1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

duong loi ngoai giao tran thi quynh

28 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 139 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước ta cũng đặc biệt quan tâm đếnviệc phát triển chính sách đối ngoại với các nươc trong khu vực Đông Nam Ábởi đây là những nước có nhiều tương đồng

Trang 1

A-Mở Đầu

1.Lý do chọn đề tài:

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước cha ông ta,Đảng và nhànước ta đã nhận thức được tầm quan trọng của lĩnh vực đối ngoại đối với quátrình dựng nước và giữ nước,cũng như đối với công cuộc đổi mới đất nước hiệnnay Vì vậy trong thời kỳ đổi mới, đường lối đối ngoại của nước ta đã từng bướcđược bổ sung cho phù hợp với tình hình mới

Trong bối cảnh của nền chính trị-kinh tế thế giới đã có những thay đổiđáng kể với xu thế quốc tế hóa,toàn cầu hóa thì Việt Nam cũng như tất cả cácnước đang phải điều chỉnh chiến lược quốc gia,chuyển hướng chíh sách đốingoại cho phù hợp với môi trường quốc tế mới

Đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước ta cũng đặc biệt quan tâm đếnviệc phát triển chính sách đối ngoại với các nươc trong khu vực Đông Nam Ábởi đây là những nước có nhiều tương đồng về lịch sử -văn hóa,cũng như cácchính sách ngoại giao với nhau.Trước xu thế của thế giới và khu vực thì ViệtNam cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á cần phải liên minh,hợp tácvới nhau để cùng thiết lập một khu vực hòa bình và phát triển.Đảng và nhànước ta đã nhận thức rõ sự cần thiết của việc thiết lập quan hệ ngoại giao với cácnước trong khu vực Đông Nam Á

Chính vì những lý do trên mà việc tìm hiểu đường lối đối ngọai của ViệtNam với các nước trong khu vực Đông Nam Á là một vấn đề có ý nghĩa khoahọc và thực tiễn sâu sắc.Nó không chỉ giúp ta tìm hiểu về mối quan hệ của VịêtNam với các nước trong khu vực Đông Nam á mà còn giúp chúng ta rút ra đượcnhững kinh nghiệm trong qua hệ đối ngoại với thế giới.Đây là lý do mà tôi chọn

đề tài: “Đường lối đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam với các nước trongkhu vực Đông Nam Á thời kỳ đổi mới ( 1986 – 2010)

2.Mục đích của đề tài

Nghiên cứu đề tài này tôi hướng tới làm sáng tỏ một số vấn đề sau:

Trang 2

Những đường lối,chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với các nướctrên thế giới nói chung và trong khu vực Đông Nam á nói riêng thời kỳ đổi mới.

Những kết quả,thành tựu đạt được trong chính sách đối ngoại của nước tavới các nước Đông Nam á là rất to lớn và góp phần quan trọng trong việc củng

cố nền hòa bình,độc lập,phát trienr kinh tế,văn hóa ,xã hội,thiết lập quan hệ hòabình,hữu nghị hợp tác với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới

Quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam

á có sự kế thừa từ truyền thống lâu đời,vững chắc,nó thể hiện sự hợp tác,đoànkết vì mục tiêu cùng xây dựng khu vực Đông Nam á ổn định,hòa bình và pháttriển

Nghiên cứu chính sách đối ngoại của Việt Nam với cac nước trong khuvực Đông Nam á thời kỳ đổi mới để rút ra những tồn tại,hạn chế,bài học kinhnghiệm cũng như triển vọng của

Quan hệ đối ngoại,từ đó có những chính sách phù hợp để thúc đẩy mốiquan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với khu vực Đông Nanm á ngày càng tốt đẹphơn

3.Giới hạn của vấn đề

3.1.Về thời gian

Thời gian nghiên cứu được giới hạn bởi mốc đầu là Đại hội đổi mới(1986) cho đến nay.Tuy nhiên bài viết cũng có đề cập đến một số nội dung liênquan nhằm làm rõ sự phát triển của đường lối đối ngoại với các nước trong khuvực Đông Nam Á một cách có hệ thống

