Dưới ánh sáng của Đại hội VI, từ năm 1986 đến nay, cùng với cả nước,Đảng bộ và nhân dân Đô Lương nhanh chóng tiếp nhận và đưa chủ trương đổi mớicủa Đảng vào hiện thực đời sống với quyết
Trang 1MỤC LỤC
A: MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu đề tài 3
B: NỘI DUNG 4
I KHÁI QUÁT ĐÔ LƯƠNG TRƯỚC THỜI KỲ ĐỔI MỚI 4
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, truyền thống văn hóa lịch sử vùng đất Đô Lương .4
1.2 Khái quát tình hình kinh tế xã hội Đô Lương trước thời kỳ đổi mới 6
II ĐẢNG BỘ NHÂN DÂN ĐÔ LƯƠNG LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN TIẾN HÀNH ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI (1996 đến nay) 9
2.1 Bước đầu trên đường đổi mới (1986-1995) 9
2.2 Đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa 1996 – nay 15
2.3 Kết quả sau 25 năm đổi mới của Đảng bộ Đô Lương 22
C: KẾT LUẬN 27
D: TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
A: MỞ ĐẦU
Trang 21 Lý do chọn đề tài
Năm 1975, với đại thắng Mùa Xuân vĩ đại, cả dân tộc ta bước vào một kỷ nguyênmới, kỷ nguyên của độc lập, tự do, thống nhất đất nước, cùng đi lên Chủ Nghĩa XãHội Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong 10 năm (1975-1985), cách mạng Việt Nam
đã vượt qua những khó khăn trở ngại, đạt được những thành tựu quan trọng Trêncác lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, nhân dân ta đã có những cố gắng to lớn trongcông cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, bước đầu ổn định sảnxuất và đời sống nhân dân Tuy nhiên, trong hai nhiệm kỳ đại hội IV, V, Đảng vànhân dân ta vừa làm, vừa tìm tòi, thử nghiệm con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.Trong quá trình đó cách mạng xã hội chủ nghĩa đạt được thành tựu và tiến bộ đáng
kể trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Nhưng không tránh khỏi những khókhăn và yếu kém
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật,tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI được triệu tập, Đại hội
đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt làm được,phân tích rõ những sai lầm, khuyết điểm và đề ra đường lối đổi mới trên tất cả cácmặt của đời sống kinh tế - xã hội Đổi mới là yêu cầu cấp thiết có ý nghĩa sống cònđối với cách mạng Việt Nam và phù hợp với xu thế của thời đại
Trong bối cảnh chung của đất nước, Đô Lương là một huyện nghèo, nằm ở phíaTây bắc tỉnh Nghệ An, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, cơ sở vật chất hạ tầng thấpkém, sản xuất kém phát triển, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Do đó,
để thoát khổi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, hơn lúc nào hết Đô Lương phải cónhững bước đi thích hợp để ổn định đời sống nhân dân và xây dựng huyện nhàngày càng vững mạnh
Dưới ánh sáng của Đại hội VI, từ năm 1986 đến nay, cùng với cả nước,Đảng bộ và nhân dân Đô Lương nhanh chóng tiếp nhận và đưa chủ trương đổi mớicủa Đảng vào hiện thực đời sống với quyết tâm cao nhất Trên cơ sở tình hình thực
tế, nguồn lực và tiềm năng sẵn có của huyện, Đảng bộ và nhân dân Đô Lương đãvận dụng chủ trương đổi mới của Đảng một cách sáng tạo và linh hoạt Với sự nỗlực vươn lên của Đảng bộ và nhân dân, trong hơn 25 năm đổi mới, Đô Lương đã
Trang 3vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế và cácnguồn lực, tạo được chuyển biến rõ rệt trên tất cả các mặt chính tri – kinh tế - vănhóa – giáo dục – y tế…Đó là minh chứng xác thực khẳng định đường lối đổi mới
mà Đại hội VI của Đảng đưa ra là đúng đắn, phù hợp thực tiễn đất nước và xu thếthời đại, khẳng định sáng tạo của Đảng bộ trong viêc vận dụng đường lối củaĐảng, của tỉnh vào thực tiễn huyện nhà
Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu, công cuộc đổi mới ở Đô Lương cònnhiều mặt hạn chế, yếu kém đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Đô Lương phải có cácbiện pháp khắc phục để tiếp tục sự nghiệp đổi mới
Vì vậy đề tài: “Đảng bộ Đô Lương với công cuộc đổi mới từ 1986 đến nay” đã được chọn làm đề tài nghiên cứu của tôi.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: trên cơ sở phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Đô Lương nóiriêng và Đảng cộng sản Việt Nam nói chung, mục đích của đề tài này là làm rõnhững đường lối của Đảng bộ Đô Lương nói riêng và Đảng cộng sản Việt Nam nóichung để đưa đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới
Để thực hiện được mục đích trên thì cần làm rõ 3 nhiệm vụ sau:
- Vấn đề về thực tiễn và lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam
- Đường lối chính sách của Đảng bộ Đô Lương
- Những thành tựu mà Đô Lương đạt được trong quá trình đổi mới
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu: đường lối của Đảng bộ Đô Lương trong công cuộcđổi mới
Phạm vi nghiên cứu: Đường lối đổi mới và những kết quả đạt được từ năm
1986 đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
- Quan điểm của C.Mác và VI.Lênin về Đảng cộng sản Việt Nam
- Quan điểm của Hồ Chí Minh và theo đường lối, chính sách của Đảng
Trang 4- Đúc rút kinh nghiệm của những người đi trước.
