1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUÁ TRÌNH BÌNH THƯỜNG hóa QUAN hệ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM và TRUNG QUỐC của ĐẢNG từ 1986 1991

31 56 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá Trình Bình Thường Hóa Quan Hệ Ngoại Giao Giữa Việt Nam Và Trung Quốc Của Đảng Từ 1986 - 1991
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 151,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình bình thờng hóa quan hệ ngoại giao giữa việt nam và trung quốc của đảng từ 1986 -1991 a – lý do chọn đề tài Sự phát triển của một quốc gia trong giai đoạn hiện nay đòi hỏitính c

Trang 1

Quá trình bình thờng hóa quan hệ ngoại giao giữa việt nam và trung quốc của đảng từ 1986 -

1991

a – lý do chọn đề tài

Sự phát triển của một quốc gia trong giai đoạn hiện nay đòi hỏitính cấp thiết phải có sự mở cửa và giao lu hội nhập trên nhiều lĩnhvực khác nhau Một đất nớc không thể tiến bộ nếu tự thân nó không

có sự đổi mới chính mình theo sự tiến bộ và hiện đại không ngừng của

x hội toàn cầu Trong mối quan hệ đa chiều đó cũng xuất hiện rấtnhiều vấn đề đợc cả giới l nh đạo đến tầng lớp thờng dân dày côngvun đắp, một trong những mối quan hệ đó là mối quan hệ ngoại giaoViệt Nam và Trung Quốc Điểm nổi bật nhất là mối quan hệ ngoạigiao Việt – Trung trong giai đoạn từ sau đổi mới, năm 1986 đến năm

1991 Trong giai đoạn này, đờng lối chỉ đạo của Đảng đ một lần nữakhẳng định sự sáng tạo, đúng đắn và kịp thời trong đờng lối l nh đạodân tộc; thông qua đó mà cho ta thấy đợc những nét u việt và điều cầnthiết phải có sự chỉ đạo và định hớng của Đảng trên mọi lĩnh vực,nhất là thông qua giai đoạn này để ta có thể nhìn lại toàn bộ chặng đ-ờng và những cố gắng của Đảng trong việc thiết lập, duy trì và pháttriển đờng lối đối ngoại khôn khéo và đúng đắn của Đảng cộng sảnViệt Nam, đáp ứng đợc nguyện vọng của nhân dân Việt Nam cũng

nh lợi ích chung của toàn nhân loại

Tuy nhiên cũng chính mối quan hệ ngoại giao Việt – Trung đ

để lại cho chúng ta nhiều bài học về con đờng ngoại giao, cách thứcngoại giao và cần có những “chiến lợc” ngoại giao cho riêng mình vàcho từng đối tác ngoại giao

B – Quá trình bình thờng hóa quan hệ việt nam và

trung quốc của đảng từ 1986 - 1991

Vấn đề ngoại giao Việt – Trung là một vấn đề có nhiều phức tạp,tùy thuộc vào từng lúc khác nhau mà nó có những đặc điểm của từngthời kỳ khác nhau, đ có lúc mối quan hệ đó trở nên tốt đẹp nh ngcũng có lúc nó trở nên căng thẳng

Trang 2

Ch ơng I – khái quát về tình hình đối ngoại và ờng lối đối ngoại việt – trung của đảng trớc năm 1986

đ-Trung Quốc là nớc láng giềng và là ngời “hàng xóm” với chúng

ta, có đờng biên với chúng ta cả trên bộ và trên đất liền, có dân sốchiếm 1/4 thế giới, có diện tích chiếm 1/4 châu á, và so với dân tộcViệt Nam, thì diện tích của Trung Quốc lớn gấp 29 lần, có dân sốnhiều gấp 15,3 lần Nhất là văn hóa của nớc ta cũng có nhiều nét tơng

đồng với Trung Quốc và đặc biệt là Trung Quốc có cùng chung vớichúng ta về thể chế chính trị: Chủ Nghĩa X Hội Điều đó làm chochúng ta có thêm nhiều thuận lợi về ngoại giao một cách toàn diện,nhất là trong lĩnh vực chính trị; quốc phòng – an ninh; kinh tế; vănhóa; và có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, sựnghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa của dân tộc

1.1 khái quát về đờng ngoại giao CủA đảNG trớc

năm 1986.

Trong mỗi giai đoạn của lịch sử, Đảng ta luôn đa ra cho mìnhnhững đờng lối ngoại giao khác nhau Trong từng giai đoạn đó nó đềuthể hiện lên tính độc lập và những tính tự quyết đi theo con đờng củariêng dân tộc Đứng trớc những cơ hội và thách thức mới của lịch sử,

Đảng ta đ khéo léo trong việc chọn lựa cho mình một đờng lối đốingoại hợp lý nhất

Đờng lối ngoại giao của Đảng thời kỳ trớc năm 1986 đợc thểhiện một cách sinh động qua đờng lối ngoại giao tài ba của Chủ tịch

Hồ Chí Minh cũng nh các thế hệ sau đó Có thể nói rằng, chính đờnglối ngoại giao của Bác đ để lại dấu ấn rất lớn trong những bài học vềnghệ thuật ngoại giao của nớc ta thế kỷ XX Ngoại giao Việt Nam đ

đợc Bác kế thừa những giá trị tiêu biểu của truyền thống hàng nghìnnăm dựng và giữ nớc của ông cha ta Vận dụng linh hoạt vào mỗihoàn cảnh lịch sử cụ thể Khi đất nớc ta mới đợc thành lập, dù gặpphải muôn vàn khó khăn, nhng Bác đ dìu dắt đất nớc ta trợc tiếp vợtqua, và trong chính hoàn cảnh đó, ngoại giao của Bác đ thực sự trở

Trang 3

thành một loại vũ khí sắc bén góp phần giữ vững thành quả Cáchmạng tháng Tám, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, tranh thủthêm thời gian để bảo toàn và củng cố lực lợng cho sự nghiệp cáchmạng lâu dài Đờng lối ngoại giao của Bác đ đợc Bác cân nhắc vàxem nh là một sách lợc khôn khéo quan trọng trong ngoại giao đó là :