3.2 Về nội dung

Bài viết tập trung nghiên cứu đường lối đối ngoại cuả Việt Nam với cácnước trong khu vực Đông Nam á thời kỳ đổi mới.Cụ thể là nghiên cứu đường lốiđối ngoại đó trên các lĩnh vực chính trị,kinh tế và một số lĩnh vực khác như giáodục,văn hóa,thể thao

Trang 3

4.Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tư liệu

Khi tiến hành nghiên cứu vấn đề vấn đề này ngoài việc sử dụng các tưliệu về chủ nghĩa Mac-Lênin làm cơ sở lý luận và cơ sở phương pháp luậnnghiên cứu thì nguồn tư liệu được khai thác và sử dụng bao gồm:

-Một số,tài liệu, văn kiện của đảng(VI,VII,VIII,IX )

-Các tư liệu về lịch sử Đông Nam Á,luận văn thạc sĩ,luận văn tốt nghiệpkhoa lịch sử,khoa giáo dục chính trị-trường Đại học Vinh

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp lịch

sử và phương pháp logic.Ngoài ra còn sử dụng môt số phương pháp địnhlượng(thống kê toán học)để xử lí các số liệu cụ thể

1.1 Đường lối đối ngoại của Đảng thời kì trước đổi mới

1.2 Quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á trước 1986

Chương2 Quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các nước trong khu vựcĐông Nam Á thời kỳ đổi mới

2.1.Đường lối đối ngoại của Đảng thời kỳ đổi mới

2.2.Quan điểm ,chủ trương đối ngoại của Đảng trong quan hệ giữa ViệtNam với các nước trong khu vực Đông Nam Á

2.3.Những thành tựu đạt được

2.4 Tồn tại,hạn chế,nguyên nhân

2.5 Bài học kinh nghiệm,

2.6.Triển vọng phát triển

Trang 4

B-Nội dungChương1 Khái quát đường lối ngoại giao của đảng trong quan hệ giữa

Việt Nam và các nước Đông Nam á trước đổi mới

1.1.Đường lối đối ngoại của Đảng thời kỳ trước đổi mới

Việt nam là một quốc gia có vị trí chiến lược quan trọng,vì vậy ngay từ xaxưa cha ông ta đã nhân thức vai trò quan trọng của công tác ngoại giao với cácnước láng giềng.Sau khi ra đời,Đảng cộng sản Việt Nam(1930) càng nhận thứcđược tầm quan trọng của công tác đối ngoại với quá trình đấu tranh giải phóngdân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ,cũngnhư công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Ngay sau thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945,thành lập nước ViệtNam dân chủ cộng hòa,nước ta đứng trước tình thế vô cùng khó khăn “ngàn cântreo sợi tóc” bởi giăc dối,giặc dốt và giặc ngoại xâm.Trước tình hình đó Đảng vàchính phủ ta đã tiến hành chính sách ngoại giao khôn khéo bằng việc hòa vớiTưởng để tập trung lực lượng đánh pháp,sau đó là hòa với Pháp để đuổi Tưởngbằng hiệp định sơ bộ(6/3/1946),tạm ước 14/9 với Pháp để tranh thủ thời gianchuẩn bị lực lượng đánh Pháp.Thắng lợi của chính sách ngoại giao của Đảng tatrong hiệp định giơnevơ (21/7/1954) sau đó là hiệp định pari(27/1/1973) là kếtquả của đường lối đối ngoai độc lập,tự chủ trên nguyên tắc tôn trọng độc lập,chủquyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam,cũng như của 3 nước Đông Dương

Năm 1975 nước ta hoàn toàn giải phóng, tổ quốc hòa bình, thống nhất cảnước tiến lên chủ nghĩa xã hội với khí thế của một dân tộc vừa giành được thắnglợi vĩ đại Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được một số thành tựuquan trọng.Nhưng ngoài những mặt thuận lợi trên thì nước ta cũng đã gặp vôvàn khó khăn trong thời kì này.Mặt khác tình hình thế giới và khu vực cũng có

nh thay đổi.Vì vậy chủ trương đối ngoại của đảng được tếp tục đẩy mạnh:

Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976), Đảng ta xác địnhnhiệm vụ đối ngoại là “ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để

Trang 5

nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh

tế, phát triển văn hóa, khoa học kỹ thuật, củng cố quốc phòng, xây dựng cơ sởvật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nướ ta”