Đề tài này sử dụng các phương pháp điều tra, phân tích, tổng hợp, phươngpháp logic kết hợp với lịch sử
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Nội dung được chia làmhai phần chính đó là:
1 Khái quát Đô Lương trước thời kỳ đổi mới
2 Đảng bộ nhân dân Đô Lương lãnh đạo nhân dân tiến hành đường lối đổi mới(1986 đến nay)
B: NỘI DUNG
I khái quát Đô lương trước thời kỳ đổi mới
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, truyền thống văn hóa lịch sử vùng đất Đô Lương
Trang 5Huyện Đô Lương được tách ra khỏi Anh Sơn từ năm 1963, có tổng diện tích tựnhiên 35.594 ha, dân số có 19.8 vạn người, được phân bố thành 32 xã và 1 thị trấn.
Về vị trí địa lý: Đô lương nằm về phía Tây bắc tỉnh Nghệ An, nơi tiếp giáp giữacác huyện đồng bằng với các huyện miền núi tạo thành ngã tư kinh tế với 3 tuyếngiao thông quan trọng: Đường 7A, 15A, và đường 46 tại thị trấn Đô Lương, vùngcầu Tiên và Ba ra Đô Lương trở thành một trung tâm kinh tế - văn hoá, thương mại
có nhiều tiềm năng, triển vọng phát triển kinh tế và không gian đô thị có tầm cỡmột thị xã trong tương lai
Đất rộng, người đông, địa hình phức tạp, vừa có đồng bằng vừa có miền núi, vừa
có vùng ven sông, vừa có vùng bán sơn địa, mỗi vùng có những đặc điểm sinh tháiriêng tạo nên một nền nông nghiệp đa dạng với 4 loại cây con, 4 nhóm sản phẩmchủ yếu đó là: cây lương thực; cây ăn quả, thực phẩm; cây công nghiệp; câynguyên liệu Trâu, bò, lợn, cá, gia cầm và 4 nhóm sản phẩm là: lương thực; thựcphẩm; hàng tiêu dùng mỹ nghệ; vật liệu xây dựng
Sông ngòi: Huyện Đô Lương có dòng sông lam chảy qua với chiều dài 30kmđược bắt nguồn từ nước bạn Lào và chảy qua các huyện vùng thượng rồi chia ĐôLương thành hai phía tả ngạn và hữu ngạn Ngoài ra Đô Lương còn có các consông nhỏ chảy vào từ nhiều vùng khác nhau đổ vào sông Cả Sông Đào chảy quacác xã như là Yên Sơn, Văn Sơn, Thịnh Sơn, Hòa Sơn và chảy về Tây nam YênThành Nhiều hồ nước lớn nhỏ, trong đó có hồ nước Yên Thạch (Thái Sơn), ĐạiSơn Lượng mưa bình quân hàng năm 1800 mm – 2000mm, có nguồn nước mặtdồi dào, đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất và phục vụ cho đồi sống sinh hoạt cuẩnhân dân
Khí hậu: khí hậu Đô Lương mang đặc điểm chung của khí hậu Nghệ An làkhí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu tác động của gió tây nam khô và nóng (từ tháng 4đến tháng 8) và gió mùa Đông bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau).Khí hậu mang những đặc đierm chung của vùng nên cừa có những thuận lợi và vừa
có sự khắc nghiệt của thiên nhiên Ngoài những yếu tố nắng lắm, mưa nhiều, độ
ẩm cao thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt, chăn nuôi Song Đô Lương cũngchịu những sự bất lợi do thiên tai gây ra việc hình thành các vùng tiểu khí hậu,lượng mưa nắng phân bố không đồng đều trong năm dẫn đến hạn hán, lũ lụtthường xuyên gây bao tai họa cho sản xuất và đời sống con người Vì vậy, đã từ lâungười dân biết đoàn kết gắn bó bên nhau dưới nhiều hình thưucs phong phú nhưphường hội để chống đỡ, tìm kiếm phương thức tạo lập cho cuộc sống Các mươngmáng, hồ đập được xây dựng mở mang, hàng chục hồ đập được tu sửa và làm
Trang 6thêm nhiều công trình dẫn thủy mới tạo mương mangs cho thủy nông phục vụ sảnxuất tốt hơn.
