ĐẶT VẤN ĐỀDinh dưỡng đóng một vai trò rất quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của con người trong suốt cuộc đời, đặt biệt đối với trẻ em, những cơ thể đang lớn và phát triển.. Suy di
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng đóng một vai trò rất quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của con người trong suốt cuộc đời, đặt biệt đối với trẻ em, những cơ thể đang lớn và phát triển Vì vậy chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của trẻ em là một trong những mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta
Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em là tình trạng phổ biến của các nước nghèo và các nước đang phát triển, là nguyên nhân làm cản trở cơ hội của hàng triệu trẻ emđược phát triển và phát huy hết tiềm năng của mình Trong thế kỷ 21, chúng ta cần nhìn nhận suy dinh dưỡng trẻ em trong bối cảnh có nhiều sự thay đổi đang diễn ra nhanh chóng như đại dịch COVID - 19, sự gia tăng dân số thành thị, toàn cầu hóa hệ thống thực phẩm, … Trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ có hệ thống miễn dịch yếu và có thể đối mặt với nguy cơ tử vong do COVID-19 cao hơn Đồng thời, những đứa trẻ này có thể gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận được với việc điều trị và chăm sóc mà chúng cần để tồn tại và phát triển Đặc biệt trong giai đoạn từ 0 đến 5 tuổi, trẻ em có nguy cơ bị thiếu hụt dinh dưỡng cao SDD ở lứa tuổi này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ về sau Theo Báo cáo Tình hình trẻ em Thế giới năm 2019 phân tích, hiện nay vẫn còn
144 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi và 47 triệu trẻ em bị gầy còm
Trong 30 năm qua (1999 – 2019), Việt Nam đã có tiến bộ lớn trong công tác nâng cao sức khỏe cho người dân, trong đó có dinh dưỡng Theo Báo cáo của Viện Dinh dưỡng quốc gia, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho người dân như tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em đãgiảm nhanh và bền vững Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân giảm từ 30% năm
2000 xuống còn 14% năm 2015 và năm 2016 tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân ở trẻ dưới 5 tuổi là 13,8% Về kết quả của Tổng điều tra Dinh dưỡng toàn quốc (2018- 2020) đã được công bố tại Hội nghị tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi (chiều
cao/tuổi) ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc 19,6% (mức <20% ) được xếp vào mức trung bình theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới Tuy nhiên, tình trạng
Trang 2suy dinh dưỡng (tỷ lệ nhẹ cân, thấp còi) của người dân Việt Nam nói chung và trẻ em nói riêng vẫn còn cao so với khu vực và trên thế giới
Hiện nay, SDD thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu của Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Tỷ lệ SDD thấp còi có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong đánh giá tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng, vì
nó phản ánh rõ rệt chất lượng sinh học của một cộng đồng hay một quốc gia Trẻ
em thấp còi sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ, thấp bé khi trưởng thành, giảmkhả năng làm việc và những bà mẹ thấp bé có nguy cơ sinh con có cân nặng sơ sinh thấp Cuối cùng tạo nên một vòng xoắn luẩn quẩn gây suy mòn giống nòi,
đe dọa nguồn nhân lực tương lai và tổn hại nền kinh tế nước nhà Điều đó cho thấy ta cần có những can thiệp kịp thời để cải thiện tình trạng này
Hải Phòng là một thành phố cảng lớn của miền Bắc, là cửa ngõ giao thương với các nước trong khu vực cũng như các tỉnh trong cả nước Trong năm