Trong quan hệ với các nước, Đại hội IV chủ trương củng cố và tăngcường tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ và quan hệ hợp tác với tất cả các nước

xã hội chủ nghĩa; bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào –Campuchia; sẵn sàng thiết lập, phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với cácnước trong khu vực; thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa Việt Namvới tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng và cùng cólợi

Từ giữa năm 1978, Đảng ta đã điều chỉnh một số chủ trương, chính sáchđối ngoại như: Chú trọng củng cố tăng cường hợp tác về mọi mặt với Liên Xô,coi quan hệ với Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Việt Namnhấn mạnh yêu cầu ra sức bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào trong bốicảnh vấn đề Campuchia đang diễn biến phức tạp; chủ trương góp phần xây dựngkhu vực Đông Nam Á hòa bình tự do, trung lập ổn định; đề ra yêu cầu mở rộngquan hệ kinh tế đối ngoại Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3-1982),Đảng ta xác định: Công tác đối ngoại phải trở thành một mặt trận chủ động, tíchcực trong đấu tranh nhằm làm thất bại chính sách của các thế lực hiếu chiếnmưu toan chống phá cách mạng nước ta Về quan hệ với các nước, Đảng tiếp tụcnhấn mạnh đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô; xác định quan hệ đặc biệtViệt Nam – Lào – Campuchia có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh của ba dântộc; kêu gọi các nước ASEAN hãy cùng các nước Đông Dương đối thoại vàthương lượng để giải quyết các trở ngại giữa hai bên; chủ trương khôi phục quan

hệ bình thường với Trung Quốc trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình;chủ trương thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường về mặt nhà nước, kinh tế,văn hóa, khoa học kỹ thuật Trên thực tế cho thấy, ưu tiên trong chính sách đốingoại của Việt Nam giai đoạn (1975-1986) là xây dựng mối quan hệ hợp táctoàn diện với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; củng cố và tăng cường

Trang 6

đoàn kết hợp tác với Lào và Campuchia; mở rộng quan hệ hữu nghị với cácnước không liên kết và không phát triển; đấu tranh với sự bao vây, cấm vận củacác thế lực thù địch.

Trên đây chính là đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước ta trước thời

kỳ đổi mới

1.2 Quan hệ giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á trước 1986

Trong đường lối đối ngoại của mình, Đảng và nhà nước ta đặc biệt chútrọng quan tâm đến việc thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vựcĐông Nam Á

Ngay từ xa xưa,Việt nam đã có quan hệ trao đổi,buôn bán với các nướctrong khu vực Đông nam Á,đặc biệt là có mối quan hệ đoàn kết mật thiết vớiLào và Campuchia trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốcMỹ.Sau khi giải phóng hoàn toàn,thống nhất đất nước,trước bối cảnh thế giới vàkhu vực có nhiều thay đổi,Việt Nam chủ trương tăng cường quan hệ đối ngoạivới các nước trong khu vực

Bởi vậy mà ngay sau thắng lợi mùa xuân 1975,Việt nam đã công bố chínhsách 4 điểm bày tỏ quan hệ hợp tác với các nươc Đông Nam Á nói chung và cácước ASEAN nói riêng,cụ thể là:

1.Tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau,không xâmlược lẫn nhau, không can thiẹp vào công việc nội bộ của nhau,bình đẳng cùng cólợi,cùng tồn tại hòa bình

2.Không để lãnh thổ của nước mình cho nước nào lam căn cứ xâm lượchoặc can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào ước kia và các nước khác trong khuvực

3.Thiết lập quan hệ hữu nghị láng giềng tốt đẹp,hợp tác kinh tế và trao đổivăn hóa trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi.Giải quyết những vấn đểtanh chấp giữacác nước trong khu vực thông qua thương lượng thêo tinh thần bình đẳng,hiểubiết và tôn trọng lẫn nhau

Trang 7

4.Phát triển sự hợp tác giữa các nước trong khu vực vì sự nghiệp xâydựng đất nước phồn vinh theo điều kiện riêng của mỗi nước vì lợi ích của độclậphòa bình,trung lập thực sự ở Đông Nam Á,góp phần vào sự nghiệp hòa bìnhtrên thế giới.