Tài nguyên: Đô Lương có diện tích tự nhiên là 35.433 ha năm 2004 Trong
đó đất nông nghiệp là 12.790 ha chiếm 36,1%; đất lâm nghiệp có rừng là 7.260 hachiếm 20,49%; đất chuyên dùng là: 3.616 ha chiếm 10,2%; đất ở 1.122 ha chiếm3,1%; đất chưa sử dụng và sông núi đá: 10.644 ha chiếm 30,04% Với tiềm năngđất đai đa dạng đã tạo cho nơi đây có điều kiện cho việc phát triển đa dạng vàphong phú giống cây trồng, vật nuôi…Ngoài tiềm năng đất đai đa dạng, khoángsản có trữ lượng lớn nhất như đá vôi, cát sạn, đất sét, sứ và cao lanh, các kết cấu hạtầng kinh tế kỹ thuật trải qua 20 năm đổi mới đã được đầu tư tương đối đồng bộ tạothành nguồn lực cho sự phát triển
Đô lương có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như hang Mật Trắng, đập ĐáBàn (Bài Sơn), đập Khe Du (Hoà Sơn), đập Khe Ngầm (Lam Sơn), Nước khoángnóng (Giang Sơn), Bãi Bồi (Tràng Sơn), lèn đá Thung (Trù Sơn) Những thắngcảnh thiên nhiên là những công trình kinh tế phục vụ đời sống con người, nằmcạnh các khu văn hóa như Đền Quả, Đền Đức Hoàng, nhà thờ Nguyễn Cảnh, Thái
Bá Du, khu di tích Truông Bồn, và cạnh các vùng núi đá, đập Ba ra Đô Lương,Cống Mụ Bà v.v tạo thành khu du lịch văn hoá, sinh thái hấp dẫn Các món ẩmthực ở Đô Lương mang hương vị đặc sản đồng quê đã có từ xa xưa
Đô Lương có hệ thống giao thông thuận tiện, nếu thực hiện 1 tua du lịch từ Cửa
Lò về thành phố Vinh, thăm quê Bác, lên Đô Lương tắm nước nóng Giang Sơn,đến cột mốc số 0 đường mòn Hồ Chí Minh bạn có thể đi bất cứ nơi đâu kể cả sangnước bạn Lào
Do có địa thế như vậy nên thị trường ở Đô Lương cũng phát triển rất sớm,men theo các quốc lộ và triền sông lam hệ thống chợ nông thôn cũng rất trù phú,nhưng nổi tiếng vẫn là chợ Lường và chợ Trung tâm thương mại huyện Đô Lương
về sự đô hội của nó
Đô Lương là vùng đất văn hoá, nổi tiếng hiếu học, chính những tên đất, tênlàng Bạch Ngọc, Văn Khuê, Văn Lâm, Văn Tràng, Rú Bút, Hòn Nghiên, HònMực.v.v từ lâu đã được nhân dân hình tượng hoá thể hiện sự khát vọng vươn tới
và thích học hành, đỗ đạt khoa bảng, với triết lý “học để biết, biết để làm người”điều đó lại được chắt lọc chưng cất qua bao thế hệ trở thành truyền thống hiếu học
và tôn trọng nhân tài của nhân dân Đô Lương ngày nay
Trong những năm vừa qua, được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, các sở,ban ngành cấp tỉnh và phát huy năng động, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân,
Trang 7Huyện uỷ, UBND huyện Đô Lương đã đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng khai thác mọi tiềm năng lợi thế, gắn sản xuất với thị trường, pháttriển bền vững, điều đáng ghi nhận là trong sản xuất nông nghiệp đã hình thành 3sản phẩm chủ yếu là: cây lương thực, thực phẩm, tơ tằm
Trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá, hệ thống chợ nông thôn được nâng cấp,cải tạo đáp ứng nhu cầu trao đổi mua bán trên thị trường; một số chợ vùng có tầm
cỡ như chợ Năn (Giang Sơn), chợ ú (Đại Sơn), chợ Vịnh (Thái Sơn), Trung tâmthương mại huyện được đầu tư xây dựng và hoạt động có hiệu quả Hoạt động tàichính và thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt dự toán tỉnh giao, chi ngân sáchđảm bảo đúng mục đích và theo hướng tiết kiệm chống lãng phí, hoạt động cácHTX tín dụng và các Ngân hàng chuyên doanh đều đáp ứng đủ nhu cầu về vốn chophát triển kinh tế - xã hội, cho các chương trình dự án
