Hồ Chí Minh rấtkhâm phục tinh thần yêu nước của những người đi trước, nhưng Người không tán thành con đường cứu nước của các vị ấy, mà quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mớị Ra n
Trang 1Câu 1: tại sao trong quá trình tìm đường cứu nước NAQ lại chọn con đường cách mạng vô sản
1 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con
đường cách mạng vô sản
- Thất bại của các phong trào yêu nước ở nước ta cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX là do chưa có đường lối và phương pháp đúng đắn Hồ Chí Minh rấtkhâm phục tinh thần yêu nước của những người đi trước, nhưng Người không tán thành con đường cứu nước của các vị ấy, mà quyết tâm ra đi tìm một con đường cứu nước mớị Ra nước ngoài tìm hiểu các cuộc cách mạng
tư sản lớn trên thế giới như: cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, tuy đã giành thắng lợi hơn 150 năm nay mà nhân dân lao động vẫn khổ và họ đang muốn làm cách mạng lần nữạ Nhận thức được rằng, cách mạng tư sản chỉ thay thế chế độ bóc lột này bằng chế chế độ bóc lột khác tinh vi hơn chứ không xóa bỏ được áp bức bóc lột, vì thế Người cho rằng đó là những cuộccách mạng không đến nơi, không triệt để Do đó, cứu nước theo ngọn cờ của giai cấp tư sản không phải là lối thoát cho dân tộc
- Từ khi đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin (7-1920), Hồ Chí Minh đã tìm thấy một con đường cứu nước mới: Con đường cách mạng vô sản Người đã khẳng định: "Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác, con đường cách mạng vô sản"
2 Các mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạọ
- Nguyễn ái Quốc đã khẳng định : "Đảng có vững cách mệnh mới thành công,cũng như người cầm có lái có vững thì thuyền mới chạy Đảng
muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩanhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất làchủ nghĩa Lênin"
- Thực tế đã chứng minh : Từ khi ra đời đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam
đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
3 Lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc
- Cách mạng giải phóng dân tộc như Nguyễn ái Quốc xác định đó là "việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc một hai người", vì vậy phải
Trang 2đoàn kết toàn dân
- Bên cạnh đó Người cũng nhấn mạnh sự đoàn kết toàn dân phải dựa trên đoàn kết là liên minh công-nông Bởi theo người : "Công nông là người chủ cách mệnh Công nông là gốc cách mệnh"
- Trên cơ sở đó, Người đã chủ trương vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân trong một mặt trận dân tộc thống nhất nhằm huy động sức mạnh của toàn dân tộc, đấu tranh giành độc lập, tự dọ
4 Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và
có khả năng giành thắng lợi trứơc cách mạng vô sản ở chính quốc
- Quan điểm của Quốc tế Cộng sản cho rằng: " Chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tiên tiến"
- Vận dụng đường lối của Quốc tế Cộng sản vào điều kiện các nước thuộc địa, Nguyễn ái Quốc đã kết luận : "sự giải phóng của giai cấp công nhân phải là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân"
- Do đánh giá đúng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, Nguyễn ái Quốc đã dự báo : Cách mạng thuộc địa không cần thụ động chờ đợi mà có thể nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc, đồng thời tác động trở lại cách mạng chính quốc
- Đây là một luận điểm sáng tạo và có giá trị lí luận và thực tiễn to lớn, mộtcống hiến quan trọng vào kho tàng lí luận của CN Mác -Lênin Luận điểm này đã được lịch sử cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn
5 Cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo lực
- Đánh giá đúng bản chất của chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh đã xác định:
" Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền"
- Hình thức của bạo lực cách mạng bao gồm cả đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: " tùy tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức đấu tranh cách mạng thích hợp, sử dụng đúng và khéo kết hợp các hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị để giành thắng lợi cho cách mạng"
- Tuy nhiên, việc tiến hành chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc khi không
Trang 3còn khả năng hòa hoãn thì Hồ Chí Minh mới quyết định phát động chiến tranh
Trong kháng chiến chống Pháp, Người đã bày tỏ quan điểm: " Chúng tôi mong đợi ở Chính phủ và nhân dân Pháp một cử chỉ mang lại hòa bình Nếu không, chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu đến cùng để giải phóng hoàntoàn đất nước" Hay trong kháng chiến chống Mỹ, Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thông điệp cho các nhà cầm quyền Mỹ đề nghị đàm phán hòa bình
để kết thúc chiến tranh
- Tư tưởng bạo lực cách mạng và tư tưởng nhân đạo thống nhất biện chứngvới nhau trong tư tưởng Hồ Chí Minh Người luôn tranh thủ mọi khả năng hòa bình để giải quyết xung đột, nhưng một khi không thể tránh khỏi chiến tranh thì phải dùng bạo lực cách mạng để bảo vệ độc lập, tự do
Trong những thập niên đầu của thế kỷ 20, cả dân tộc đang bị đoạ đày đaukhổ dưới ách thống trị của thực dân Pháp và tay sai, với tấm lòng yêu nướcthiết tha Người đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng cho dân tộc khỏi
áp bức bóc lột và Người đã tìm được con đường cứu nước là con đường cách mạng vô sản Người nhận thấy “ Chỉ có Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức, những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” Việc lựa chọn con đường Xã hội chủnghĩa là một phát hiện thiên tài và là cống hiến to lớn của Người đối với cách mạng Việt Nam Vậy cơ sở nào để Hồ Chí Minh lựa chọn mục tiêu Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam ?