Chính sách 4 điểm này đã được hầu hết các nước Đông Nam á hoannghênh,từ đó mở ra triển vọng tốt đẹp trong quan hệ với các nước trong khuvực.Nếu như trước 1975 một số nước Đông Nam á trong tổ chức ASEAN đitheo con đường Tư bản chủ nghĩa chủ trương không hợp tác với Việt nam thìsau 1975 đã bắt đầu mở rộng và đặt quan hệ với nước ta,từng bước tạo điều kiệnthuận lợi cho Việt Nam ra nhập vào hiệp hội các nước Đông Nam Á

Trang 8

Chương 2:Quan hệ đối ngoại giữa Việt nam với các nước trong khu vực

Đông Nam Á thời kỳ đổi mới 2.1.Đường lối,chủ trương đối ngoại của Đảng và nhà nước ta thời kỳ đổi mới

Tiếp tục chính sách đối ngoại trong các giai đoạn trước,bước vào thời kỳđôi mới Đảng và nhà nước Việt Nam tiếp tục bổ sung,phát triển chính sách đốingoại đối với các nước trên thế giới cũng như các nước trong khu vực ĐôngNam Á

Đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới của Đảng tiếp tục bổ sung,hoàn thiệnthông qua các nghị quyết,hội nghị sau:

Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị (khóa VI) tháng 5-1988 là mốc khởiđầu của quá trình đổi mới tư duy, nhận thức và đường lối đối ngoại của Đảng ta.Nghị quyết nhận định rằng, tình trạng kinh tế yếu kém, tình thế bị bao vây vềkinh tế và cô lập về chính trị sẽ thành nguy cơ lớn đối với an ninh và độc lập dântộc Từ đó, đề ra nhiệm vụ ra sức tranh thủ các nước anh em, bè bạn và dư luậnrộng rãi trên thế giới, phân hóa hàng ngũ đối phương, làm thất bại âm mưu côlập ta về kinh tế và chính trị; chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ trạng thái đốiđầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình; ra sức lợi dụng sựphát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật và xu thế quốc tế hóa cao của kinh

tế thế giới, đồng thời tranh thủ vị trí tối ưu trong phân công lao động quốc tế

Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), Hội nghị Trung ương 7 (tháng 1989) và Hội nghị Trung ương 8 (tháng 3-1990) của khóa VI với "các nguyêntắc cơ bản cần được quán triệt trong quá trình đổi mới" và các nghị quyết "Một

8-số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tếhiện nay", "Tình hình các nước xã hội chủ nghĩa, sự phá hoại của chủ nghĩa đếquốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta" đã tập trung đánh giá tình hình thế giớiliên quan đến những biến động xảy ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa

Trang 9

Đông Âu, đề ra các quyết sách đối phó với những tác động phức tạp từ diễn biếncủa tình hình thế giới đối với nước ta và công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Hội nghị Trung ương 3, khóa VII (tháng 6-1992) đã ra Nghị quyết chuyên

đề về công tác đối ngoại Nghị quyết xác định rõ nhiệm vụ công tác đối ngoại,

tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại, các phương châm xử lý các vấn đề quan

hệ quốc tế; đề ra chủ trương mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan

hệ đối ngoại của Việt Nam, cả về chính trị, kinh tế, văn hóa , trên cơ sở giữvững độc lập tự chủ và các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹnlãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác bình đẳng vàcùng có lợi, bảo vệ và phát triển kinh tế, giữ gìn và phát huy những truyền thốngtốt đẹp và bản sắc văn hóa dân tộc Nghị quyết Trung ương 3, khóa VII là vănkiện đánh dấu sự hình thành đường lối đối ngoại của Đảng ta cho thời kỳ đổimới toàn diện đất nước

Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994) vàĐại hội VIII (tháng 6-1996) của Đảng ta đã chính thức khẳng định đường lối đốingoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ với tinhthần "Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấnđấu vì hòa bình, độc lập và phát triển"

Đại hội IX của Đảng (tháng 4-2001) khẳng định Đảng và Nhà nước ta tiếptục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại đó với một tinh thần mạnh mẽ hơn

và một tâm thế chủ động hơn bằng tuyên bố "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đốitác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập

và phát triển"