1.2 Khái quát tình hình kinh tế xã hội Đô Lương trước thời kỳ đổi mới
1.2.1 Giai đoạn 1976-1980
Sự nghiệp chống Mỹ của nhân dân ta kết thúc thắng lợi, tổ quốc thống nhất,đất nước sạch bóng quân thù Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, cảnước đi lên chủ nghĩa xã hội Yêu cầu đặt ra lúc này là khăc phục hậu quả chiếntranh và khắc phục kinh tế ổn định và khôi phục kinh tế, văn hóa, hoàn thànhthống nhất và đưa đất nước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hôi IV của Đảng (1976) đề ra đường lối chung và đường lối xây dựngkinh tế trong giai đoạn mói của nước ta, chỉ ra nhiệm vụ cơ bản của 5 năm (1976-1980) là: “Tập trung cao độ lực lượng của cả nước, của các ngành, các cấp tạobước phát triển vượt bậc về nông nghiệp nhằm giải quyết vững chắc nhu cầu vềlương thực, thực phẩm và một phần hàng tiêu dùng thông thường” [40,15] Đểthực hiện kế hoạch 5 năm của nhà nước Đảng bộ và nhân dân Đô Lương đã tiếnhành 3 kỳ Đại hội: Đại hội Đảng lần IX (1976), Đại hội Đảng lần X (1977), Đạihội Đảng lần XI (1979-1981) Trong giai đoạn này, Đảng bộ và nhân dân ĐôLương đã có những chủ trương, chính sách để khôi phục và phát triển kinh tế xãhội, bước đầu đạt được những thành tựu cơ bản:
Về kinh tế: Việc phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn là nhiệm vụ hàng đầucủa Đảng bộ trong thời kỳ đổi mới Với chủ trương đem hết tài năng trí tuệ củamình phấn đấu làm tròn trọng trách trước Trung ương Đảng, chính phủ và trướcnhân dân, tạo bước nhảy vọt về văn hóa, kinh tế, đưa phong trào cách mạng tiếnlên
Trang 8Đầu năm 1976, chuyển 1.600 hộ lên đồi trọc và mở thêm 100 ha đất canhtác Việc khai hoang mở rộng diện tích được quan tâm Kết quả đã mở thêm 370ha.
Để phát triển sản xuất cần giả quyết khâu thủy lợi Năm 1976, huyện huyđộng được 8.438 lực lượng lao động chuyên làm thủy lợi Lực lượng này đã giảiquyết được những vấn đề cơ bả trong công tác thủy lợi, giao thông nông thôn Nhờvậy diện tích tưới từ 6.000 ha gieo trồng lên 10.000ha
Năm 1979-1980, diện tích gieo trồng tăng 110%, trong đó cây lương thựctăng 105 %, ngô tăng 104%, khoai tăng 125%, cây lương thục tăng 105% Đặcbiệt Đô Lương chủ trương đẩy mạnh phát triển đàn gia súc
1976 – 1980, ở Đô Lương có 14 xí nghiệp quốc đoanh hoàn thành vượt mức chỉtiêu kế hoạch, tổng thu nhập trong vòng 2 năm 1977- 1978 là 36 triệu đồng nạpvào ngân sách nhà nước
Văn hóa – xã hội: cùng với phát triển kinh tế, Đảng bộ đã quan tâm pháttriển các ngành giáo dục, y tế, văn hóa xã hội Trong điều kiện kinh tế xã hội khókhăn nhưngg giáo dục vẫn phát triển cả 3 cấp học Công tác y tế, nhất là phòngchống dịch bệnh, công tác sinh đẻ đã có nhiều tiến bộ Phong trào văn nghệ đượcduy trì, phong trào thể dục thể thao phát triển Năm 1980 Đô Lương được phongtặng danh huân chương độc lập hạng nhì
Chính trị - an ninh quốc phòng: Đảng bộ Đô lương chủ trương xây dựngkinh tế phải gắn chặt với củng cố an ninh quốc phòng
1.2.2 Giai đoạn 1981 – 1986
Đại hội đại biểu tòn quốc lần thứ V của Đảng xác định rõ chặn đường đầutiên của thời kỳ quá độ ở nước ta đã được tiến hành trong hoàn cảnh đất nước đãqua 5 năm thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa Đại hôi V xác định:Đường lối xây dựng công nghiệp hóa thời kỳ qúa độ của Đảngvà bắt đầu có sựđiều chỉnh, bổ sung, phát triển, cụ thể hóa ho từng chặng đườn, từng giai đoạn lịch