2020 vừa qua, mặc dù chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, Hải Phòng vẫn
có sự khởi sắc về kinh tế, đời sống nhân dân vẫn được cải thiện, tình trạng sức khỏe người dân được nâng lên trong đó có cả đối tượng là trẻ em Bệnh viện Trẻ
em Hải Phòng là Bệnh viện chuyên khoa Nhi tuyến thành phố Do tình hình dịch bệnh, việc bệnh nhi đến khám tại Bệnh viện nói chung và Phòng khám Dinh dưỡng của Bệnh viện nói riêng có giảm hơn so với các năm trước tuy nhiên phòng khám vẫn luôn sát sao trong việc khám, đánh giá và tư vấn dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi đến khám tại phòng khám trong thời điểm này ra sao và những yếu tố nào liên quan đến thực trạng này, tôi thực hiện
đề tài nghiên cứu với hai mục tiêu sau :
1 Mô tả tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi đến khám tại Phòng khám Dinh dưỡng Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng từ tháng 5/2020 đến tháng 5/2021
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thấp còi ở những đối tượng nghiên cứu trên
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Dinh dưỡng và sức khỏe bệnh tật
Tất cả mọi người ai cũng thấy được tầm quan trọng của vấn đề ăn uống Nhu cầu ăn uống là một trong các nhu cầu quan trọng nhất của mọi cơ thể sống,
kể cả con người Đây là một nhu cầu hàng ngày, một nhu cầu cấp bách, không thể thiếu được Cơ thể con người cần sử dụng thức ăn để duy trì sự sống, để tăng trưởng và thực hiện các chức phận bình thường của các cơ quan, các mô trong cơthể, cũng như để tạo năng lượng cho lao động và hoạt động khác của con người Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Dinh dưỡng không hợp lý, không đảm bảo vệ sinh thì cơ thể con người phát triển kém, không khỏe mạnh và dễ mắc phải bệnh tật
Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của
cơ thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề
về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh dưỡng Mà sự phát triển của trẻ em chính là thước đo được sử dụng rộng rãi nhất để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em
Con người ta từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ, được sinh ra, lớn lên trưởng thành cho đến tuổi già đều có thể bị ảnh hưởng hoặc mắc bệnh bởi chế độ dinh dưỡng không hợp lý Người phụ nữ khi mang thai mà thiếu dinh dưỡng, tăng cân ít sẽ có nguy cơ sinh ra đứa trẻ có cân nặng sơ sinh thấp, những đứa trẻ này sẽ có nguy cơ tử vong cao hơn, khi trưởng thành cũng có nguy cơ cao mắc các bệnh mạn tính, phát triển trí tuệ kém,…Đứa trẻ sinh ra nếu được nuôi dưỡng kém sẽ chậm tăng trưởng, nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cao, khi lớn lên có nguy cơ thấp còi, giảm năng lực trí tuệ,… Người già thiếu hoặc thừa dinh dưỡng cũng sẽ có nguy cơ cao mắc các bệnh về dinh dưỡng và các bệnh mạn tính
Trang 4Hình 1.1 Dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời
1.2 Khái niệm về suy dinh dưỡng
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc địnhnghĩa: “SDD là hậu quả để lại do thiếu hụt lượng dinh dưỡng cần được cung cấpvào hoặc do yếu tố bệnh tật tác động đến quá trình tiêu hóa của cơ thể.”
Theo Payne, SDD là tình trạng các chức năng sinh lý của đứa trẻ bị suy giảm, đứa trẻ không duy trì được tốc độ phát triển, giảm khả năng chống đỡ và vượt qua bệnh tật, giảm hoạt động thể lực và quá trình tăng cân
Tùy theo sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng mà SDD biểu hiện các thể, các hình thái khác nhau: SDD protein – năng lượng, Thiếu vi chất dinh dưỡng
(vitamin A, thiếu máu dinh dưỡng, thiếu sắt, iod, kẽm,… ) bao gồm nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau Tuy nhiên, SDD protein – năng lượng là thường gặp nhất
