốvà bảo vệ vững chắc trong hai cuộc chống chiến

Trang 14

tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, Đảng và Nhà nước đã ban hành vàthực hiện nhiều biện pháp nhằm làm cho miền Bắc phát huy đầy đủ, liên tục vaitrò,tác dụng có ý nghĩa quyết định đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Trên nền tảng của chế độ xã hội mới, giải quyết mối quan hệ giữa chiếnđấu và sản xuất, giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài, Đảng, Nhà nước

đã đề ra và thực hiện có hiệu quả chính sách động viên sức người, sức của chochiến trường phù hợp với điều kiện thực tế của từng thời kỳ, từng địaphương.Đồng thời với công tác động viên, Đảng, Nhà nước còn thường xuyênquan tâm và đề ra những biện pháp nhằm bồi dưỡng sức dân Trong những nămchiến tranh, Đảng, Nhà nước chỉ đạo các cấp, các ngành, kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước,địa phương không ngừng củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuấtmới, đặc biệt là củng cố các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Hệ thống hợp tác

xã sản xuất nông nghiệp được củng cố đã cho phép hậu phương miền Bắc độngviên cao độ sức người, sức của phục vụ kháng chiến

Nông dân miền Bắc đẩy mạnh sản xuất, thực hiện các biện pháp thâm canh, tăng vụ nhằm tăng nhanh sản lượng lương thực, đáp ứng chi viện cho

chiến trường miền Nam

Trang 15

Ở miền Bắc, suốt mấy chục năm, khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả

vì miền Nam ruột thịt” đã ăn sâu vào máu thịt, thôi thúc toàn dân vừa sản xuấtvừa chiến đấu Là công nhân hay nông dân, là trí thức hay thợ thủ công, là namgiới hay phụ nữ, là người cao tuổi hay là học sinh đang học tập dưới mái trườngXHCN… mọi người đều nhận thức cụ thể, nghiêm túc về trách nhiệm và nghĩa

vụ Các phong trào “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang”, “Ruộngđất là chiến trường, nhà nông là chiến sĩ” đã trở thành biểu tượng cho ý chí củamiền Bắc xã hội chủ nghĩa Dù đời sống vật chất còn rất nhiều thiếu thốn, nhưng

từ nhà máy, công trường tới ruộng đồng, mọi người đều cố gắng thi đua lậpthành tích trong sản xuất để chi viện miền Nam Cũng từ miền Bắc, hàng vạn,hàng vạn thanh niên ưu tú được giáo dục, đào tạo theo phương châm “vừa hồng,vừa chuyên” đã tiếp bước cha anh lên đường vào chiến trường, như câu thơ TốHữu từng viết: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/Mà lòng phơi phới dậy tươnglai” Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, miền Bắc trở thành chiến trường ácliệt Dưới mưa bom bão đạn, nhân dân miền Bắc vẫn sản xuất và chiến đấu nêucao khẩu hiệu “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người Vì miềnNam ruột thịt, miền Bắc làm việc bằng hai” Với ý chí và nghị lực ấy, quân vàdân miền Bắc vừa làm nên những “cánh đồng năm tấn” vừa bắn rơi hàng nghìnmáy bay của không quân Mỹ, bắt sống hàng trăm giặc lái, làm nên những kỳtích mà trận “Ðiện Biên Phủ trên không” là ví dụ điển hình cho nghị lực, quyếttâm của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Bắc, đáp ứng đòi hỏi ngày càng caocủa chiến trường

Tại hậu phương miền Bắc, dựa vào tính ưu việt của chế độ xã hội mới,Đảng, Nhà nước ban hành và tổ chức các chính sách kinh tế, văn hóa xã hội,chính sách phân phối thu nhập, chế độ tiền lương, chính sách thuế theo địnhhướng bảo đảm duy trì và ổn định đời sống nhân dân trong chiến tranh Ngoài

ra, việc học hành, chữa bệnh cũng được Nhà nước bao cấp phần lớn Trong điềukiện chiến tranh ác liệt, chi viện cho chiến trường ngày càng tăng, việc thực hiệnchính sách phân phối thu nhập quốc dân, bảo đảm định lượng cho mọi người