sử cụ thể [25,298] Với nhiệm vụ “phát triển thêm một bước, sắp xếp lại cơ cấu vàđẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân” nhằm cở bản ổn định tìnhhình kinh tế xã hội
Giai đoạn 1981 – 1986, Đảng bộ Đô Lương tiến hành Đại hội Đảng lần XIIvào ngày 5/12/1982 Đại hội đã tạp trung xác định nhiệm vụ chiếu lược: xây dựng
và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh phát triển kinh
tế của đất nước với trọng tâm tập trung cho mặt trận hàng đầu là lương thực, thựcphẩm và hàng tiêu dùng
Trang 9Thực hiện chủ trương của ban bí thư Trung ương Đảng về chỉ thị 100 ct –
tw, chủ trương thực hiện cơ chế “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và ngườilao động”, Đảng bộ Đô lương kịp thời và triển khai chỉ thị xuống tận cơ sở và đápứng được yêu cầu của quần chúng nhân dân nên nhanh chóng được thực hiện Nềnkinh tế xã hôi trong huyên đã đạt được những bước đầu:
Về kinh tế nông nghiệp: Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển tương đốinhanh, đưa tổng sản lượng lương thực từ 40.000 tấn năm 1981 lên 54.000 tấn năm
1985 Năng suất lúa tăng nhanh như 1981: 20,1 tạ/ha, năm 1985: 37,7 tạ/ha Tốc độtăng về lương thực đạt 30,1 % trên bình quân tốc độ tăng của Tỉnh là 28,8%, làhuyện có bình quân lương thực đầu người cao nhất Lần đầu tiên trong lịch sử trênđịa bàn Đô Lương đảm bảo cân đối trang trải nhu cầu lương thực mà còn tạo ranguồn lương thực dự trữ, nhân dân thiếu ăn ngày càng giảm
Về nông lâm: Hàng năm Đảng bộ đã liên tục phát động trồng cây phân tán,từng bước phủ xanh đất trống đồi trọc, tiến hành giao đất giao rừng 12.533 ha chotập thể và 23.000 ha cho xã viên nuôi trồng chăm sóc và bảo vệ
Chăn nuôi: Đàn lợn có tốc độ tăng khá nhanh từ 37.000 con lên 43.000 con Đàntrâu bò từ 17.186 lên 22.071 con, tăng 29% so với năm 1980
Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: trong giai đoạn này bắt đàu hìnhthành các đơn vị tiên tiến, gắn sản xuất với ché biếm mở rộng ngành ghề thủ côngnghiệp để phục vụ trong kinh doanh như sản xuất gạch ngói, xay xát…Song cũngxuất hiện những nhà máy điển hình như: hà máy gỗ, công ty xây dựng đường 3…
Về văn hóa- giáo dục –an ninh quốc phòng: những chuyển biến trên lĩnh vựckinh tế là động lực để thúc đẩy, tạo nên bước chuyển biến mới trên lĩnh vực vănhóa, xã hội cũng như an ninh quốc phòng Trong 2 năm 1984-1985, sự nghiệp giáodục của Đô Lương được tỉnh công nhận là huyện tiên tiến
Y tế: mặc dù trong hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn về mọi mặt, song công việcphòng và chữa bệnh có nhiều tiến bộ
Nhìn lại 10 năm Đất nước độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, kinh
tế xã họi huyện Đô Lương tuy đạt được những thành tựu đáng kể song còn tồn tại
và yếu kém vẫn còn nhiều Nền kinh tế huyện nhà trong những năm qua phts triểnchưa toàn diện, đang trong tình trạng chậm phát triểm và trì trệ Trong nông nghiệpgiải quyết được năng suất và sản lượng lúa thì sản lượng hoa màu sụt giảm
Lâm nghiệp thì nạn chặt phá rừng còn tiếp tục diễn ra, ảnh hưởng đến môitrường sinh thái
Trang 10Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chưa chú ý đến chất lượng sản phẩm.Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
II Đảng bộ nhân dân Đô Lương lãnh đạo nhân dân tiến hành đường lối đổi mới (1986 đến nay).