SDD protein – năng lượng (Protein – Energy Malnutrition: PEM ) là loại thiếu dinh dưỡng quan trọng, khó có bệnh nào có thể so sánh được về ý nghĩa cộng đồng, đặc biệt là với trẻ em, với biểu hiện là tình trạng chậm lớn và hay đi kèm với nhiễm khuẩn
Trang 5Mặc dù gọi là SDD protein – năng lượng nhưng đây không chỉ là tình trạng thiếu hụt protein và năng lượng mà thường thiếu kết hợp nhiều chất dinh dưỡng khác, nhất là các vi chất dinh dưỡng
1.3 Phân loại suy dinh dưỡng
1.3.1 Cách xác định tình trạng dinh dưỡng qua chỉ số nhân trắc
Hiện nay, người ta có thể áp dụng rất nhiều phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng như xét nghiệm sinh hóa, đo nhân trắc, đánh giá chức năng cơ thể Trong đó, việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp đo nhân trắc rất đơn giản, an toàn, có thể điều tả trên mẫu lớn và áp dụng dễ dàng trong điều kiện thực địa Theo khuyến nghị của TCYTTG năm 1995, các chỉ tiêu nhân trắc thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng là: cân nặng theo tuổi
(CN/T), cân nặng theo chiều cao (CN/C), chiều cao theo tuổi (CC/T)
Năm 1966 Jelliffe viết: “Nhân trắc liên quan với các số đo, nó đơn giản và
là công cụ quan trọng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng”
Sự lựa chọn các số đo nhân trắc tùy thuộc vào mục đích của nghiên cứu, cỡ mẫu, tuổi… mặc dù có nhiều số đo nhân trắc khác nhau như: vòng đầu, vòng cánh tay, lớp mỡ dưới da … nhưng theo đề nghị của Ủy ban, các số đo dinh dưỡng của Tổ chức Dinh dưỡng và thực phẩm thuộc Hội đồng Nghiên cứu quốc gia Mỹ thì để đánh giá tình trạng dinh dưỡng nên dùng các số đo cân nặng và chiều cao
CN/T là phản ánh tình trạng dinh dưỡng nói chung Chỉ số này phản ánh tốc độ phát triển của một đứa trẻ Đây là một chỉ số nhậy, dễ thu thập và xử lý, thường được áp dụng trong các nghiên cứu được triển khai tại cộng đồng
CC/T phản ánh tiền sử dinh dưỡng Chỉ số này thấp phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc tình trạng này từ quá khứ, làm cho đứa trẻ bị thấp còi Tuy nhiên, chỉ số này không nhạy vì sự phát triển chiều cao của trẻ là từ từ
mà các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của chiều cao xảy ra trước khi chiều cao bị ảnh hưởng Như vậy khi thấy trẻ bị còi thì đã muộn, trước đó trẻ đã bị thiếu hay nhiễm trùng từ lâu
Trang 6CN/CC là chỉ tiêu đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em hiện tại Chỉ tiêu này thấp là tình trạng SDD cấp (gày còm) Chỉ tiêu cân nặng thấp chính là sự thiếu hụt khối mỡ hay là phản ánh sự không tăng cân hay giảm cân, nếu so sánh với trẻ có cùng chiều cao, nó cũng phản ánh mức độ thiếu ăn và nhiễm khuẩn là 2nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này Chỉ tiêu CN/CC thấp thường xuất hiện nhiều ở trẻ em từ 12 – 23 tháng, là giai đoạn trẻ hay bị bệnh và thiếu ăn do thiếu chăm sóc Chỉ số này không cần biết tuổi của trẻ và cũng không phụ thuộc yếu tố dân tộc vì trẻ dưới 5 tuổi có thể phát triển như nhau trên thế giới
1.3.2 Phân loại tình trạng suy dinh dưỡng
1.3.2.1 Cách phân loại dựa vào phần trăm so với trung vị
Để tính toán theo cách này người ta coi giá trị trung vị là 100% rồi tính giá trị đo được trên đứa trẻ đạt bao nhiêu phần trăm so với trung vị
Phân loại theo Gomez 1956: Gomez đã đưa ra thang phân loại SDD dựa trên chỉ tiêu CN/T và quần thể tham khảo Harvard để chia SDD làm 3 loại:
Bảng 1.1 Phân loại suy dinh dưỡng theo Gomez
% cân nặng mong đợi
theo tuổi Phân loại dinh dưỡng Độ suy dinh dưỡng
1.3.2.2 Phân loai suy dinh dưỡng theo Wellcome (1970)