Hội nghị Trung ương 8, khóa IX (tháng 7-2003) đã ra Nghị quyết vềChiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, trong đó đề cập nhiều nội dunghết sức quan trọng về đối ngoại, đặc biệt là ba vấn đề: về các mâu thuẫn của thếgiới hiện nay; về lợi ích của Việt Nam; về đối tượng, đối tác

Đại hội X của Đảng (tháng 4-2006) đã khẳng định: "Thực hiện nhất quánđường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách

Trang 10

đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Chủ động

và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên cáclĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồngquốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực"

2.2.Quan điểm, chủ trương đối ngoại cuả Đảng đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á

Bước vào thời kỳ đổi mới,xuất phát từ bối cảnh trong nước cũng như khuvực và quốc tế, đảng và nhà nước ta đã có một số điều chỉnh trong chính sáchđối ngoaị cho phù hợp với tình hình mới Đối với khu vực Đông Nam Á,chúng

ta chủ trương tiếp tục đẩy mạnh tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị với cácnước trong khu vực.từ sau Đại hội VI của Đảng với đường lối đổi mới toàndiệnvà chính sách đối ngoại đa dạng hóa quan hệ và nhất là từ năm 1989 Việtnam đã rút hết quân khỏi Campuchia,”vấn đề campuchia” đi vào hòa bình.Chính

vì vậy các nước ASEAN đã phát triển quan hệ song phương với Việt Nam vàhoan nghênh Việt Nam tham gia hợp tác khu vực.tháng 1/1989 tại hội nghị bàntròn các nhà báo Châu Á-Thái Bình Dương đồng chí Nguyễn Văn Linh tuyênbố”Việt nam sẵn sàng ra nhập hiệp hội các nước Đông nam á”.Tại đại hội VIIĐảng Cộng sản Việt Nam khẳng định” phát triển quan hệ hữu nghị với các nướcĐông Nam Á và Châu Á-Thái Bình Dương,phấn đấu cho một Đông Nam Á hòabình,hữu nghị và hợp tác” Đường lối đó đã được cụ thể hóa trong nghị quyếthội nghị trung ương lần thứ III,trong đó nói rõ”Việt Nam tham gia hiệp ướcBali,tham gia các diễn đàn đối thoại với ASEAN,tích cực nghiên cứu mở rộngquan hệ với ASEAN trong tương lai”.Ngày 28/7/1995 tại Brunây,Việt Namchính thức trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN

Hiệp hội các nước Đông Nam Á(ASEAN) thành lập ngày 8/8/1967 taibăngkôc(Thái Lan) với mục tiêu thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế,tiến bộ xã hội

và phát triển văn hóa trong khu vực thông qua nỗ lực chung trên tinh thần bìnhđẳng và hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các nước Đông Nam

Á hòa bình và thịnh vượng,thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn

Trang 11

trọng công lý và nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các nước trong vùng

và tuân thủ các nguyên tắc của hiến chương Liên Hợp Quốc

Việc Việt Nam ra nhập tổ chức ASEAN đã mở ra một thời kỳ mới-thời kỳhội nhập khu vực hóa của cả khu vực Đông Nam Á Đây là một cơ hội lớn đểViệt Nam tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác vơi các nước trong khu vựcnhưng đồng thời cũng là một thách thức vô cùng to lớn,ns đòi hỏi chúng ta phảikhông ngừng nỗ lực ,cố gắng thì mới có thể hội nhập vôứi các nước trong khuvực cũng như vươn ra hội nhập quốc tế.Việc Việt Nam ra nhập ASEAN là mộtquyết định đúng đắn và kịp thời,nó đã góp phần phá thế bị cô lập,bao vây tạo ramôi trường hòa bình,phát triển và thuận lợi hơn cho sự nghiệp xây dụng đấtnước

2.3.Những thành tựu đạt được

2.3.1.Thành tựu chung

Với đường lối đối ngoại tích cực,hữu nghị thời kỳ đổi mới,Việt namchúng ta đã thu được nhiều thành tựu hết sức khả quan trên lĩnh vực đốingoai,hợp tác vơi các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.Hiện nay,ViệtNam có quan hệ ngoại giao với 167 nước thuộc tất cả các châu lục và lần đầutiên trong lịch sử có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn,các ủy viênthường trực của hội đồng bảo an Liên Hợp quốc.trong điều kiện quốc tế ngàynay khi quá trình hội nhập ngày càng được xúc tiến nhanh ,ngoại giao đaphương ngày càng giữ một vị trí quan trọng góp phần nâng cao vị thế của ViệtNam trên trường quốc tế