2.1 Bước đầu trên đường đổi mới (1986-1995)
2.1.1 Đường lối đổi mới của Đảng
Sau 10 năm lãnh đạo nhân dân cả nước tiến vào giai đoạn cách mạng mới,xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhândân ta đạt được nhưng thành tựu: khắc phục một bước sự phân tán lạc hậu của nềnkinh tế, cải biến một phần cơ cấu kinh tế - xã hội, đặt ra những cơ sở đầu tiên chobước phát triển mới
Đại hội Đảng bộ toàn quốc lần thứ VI từ ngày 15 – 18/12/1986 là mốc quantrọng đánh dấu đất nươc chuyển sang thời kỳ đổi mới Đại hôi VI đánh giá tìnhhình đất nước, kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của Nhà nước trong giaiđoạn đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Báo cáo chính trị đã nêu: “Sau thắng lợicủa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên cơ sở nhận định đúng những đặcđiểm cơ bản của tình hình cách mạng nước ta, Đảng đã kịp thời quyết định thốngnhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, đề ra đường lối chung vàđường lối cụ thể trong cả thời kỳ quá độ Nhưng việc đánh giá tình hình cụ thể vềcác mặt kinh tế xã hội còn nhiều thiếu sót Do đó trong 10 năm qua đã phạm nhiềusai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹthuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế”[23,18] Từ đó đề ra đường lốimới một cách toàn diện, đồng bộ từ kinh tế chính trị đến tư tưởng, văn hóa trong
đó trọng tâm là đổi mới kinh tế, Đại hôi xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổngquát trong 5 năm 1986-1990 là: “Ổn định mọi mặt tình hình kinh tế xã hội, tiếp tụcxác định nhữn tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa trong chặngđường tiếp theo” [23,42]
Xuất phát từ nhiệm vụ bao trùm và mục tiêu tổng quát, để thực hiện nhiệm
vụ và mục tiêu cảu chặng đường đầu tiên, trong 5 năm trước mắt (1986 – 1990):
“Phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chuongtrình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” [23,48]
Trong khi thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội phải luôn luôn coi trọng, đảm bảocác nhu cầu củng cố quốc pòng an ninh, trước hết là nhu cầu thường xuyên về đờisống và các hoạt động khác của lực lượng vũ trang; tổ chức tốt hơn hoạt đọng sản
Trang 11xuất, xây dựng kinh tế của quân đội, góp hần xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuậtcho quốc phòng và kinh tế.
Sau 5 năm thực hiện Nghi quyết của Đại hội VI, trên phạm vi cả nước nhiềungành, nhiều địa phương phấn khởi gặt hái những thành quả bước đầu Công cuộcđổi mới ở nước ta đang tiến theo chiều hướng tích cực thì hệ thống các nước chủnghĩa xã hội diễn biến rất phức tạp
Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ tác động tiêu cực đến tình hình nước ta nóichung và quá trình đổi mới nói riêng Mặt khác nước ta chưa thoát khỏi khủnghoảng kinh tế xã hội cộng thêm sự biến động phức tạp của thời tiết gây hậu quảnghiêm trọng cho sản xuất và đời sống nhân dân Trong bối cảnh đó đòi hỏi Đảng
và Nhà nước phải đẩy mạnh công cuộc đổi mới Từ ngày 24 đến 27/6/1991, Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng hop, đã tổng kết đánh giá việc thựchiện đường lối đổi mới của Đại hôi VI, phát huy những thành tựu đạt được, khắcphục những khó khăn hạn chế trong bước đầu đổi mới đất nước Đại hôi VII nhậnđịnh: công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọngnhưng đât nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Đại hội quyết đinhthông qua chiến lược “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội” và “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000”nhằm tiến tới một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Đạihội đề ra mục tiêu tổng quát cho 5 năm 1991 – 2000 là: “Vượt qua khó khăn, thửthách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùitiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng”[23,446]
2.1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ Đô Lương trong giai đoạn đổi mới từ 1986 đến1995
Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng tại Đại hội VI, Đại hội Đảng bộNghệ An lần thứ XII, trên cơ sở phân tích tình hình khó khăn mà huyện đang gặpphải, những điều kiện có thể đưa huyện thoát khỏi khủng hoảng, Đảng bộ Huyện