“Dĩ bất biến ứng vạn biến”, “Thêm bạn bớt thù”, “Hòa để tiến” , … và đ đợc Bác sử dụng một cách tài tình, trở thành những

bài học quý báu cho ngoại giao Việt Nam “Dĩ bất biến ứng vạn biến”nghĩa là : Lấy một điều không thay đổi để ứng phó với vạn điều biến

đổi, và điều đó với Bác đó là một chân lý, một điều “bất biến” “Thêmbạn bớt thù” là nếu ta thêm một ngời bạn thì sẽ bớt đi đợc một kẻ thù,

và có thể nói đó là một nguyên tắc hiển nhiên mà Bác đ nhìnnhận… Qua đó cho ta có một cách nhìn nhận rõ hơn về phơng châm

đúng đắn của Bác về cách nhìn nhận vai trò của ngoại giao Ngoạigiao với Bác đó là cách làm “hòa” để ta “tiến” lên thêm một bớc Bởivậy, mà trong suốt cuộc đời kể từ khi tìm đờng cứu nớc, Bác đ khôngngừng chọn lựa con đờng ngoại giao làm một phơng tiện hữu hiệuphục vụ cho sự nghiệp độc lập, tự do, hòa bình Chúng ta có thể kể ramột số sự kiện trọng đại với đất nớc về vấn đề ngoại giao của Bác :

Ngày 14 tháng 01 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đ nhândanh nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nộp đơn xin gia nhập LiênHiệp Quốc

Đầu năm 1946 sau đó, thì Ngời lại gửi điện tới các ngoại trởngLiên – Xô, Mỹ và Trung Hoa Dân quốc tha thiết yêu cầu đa vấn đềViệt Nam ra Liên Hiệp Quốc và yêu cầu nhận Việt Nam vào LiênHiệp Quốc

Ngày 16 tháng 02 năm 1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nớcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi th tới Tổng thống Hợp chủng quốcHoa Kỳ, thông báo về sự ra đời của nớc Việt Nam độc lập và lên ánThực dân Pháp đ tiến hành một cuộc chiến tranh, đó là : "Trái vớinhững nguyên tắc của luật pháp quốc tế và trái với những cam kếtcủa các nớc Đồng minh trong chiến tranh thế giới"[01]

Nhìn chung thì ngoại giao của Bác là một sự kết tinh nhữngtinh hoa của ngoại giao dân tộc, đó là: Độc lập tự chủ đợc liên kết với

đoàn kết quốc tế và hợp tác; Mở rộng quan hệ ngoại giao trên cơ sởcủa sự cởi mở, lợi ích chung, cơ sở của tình hữu nghị với tất cả các

Trang 4

quốc gia dân chủ, không chứa chấp tình trạng thù địch chống lại ai(“Thêm bạn bớt thù”); tập trung vào việc thành lập và phát triển tìnhhữu nghị và hợp tác lâu dài với các nớc láng giềng, do đó mà cần phảigiải quyết một cách ấm êm với các mối quan hệ nớc lớn và đối với Bác:

“Ngoại giao là một mặt trận”

Sau này, thì đờng lối đó đợc vận dụng một cách sáng tạo vàphát triển một cách kế thừa Từng bớc đa ngoại giao dân tộc thêm sựchặt chẽ về lý luận và hiệu quả cao trong thực tiễn

1.2 tình hình quan hệ đối ngoại việt nam và

trung quốc trớc năm 1986

Trớc năm 1986 thì mối quan hệ Việt – Trung ở mỗi thời kỳ lịch

sử khác nhau thì cũng có sự đổi thay qua các thời kỳ Nhng nhìn mộtcách tổng quát thì nó là một mối quan hệ đầy biến động và phức tạp,tùy thuộc vào từng giai đoạn cụ thể của lịch sử hai nớc Việt – Trung

có những đặc điểm riêng Tình hình về mối quan hệ Việt Nam vàTrung Quốc trên lĩnh vực đối ngoại trớc đổi mới của nớc ta, nó đợc thểhiện qua các lần gặp gỡ, đối thoại của các cấp l nh đạo hai Đảng, haiNhà nớc Nhng một điểm chung là ở trong mọi thời kỳ hai bên đều cốgắng thiết lập những mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp và có lợi cho mỗinớc

Trong thời Chủ tịch Hồ Chí Minh với thời Mao Trạch Đông, LuThiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức … thì mối quan hệ diễn ra rất tốt

đẹp dựa trên tinh thần Quốc tế Cộng Sản, cả hai nớc cùng dắt nhauvợt quan nhiều thế hệ kẻ thù khác nhau; có những lúc Trung Quốc đviện trợ cho ta rất nhiều cả về vật lực lẫn nhân lực, nhất là cuối thờichiến chống Pháp và trong kháng chiến chống Mỹ

Mối quan hệ đó đ đợc Hồ Chủ Tịch không ngừng vun vén vàdày công củng cố, bởi vậy mà dù cuộc kháng chiến của nhân dân ta vôcùng gian khổ, nhng mối tình đằm thắm hữu nghị hai nớc thì khôngbao giờ giảm sút Cuộc kháng chiến nh là một thách thức đối với hainớc, thông qua đó mà tinh thần đó ngày càng trở nên son sắc Điềunày thể hiện một cách rõ nét và mang tính lịch sử, đó là vào ngày 05 –

01 – 1950, khi làm việc với đại diện Việt Nam tại Bắc Kinh, đồng chí

Lu Thiếu Kỳ từng nói: "Cuộc kháng chiến ở Việt Nam do Đảng ViệtNam l nh đạo rất đúng và rất hay Đảng Trung Quốc hết sức giúp

Trang 5

Đảng Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ đó Các Đảng bạn khác nhất là