Cơ sở lý luận để Hồ Chí Minh lựa chọn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin Đó là vũ khí tư tưởng và lý luận cách mạng khoa học của thời đại đã giúp cho Hồ Chí Minh lựa chọn con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Ra đời vào giữa thế kỷ 19, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đáp ứng được yêu cầu bức thiết giữa lúc phong trào chủ nghĩa quốc tế đang khủng hoảng đường lối, đã trở thành lý luận soi đường và phương pháp đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản Sự ra đời của nhà nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới sau cách mạng tháng 10 Nga 1917, là thực tiễn sinh động chứng minh bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin , chứng minh sự đúng đắn của con người chủ nghĩa vô sản, cách mạng tháng 10 Nga đã cổ
vũ cho các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh và ý nghĩa của nó đã được
Hồ Chí Minh đánh giá : “ Giống như mặt trời chói lọi, cách mạng tháng 10 chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu triệu người bị bóc lột trên
Trang 4trái đất Trong lịch sử loài người chưa có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa tolớn sâu xa như thế” Hồ chí Minh cũng đã lựa chọn đi theo con đường cáchmạng thế giới để giải phóng dân tộc và đi lên Chủ nghĩa xã hội Đó là sự lựa chọn đúng qui luật, phù hợp xu thế lịch sử Lý luận về Hình thái Kinh
tế – Xã hội của chủ nhiã Mác - Lênin đã chỉ rõ xã hội loài người phát triển theo xu hướng đi lên trải qua 5 hình thức kính tế xã hội mà hình thức kinh
tế xã hội sau cao hơn, tiến bộ hơn hình thức kinh tế xã hội trước nó Và thực tiễn, lịch sử cũng đã chứng minh loài người đã trải qua hình thức kinh
tế xã hội : Cộng sản nguyên thủy, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa và hiện nay đang là thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội Nếu chế độ tư bản chủ nghĩa tất yếu ra đời từ chế độ phong kiến thì chủ nghĩa
tư bản cũng sẽ xác lập các tiền đề kết quả để tự phủ định nó, và theo Hồ Chí Minh, logic tiến lên xã hội cho thấy đã đến lúc chủ nghĩa tư bản mở đường cho sự ra đời một chế độ xã hội mới là chế độ xã hội chủ nghĩa Tiến lên chủ nghĩa xã hội là qui luật vận động kết quả của lịch sử trên phạm vi toàn thế giới Chủ nghĩa Mác – Lênin sẽ là thứ vũ khí lý luận không gì thay thế được, là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam là mặt trời soisáng cho con đường cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng, đó là chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản Ở Hồ Chí Minh, Người tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin là tiếp thu những nguyên lý cơ bản, tiếp thu phương pháp biện chứng chứ không sao chép giáo điều Người vận dụng sáng tạo
lý luận về chủ nghĩa không ngừng vào cách mạng Việt Nam Người đã giảiquyết tốt mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp TheoNgười : “Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khắng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới Cách mạng giải phóng dân tộc phải tiến lên thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn” Như vậy, cách mạng giải phóng dân tộc không phải là mục đích cuối cùng mà nó chỉ là màn giáo đầu của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa và chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì mới thức
sự giải phóng được nhân dân lao động, mới đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho mọi người
Chủ nghĩa xã hội là ước mơ của nhân dân lao động trên toàn thế giới, nó đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa tư bản đầy máu và nước mắt Đó là máu vànước mắt của giai cấp vô sản, chính quốc và của nhân dân thuộc địa : Hồ Chí Minh đã nói : Chủ nghĩa đế quốc là con đỉa hai vòi, một vòi hút máu nhân dân lao động chính quốc, một vòi hút máu nhân dân thuộc địa Từ
Trang 5thực trạng xã hội Việt Nam đòi hỏi cách mạng Việt Nam phải giải quyết hai mâu thuẫn đó, phải giành độc lập – tự do, phải xoá bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột bất công, thiết lập một xã hội công bằng nhân ái Đây cũng là