Đô Lương đã vận dụng một cách phù hợp vào hoàn cảnh địa phương Các Nghịquyết Trung Ương được tổ quán triệt học tập đến tận cán bộ, Đảng viên và nhândân Đảng bộ chủ trương: Phát triển nhiều thành phần kinh tế sản xuất hàng hóa,
cơ chế quản lý mới, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp Đây là những vấn
đề mới lạ chưa có hướng dẫn cụ thể trong tổ chức thực hiện, là cuộc đấu tranh tưtưởng giữa cái cũ và cái mới, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Đô Lương phải vươnlên, để tiếp tục phát triển theo sự phát triển chung của đất nước
Trang 12Trong thời gian từ 9/1986 đến 12/1990, Đại hội Đảng bộ huyện Đô Lương
đã tiến hành hai nhiệm kỳ Đại hội Đại biểu lần thứ XIII và XIV Tại Đại hội Đạibiểu lần thứ XIII, Đảng bộ Đô Lương đã đưa ra nhiệm vụ chung là: “phát huy tinhthần làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nêu cao ý chí, tự lực, tự cường khaithác tiềm năng tại chỗ, từ lao động đất đai mà đi lên tạo bước chuyển biến mạnh
mẽ, vững chắc trong tổ chức lại sản xuất, phân công lao động, mở rộng ngànhnghề, nhanh chóng ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật khai thác và thâmcanh chiều sâu trên các lĩnh vực sản xuất, tăng độ đồng đều trên 4 vùng kinh tế.Đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, đưa phong trào huyện nhà có bước phát triểnmới, toàn diện về kinh tế - xã hội - an ninh quốc phòng”[3,12]
Cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế, Đảng bộ Đô Lương chủ trương chăm lo giáodục, bồi dưỡng con người mới Tăng cường chăm lo sức khỏe cho nhân dân, phòng
và chống dịch bệnh, chỉ đạo tốt công tác văn nghê, thể dục thể thao Thực hiệnchính sách thương binh xã hội Cố gắng xây dựng cơ sở vạt chất nhất là thủy lợi,giao thông vận tải, năng lượng và nhanh chóng ứng dụng khoa học kỹ thuật vàosản xuất
Trong 2 năm thực hiện đường lối đổi mới1987 – 1988, Đô Lương đứng trướcnhững khó khăn: Bước đầu vận dụng Nghị quyết của Đảng theo tinh thần đổi mớiđang có nhiều bất cập và chưa đồng bộ đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹthuật chưa đáp ứng được yêu cầu mới đặt ra
Trong hoàn cảnh đó, Đại hội Đại biểu Đảng bộ khóa XIV tiến hành vào ngày 12/1989, đề ra mục tiêu, nhiệm vụ của huyện Đô Lương trong những năm 1989 –
11-1990 là: “Tập trung xây dựng một huyện thực sự có kinh tế hàng hóa lớn Giảiphóng mọi năng lực sản xuất hiện có; khai thác có hiệu quả những khả năng tiềmtàng của địa phương đồng thời mở rộng liên doanh liên kết để khai thác nhiềungành hàng, mặt hàng và bạn hàng Thực diện tốt 3 chương trình kinh tế trên địabàn, đặc biệt là thâm canh chiều sâu; đầu tư khai thác kinh tế 2 vùng đầu huyện.Đưa nhanh, đưa có hiệu quả tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đời sống Thựchiện tốt kế hoạch hóa dân số Ổn định trên cơ sở nâng cao một bước đời sống nhândân Xây dựng một huyện mạnh về kinh tế, vững về chính trị, an ninh quốc phòngvững chắc, văn hóa xã hội phát triển”[4,8]
Đây là quá trình tìm tòi, khám phá, từng bước cụ thể để xác định phương hướng,nhiệm vụ kinh tế xã hội của huyện theo đường lối đổi mới của Đảng Ban chấphành huyện ủy đã hướng mọi nỗ lực để tổ chức lãnh đạo, quan tâm xây dựng Đảng
bộ Đô Lương trở thành Đảng bộ vững mạnh, đẩy mạnh thâm canh phát triển nông
Trang 13nghiệp toàn diện, an ninh quốc phòng vững mạnh, nhân dân có cuộc sống ấm nohạnh phúc.
Tháng 12/1991, tỉnh Nghệ Tĩnh chia lại thành 2 tỉnh: Nghệ An và Hà Tĩnh sau 15năm sát nhập Nghệ An được tái lập trở lại và tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổimới
Huyện Đô Lương mặc dù đã gặt hái được nhiều thành quả trong 5 năm đổi mới,song nền kinh tế vẫn trong tình trạng tự cung, tự cấp, nhiều hợp tác xã nông nghiệplúng túng trong việc thực hiện cơ chế mới, một số nơi buông lỏng quản lý, sử sụngcác khoản đóng góp sai nguyên tắc, tạo ra nhiều kẽ hở, một số cán bộ lợi dụngtham ô gây bất bình trong dân