Trang 16

dân, ổn định được đời sống nhân dân là cố gắng to lớn của Đảng và Nhà nước

ta Nhằm bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, chính quyền các cấp luônluôn chú trọng công tác sơ tán, phòng tránh, vận động và tổ chức toàn dân làmnhiệm vụ phòng không nhân dân Nhờ thế, dù chiến tranh kéo dài và ngày càng

ác liệt nhưng miền Bắc đã hạn chế được tối đa những tổn thất về người và cơ sởvật chất trước sự đánh phá của không quân và hải quân Mỹ Nhìn chung, suốtnhững năm chiến tranh, đặc biệt là trong hai cuộc chống chiến tranh phá hoại lầnthứ nhất và lần thứ hai của không quân, hải quân Mỹ, Đảng và Nhà nước đã đề

ra và vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, biện pháp nhằm xây dựng vàbảo vệ vững chắc miền Bắc, từ đó phát huy vai trò, tác dụng của hậu phương lớnđối với tiền tuyến lớn một cách mạnh mẽ, liên tục

Ngay sau Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 khóa III, miền Bắc bắt đầu

tổ chức chi viện sức người, sức của cho miền Nam, cho cách mạng Lào và sau

đó là cách mạng Campuchia Sự chi viện đó ngày càng tăng, đáp ứng đòi hỏingày càng cao của chiến trường Nếu như năm 1959, miền Bắc mới chỉ chi việncho miền Nam 542 người thì đến năm 1964, con số đó tăng lên 17.475 người.Trong thời gian diễn ra những cuộc tiến công chiến lược (1968, 1972, 1975),nhân lực động viên từ miền Bắc phục vụ nhu cầu chiến tranh tăng lên gấp từ 4đến 5 lần so với trước đó Không tính số quân bảo vệ miền Bắc, làm nhiệm vụ

dự bị chiến lược và chiến đấu, công tác trên tuyến vận tải chiến lược 559, chỉriêng số quân từ miền Bắc vào chiến trường ở miền Nam trong những năm kểtrên như sau: năm 1968: 141.081 người; năm 1972: 152.974 người; năm 1975:117.193 người Năm 1975, năm cuối của cuộc kháng chiến, tổng số nhân lựcmiền Bắc động viên theo nhu cầu quốc phòng chiếm tới 30% lực lượng lao động

xã hội ở miền Bắc; 60 65% trong số đó vào lực lượng vũ trang Giai đoạn 1973

1975, 50% số quân bộ đội tập trung ở miền Nam là lực lượng do miền Bắc tăngcường Ngoài lực lượng trực tiếp chiến đấu, các lực lượng vận tải, bảo đảm giaothông, mở đường và các lực lượng bảo đảm khác bao gồm hàng triệu lượtngười cũng đều được động viên ở miền Bắc Đại bộ phận lực lượng được động

Trang 17

viên phục vụ nhu cầu chiến tranh thời kỳ này là thanh niên Đó là những ngườitrưởng thành trong chế độ xã hội mới, dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, có giácngộ chính trị cao, có trình độ văn hóa, phẩm chất đạo đức, và sức khỏe tốt Dovậy, đây là lớp người có trình độ, nắm vững và sử dụng thành thạo hiệu quả cácloại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, là lớp người với tinh thần chiến đấu vớiniềm tin và ý thức giác ngộ chính trị cao Không những huy động lực lượng conngười cho chiến trường mà phần lớn vũ khí, thiết bị chiến tranh, lương thực,thuốc men phục vụ công tác chiến đấu và ổn định vùng giải phóng ở miềnNam và chiến trường Đông Dương đều do miền Bắc trực tiếp chi viện.

Thanh niên miền Bắc hăng hái lên đường vào miền Nam chiến đấu,

năm 1968

Miền Bắc đã tiếp nhận hàng triệu tấn vật chất, phương tiện kỹ thuật docác nước anh em viện trợ, tổ chức nghiên cứu, thiết kế, cải biên, cải tiến nhiềuloại vũ khí, khí tài chiến đấu, vận chuyển vượt hàng nghìn kilômét dưới bomđạn đánh phá của địch, đưa các loại vật chất, hàng hóa quân sự vào các mặt trận,các vùng giải phóng

Trang 18

Đoàn xe vận tải 238 vận chuyển hàng hóa cho chiến dịch Tây Nguyên

Trong những năm 1965 đến năm 1968, miền Bắc đã tổ chức vận chuyểnvào miền Nam một khối lượng vật chất lớn gấp 10 lần so với những năm 1961