cơ sở thực tiễn để Hồ Chí Minh lực chọn mục tiêu Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Bởi vì chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa mới xây dựng được một xãhội tốt đẹp mới giải quyết được hài hòa cả hai vấn đề của xã hội Việt Nam bấy giờ Một khía cạnh khác mà Hồ Chí Minh đã nhận thấy là sự cai trị dã man, những hình thức bóc lột tàn bạo của bọn thực dân đối với người bản
xứ đã làm cho tinh thần cách mạng thêm mãnh liệt, làm cho ý thức độc lập , tự chủ, tinh thần yêu nước càng trỗi dậy, ở các dân tộc Đông Dương Người đã kết luận : “ Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi” Đây là một luận điểm sáng tạo và hết sức quan trọng của Hồ Chí Minh Chủ nghĩa xã hội ra đời chính từ sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản Tại các nước thuộc điạ các hình thức bóc lột, nô dịch của bọnthống trị đã làm bộc lộ những khuyết tật phải nhân tính bẩm sinh không thểkhắc phục được chủ nghĩa tư bản Đó là cơ sở để người lao động ý thức, giác ngộ sứ mệnh lịch sử của mình trước vận mệnh quốc gia, dân tộc chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội có khả năng xóa bỏ mọi
xiềng xích, nô dịch, là một xã hội không có người bóc lột, Người đã trở thành ngọn cờ vẫy gọi các dân tộc thuộc điạ vùng dậy làm cách mạng giải phóng dân tộc để tiến lên chủ nghĩa xã hội
Như vậy, sự lựa chọn con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa là xuất phát
từ thực trạng xã hội Việt Nam, song bên cạnh đó, sự lựa chọn mục tiêu chủnghĩa xã hội còn xuất phát từ thực tiễn của các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới Trải qua bao năm bôn ba nước ngoài và khảo sát các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới như cách mạng tư sản Pháp 1789, cách mạng tư sản Mỹ 1776, Cách mạng tháng 10 Nga 1917 Người đã rút ra những kết luận quan trọng Người đã phát hiện ra rằng các cuộc cách mạng
tư sản như : cách mạng Pháp, Cách mạng Mỹ là những cuộc cách mạng không triệt để, tuy thành công nhưng không đến nơi đến chốn vì người lao động vẫn chưa hoàn toàn được giải phóng, xã hội còn đầy bất công Đảng viên Hồ Chí Minh cơ sở hàng đầu để đánh giá tính triệt để của một cuộc cách mạng là qui mô giải phóng nhân dân lao động bị áp bức Cách mạng dân chủ tư sản do bản chất của nó, chỉ là sự thay thế hình thức áp bức bóc lột khác và tại bộ phận người lao động vẫn sống cực khổ Dưới nhãn quan
Trang 6của Hồ Chí Minh chỉ có cách mạng tháng 10 Nga là triệt để là thành công đến nơi, nhân dân lao động đã được giải phóng và trở thành người chủ của
xã hội Người đã nhận định : “ Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam Cách mạngNga đã đuổi được vua, tư bản, điạ chủ, rồi lại ra sức cho công nông các nước và dân bị áp bức các thuộc điạ làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa, tư bản và thế giới” Từ đó mà Người đã lựa chọn con
đường cho cách mạng Việt Nam là đi theo cách mạng tháng 10
Chính vì vậy cũng có thể nói rằng: muốn đưa cách mạng Việt Nam tới chỗ thành công thì không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng
vô sản
Ngày nay trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Một là công cuộc đổimới hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn mãi sáng soi cho cả dân tộc đi đến mục tiêu mà Người đã lựa chọn cho nhân dân ta từ những năm 30 của thế kỷ 20 Đảng ta củng cố xác định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí MInh làm nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của Đảngvà cách mạng Việt nam Giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta phải kiên trì với mục tiêu đấu tranh dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội Đây là sự lựa chọn duy nhất đúng, là vấn đề có tính nguyên tắc Phải giữ vững định lý xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới, đổi mới để có chủ nghĩa xã hội và hơn chứ không phải để “ đổi màu” Trong sự nghiệp đổi mới, cần đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần quí báu của Đảng và dân tộc, tư tưởng đó luôn sống động mang tính khoa học và cách mạng cho nên cần được giữ gìn Mỗi cán bộ Đảng viên phải thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh và hành động theo tư tưởng của Người Mọi thắng lợi của cách mạngViệt Nam trong gần 80 năm qua không thể tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh
và ngày nay tư tưởng đó tiếp tục sáng soi cho toàn Đảng, toàn Dân trên chặng đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta, biến ước mơ cao đẹp “ xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” của Người sớm trở thành hiện
Trang 7Câu 2: Đường lối đối nội và đối ngoại của Đảng ta giai đoạn 1945 – 1946
a, Hoàn cảnh lịch sử
* Tình hình thế giới
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, các nước đế quốc xâm lược đã bị suy yếu nhiều về mọi mặt và đã không còn giữ vị trí ưu thế như trước Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xôđứng đầu ngày càng phát triển, phong trào dân tộc dân chủ nổ ra càng sôi nổi và quyết liệt, phong trào công nhân diễn ra ngày càng nhiều về số lượng và quy mô và giành được nhiều thắng lợi Sự thay đổi của thế giới sau Chiến tranh thế giới 2 có ảnh hưởng không nhỏ tới cách mạng Việt Nam
* Tình hình trong nước
- Thuận lợi:
Đảng cộng sản Việt Nam từ một Đảng chưa được nhiều nước công nhận và phải hoạt động bí mật đã trở thành một chính đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam
Nhân dân Việt Nam được giải phóng khỏi ách áp bức của thực dân Pháp và đã trở thành người làm chủ đất nước
Dân tộc Việt Nam từ một nước bị mất chủ quyền nay đã giành được lạiđất nước về tay minh
+ Giặc dốt: Chính sách ngu dân của thực dân làm cho hơn 90% số dân không biết chữ, hạn chế đi quyền làm chủ của người dân một nước độc lập.+ Giặc ngoại xâm: Ở miền Bắc, ngày 11 tháng 9 năm 1945 20 vạn quân tưởng dưới danh nghĩa là quân đồng minh đã đem quân vào phía Bắc Đông Dương cho đến vĩ tuyến 16 o , chúng gây ra nhiều khó khắn cho cách mạng
Trang 8Ở miền Nam, ngày 6 tháng 9 năm 1945 hơn 1 vạn quân Anh đóng quân ở phía Nam vĩ tuyến 16 lăm le hòng phá hoại cách mạng Việt Nam nhằm tạo điều kiện cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam Trên đất nước ta chưa bao giờ có nhiều kẻ thù xâm lược như vậy Bọn phản cách mạng làm tay sai cho đế quốc chống lại cách mạng Việt Nam.Tất cả những khó khăn chồng chất nói trên đã đặt cách mạng nước ta trong tình thế “ Tổ quốc lâm nguy, vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợitóc”
b, Chủ trương, biện pháp của Đảng
* Trước hoàn cảnh đó, Đảng đã đưa ra những biện pháp, chính sách sau:
- Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia Vì vậy, khẩu hiệu đấu tranh vẫn là “dân tộc trên hết, tổ quốc trên hết”
- Kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam lúc này vẫn là thực dân Pháp
- Nhiệm vụ chính của nhân dân ta lúc này là phải củng cố chính quyền,chống thực dân pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân
* Các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ trên:
Về đối nội
- Về kinh tế:
Tổ chức cứu đói, phòng nạn cho dân như tổ chức các quỹ cứu đói, phong trào trong trào trong nhân dân như : “Hũ gạo cứu đói”, phong trào
“ngày đồng tâm” để góp gạo cứu đói cho nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa góp một bữa một bỏ hũ gạo đem cứu đói cho dân nghèo”
Biện pháp cơ bản lâu dài là tăng gia sản xuất Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “Toàn dân tăng gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa” Đó là cách thiết thực của ta để giữ vững quyền tự do, độc lập.Một phong trào thi đua tăng gia sản xuất nữa dấy lên khắp các địa phương cả nước với khẩu hiệu “không một tấc đất bỏ hoang”, “tấc đất tấc vàng”
Ngày 7 tháng 9 năm 1945 Chính phủ cách mạng ra sắc lệnh sắc lệnh số
11 bãi bỏ các loại thuế của chế độ của và giảm tô 25 %
Trang 9Kết quả: nạn đói đã được đẩy lùi, vụ mùa năm 1946 ở Bắc bộ gieo cấy được hơn 8000 ha và sản lượng đạt 1.550.000 tấn Đời sống con người ngày càng được cải thiện