Cách phân loại này cũng sử dụng chỉ số CN/T so với trung vị của quần thể Harvard, nhưng chú ý thêm trẻ có bị phù hay không để hỗ trợ thêm trong sự phânbiệt giữa Marasmus và Kwashiorkor
Bảng 1.2 Phân loại suy dinh dưỡng theo Wellcome
Trang 7% cân nặng theo tuổi Phù
< 60% Marasmus - Kwashiorkor Marasmus
1.3.2.3 Phân loại theo Waterlow ( 1972)
Cách phân loại này sử dụng cả CN/T và CN/T so với trung vị quần thể thamchiếu Harvard
Bảng 1.3 Phân loại suy dinh dưỡng theo Waterlow
Cân nặng theo chiều cao
Chiều cao/tuổi
Trên 80% DướiTrên
1.3.2.4 Cách phân loại dựa vào độ lệch chuẩn với quần thể tham chiếu
Từ năm 1981: Tổ chức Y tế Thế giới đề nghị thống nhất lấy quần thể thamchiếu là NCHS của Hoa Kỳ (National Centre for Health Statistics) và đưa ra thang phân loại dựa vào độ lệch chuẩn (Standard Deviation) với ngưỡng – 2SD đến + 2SD để phân loại SDD cho cả 3 chỉ tiêu CN/T, CC/T, CN/CC Nếu độ lệchchuẩn - 2SD - <- 3SD là SDD vừa Từ - 3SD - (- 4SD) là SDD nặng và <- 4SD làSDD rất nặng Điều này không có nghĩa đây là một quần thể chuẩn mà chỉ là mộtcông cụ đối chiếu để lượng giá tình hình và so sánh trên phạm vi quốc tế
Thang phân loại theo các chỉ số sau:
Trang 8Sự phân tích dựa trên các dữ liệu khẳng định rằng SDD vẫn là một vấn đề y
tế quan trọng của nhiều nước và tiếp tục cản trở sự phát triển thể chất và tinh thầncủa trẻ Thêm vào đó, nó cũng ảnh hưởng lớn đến sự sống còn của trẻ Các yếu tốliên quan đến dinh dưỡng góp phần vào khoảng 45% trường hợp tử vong ở trẻ
em dưới 5 tuổi Trẻ em suy dinh dưỡng, đặc biệt là những người bị suy dinh dưỡng cấp tính nghiêm trọng, có nguy cơ tử vong cao hơn do các bệnh thông thường ở trẻ em như tiêu chảy, viêm phổi và sốt rét Các báo cáo của UNICEF vàWHO đều cho thấy, số trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD đặc biệt là SDD thấp còi còn rất cao trên thế giới Theo Báo cáo Sức khỏe toàn cầu năm 2015, vẫn còn
Z- score =
Trang 9gần 1
4 trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi (23% hoặc 156 triệu trẻ em) với tỷ lệ hiện mắc cao nhất ở khu vực Châu Phi (38%), tiếp theo là khu vực Đông Nam Á (33%) SDD gày còm ảnh hưởng đến 50 triệu trẻ em dưới 5 tuổi (khoảng 7%) trên toàn cầu vào năm 2015 trong đó tỷ lệ trẻ bị gầy còm cao nhất được quan sát thấy ở Khu vực Đông Nam Á của WHO (13,5%, hay 24 triệu trẻ em)
Tuy vậy, dưới những nỗ lực của toàn thế giới,tỷ lệ SDD trong những năm qua có xu hướng giảm dần ở tất cả các khu vực Trên toàn cầu, tỷ lệ trẻ em dưới
5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi giảm gần 1/3 từ năm 2000 đến năm 2019 Năm 2019, có khoảng 144 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi, chiếm khoảng 1/5 trẻ (21,3%), giảm hơn so với tỷ lệ ¼ trẻ năm 2015 (23 %) Hơn 47,0 triệu trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn cầu (6,9%) bị gày còm vào năm 2019 Mặc dù tình trạng suydinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới đã được cải thiện khá nhiều trong những năm qua, tuy nhiên tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ vẫn còn khá cao, đặc biệt ở những nướcđang phát triển.Tỷ lệ này vẫn cao nhất ở khu vực Châu Phi
và khu vực Đông Nam Á, nơi mà cứ ba trẻ thì có một trẻ bị thấp còi (> 30%)
Hình 1.2 Tỷ lệ trẻ em trên thế giới dưới 5 tuổi phát triển không tốt năm 2018
( Nguồn: SOWC 2019)
Trang 10Hình 1.2 trên mô tả sự phân bố tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi phát triển không tốt (thấp còi, gày còm hoặc thừa cân) ở các khu vực trên thế giới Có thể thấy tỷ lệ này cao ở khu vực Nam Á và châu Phi ( 32,4% - 49,9%), trong khi đó hầu hết các nước thuộc khu vực châu Mỹ và Thái Bình Dương có tỷ lệ thấp hoặc ở mức trung bình (<20%).