Xuất phát từ tình hình nói trên, Đảng bộ Đô Lương tổ chức Đại hội Đại biểu lầnthứ XV, từ ngày 21 đến 22/11/1991 Đại hội triển khai chỉ đạo tiếp theo đường lốitiếp tục đường lối tiếp tục đổi mới của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII vàNghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XII Đại hội đã đánh giá đầy đủ,nghiêm túc sự lãnh đạo của Đảng bộ trên quan điểm đổi mới của Đảng và nhậnthức đổi mới Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ của giai đoạn 1991-1995 làphát huy tinh thần tự lực tự cường, vượt qua mọi khó khăn, thử thách tiếp tục đẩymạnh sự nghiệp đổi mới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội,
an ninh quốc phòng Đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từng bướchoàn thiện cơ chế quản lý Gắn phát triển kinh tế với chính sách xã hội, phát triểnvăn hóa, giáo dục, thực hiên tốt công tác dân số kế hoạch hóa gia đình Thực hiệndân chủ hóa trong đời sống chính trị, cải thiện đời sống cả về vật chất và tinh thầncủa nhân dân… Đặc biệt Đảng đề ra phương hướng mục tiêu kinh tế: “Phát triểnnông nghiệp toàn diện trong đó gắn nông nghiệp với lâm nghiệp, trồng trọt vớichăn nuôi, mở nhanh ngành ghề trong từng hộ, từng tổ hợp và trên địa bàn Tiếptục hoàn thiện cơ chế quản lý, xúc tiến quá trình phân công lại lao động để tăngnhanh sản phẩm hàng hóa, gắn phát triển sản xuất với chế biến, lưu thông tiêu thụsản phẩm Xây dựng cơ cấu kinh tế nông lâm, công nghiệp, thương nghiệp và dịch
vụ hàng hóa của Đô Lương chủ yếu là: Lúa, lạc, ngô, kén tằm, thịt lợn và trâubò…”[16,1]
2.1.2 Những kết quả bước đầu, hạn chế và bài học kinh nghiệm
2.1.2.1 Những kết quả đạt được
Về kinh tế: Trong hoàn cảnh khó khăn chung của đất nước, Đô Lương lại có nhữngkhó khăn riêng Song Đảng bộ và nhân dân từng bước khắc phục khó khăn, nỗ lựcphấn đấu vượt qua bằng trí tuệ năng động và sức sáng tạo của mình, vận dụng sáng
Trang 14tạo những chử trương chính sách của Đảng và nhà nước về đường lối xây dựng chủnghĩa xã hội, đổi mới về cơ chế quản lý Do vậy đã đưa phong trào chuyển biếnđồng đều trên các mặt, nhiều mô hình hay và nhân tố mới đã và đang xuất hiện.Trong nông nghiệp: Với chủ trương của Đảng bộ là đẩy mạnh thâm canh phát triểnnông nghiệp toàn diện Sản lượng lương thực tăng từ 44.800 tấn năm 1986 lên49.060 tấn năm 1987 Diện tích lương thực quy ra thóc bình quân trong 3 năm(1988-1990) đạt 54.902 tấn Tổng sản lượng lương thực liên tục tăng từ 55.282 tấnnăm 1991 lên 68.637 tấn năm 1995 Về năng suất lúa bình quân giai đoạn 1988 –
1990 đạt 30,95 tạ/ha thì bình quân hàng năm của giai đoạn 1991-1995 đạt 32,5tạ/ha tăng 5%
Trong lĩnh vực chăn nuôi: có bước phát triển về số lượng, chất lượng cả về đàn giasúc và tiểu gia súc, gia cầm Đảng bộ huyện Đô Lương chủ trương: “hóa giá đàntrâu, bò tập thể cho xã viên” được nhân danh hoan nghênh Nhờ vậy đàn trâu bò từ23.000 con năm 1986 lên 27.043 con 1990 năm 1990 là 43.596 con, tăng 880 con
so với bình quân năm của giai đoạn 1986- 1988 Chăn nuôi tiếp tục phát triển, đàntrâu bò từ 27.200 con năm 1991 lên 32.000 con năm 1995 Chăn nuôi gà vịt pháttriển theo chiều hướng tốt Đàn lợn tăng về sản lượng, Đàn lợn có 51.000 contăng 7.494 con so với nă 1991
Trong lâm nghiệp: Đảng bộ Đô Lương chủ trương đẩy mạnh phát triển cây trồngphủ xanh đất trống đồi trọc, tiến hành giao đất giao rừng cho xã viên: “phấn đấuđến năm 1990 trông được 7000 ha đồi còn lại, trong 10 năm tới Đảng bộ đảm bảo
tự túc chất đốt và một phần làm nhà cho nhân dân”[14,15] Đảng bộ chủ trươngchú trọng khoanh nuôi, bảo vệ rừng tái sinh kết hợp trồng mới, phát triển trồngrừng xen cây công nghiệp và cây ăn quả đồng thời gio ươm đầy đủ giống cây hợpchủng loại Giao đất 12.930 ha (80% đất lâm nghiệp) cho 8.001 hộ gia đình, trồngmới 1.900 ha đưa tổng diện tích rừng tập trung toàn huyện lên 6.231 ha,
Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: trong 5 năm (1986-1990) mặc dù có nhiềukhó khăn về vốn, vật tư nguyên liệu nhưng các đơn vị quốc doanh, chuyên doanh
và kinh doanh đã phát huy tính chủ động sngs tạo, khắc phục mọi khó khăn tạo ranguồn nguyên liệu để duy trì phát triển sản xuất Vì vậy, đã khôi phục và phát triểncác ngành nghề truyền thống và nhiều mô hình đã có trước đây như mây, tre, tơtằm, dệt vải Đồng thời nhanh chóng phát triển các xí nghiệp quốc doanh như xínghiệp gốm, gạch ngói, xí nghiệp cơ khí sửa chữa…Giá trị công ngiệp- tiểu thủcông nghiệp năm 1995 đạt 73,4 tỷ tăng 61,9 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 53,3% so với năm1991