- Về tài chính
Ngày 4/9/1945 Chính phủ ra sắc lệnh số 4 về “quỹ độc lập” và “tuần lễvàng” nhằm động viên tinh thần tự nguyện đóng góp của cá nhân để giữ vững “nền độc lập cho tổ quốc”
Ngày 31/1/1946 Chính phủ ra sắc lệnh phát hành tiền vàng Việt Nam
và ngày 23/11/1946 Quốc hội quyết định lưu hành tiền giấy bạc Việt Nam Như vậy là những khó khăn về tài chính đã được khắc phục
- Về văn hoá – giáo dục
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “bình dân học vụ” nhằm xoá nạn mù chữ cho nhân dân Các trường học phát triển mạnh mẽ
và phương pháp giáo dục bắt đầu được đổi mới
Cuộc vận động đời sống mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng được mọi người dân hưởng ứng sôi nổi Cuộc vận động nhằm xây dựng đạo đức mới với nội dung “Cần, kiệm, liêm, chính” và bài trừ các tệ nạn ra khỏi đời sống xã hội
Ngày 9/11/1046 Hiến pháp đầu tiên của nước ta chính thức được công bố
Việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân được chú trọng khắp nơi trên đất nước, phong trào luyện tập quân sự, tìm kiếm vũ khí diễn ra sôi nổi
Bài trừ nội phản cách mạng được Đảng ta chú trọng với khẩu hiệu
“Đoàn kết chống thực dân Pháp phản đối chia rẽ, vạch mặt phá hoại của chúng”
Về đối ngoại
Đảng ta xác định nguyên tắc ngoại giao “bình đẳng tương trợ, thêm bạn bớt thù” Đối với quân đội Tưởng thực hiện chính sách “Hoa – Việt thân thiện”
Trang 10Trước ngày 6/3/1946 Đảng ta có sách lược hoà hoãn với Tưởng và tay sai ở miền Bắc tập trung lực lượng đối phó với thực dân Pháp ở miền Nam.Đối với Tưởng ta chủ trương đánh xung đột vũ trang, nhân nhượng chúng một số chính sách về kinh tế và chính trị như: nhận cung cấp phần lương thực, thực phẩm cho quân Tưởng, nhận tiêu tiền “quốc tế” và “quan kim” của Tưởng, nhường cho chúng 70 ghế trong quốc hội và 4 ghế quan trọng trong Chính phủ nước ta.
Ngày 28/2/1946 Pháp và Tưởng kí hiệp ước Hoa – Pháp Bản hiệp ước
đó có một số nội dung như: Pháp sẽ thay chân Tưởng giải giáp quân Nhật
ở miền Bắc Việt Nam Hiệp ước Hoa Pháp đặt nhân dân ta trước hai sự lựa chọn, một là cầm vũ khí chiến đấu chống thực dân Pháp, hai là hoà hoãn nhân nhượng Pháp để tránh tình trạng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, đẩy 20 vạn quân Tưởng tranh thủ thời gian hoà hoãn và tiếp tục củng
cố lực lượng để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài
Sau nhiều cuộc họp, Đảng ta và Hồ Chủ tịch đã chọn giải pháp thứ hai.Ngày 6/3/1946, Chính phủ đã kí với Pháp Hiệp định sơ bộ với nội dung chính đó là Chính phủ nước ta sẽ nhượng bộ cho Pháp một số điều khoản
để đuổi quân Tưởng, tập trung lực lượng chờ thời cơ đánh đuổi thực dân Pháp
Sau khi kí với Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6/3, thực dân Pháp đã khôngthực hiện những gì đã cam kết trong Hiếp định, trái lại chúng đã khiêu khích và nổ súng ở một số nơi ở miền Nam nước ta Trước tình hình đó, ngày 19/12/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
Thực tiễn đã chứng minh đường lối đối nội và đối ngoại của Đảng và Chính phủ là đúng đắn Về đường lối đối nội đã có những chiến lược toàn diện trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng Đối với các thế lực thù địch chúng ta thực hiện sách lược mềmdẻo, lợi dụng mâu thuẫn để phân hoá chúng, nhằm tạo thêm thời gian để củng cố lực lượng chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài Với đường lối chính trị sáng suốt vừa cứng rắn về nguyên tắc vừa mềm dẻo về sách lược Đảng ta đã động viên được sức mạnh đoàn kết dân tộc vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để giữ vững nền chính quyền vừa mới thành lập đang còn non trẻ
Câu 3: Đánh giá của anh (chị) về sự kiện chia tách Đảng
Trang 11* Hoàn cảnh lịch sử
- Tình hình thế giới
Sự ra đời và phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa đã chiếm 1/3 dân
số và ¼ đất đai trên thế giới Điều đó đã tạo ra một lợi thế vững chắc, một lực lượng hùng hậu làm chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới, trong đó có Việt Nam
- Tình hình trong nước