Việt Nam đã mở rông quan hệ đối ngoai được với nhiều nước trong khuvực cũng như trên thế giới:

Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước trong phong tràokhông liên kết,Việt Nam đã cố gắng phát huy vai trò của mình,góp phần làm chophong trào không liên kếtngày càng củng cố và phát triển.Trên diễn đàn Liênhợp Quốc,Việt Nam và các nước đang phát triển cùg hợp tác để bảo vệ sựnghiệp hòa bình, ủng hộ xu hướng hòa bình hợp tác.Trong các tổ chức kinh tế

Trang 12

toàn cầu(WTO,IMF )Việt nam và các nước tín đang phát triển hợp tác đấutranh đòi các ưu đãi cần thiết trong quan hệ thương mại,dụng, đầu tư quốctế,chống lại sự bất bình đẳng trong các quan hệ kinh tế quốc tế,hạn chế nhữngmặt trái của quá trình toàn cầu hóa.Việc Việt Nam tổ chức thành công hội nghịcấp cao cộng đồng các nước có sử dung tiếng pháp(1997)và đặc biệt là hội nghịcấp cao ASEAN lần thứ 6 (1998) đã góp phần quan trọng nâng cao uy tín và vịthế của đất nước

Đối với các nước ở khu vực Trung Đông,Châu Phi,Mỹ Latinh,Việt Namngày càng tăng cường và củg cố quan hệ với các nước ở khu vực này.Đối vớicác nước lớn như Nhật Bản,Trung Quốc,Anh,Pháp Việt nam không ngừng mởrộng quan hệ hợp tác nhằm tăng cường buôn bán và đầ tư.Bình thường hóa quan

hệ với Mỹ ,Trung Quốc.Đối với Nga và các nước đông Âu Việt Nam cũng đã

và đang tích cực khôi phục lại quan hệ truyền thống

Đây chính là những thành tựu to lớn trong lĩnh vực đối ngoại nói chung

mà Việt Nam đã đạt được

2.3.2.Thành tựu về đối ngoại của Việt Nam với các nước Đông Nam Á

Riêng đối với khu vực Đông Nam Á nhữg thành tựu trong chính sách đốingoại mà Việt Nam đã đạt được là rất to lớn:

Sau đại hội đổi mới (1986)quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các nướctrong khu vực Đông Nam Á đã có những chuyển biến tích cực , Việt Nam luôn

nỗ lực trong mọi hoạt động đối ngoại xúc tiến quan hệ hữu nghị hợp tác với cácnước và tham gia vào các tổ chức khu vực ,từ một quan sát viên đến ngày28/7/1995 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của hiệp hội các nướcĐông Nam Á (ASEAN) ,Việt Nam còn tham gia vào khu vực mậu dịch tự doASEAN (AFTA) Việc tham gia vào các tổ chức khu vực này đã mở ra cơ hộilớn cho Việt Nam trong việc hội nhập giao lưu với các nước trong khuvực ,khẳng định vị thế và nâng cao uy tín của Việt Nam trong khu vưc ĐôngNam Á cũng như trên thế giới

Trang 13

Trong mối quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vực Việt Nam cũng

đã thu được nhiều kết quả to lớn về chính trị,kinh tế ,văn hóa-xã hội,giáodục cụ thể là:

2.3.2.1 Quan hệ Việt Nam -Xinh-Ga-Po:

Việt Nam và Xinh-ga-po thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 01/8/1973.Tháng 12/1991, Đại sứ quán Việt Nam được thành lập tại Xinh-ga-po và tháng9/1992, Đại sứ quán Xinh-ga-po tại Hà Nội được thành lập