1.4.2 Tại Việt Nam
Việt Nam phải trải qua thời kỳ vô cùng khó khăn do hậu quả của nhiều năm chiến tranh, tỷ lệ SDD ở trẻ em đầu những năm 80 của thế kỷ trước rất cao (trên 50% trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng) và hiện nay tình trạng SDD ở trẻ emvẫn còn ở ngưỡng có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là SDD thể thấp còi Tại Việt Nam, tỷ lệ SDD ở trẻ dưới 5 tuổi được đánh giá là đã giảm nhanh và bềnvững trong những năm qua, kiến thức thực hành dinh dưỡng của người dân ngày càng được nâng lên, tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ngày càng được cải thiện
Theo Báo cáo của Viện Dinh dưỡng quốc gia, Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tựu đáng kể về cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho người dân như tỷ
lệ SDD trẻ em đã giảm nhanh và bền vững Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân giảm từ 30%năm 2000 xuống còn 14% năm 2015 và năm 2016 tỷ lệ SDD nhẹ cân ở trẻ dưới 5tuổi là 13,8%, SDD thấp còi là 24,3%, đến năm 2018, tỷ lệ SDD nhẹ cân giảmxuống 12,8%, SDD thấp còi có tỷ lệ là 23,2% Tuy nhiên, vẫn còn sự chênh lệchgiữa các vùng miền về tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi; ở các vùng nông thôn vàmiền núi tỷ lệ này còn ở mức cao
Bảng 1.4 Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng theo các vùng,các tỉnh
Trang 11Trung du và miền núi phía Bắc 16,8 28,4
Hình 1.3 Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi của Việt Nam
(Nguồn: Số liệu thống kê VDD, 2018) Báo cáo mới đây của Hội nghị công bố kết quả Tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc 2017 – 2020, tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc là 19,6% - mức <20% - được xếp vào mức Trung bình theo phân loại của WHO Như vậy, đến nay Việt Nam đang trên đà đạt được Mục tiêu Dinh dưỡng toàn cầu(giảm 40% SDD thấp còi trẻ em đến năm 2025)
1.5 Nguyên nhân và một số yếu tố ảnh hướng tới tình trạng SDD thấp còi
Năm 1998, UNICEF đã phát triển mô hình nguyên nhân SDD Một số tổ
Trang 12chức khác cũng đã có những mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD riêng, hoặcphát triển mô hình mới dựa trên mô hình của UNICEF Nhưng hiện nay, mô hìnhsau của UNICEF là mô hình được sử dụng rộng rãi nhất, đã đưa ra 3 mức độnguyên nhân gây SDD: trực tiếp, tiềm tàng và cơ bản
Mô hình này cho thấy nguyên nhân của SDD là đa ngành, có mối liên quanchặt chẽ với vấn đề thực phẩm, y tế và thực hành chăm sóc tại hộ gia đình.Môhình này cũng chỉ ra các nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân cơ bản, nguyênnhân sâu xa và các yếu tố ở cấp độ này ảnh hưởng đến cấp độ khác
Thiếu dịch vụ
y tế, nước sạch và VSMT
Số lượng và chất lượng của các nguồn lực hiện tại: con người, kinh tế
và cơ quan quản lý
Nguồn lực tiềm năng:
môi trường, công nghệ và con người
Nguyên nhân cơ bản
Nguyên nhân tiềm tàng Nguyên nhân trực tiếp
Trang 13Sơ đồ 1.1 Mô hình nguyên nhân suy dinh dưỡng của UNICEF (1997)
1.5.1 Nguyên nhân trực tiếp
Trẻ dưới 5 tuổi cần có nhu cầu dinh dưỡng cao để phát triển cơ thể Để đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ theo lứa tuổi Vì vậy, một trong hai nguyên nhân trực tiếp phải kể đến ở đây là thiếu ăn về số lượng hoặc chất lượng
Sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời gian bị SDD và thể loại SDD Khi cho ăn bổ sung muộn, như một số nước châu Phi, cáctrường hợp SDD nặng xảy ra vào năm tuổi thứ hai, thứ ba hoặc thứ tư và thường
là thể Kwashiorkor Marasmus lại hay xảy ra vào trước 6 tháng tuổi, đối với những trẻ không được bú sữa mẹ hoặc cho ăn bổ sung quá sớm Ở các vùng thành phố, Marasmus lại có liên quan đến bú chai, nhất là khi số lượng sữa không đủ, đôi khi do cả các nguyên nhân sử dụng núm vú cao su, các đầu mút không hợp vệ sinh Cho trẻ ăn thức ăn đặc quá muộn và số lượng không đủ, năng lượng và protein trong khẩu phần thấp cũng dẫn tới thể SDD này
