1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

VI PHẠM HÀNH CHÍNH và TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH

25 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 284,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các trường hợp này, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạmhành chính với thiệt hại cụ thể đã xảy ra là cần thiết để bảo đảm nguyên tắc cá nhân, tổ chức chỉphải chị

Trang 1

PHỤ LỤC 1

TRANG BÌA TIỂU LUẬN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

Môn: LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Kinh Doanh

Họ tên SV: NGUYỄN VŨ HOÀNG VƯƠNG

Mã số SV: 33191020371

Lớp: LA01

Đề tài tiểu luận: “VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ TRÁCH NHIỆM HÀNH CHÍNH”

Trang 2

PHỤ LỤC 2 LỜI CAM KẾT



“Tôi xin cam đoan tiểu luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

và kết quả nghiên cứu trong tiểu luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện tiểu luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong tiểu luận đã được chỉ rõ nguồn gốc”

Tác giả

(Ký và ghi rõ họ tên người cam đoan)

Trang 3

II Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính

Như bất kỳ loại vi phạm pháp luật nào, vi phạm hành chính được cấu thành bởi bốn yếu

tố bao gồm mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể

là sẽ xử phạt bằng các biện pháp xử phạt hành chính Không được áp dụng “nguyên tắc suyđoán vi phạm” hoặc “áp dụng pháp luật tương tự” trong việc xác định vi phạm hành chính Đốivới một số loại vi phạm hành chính cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách quan có tính chất phức tạp,không đơn thuần chỉ có một dấu hiệu nội dung trái pháp luật trong hành vi mà còn có thể có sựkết hợp với những yếu tố khác Thông thường những yếu tố này có thể là:

a) Thời gian thực hiện hành vi vi phạm.

Ví dụ minh hoạ: Biển cấm dừng, đỗ xe ôtô theo luật Giao thông đường bộ quy định cấm dừng đỗ ngày chẵn hay ngày lẻ.

b) Địa điểm thực hiện hành vi vi phạm.

Ví dụ minh hoạ: cũng theo Luật giao thông đường bộ, một số đoạn đường có dựng biển báo cấm dừng cấm đậu hoặc một số đoạn đường cấm một số loại xe lưu thông.

c) Công cụ phương tiện vi phạm.

Ví dụ minh hoạ: Tàng trữ và sử dụng súng không có giấy phép sử dụng.

Trang 4

d) Hậu quả và mối quan hệ nhân quả

Nói chung hậu quả của vi phạm hành chính không nhất thiết là thiệt hại cụ thể Tuynhiên, trong nhiều trường hợp, hành vi của tổ chức, cá nhân bị coi là vi phạm hành chính khihành vi đó đã gây ra những thiệt hại cụ thể trên thực tế

Ví dụ minh hoạ : Hành vi làm thi công xây dựng nhà nhưng do không đảm bảo biện pháp thi công nên làm vỡ hệ thống cấp thoát nước một khu vực được coi là hành vi hành chính theo Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm2007.

Trong các trường hợp này, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạmhành chính với thiệt hại cụ thể đã xảy ra là cần thiết để bảo đảm nguyên tắc cá nhân, tổ chức chỉphải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do chính hành vi của mình gây ra

Ngoài lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của mọi vi phạm hành chính, ở một sốtrường hợp cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc của một sốloại vi phạm hành chính

Ví dụ minh hoạ: Hành vi trốn trên các phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh được coi là hành vi vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy định của điểm c khoản 3 Điều 20 Nghị định của Chính phủ số 73/2010/NĐ- CP ngày 12/7/2010 khi nhằm mục đích vào Việt Nam hoặc ra nước ngoài.

Đối với tổ chức vi phạm hành chính, có ý kiến cho rằng lỗi chỉ là trạng thái tâm lý của cánhân trong khi thực hiện hành vi vi phạm nên không đặt ra vấn đề lỗi đối với tổ chức vi phạmhành chính Khi xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, chỉ cần xác định tổ chức đó cóhành vi trái pháp luật hành chính và hành vi đó theo quy định của pháp luật bị xử phạt bằng cácbiện pháp xử phạt vi phạm hành chính là đủ Quan điểm khác lại cho rằng cần phải xác định lỗicủa tổ chức khi vi phạm hành chính thì mới có đầy đủ cơ sở để xử phạt vi phạm