1964 Tổng khối lượng vật chất miền Bắc chi viện cho miền Nam trong nhữngnăm chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” còn tăng gấp nhiều lần so vớithời kỳ chiến lược “Chiến tranh cục bộ”

Như vậy, nhân lực và vật chất hai nhân tố chiến lược quan trọng trongchiến tranh đã được hậu phương miền Bắc đáp ứng kịp thời, đầy đủ, liên tục vàngày càng cao Quân và dân hậu phương miền Bắc đã góp phần rất quan trọngcùng tiền tuyến lớn miền Nam đánh bại các bước leo thang chiến tranh củakhông quân, hải quân Mỹ, làm thất bại các mục tiêu chiến lược chủ yếu củacuộc chiến tranh này, đập tan mưuđồ xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.Thành quả của công cuộc xây dựng miền Bắc, sự ổn định của miền Bắc trongnhững năm chống chiến tranh phá hoại, sự phục hồi nhanh của lực lượng cáchmạng miền Nam sau năm 1972 là một trong những cơ sở để Đảng ta đề ra chủtrương chiến lược giải phóng miền Nam, hoàn thành độc lập dân chủ trong hainăm 1975 1976 Nhằm động viên cao độ sức mạnh toàn diện của miền Bắc chocuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, trong hai năm 1973 1974, hơn

25 vạn thanh niên miền Bắc được động viên vào lực lượng vũ trang, 15 vạn

Trang 19

quân từ biệt hậu phương vào chiến trường chiến đấu, hàng vạn cán bộ, nhân viên

kỹ thuật, thanh niên xung phong miền Bắc tới các vùng giải phóng, góp phần ổnđịnh tình hình Lực lượng công binh, Bộ đội Đoàn 559, ngành vận tải miền Bắccùng hàng vạn dân công miền Bắc dồn sức mở rộng đường Trường Sơn, đặtthêm đường ống dẫn dầu Trong hai năm này, 379.000 tấn vật chất từ miền Bắcđược chuyển vào các mặt trận, bằng 54% tổng khối lượng vật chất giao chochiến trường trong suốt 16 năm trước đó Được sự chi viện mạnh mẽ của miềnBắc, thế và lực của cách mạng miền Nam trở nên mạnh mẽ hơn Trên miền Bắc,các lực lượng dự bị chiến lược được tăng cường, các quân đoàn chủ lực gồmnhiều binh chủng hợp thành lần lượt ra đời Các quân binh chủng cũng xây dựngtăng cường thêm nhiều đơn vị mới Toàn bộ tình hình trên đây là cơ sở để Trungương Đảng và Bộ Chính trị đi đến quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toànmiền Nam trong năm 1975 Thực hiện quyết tâm đó, 4 tháng đầu năm 1975,miền Bắc đưa nhanh vào miền Nam hơn 110.000 cán bộ, chiến sĩ, 230.000 tấnvật chất hàng hóa các loại Như vậy, vào giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, miềnBắc đã dốc toàn bộ sức mạnh của mình cho miền Nam mở cuộc Tổng tiến công

và nổi dậy mùa Xuân 1975 giành thắng lợi hoàn toàn

Sau ngày miền Nam giải phóng, với những kinh nghiệm tiếp quản thànhthị và vùng bị địch chiếm đóng những năm 1954 1955, đội ngũ cán bộ, đảngviên, nhân viên kỹ thuật từ miền Bắc đưa vào đóng vai trò quan trọng trong việctiếp quản các đô thị và vùng mới giải phóng; góp phần thắng lợi nhanh chóng ổnđịnh tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội miền Nam Nhờ có tinh thầnyêu nước nồng nàn và đường lối tập hợp, đoàn kết toàn dân đúng đắn, sáng tạocủa Đảng ta đã tạo nên sức mạnh to lớn, góp phần quyết định đánh thắng đốiphương có sức mạnh của một siêu cường hàng đầu thế giới

2.2.2 Ở miền Nam

Tại miền Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra vô cùng ácliệt Từ phong trào đấu tranh cách mạng của quân và dân miền Nam Thànhđồng, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập

Ngày đăng: 25/07/2021, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w