Đảng cộng sản Liên Xô cũng cùng một quan điểm nh Đảng TrungQuốc và Việt Nam, trong cuộc kháng chiến phải tự lực cánh sinh làchính Sự giúp đỡ bên ngoài chỉ là sự giúp đỡ chung" Và kể từ đây cónhiều sự viện trợ cho chúng ta cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, nh: TrungQuốc sẽ cử một đoàn cố vấn quân sự, sang giới thiệu những kinhnghiệm chiến đấu của giả phóng quân và đồng ý cho Việt Nam đa Tr-ờng Lục Quân sang Vân Nam để đào tạo và bổ túc cán bộ… chính

điều đó đ làm động lực không có gì có thể ngăn cản nổi cho cuộc kýkết mốc son ngoại giao Việt – Trung vào ngày 18/ 01/ 1950: Hai nớcViệt Nam - Trung Quốc đ chính thức thiết lập mối quan hệ ngoạigiao song phơng

Có thể nói rằng, sự kiện ngày 18/ 01/ 1950 là một thời điểmquan trọng trong lịch sử ngoại giao hai nớc Kể từ đây, mối quan hệhữu nghị Việt – Trung bớc sang giai đoạn mới, lên một tầm cao mới,

nó là sợi dây kết nối sức mạnh của hai dân tộc, hai Đảng, hai Nhà nớcxích lại với nhau, cùng nhau đi trên con đờng còn nhiều biến động đauthơng và gian khó

Và điều đó không ngừng đợc củng cố thông qua các cuộc gặp gỡcủa các nhà l nh đạo hai nớc Chẳng hạn nh Nhận lời mời của BanChấp hành Trung ơng Đảng cộng sản Trung Quốc và Chính phủ nớcCộng hòa nhân dân Trung Hoa Đoàn đại biểu Đảng Lao Động ViệtNam và Chính phủ nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do đồng chí LêDuẩn – Bí th thứ nhất Ban Chấp hành Trung ơng Đảng lao động ViệtNam và đồng chí Phạm Văn Đồng, đ sang thăm hữu nghị nớc Cộnghòa dân chủ nhân dân Trung Hoa, từ ngày 04 – 11/ 06/ 1973 Trongcuộc gặp gỡ đó "Phía Trung Quốc khẳng định quyết tâm không gì laychuyển nổi tiếp tục thực hiện nghĩa vụ quốc tế của mình Nhân dânTrung Quốc kiên quyết ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam anh emtrong cuộc đấu tranh nhằm giữ gìn và củng cố hòa bình, xây dựng chủnghĩa x hội ở miền Bắc, hoàn thành độc lập, dân chủ ở miền Nam,tiến tới hòa bình thống nhất đất nớc, thực hiện một nớc Việt Nam hòabình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh" [02];

Quá trình ngoại giao nớc ta và nớc Cộng hòa dân chủ nhân dânTrung Hoa còn đợc tiếp tục củng cố và duy trì liên tục Nh cuộc gặp gỡngày 11 tháng 6 năm 1973, hai bên đ bày tỏ quan điểm và khẳng

định lại : "Hai bên bày tỏ quyết tâm làm hết sức mình để cho tình hữunghị nồng thắm và tình đoàn kết chiến đấu không gì lay chuyển nổigiữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc, đợc Chủ tịch Hồ

Trang 6

Chí Minh kính mến và Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Mao Trạch

Đông kính mến và Đảng Cộng sản Trung Quốc chăm lo vun đắp, từnay về sau sẽ không ngừng củng cố và tăng cờng"[03]

Và qua đó cho ta thấy đợc sự đoàn kết và tình hữu hảo mà mốiquan hệ Việt – Trung đ xây dựng đợc Đồng thời cũng “Trong lầngặp gỡ này, hai bên cũng thể hiện quan điểm của mình về vấn đềquân sự ở Campuchia: Hai bên kiên quyết ủng hộ Tuyên cáo 5 điểmngày 23/ 03/ 1970 của Xăm-đéc Nô-rô-đôm Xi-ha-núc và lập trờngnghiêm chỉnh của Mặt trận Thống nhất dân tộc Campuchia và Chínhphủ Vơng quốc đoàn kết dân tộc Campuchia trong việc giải quyết vấn

đề Campuchia Vấn đề Campuchia phải do nhân dân Campuchia tựgiải quyết không có sự can thiệp của nớc ngoài" [04];

Cũng chính trong cuộc gặp gỡ này đ làm cho mối quan hệ ViệtNam và Trung quốc trở nên thêm phần chiều sâu : "Việt Nam vàTrung Quốc là hai nớc x hội chủ nghĩa anh em láng giềng thân thiết,

có truyền thống đoàn kết hữu nghị Hai bên hài lòng nhận thấy rằngtrong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy hi sinh gian khổ vàthắng lợi vẻ vang của nhân dân hai nớc, tình hữu nghị vĩ đại và tình

đoàn kết chiến đấu giữa Đảng Lao động Việt Nam và nhân dân TrungHoa , giữa nhân dân hai nớc, và nhân dân Trung Quốc không ngừngcủng cố và phát triển" [05]

Tuy nhiên tình hình nó cũng không đợc duy trì lâu dài, và đ

có những thay đổi khi nhân dân ta có những lý do và đờng lối riêngcho chính mình, chẳng hạn tại Hội nghị Giơ-ne-vơ, lập trờng củaTrung Quốc và Việt Nam đ có sự khác nhau trong việc giải quyếtvấn đề Đông Dơng Trung Quốc muốn chấm dứt cuộc chiến tranh

Đông Dơng bằng một giải pháp theo kiểu Triều Tiên, tức chỉ đìnhchiến sự mà không có giải pháp chính trị Nghĩa là Trung Quốc muốngiải quyết một cách riêng lẻ ba vấn đề Việt Nam, Lào và Campuchia,trong đó nớc ta sẽ bị chia cắt bởi vĩ tuyến 17 Tình hình đó đ làm nảysinh lên những bất đồng quan điểm của hai Đảng về vấn đề nớc ta vàkhu vực Đông Nam á Bởi vì đó là điều chúng ta không thể chấp nhận