Trong chuyến thăm làm việc Xinh-ga-po của Thủ tướng Phan Văn Khải(3/2004), hai bên đã ký "Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác toàn diện trongthế kỷ 21", tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi thúc đẩy quan hệ hữu nghị

và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước

Về thương mại – đầu tư: Từ 1996 đến nay, Xinh-ga-po luôn là một

trong những đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất của Việt Nam Năm 2008,kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt hơn 12 tỷ USD (tăng 22,4% so với năm2007) Tính đến hết tháng 4/2009 kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt1,838 tỷ USD Từ 1998 đến nay, đầu tư trực tiếp của Xinh-ga-po vào Việt Namliên tục tăng Tính đến hết năm 2008, Xinh-ga-po có hơn 600 dự án còn hiệu lựctại Việt Nam với số vốn đăng ký khoảng hơn 16 tỷ USD (vốn thực hiện 5,6 tỷUSD, chiếm tỷ lệ 35,2%) Tính đến hết tháng 5/2009, Xinh-ga-po có 42 dự áncấp mới với số vốn hơn 300 triệu USD Các dự án của Xinh-ga-po chủ yếu tậptrung vào: bất động sản, cơ sở hạ tầng, khách sạn, khu công nghiệp

Về giáo dục : Số lượng học bổng Chính phủ Singapore dành cho học

sinh phổ thông Việt Nam đã được nâng lên 25 học bổng/năm dựa vào kết quảkiểm tra của học sinh Ngoài ra, còn cấp cho Việt Nam mỗi năm 15 học bổngđại học

Về du lịch : Năm 2008, có 239.000 khách Việt Nam sang thăm

Xinh-ga-po; và 160.000 người Xinh-ga-po thăm Việt Nam

2.3.2.2 Quan hệ Việt Nam – Thái Lan:

Việt Nam và Thái Lan thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 6/8/1976

Trang 14

Kim ngạch thương mại hai nước trong năm 2008 đạt hơn 6,2 tỷ USD,tăng 31% so với năm 2007 Trong 5 tháng đầu năm 2009, kim ngạch xuất nhậpkhẩu giữa Việt Nam và Thái Lan đạt gần 1,9 tỷ USD Về đầu tư, tính đến tháng3/2009, Thái Lan có 198 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng kýđạt 5,7 tỷ USD, vốn đầu tư thực hiện đạt 835 triệu USD, đứng thứ 9 trong tổng

số 84 quốc gia và vùng lãnh thổ và đứng thứ 3 trong các nước ASEAN có đầu tưtại Việt Nam Hai bên tiếp tục duy trì cơ chế hợp tác xuất khẩu gạo, thỏa thuậnthúc đẩy hợp tác khai thác tuyến đường hành lang Đông-Tây, cũng như hợp táctrong các khuôn khổ khu vực ASEAN, ACMECS, GMS…

2.3.2.3 Quan hệ với Việt Nam-Phi-líp-pin

Về Chính trị: Việt Nam và Phi-líp-pin thiết lập quan hệ ngoại giao ngày

12-7-1976 Nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam tháng 11/2002 của Tổngthống Arroyo, hai nước đã ký "Khuôn khổ hợp tác song phương trong 25 nămđầu thế kỷ 21 và thời kỳ tiếp theo" và nhân chuyến thăm chính thức Phi-líp-pincủa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (8/2007), Bộ trưởng Ngoại giao hai nước đã

ký Chương trình hành động 2007 – 2010 triển khai Tuyên bố chung

Về Kinh tế, đầu tư, thương mại, khoa học - kỹ thuật, văn hoá:

Tháng 3/1994, hai nước ký thoả thuận thành lập Ủy ban Hỗn hợp về hợptác kinh tế, khoa học và kỹ thuật giữa 2 chính phủ

Về thương mại: Kim ngạch năm 2008 đạt khoảng 2,1 tỷ USD, 4 tháng

đầu năm 2009 đạt 561 triệu USD Việt Nam xuất sang Phi-lip-pin chủ yếu làgạo, linh kiện điện tử và hàng nông sản và nhập của Phi-líp-pin chủ yếu là phânbón, máy móc thiết bị phụ tùng, khoáng chất, khí hóa lỏng, xăng dầu, dượcphẩm, vật liệu xây dựng Gạo là mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất sang Phi-líp-pin trong nhiều năm qua, trung bình từ 1,5 - 1,7 triệu tấn/năm

Về đầu tư: Tính đến hết 2008, Phi-líp-pin có 38 dự án với tổng vốn đầu

tư đạt 280 triệu USD

Về giáo dục: Hiện có khoảng 400 sinh viên Việt Nam đang theo học đại

học, thạc sĩ, tiến sĩ

Ngày đăng: 25/07/2021, 11:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w