Trang 5

hành chính đối với tổ chức vi phạm Theo quan điểm này, lỗi của tổ chức được xác định thôngqua lỗi của các thành viên trong tổ chức đó khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao Vềphương diện pháp luật, pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành quy định chung rằng tổchức phải chịu trách nhiệm về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra và có nghĩa vụ chấphành quyết định xử phạt vi phạm hành chính Đồng thời, còn phải có trách nhiệm xác định lỗicủa người thuộc tổ chức của mình trực tiếp gây ra vi phạm hành chính trong khi thihành nhiệm vụ, công vụ được giao để truy cứu trách nhiệm kỷ luật và để bồi thường thiệt hạitheo quy định của pháp luật

a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vi phạm hành chính trong trường hợp thực hiện hành vi với lỗi cố ý Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có vi phạm hành chính hay không cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành không định nghĩa thế nào là có lỗi cố ý hoặc vô ý trong vi phạm hành chính Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, thông thường người thực hiện hành vi với lỗi cố ý là người nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm đoán nhưng vẫn cố tình thực hiện.

b) Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong mọi trường hợp.

c) Tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính bao gồm: các cơ quan nhà nước, các

tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật;

Cá nhân, tổ chức nước ngòai cũng là chủ thể vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

Trang 6

Nói cách khác, vi phạm hành chính là hành vi trái với các quy định của pháp luật về quản lý nhànước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như quy tắc về an toàn giao thông, quy tắc

về an ninh trật tự, an toàn xã hội …

III Phân biệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm

1 Vi phạm hành chính và tội phạm có những điểm chung sau đây:

a)Vi phạm hành chính và tội phạm đều là vi phạm pháp luật

Cơ sở của vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật của các chủ thể Nguyên nhân chủyếu của vi phạm pháp luật là sự mâu thuẫn giữa yêu cầu của quy phạm pháp luật do nhà nướcđặt ra với lợi ích của người vi phạm, tức chủ thể của hành vi Mâu thuẫn đó mang tính chất xãhội, bởi vì cả qui phạm pháp luật và chủ thể hành vi đều có tính xã hội

Các hành vi vi phạm pháp luật tuy có thể khác nhau về mức độ vi phạm và mức độ củahậu quả do hành vi gây ra, nhưng chúng có điểm chung nhất đó là tính chất xã hội – là nhữngthiệt hại, tổn thất về những mặt khác nhau đối với lợi ích của giai cấp, nhóm xã hội nói riêng vàcủa cả xã hội nói chung Xuất phát từ những lợi ích của mình mà Nhà nước đã định ranhững qui phạm pháp luật

Cơ sở của vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hộiđược pháp luật bảo vệ Song nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa phản ánh đầy đủ được khái niệm viphạm pháp luật, bởi không phải bất cứ hành vi trái pháp luật nào cũng là hành vi vi phạm phápluật mà chỉ những hành vi trái pháp luật được chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lựchành vi thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mới là hành vi vi phạm pháp luật

b) Vi phạm hành chính và tội phạm đều là hành vi, nó chỉ được thực hiện bởi hành vi của con người Suy nghĩ, tư tưởng khi chưa thể hiện thành hành vi thì dù xấu đến đâu

cũng chưa phải là vi phạm pháp luật nói chung, vi phạm hành chính và tội phạm nói riêng

c) Vi phạm hành chính và tội phạm đều là hành vi trái pháp luật, tức là trái với yêu cầu cụ thể của pháp luật hay trái với tinh thần của pháp luật Đã là hành vi trái pháp luật thì

dù là vi phạm hành chính hay tội phạm đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội Sự khác nhau giữachúng chỉ là ở mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi

d) Vi phạm hành chính và tội phạm đều được thực hiện bởi hành vi có lỗi của các chủ thể.

e) Vi phạm hành chính và tội phạm đều là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được pháp luật quy định chặt chẽ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền (vi phạm hành chính và tội phạm khác với các vi phạm đạo đức và vi phạm tôn giáo ở chỗ vi phạm đạo đức và vi phạm tôn giáo không dược pháp luật quy định) Chủ thể thực hiện vi phạm hành chính và tội

Trang 7

phạm đều bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, việc áp dụng các biện pháp cưỡngchế đều dựa trên cơ sở, trình tự do pháp luật quy định

f) Những vi phạm hành chính và tội phạm được thực hiện trong điều kiện: phòng

vệ chính đáng, tình thế cấp thiết và sự kiện bất ngờ, theo quy định của pháp luật hành chính và hình sự, đều được miễn truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người thực hiện hành vi vi phạm đó.

g)Vi phạm hành chính và tội phạm có những khách thể chung

Giữa vi phạm hành chính và tội phạm giống nhau ở chỗ có những khách thể chung.Khách thể vi phạm pháp luật là những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ Điều

đó có nghĩa chỉ có những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ mới là khách thể của vi phạmpháp luật, không được quy phạm pháp luật điều chỉnh thì quan hệ xã hội tương ứngkhông thể trở thành khách thể của vi phạm pháp luật