đợc với lợi ích dân tộc, cả nớc ta đang dốc hết sức lực của mình để tiếntới một đất nớc thống nhất, độc lập hoàn toàn, nhng điều mà TrungQuốc khiến cho chúng ta bất ngờ cũng chính là ở đây Do đó, tất nhiên

là ta không thể đồng ý và nó đợc xem nh là sự mở đầu cho thời kỳkhủng hoảng của ngoại giao Việt – Trung đi vào ngõ tối

Tình hình đó còn trở nên căng thẳng hơn khi Trung Quốcnhiều lần ép Việt Nam nhân nhợng để ký Hiệp định Giơ-ne-vơ Sở dĩ

Trang 7

nh vậy là vì Trung Quốc đ có sơ sở tính toán lợi ích của mình khôngmuốn nớc ta đợc thống nhất hai miền Nam – Bắc Và nó ngày càngcăng thẳng, leo thang cao hơn từ đó Có thể nói vì ở một lý do nào đóTrung Quốc muốn tranh dành sự ảnh hởng của mình trong khu vựccũng nh thể hiện “cái uy” của mình với thế giới, đặc biệt là vào cuốinhững năm của thập kỷ 70

Mặc dù chúng ta đ nhận đợc sự giúp đỡ rất lớn của Trung Quốctrong chiến tranh Đụng Dương và Chiến tranh Việt Nam, nhưng cỏc rạn nứttrong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dõn chủ Cộng hoà và Trung Quốc đóbắt đầu thể hiện từ năm 1968 Chỳng ta cú thể nhận thấy điều đú thụng qua sựbất đồng quan điểm về vấn đề Việt Nam cũng như Campuchia từ năm 1968thụng qua việc Hà Nội nhất định cựng lỳc giữ mối quan hệ nồng ấm với cảMatx-cơ-va lẫn Bắc Kinh, trong khi đú mõu thuẫn giữa Liờn Xụ và Trung Quốc

đó lờn cao Bất đồng quan điểm giữa Hà Nội và Bắc Kinh về cỏch tiến hànhcuộc chiến tại miền Nam Việt Nam trở nờn rừ rệt hơn, khi mà Bắc Kinh muốn

Hà Nội chỉ tiếp tục chiến tranh du kớch cú giới hạn chống Hoa Kỳ, trong khi đúthỡ Hà Nội của chỳng ta lại muốn tiến hành chiến tranh quy mụ để thống nhất Tổquốc của Và hơn thế nữa, Trung Quốc muốn trực tiếp đàm phỏn với Hoa Kỳ,

mà khụng cần thụng qua một nước nào làm trung gian

Đặc biệt tỡnh hỡnh ngoại giao của Việt Nam và Trung Quốc ngày càng trởnờn xấu hơn sau sự kiện Tết Mậu Thõn của đồng bào ta tiến hành đồng loạt nổidậy chống Mỹ Khi Hà Nội bắt đầu đàm phỏn với Hoa Kỳ, thỡ Bắc Kinh lại phảnđối Năm 1972, chuyến thăm của tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh và thỏathuận giữa Mỹ và Trung Quốc được chỳng ta xem như là một sự mờ ỏm Điềunày cú ảnh hưởng lớn tới quan điểm của Đảng ta về mối quan hệ Trung – Mỹ vàcỏch ứng xử của Trung Quốc với chỳng ta

Do đú, năm 1975, trong chuyến thăm Bắc Kinh, Lờ Duẩn đó từ chối đưa ViệtNam Dõn chủ Cộng hoà vào liờn minh chống Liờn Xụ của Trung Quốc, vàkhụng tỏn thành quan niệm của Trung Quốc cho rằng “chủ nghĩa bành trướng”của Liờn Xụ là mối đe dọa đối với cỏc nước cộng sản chõu Á Đồng chớ đó rờiTrung Quốc mà khụng tổ chức tiệc đỏp lễ theo truyền thống, do sự căng thẳng

đú mà cũng khụng ký thỏa thuận chung nào giữa ta và Trung Quốc Trước phảnứng khụng đồng tỡnh của Đồng chớ Lờ Duẩn như vậy, thỡ Trung Quốc cũng

Trang 8

thông báo rằng sẽ không giữ mức viện trợ như đã hứa năm 1973 Và Bắc Kinhbắt đầu nói về một Việt Nam "hắc tâm", "vô ơn" và "ngạo ngược".Ngay sau đóthì viện trợ của Trung Quốc sau đó giảm mạnh và đến năm 1978 thì cắt toàn bộ

Qua đó cho ta thấy được mức độ căng thẳng của vấn đề ngoại giao ViệtNam và Trung Quốc, tình hình đó không chỉ gây ảnh hưởng lớn tới công việcgiải phóng dân tộc thống nhất đất nước của ta, mà còn làm cho ta mất đi một

“đồng minh” quan trọng gần gũi Biết chúng ta còn cần rất nhiều sự trợ giúp từbên ngoài, nhất là sự trợ giúp trên lĩnh vực quân sự, thì Trung Quốc đã đưa racho ta một điều kiện để nối lại viện trợ là: phải từ chối tất cả các khoản viện trợcủa Liên Xô

Có thể nói, chưa bao giờ ngoại giao chúng ta lại phải đứng trước ngưỡngcửa của sự chọn lựa gay gắt và căng thẳng như thời kỳ này Nếu chúng ta theo ý

đó của Trung Quốc thì ta sẽ mất Liên Xô, và nếu duy trì mối quan hệ với Liên –

Xô thì ta lại trở nên thù nghịch với Trung Quốc Như Đảng ta từng nhận định:

“Chúng ta: ủng hộ chính sách của Liên Xô cải thiện quan hệ với TrungQuốc”[06] Nghĩa là vấn đề của Đảng ta là phải điều tiết làm sao cho được mốiquan hệ Xô – Trung trở nên tốt đẹp, chứ ta không muốn mất quan hệ với TrungQuốc mà cũng chẳng muốn thù nghịch với Liên - Xô

Nhưng khi thấy chúng ta ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xônhư vậy, thì Trung Quốc thấy mình bị đe dọa từ hai phía Đồng thời, Việt Namcũng đang cố gắng xây dựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước ĐôngDương Cùng với thực tế rằng nước Việt Nam thống nhất đã trở thành một sứcmạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc Những điềunày làm cho Trung Quốc lo ngại về một "tiểu bá quyền" Việt Nam và việc bịLiên Xô bao vây từ phía Bắc Như vậy, có thể nhận thấy được sự căng thẳng củatình hình ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc thời kỳ này là xuất phát từ sựcạnh tranh, đố kỵ với Việt Nam của Trung Quốc

Trước cách nhìn nhận Việt Nam như vậy, thì Trung Quốc thấy mình trởnên cô lập xung quanh Do đó việc thiết lập một nước Campuchia chống ViệtNam đã trở thành một “ý tưởng” quan trọng đối với Trung Quốc Quan hệ ViệtNam - Campuchia thời kỳ này cũng ngày càng đi xuống, thể hiện ngay từ tháng

5 năm 1975 khi Khmer Đỏ cho quân đánh chiếm các đảo Phú Quốc và Thổ Chu

Trang 9

và bắt đi hàng trăm dân thường, và đã đưa lên thành cao trào vào những năm1977-1978, chúng đã nhiều lần đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam và tàn sát hàngchục nghìn dân thường Trong suốt thời gian đó và cả về sau, Trung Quốc luôn

là nước viện trợ đắc lực cho Khmer Đỏ về vũ khí khí tài cũng như cố vấn quân

sự Qua đó đã chứng minh cho ta thấy, Trung Quốc không còn ủng hộ ta nữa!

Và tình hình đó ngày càng trầm trọng hơn và kéo dài hơn với ngoại giao hainước Các cuộc gặp gỡ ngoại giao hữu nghị và hòa hảo thời kỳ này đã khôngcòn, Trung Quốc ngày càng trở nên khó hiểu hơn khi thực hiện chính sách hỗtrợ cho lực lượng chống cộng sản của Khmer - Đỏ

Trên thế giới, từ năm 1973, Liên Hiệp Quốc bắt đầu thảo luận về vấn đềchủ quyền của các quốc gia đối với vùng đặc quyền kinh tế trên biển Chính phủViệt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố chủ quyền với các quần đảo Hoàng Sa

và Trường Sa, bởi vì đó là chủ quyền của chúng ta đã có từ lâu, mà bản đồ thờiNguyễn vẫn còn lưu lại cho tới ngày nay, nghĩa là việc khẳng định chủ quyềncủa ta trên đảo Trường Sa là hợp pháp và có cơ sở Còn về phía Trung Quốc, vớicuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 1970 nước này đã tìm kiếm các nguồnkhai thác dầu mỏ trên biển Đông sát với Việt Nam, điều này cũng gây lên không

ít tranh chấp giữa hai nước về hai quần đảo này, và cuộc tranh chấp đó nó cũng

đã bắt đầu nảy sinh từ đây, ngay sau khi Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối vớihai quần đảo này năm 1975

Một điều khác làm cho căng thẳng Việt Nam - Trung Quốc leo thang đó

là vấn đề Hoa kiều tại Việt Nam Trước năm 1975, có khoảng 1,5 triệu ngườigốc Hoa sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, 15% sống ở phía Bắc vĩ tuyến 17 và85% còn lại sinh sống ở miền Nam Việt Nam Người Hoa đặc biệt có ảnh hưởng

ở miền Nam Việt Nam, nơi họ hoạt động mạnh trong lĩnh vực kinh doanhthương mại Năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ra chính sách buộcngười Hoa phải nhập quốc tịch Việt Nam hoặc họ sẽ bị trục xuất khỏi lãnh thổ,trong khi đó thì Hà Nội và Bắc Kinh đồng ý trên nguyên tắc về việc cho phépHoa kiều tự chọn lựa quốc tịch của mình Chính sách của Việt Nam từ năm

1976 đã bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi nhanh chóng của mối quan hệ giữa ViệtNam và Trung Quốc, với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng Hoa kiều

để ép Việt Nam theo các chính sách của mình Do đó vấn đề Hoa kiều lại trở

Trang 10

thành một thử thỏch đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơnthuần Do chớnh sỏch một quốc tịch của Nghụ Đỡnh Diệm mà Hoa kiều nếukhụng nhập quốc tịch Việt Nam sẽ bị cho thụi việc, cỏc trang bỏo và cơ sở giỏodục tiếng Hoa cũng bị đúng cửa Cho nờn từ năm 1977 đó cú 70.000 Hoa kiều từViệt Nam quay về Trung Quốc Cho đến trước thời điểm xảy ra cuộc chiến biờngiới Việt – Trung đầu năm 1979, thỡ đó cú chừng 160.000 Hoa kiều hồi hương

từ Việt Nam bằng đường biển hoặc đường bộ qua Cửa khẩu Hữu Nghị về TrungQuốc

Bởi thế, mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam và Trung Quốc đó thực sựtrở thành một thỏch thức nan giải cho chớnh Đảng ta Mối quan hệ này căngthẳng càng làm cho tỡnh hỡnh trở nờn xấu hơn, sự căng thẳng đú suy cho cựngkhụng mang lại được một lợi ớch thớch đỏng nào cho nhõn dõn ta, cũng như nhõndõn Trung Quốc