Bệnh tật kèm theo và chế độ ăn uống không hợp lý là 2 nguyên nhân có xu hướng tạo vòng xoắn bệnh lý, bệnh tật thường làm cho trẻ chậm lớn Các bệnh nhiễm khuẩn bệnh cấp và mãn tính làm rối loạn chuyển hóa, giảm hấp thu, mất các chất dinh dưỡng, thiếu vi chất và giảm ngon miệng do đó trẻ thường giảm cân hoặc tăng cân chậm, giảm miễm dịch làm tổn thương niêm mạc dẫn đến trẻ
dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn
Trang 14Sơ đồ 1.2 Vòng xoắn bệnh lý : Bệnh tật – SDD – Nhiễm trùng
1.5.2 Nguyên nhân tiềm tàng
Thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình, chăm sóc bà mẹ và trẻ em chưa tốt, thiếu dịch vụ y tế và vệ sinh môi trường góp phần làm tăng mức độ thiếu ăn và bệnh tật, đồng thời các nguyên nhân này cũng góp phần làm giảm sự sử dụng, điều chỉnh, khai thác các nguồn lực khác nhau
Muốn trẻ có tình trạng dinh dưỡng tốt phải có thực phẩm ăn vào đầy đủ và cân đối theo nhu cầu của trẻ Vấn đề sản xuất ra lương thực, thực phẩm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc tiêu thụ lương thực, thực phẩm Ở đâu có tỷ lệ trẻ SDD cao có nghĩa ở đấy sản xuất lương thực còn thiếu, vì khẩu phần của trẻ phụ thuộchoàn toàn vào khẩu phần gia đình Sự thiếu hụt khẩu phần cũng có thể gây ra mẹ
có quá ít thời gian dành cho chế biến các thức ăn hoặc cho trẻ ăn
Nhiễm trùng, dịch vụ y tế kém, thiếu nước sạch và vệ sinh kém, trẻ không được chăm sóc đầy đủ, những nguyên nhân này được xếp làm 3 nhóm:
- Thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình
- Chăm sóc bà mẹ và trẻ em không hợp lý
Ăn vào không đủ
- Giảm ngon miệng
Trang 15- Thiếu dịch vụ y tế.
Tỷ lệ SDD của trẻ ở miền núi, nông thôn, bao giờ cũng cao hơn ở đồng bằng và thành thị Khi gia đình có điều kiện kinh tế tốt, mức thu nhập cao thì việcchăm sóc và nuôi dưỡng trẻ được đầy đủ, đảm bảo nước sạch và vệ sinh hơn, chính vì vậy cũng cải thiện được rất nhiều trong việc phòng chống SDD ở trẻ nhỏ Ngược lại, những gia đình có thu nhập thấp thì không có điều kiện chăm sóctrẻ cũng như cung cấp thực phẩm cần thiết cho sự phát triển của trẻ
1.5.3 Nguyên nhân cơ bản
Nguyên nhân cơ bản bao gồm những vấn đề liên quan đến cơ cấu kinh tế, các yếu tố chính trị - xã hội và văn hóa Đó là sự phân phối không công bằng các nguồn lực, thiếu những chính sách xã hội phối hợp, tập quán ăn uống sai lầm Những nguyên nhân gốc rễ của SDD ở các nước đang phát triển có liên quan đếnđói nghèo, nó liên quan đến SDD chung, tình trạng lao động của người phụ nữ và
kể cả cơ chế chính sách không được quan tâm Bất cứ một chiến lược dinh dưỡngnào cũng cần phải xem xét đến vấn đề an ninh thực phẩm hộ gia đình nhằm cải thiện dinh dưỡng của trẻ Dinh dưỡng kém sẽ dẫn đến sức khỏe ốm yếu từ đó đếntình trạng SDD tồi tệ hơn và điều đáng buồn trẻ em lại là đối tượng chính của SDD
1.5.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới SDD thấp còi
1.5.4.1 Nuôi con bằng sữa mẹ
Nuôi con bằng sữa mẹ cung cấp sự khởi đầu tốt nhất cho cuộc đời của mỗi trẻ UNICEF coi nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp hàng đầu bảo vệ sức khỏe trẻ
em [34] TCYTTG và UNICEF khuyến nghị cho trẻ bú sớm trong vòng 1/2 đến 1giờ đầu sau đẻ và cho bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 2 năm hoặc lâu hơn nữa Trong 6 tháng đầu trẻ cần được nuôi hoàn toàn bằng sữa
mẹ mà không cần thêm thức ăn nào khác.Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, rẻ nhất, dễ hấp thu, thích hợp nhất đối với trẻ Nó cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ từ 4 - 6 tháng tuổi Ngoài ra, trong sữa mẹ còn có các chất bảo vệ cơ thể