Sau cách mạng tháng tám năm 1945, Nhà nước cộng hoà dân chủ Việt Nam ra đời, Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Yêu cầu mới của cuộc kháng chiến đặt ra cho Đảng ta
nhiệm vụ nặng nề, đòi hỏi Đảng ta phải trở lại hoạt động công khai để đẩy cuộc kháng chiến của ta nhanh đi đến thắng lợi
Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng Cộng sản Đông Dương được triệu tập tạo xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang từ ngày 11 đến ngày 29 tháng 2 năm 1951 Tham
dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết đại diện cho 776.349 đảng viên trên khắp đất nước
* Nội dung chia tách Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng đã quyết định tách ra Đảng bộ ở ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia để lập ra ở mỗi nước một Đảng cách mạng riêng có Cương lĩnh và đường lối cách mạng riêng thích hợp với đặc điểm phát triển của từng dân tộc
* Đánh giá về việc chia tách Đảng
Đại hội lần thứ hai của Đảng thành công đánh dấu bước trưởng thành của Đảng Việc chia đảng là một sự kiện trọng đại thể hiện tầm nhìn của Đảng trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam
Trong sự phát triển chung của cách mạng thế giới, việc gộp ba đảng là một để tiến hành cách mạng ở ba nước Đông Dương là không còn phù hợp với tình hình thực tế lịch sử khi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức ra được mỗi nước, mỗi dân tộc có những thời cơ khác nhau trong công cuộc cách mạng
Có nhiều ý kiến khi Hồ Chí Minh cùng Đảng ta quyết định tách đảng ởmỗi nước như nói Người và Đảng ta ích kỷ, chỉ biết cho lợi ích của giai cấp, dân tộc mình, điều đó là hoàn toàn trái với ý chí và nguyện vọng của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh Việc tách đảng tạo nên cho mỗi nước tự
Trang 12quyết định lấy số phận đất nước của mình khi có những cơ hội hay thách thức đặt ra.
Đảng Lao động Việt Nam sau khi được lấy tên sau Đại hội II thực sự
đã ngẩng cao đầu như tuyên bố trước toàn thể nhân dân Việt Nam và
những người cộng sản trên toàn thế giới và công khai hoạt động và mục đích chiến đấu của mình là bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Việc quyết định chia tách Đảng có ý nghĩa to lớn đối với lịch sử nước
ta, nó thể hiện rõ sự kết hợp giữa trí tuệ của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo với thực tiễn, hoàn cảnh lịch sử của kháng chiến của nhân dân ta và hướng vào việc giải quyết những vấn đề cơ bản, cụ thể của sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam Sự kiện này góp phần không nhỏ trong thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này
Câu 4: Phân tích bài học kinh nghiệm của cách mạng tháng 8
Cách mạng tháng 8 năm 1945 có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với cách mạng Việt Nam Bên cạnh đó, cách mạng tháng 8 còn để lại cho Đảng và nhân dân ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu
Thứ nhất, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai
nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến
Đảng ta xác định nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến không thể tách rời nhau, trong đó nhiệm vụ chống đế quốc là nhiệm
vụ chủ yếu nhất, nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chông đế quốc và phải thực hiện từng bước với những khẩu hiệu thích hợp như: giảm tô, giảm tức, chia ruộng đất công, chia ruộng đất của bọn phản động cho dân cày nghèo, tiến tới cải cách ruộng đất Thắng lợi của cách mạng tháng 8 là thắng lợi của sự kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc Pháp và chống phong kiến
Thứ hai, toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh công nông.
Thắng lợi của của các mạng tháng tám là sự đoàn kết thống nhất của tất cả các tầng lớp, giai cấp ở trên đất nước Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam mà đội tiền phong của nó là giai cấp công nhân Đảng ta đã xây dựng được khối đoàn kết toàn dân tộc trong cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền và đã giành được thắng lợi