Trong khi đú, Đặng Tiểu Bỡnh nổi lờn trở thành người lónh đạo quyềnlực nhất Trung Quốc ễng nhỡn thấy cả rắc rối lẫn cơ hội trong mối quan hệ khúkhăn với Việt Nam và cho rằng cỏch tốt nhất để nắm lấy những cơ hội này làmột hành động quõn sự Trong chuyến thăm Đụng Nam Á thỏng 12 năm 1978,tại một cuộc trả lời phỏng vấn được Trung Quốc truyền hỡnh trực tiếp, ĐặngTiểu Bỡnh tuyờn bố: "Việt Nam là cụn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học" màngày hụm sau bỏo chớ chớnh thức của Trung Quốc cắt ngắn thành "phải dạy choViệt Nam bài học"…

Nh vậy, chúng ta có thể nhận thấy tính đa chiều và phức tạpcủa tình hình ngoại giao trớc thời kỳ đổi mới, mà thậm chí nó còn leothang vào cuối thập kỷ 70, với đỉnh cao là cuộc chiến biên giới Việt –Trung vào đầu năm 1979 gây lên nhiều tổn thất cho cả hai bên Nóphức tạp vì nó là một vấn đề có liên quan tới không chỉ là Trung Quốc

mà còn cả Campuchia, Liên Xô một cách trực tiếp và gián tiếp quanhiều nớc trong khu vực cũng nh những nớc ngoài cuộc và uy tín củaViệt Nam Bởi vậy, việc kết nối lại ngoại giao với Trung Quốc nókhông chỉ là một quy luật, một xu thế của Quốc tế ngày nay, mà thayvì đó ta còn có thêm một ngời “Đồng minh” X hội chủ nghĩa, và cóthể tránh thêm đợc nhiều điều phiền muộn, lại có thể tạo ra cho mìnhthêm nhiều cơ hội trên nhiều phơng diện Do đó, sự nhận diện ra tầmquan trọng của việc thiết lập lại mối quan hệ thân thiện với TrungQuốc đó quả thực là một chiến lợc đúng đắn của Đảng về vấn đề ngoại

Trang 11

giao nói chung Và điều đó đợc thể hiện một cách cụ thể thông qua cácvăn kiện Đại hội của Đảng ta.

Thời kỳ căng thẳng diễn ra đ không chỉ làm cho tình hìnhtrong khu vực trở nên nóng bỏng, mà chính nó làm cho vấn đề của nớc

ta vốn đ khó khăn nay lại càng trở nên khó khăn hơn, do sự tàn phácủa quân Trung Quốc, bởi thế nhìn chung thì mối quan hệ ngoại giaoViệt – Trung ấm êm và tốt đẹp nhng sau đó thì nó trở nên căng thẳng,

và đ từng chuyển sang đối đầu

Tuy nhiên, tình hình đó cũng đ đợc thay đổi lên một tầm caomới, khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới và xúc tiến bình thờnghóa quan hệ với Trung Quốc trong các kỳ Đại hội bắt đầu cho thời kỳ

đổi mới đất nớc

Ch ơng II Quan hệ ngoại giao việt nam và trung

quốc từ 1986 đến 1991

2.1 đờng lối ngoại giao của đảng ta trong quan

hệ ngoại giao việt –trung từ năm 1986 đến 1991

Vào những năm cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 của thế kỷ

XX, tình hình đất nớc ta rơi vào khủng hoảng trầm trọng, mà biểuhiện rõ nhất là khủng hoảng về kinh tế Cuộc khủng hoảng đ gây lênnhiều tổn thất nặng nề: kinh tế đình trệ, nhân dân đói khổ, tệ nạn giatăng, đời sống giảm sút, … mà nguyên nhân chính là : "Chúng takhông đánh giá thấp những khó khăn khách quan; những khó khăn

đó rất lớn! Song điều quan trọng là phân tích sâu sắc những nguyênnhân chủ quan, nêu rõ những sai lầm, khuyết điểm trong hoạt độngcủa Đảng và Nhà nớc"[07] Mà cụ thể đó là từ đờng lối l nh đạo của

Đảng còn có nhiều nóng vội, chủ quan, duy ý chí muốn thành côngxây dựng Chủ nghĩa x hội trong một thời gian ngắn; còn có nhiều sựbảo thủ, chậm đổi mới; đề ra nhiều đờng lối cha thực sự phù hợp vớihoàn cảnh đất nớc trong những thời kỳ nhất định… mặt khác đất nớc

ta lại rơi vào thế bao vây cấm vận, cô lập từ nhiều phía Đặc biệttrong lĩnh vực ngoại giao của Đảng còn có nhiều điều bất cập, nhất làvới nớc láng giềng Trung Quốc đ từng có nhiều căng thẳng đỉnh

điểm, làm tổn hại và cản trở không chỉ tới sự phát triển kinh tế, anninh quốc phòng mà còn làm cho uy tín của Việt Nam trên trờng Quốc

tế suy giảm Đây là một thách thức vô cùng to lớn cho đất nớc ta, sựnghiệp đấu tranh đ đa đất nớc ta thoát khỏi vòng nô dịch của thù

Trang 12

địch Thực dân - Đế quốc, nhng sự phát triển của đất nớc nh thế nàothì mới có tính quyết định tới vận mệnh tồn vong của dân tộc.

Đứng trớc những khó khăn và thách thức của lịch sử, một lầnnữa Đảng ta lại thể hiện vai trò và sứ mệnh của mình trớc vận mệnhnon sông Yêu cầu của lịch sử đòi hỏi cần phải đợc đáp ứng, Đảng ta

đ kịp thời nhận ra đợc yêu cầu cấp bách của lịch sử là : phải làm sao

đa đất nớc thoát qua đợc khỏi cơn khủng hoảng; đa đất nớc vững bớcphát triển toàn diện; Trong đó có vấn đề về ngoại giao đóng vai trò vôcùng to lớn với sự nghiệp đổi mới của dân tộc Thực tế thì việc đổi mới

về kinh tế; về cơ chế quản lý nhà nớc; … thì đều có mối quan hệ mậtthiết với các nớc trong và ngoài khu vực một cách trực tiếp hoặc giántiếp Bởi vậy, nếu ngoại giao đợc củng cố, mở rộng và đi vào chiều sâu

đa lĩnh vực, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta thực hiện đợcnguyện vọng thoát khỏi khủng hoảng và đa đất nớc phát triển Chẳnghạn ngoại giao về mặt chính trị là cơ sở, là nền tảng cho việc thiết lậpcác mối quan hệ về: Kinh tế; quốc phòng – an ninh; văn hóa – giáodục; … Nắm bắt đợc tính tất yếu và tầm quan trọng của ngoại giao,

Đảng ta từng bớc thực hiện đờng lối ngoại giao một cách mở rộng ờng lối đổi mới đối ngoại của Đảng ta đợc thể hiện một cách đầy đủ vàsinh động trong các văn kiện tại các Đại hội quan trọng

Đ-Trớc hết chúng ta phải kể đến những đổi mới có tính chất bớcngoặt của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sảnViệt Nam (tháng 12 năm 1986) Đại hội Trung ơng VI có thể đợc gọi làmột cuộc “cách mạng” đổi mới trong thời kỳ hòa bình Cuộc “cáchmạng” đổi mới này diễn ra một cách toàn diện và tổng thể trên nhiềulĩnh vực, phơng diện của đời sống x hội: Từ kinh tế đến chính trị; từquốc phòng tới văn hóa; … trong đó phải kể đến những “cách tân”trong lĩnh vực ngoại giao nói chung và ngoại giao với Trung Quốc nóiriêng Đại hội Trung ơng VI đ từng nêu rõ phơng châm đối ngoại của

Đảng ta, là dựa : "Nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc, vốn

có quan hệ hữu nghị lâu đời, đ từng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhautrong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập, tự do vàxây dựng đát nớc Nhân dân hai nớc có lợi ích chung là hòa bình, độclập và phát triển kinh tế Chính phủ và nhân dân Việt Nam, trớc sau

nh một, quý trọng và nhất định làm hết sức mình để khôi phục tìnhhữu nghị giữa nhân dân hai nớc, và đ đa ra nhiều đề nghị nhằm sớmbình thờng hóa quan hệ giữa nớc ta và Cộng hòa nhân dân TrungHoa Lập trờng của chúng ta là lấy lợi ích cơ bản và lâu dài của hai

Trang 13

nức làm trọng Chúng ta cho rằng đ đến lúc hai bên cần ngồi lạicùng nhau thơng lợng để giải quyết các vấn đề trớc mắt cũng nh lâudài trong quan hệ giữa hai nớc Một lần nữa, chúng ta chính thứctuyên bố rằng: Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứlúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằm bình thờng hóa quan hệgiữa hai nớc, vì lợi ích của nhân dân hai nớc, vì hòa bình ở Đông Nam

á và trên thế giới.[08] Có thể nói rằng: tâm thế của Việt Nam là luônmong chờ, chỉ cần Trung Quốc đáp lời dù ở cấp độ cao hay thấp, bất cứ

ở đâu và khi nào thì Việt Nam luôn sẵn sàng mở lòng nối lại đoàn kếthai nớc Điều đó đ bộc lộ lên tính cấp thiết cũng nh việc khẳng địnhnhững gì Đảng ta phải cố gắng

Qua đó cho ta thấy rằng, vấn đề bình thờng hóa quan hệ ngoạigiao với Trung Quốc là một mục tiêu cần đạt đợc mà Hội nghị đ đa

ra Trong quá trình căng thẳng trớc đó, hai nớc đều đ nhận về chomình những bài học tổn thất nặng nề, Trung Quốc chẳng nhữngkhông “Dạy cho Việt Nam một bài học” nh Đặng Tiểu Bình từng nói,

mà ngợc lại chính Trung Quốc cũng tự làm cho tình hình của mìnhcũng nh uy tín của mình trên trờng Quốc tế suy giảm nghiêm trọng.Bởi vậy, đờng lối đổi mới trong quan hệ với Trung Quốc chính là mộtchiến lợc có tầm quan trọng đối với Đảng ta, nó là một sự đúng đắntrong đờng lối l nh đạo sáng suốt và kịp thời, bởi vậy nó không chỉ cóvai trò quan trọng trong nớc mà còn trong toàn thể khu vực cũng nhthế giới Bởi vì, tự thân chúng ta cũng có thể nhận ra đợc những lợiích từ việc chúng ta lập lại quan hệ “hòa bình, hữu nghị” với TrungQuốc Việc thiết lập ngoại giao với Trung Quốc không chỉ làm cho đấtnớc chúng ta có thêm một ngời bạn, một “đồng minh” láng giềng, màchúng ta còn có điều kiện thuận lợi về việc phát triển kinh tế, học hỏicách thức làm ăn; về Quốc phòng an ninh thì sẽ đợc củng cố nhất làkhu vực phía Bắc của Trung Quốc; mặt khác lại có thể học hỏi đợckinh nghiệm về đờng lối chính trị, phát triển và quản lý bộ máy nhànớc;

Nh vậy, Đại hội Trung ơng VI là một bớc chuyển biến có tínhquyết đoán tới tình hình đối ngoại nói chung và với Trung Quốc nóiriêng Mà nh Đồng chí Trờng Chinh từng đề ra nhiệm vụ cho Đảngtrong nội dung đối ngoại là : " Trong những năm tới, nhiệm vụ cảu

Đảng và Nhà nớc ta trên lĩnh vực đối ngoại là ra sức kết hợp sứcmạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ vững hòabình ở Đông Dơng, góp phần tích cực giữ vững hòa bình ở Đông Nam

Trang 14

á và trên thế giới, tăng cờng quan hệ đặc biệt giữa ba nớc Đông Dơng,tăng cờng quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và cácnớc trong cộng đồng x hội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tếthuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa x hội và bảo vệ Tổ quốc,

đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dânthế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa x hội".[09]

Có thể nhận định rằng: Đờng lối đối ngoại của Đảng đợc vạch ra

ở trên là một bản “cơng lĩnh” cho đối ngoại Việt Nam, nó không chỉthể hiện tính chặt chẽ về lý mà còn đầy đủ và bình đẳng một cáchtoàn diện, có thể xem nh là một “khung đối ngoại” có tính chiến lợclâu dài của Đảng Bởi vậy, nó thực sự là một sự kiện có tính nội bộcủa nớc ta, nhng lại có sự ảnh hởng tới khu vực và thế giới, thể hiện

sự đúng đắn và kịp thời của Đảng trong đờng lối chỉ đạo Thông qua

Đại hội này, mà một “chiến lợc” ngoại giao có tính tổng quát đợc hìnhthành, đó là : ngoại giao phải dựa trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫnnhau và luôn đặt vấn đề đàm phán làm phơng thức hữu hiệu, thaycho việc sử dụng bạo lực hay vũ trang; chuyển từ "Đối đầu" sang "Đốithoại"; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; trọng tâm vàoviệc củng cố an ninh hòa bình trong khu vực và thế giới; …

Cho nên, Đại hội Trung ơng VI là một đổi mới có tính quy mô vàtầm quốc tế, vì chiến lợc đối ngoại của ta có sự ảnh hởng tới nhiều n-

ớc Và nó tiếp tục đợc phát triển, nâng cao và bổ sung củng cố thôngqua các kỳ Đại hội, Nghị quyết sau đó

Đờng lối đối ngoại của Đảng còn thể hiện thông qua Nghị quyết

số 13, ngày 20/ 05/ 1988 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ và chính sách

đối ngoại trong tình hình mới Nội dung của Nghị quyết đề cập mộtcách cụ thể về vấn đề ngoại giao, với chủ đề “giữ vững hòa bình pháttriển kinh tế”, Nghị Quyết 13 nhấn mạnh nhiệm vụ ngoại giao làphục vụ ổn định chính trị, u tiên phát triển kinh tế là hàng đầu, đồngthời bảo vệ Tổ quốc Cụ thể để thực hiện việc chuyển hớng về đốingoại nh: góp phần giải quyết vấn đề Campuchia; bình thờng hóaquan hệ với Trung Quốc; cải thiện quan hệ với các nớc ASEAN; mởrộng quan hệ với các nớc Tây, Bắc Âu và Nhật Bản; từng bớc bình th-ờng hóa quan hệ với Mỹ

Có thể nói rằng Đại hội Trung ơng VI cũng nh Nghị Quyết 13của Bộ chính trị đ đa chúng ta sang một lối t duy mới và tiến bộ trênnhiều mặt, mà ngoại giao là một điển hình

Trang 15

Không chỉ thế, đờng lối ngoại giao của Đảng còn đợc thể hiệntrong nội dung của nhiều văn kiện sau đó Các văn kiện sau này gópphần làm cụ thể thêm vấn đề ngoại giao của Đảng đồng thời bổ sungthêm những thay đổi mới cho phù hợp với hoàn cảnh, cho nên nó thực

sự đ đi vào thực tiễn công tác ngoại giao nớc ta, làm cho công tác đốingoại của Đảng gặt hái đợc nhiều thành công, nhất là trong mối quan

hệ với Trung Quốc đợc cải thiện một cách rõ rệt

Đại hội lần thứ VII (năm 1991) của Đảng lại củng cố và pháttriển đờng lối ngoại giao lên một bớc ngoặt Nếu phơng châm ngoạigiao với Trung Quốc ở Đại hội VI (năm 1986) là: Trên tinh thần bình

đẳng và tôn trọng lẫn nhau, sẵn sàng đàm phán để giải quyết vấn đềquan hệ Việt Nam - Trung Quốc, bình thờng quan hệ ổn định ở khuvực Đông Nam á và trên thế giới Thì ở Đại hội VII là : "Việt Nammuốn là bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vìhòa bình, độc lập và phát triển" Nghĩa là Việt Nam không chỉ có mởrộng trong khu vực, với cộng đồng ASEAN mà bây giờ nó đ đợc mởrộng trên phạm vi toàn thế giới, với một mục tiêu là : Hòa bình; độclập và phát triển So với đờng lối của Đại hội VI và Nghị Quyết 13 của

Bộ chính trị trớc đó, thì ta thấy đây là một sự tiến bộ rõ rệt, mangtính tổng quát trên phạm vi toàn cầu, có một mục tiêu kiên định vàphù hợp với xu thế chung của cả thế giới

Khi bàn về vấn đề chính sách đối ngoại với Trung Quốc Đại hội

đề cập: "Thúc đẩy quá trình bình thờng hóa quan hệ với Trung Quốc,từng bớc mở rộng sự hợp tác Việt - Trung, giải quyết những vấn đềtồn tại giữa hai nớc thông qua thơng lợng"[10] Qua đó cho ta thấy,vấn đề đối ngoại với Trung Quốc đ rất đợc chú trọng và quan tâmsâu sắc, Đảng một lần nữa lại nhấn mạnh tới phơng pháp đối ngoại là

“thơng lợng”

Không chỉ vậy, Đại hội còn đề ra mục tiêu về chính sách đốingoại, đó là : "Đảng cộng sản Việt Nam trớc sau nh một, ủng hộ các

đảng cộng sản và công nhân, các phong trào cách mạng trong cuộc

đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại Đảng Cộng sản ViệtNam sẵn sàng thiết lập và mở rộng quan hệ với các đảng và các lực l -ợng đấu tran chống các thế lực hiếu chiến, xâm lợc, áp bức bóc lột cácnớc chậm tiến, vì hòa bình thế giới và tiến bộ x hội Tham gia tíchcực các tổ chức quốc tế và phong trào Không liên kết vì mục tiêu hòabình, độc lập dân tộc và phát triển" [11]

Ngày đăng: 25/07/2021, 11:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w