Những quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ nhưng bị xâm phạm tới, gây rathiệt hại hoặc đe doạ gây ra thiệt hại là khách thể của vi phạm hành chính Những quan hệ xãhội đó không chỉ là quan hệ hành chính mà còn nhiều quan hệ pháp luật thuộc ngành luật khácbảo vệ nhưng vẫn bị xử lý hành chính Nói một cách khái quát hơn, khách thể của vi phạm hànhchính là cái mà vi phạm hành chính xâm hại tới, là cái mà pháp luật hướng tới để bảo vệ khỏi sựxâm phạm Cái đó là những quan hệ xã hội khách quan chứ không phải là các quy tắc được đặtra

Ví dụ minh hoạ: các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ an toàn giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, đường hàng không; bảo vệ môi trường, tài nguyên, thiên nhiên, khoáng sản; bảo vệ sức khỏe của con người tránh các bệnh truyền nhiễm từ người, động vật, thực vật; trong kinh doanh như phòng chống buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, sử dụng nhãn hiệu hàng giả v.v

2 Vi phạm hành chính và tội phạm có những điểm riêng sau đây:

a) Mặt chủ quan: lỗi

Trong bộ Luật Hình sự, nhà làm luật quy định bốn hình thức lỗi, để là lỗi cố ý trực tiếp

và cố ý gián tiếp, lỗi vô ý vì quá tự tin và cố ý do cẩu thả Như vậy do tính chất nguy hiểm cho

xã hội của hành vi của từng trương hợp lỗi là khác nhau, với lại tội phạm là loại vi phạm phápluật nặng nhất nên quy đinh bốn hình thức lỗi giúp giải quyết chính xác các vụ Án hình sự

Vi phạm hành chính chỉ quy định hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý Các trường hợp

vi phạm mà lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp hoặc vô ý vì quá tự tin hay do cẩu thả đều xử lí nhưnhau

Trang 8

Ví dụ minh hoạ: A cố ý gây thương tích cho B với tỉ lệ thương tật là 10% Khi thực hiện hành vi cho dù A mong muốn hậu quả xảy ra (B bi thương tích 10%) hoặc không mong muốn nhưng có ý thức để mặc hậu quả xảy ra thì đều bị xử phạt như nhau.

b)Về căn cứ pháp lý

Tội phạm là loại vi phạm pháp luật nặng nhất và được quy định trong bộ luật hình sự vàchỉ có Quốc hội mới có quyền đặt ra các quy định về ti phạm và hình phạt Ngay từ Điều 2 bộ

Luật Hình sự đã quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự: “chỉ người nào phạm một tội được

Bộ Luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Như vậy bộ luật hình sự là căn

cứ pháp lý duy nhất để xem xét một hành vi vi phạm có bị coi là tội phạm hay không - không cótrong luật thì không có tội, “vô luật bất hình”

Vi phạm hành chính không được quy định trong một bộ luật cụ thể nào mà được quyđịnh trong nhiều văn bản khác nhau như luật, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, thông tư luật

ở đây là các bộ luật là nguồn của luật hành chính chứ không phải là bộ luật hành chính, ví dụ:hiến pháp, luật tổ chức chính phủ… nguyên nhân mà chúng ta không có riêng một bộ luật hànhchính đơn giản vì nó quá rộng, quá nhiều lĩnh vực với quá nhiều các văn bản pháp luật và chúng

ta không thể pháp điển hóa thành bộ luật các văn bản dưới luật ở đây có thể là nghị quyết củaQuốc hội, Chính phủ, Ủy ban thường vụ quốc hội, hội đồng nhân dân; pháp lệnh của ủy banthường vụ quốc hội; Nghị định của chính phủ; các Quyết định, Chỉ thị, Thông tư

Ví dụ minh hoạ: pháp lệnh cán bộ công chức, pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính của

Ủy ban thường vụ quốc hội; Nghị quyết của chính phủ số 09/2003/NQ-CP ngày 28/07/2003 về sửa đổi, bổ sung nghị quyết số 16/2000/ND-CP ngày 18/10/2000 của chính phủ về việc tinh giảm biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.

Cũng là biện pháp cưỡng chế nhà nước nhưng ở mức độ ít nghiêm khắc hơn, người viphạm hành chính có thể sẽ bị xử phạt hành chính

Ví dụ minh hoạ: A lấy cắp tài sản của UBND xã Y nếu tài sản là 490.000 nghìn đồng

mà không có tình tiết nào khác để cấu thành tội phạm, thì nếu bị xử phạt hành chính thì chủ tịch xã Y chỉ có thể phạt mức cao nhất là 500.000 đồng nếu tài sản để từ 500.000 trở lên hoặc dưới 500.000 nhưng có tình tiết khác cấu thành tội phạm thì có thể sẽ bị phạt cải tạo không

Trang 9

a) Mức độ gây thiệt hại cho xã hội:

Để xác định, đòi hỏi cơ quan cơ thẩm quyền dựa trên sự nhận thức về ranh giới giữa viphạm hành chính và tội phạm, đã được quy định cụ thể ở bộ luật hình sự, các nghị định , thông

tư hướng dẫn trong các trường hợp cụ thể mức độ gây thiệt hại biểu hiện ở dưới các hìnhthức khác nhau như mức độ gây thương tật, giá trị tài sản bị xâm hại, giá trị hàng hoá phạmpháp

Ví dụ minh hoạ: Theo bộ Luật Hình sự, trộm cắp từ 500 nghìn đồng trở lên (Đ138), trốn thuế từ 50 triệu đồng trở lên (Đ161), cố ý gây thương tích cho người khác từ 11% trở lên (Đ104) thì là tội phạm Nguyễn Văn A lấy cắp của hợp tác xã X số tài sản là dưới 500.000 đồng mà không có tình tiết nào khác thì chỉ bị xử phạt hành chính Như vậy, nếu như mức độ gây thiệt hại dưới mức bộ luật hình sự đã qui định mà không thêm tình tiết nào thì người vi phạm chỉ bị xử phạt hành chính.

b)

Mức độ tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần

Ví dụ minh hoạ: A trốn thuế nhà nước dưới 50 triệu đồng nhưng trước đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì hành vi của

A đã cấu thành tội trốn thuế theo Khoản 1 Điều 161 bộ Luật Hình sự 1999 (sữa đổi bổ sung năm 2009) Như vậy trong nhiều trường hợp, nếu như chỉ đánh giá về hành vi thì không xác định được để là tội phạm hay là vi phạm hành chính Có những tội phạm, dấu hiệu đã bị xử phạt hành chính phải có, mà còn tái phạm thì là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm.

Ví dụ minh hoạ: A tổ chức kết hôn cho con của mình (16 tuổi) và người khác, thì nếu như là lần đầu, A chỉ bị coi là vi phạm hành chính và chỉ bị xử phạt hành chính Còn nếu như A

đã bị xử phạt hành chính rồi thì hành vi của A cấu thành tội tổ chức tảo hôn theo khoản 1 điều

148 bộ luật hình sự (sữa đổi bổ sung năm 2009)

c) Công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm

Ví dụ minh hoạ: A cố ý gây thương tích cho B mà tỉ lệ thương tật dưới 11%, vi phạm

lần đầu chỉ là vi phạm hành chính nhưng nếu thuộc các tình tiết sau thì là tội phạm: dùng hungkhí nguy hiểm (dùng dao, rều) hoặc thủ đoạn gây nguy hiểm cho nhiều người (bỏ thuốc trừ sâuvào nguồn nước nhà B); thuê người gây thương tích hoặc nhận gây thương tích thuê, như vậy,công cụ, phương tiện phạm tội cũng là một căn cứ để đánh giá mức độ nguy hiểm cho hành vi viphạm

Trang 10

Tương ứng với mỗi loại vi phạm pháp luật là một hình thức trách nhiệm pháp lý nhất

Trách niệm hành chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nước buộc các tổ chức, cánhân vi phạm hành chính phải gánh chịu Nó có những nét chung, đồng thời cũng có nhữngđiểm khác biệt với các loại trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân

sự và trách nhiệm kỷ luật

*

Quan điểm truyền thống (hay còn gọi là Quan điểm “tiêu cực”) cho rằng, trách

nhiệm hành chính là sự đánh giá phủ nhận của nhà nước và xã hội đối với những vi phạm phápluật chưa đến mức là tội phạm xâm hại đến trật tự quản lý Hậu quả là người vi phạm pháp luậtphải chịu các biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyềnthực hiện Trách nhiệm hành chính theo nghĩa tiêu cực có một số vấn đề sau:

- Cơ sở trách nhiệm hành chính mang đặc thù được quy định trong Pháp lệnh xử

lý vi phạm hành chính (ban hành ngày 02-7-2002) Các vi phạm pháp luật trong xã hội rất đadạng về khách thể bị xâm hại, về mức độ nguy hiểm v.v từ đó dẫn đến những hậu quả pháp lýkhác nhau Trách nhiệm hình sự phát sinh do có hành vi vi phạm pháp luật được Bộ luật Hình

sự coi là tội phạm, còn trách nhiệm dân sự xuất hiện khi có hành vi gây thiệt hại về mặt tài sảncho Nhà nước và công dân Trách nhiệm kỷ luật được ấn định đối với người có hành vi vi phạmnội quy, điều lệ kỷ luật Trách nhiệm hành chính được áp dụng đối với các hành vi được phápluật xử phạt hành chính coi là vi phạm hành chính

- Trách nhiệm hành chính cũng như tất cả các biện pháp cưỡng chế hành chínhđược áp dụng ngoài trình tự xét xử của toà án Việc áp dụng các chế tài xử phạt hành chính chủyếu do các cơ quan quản lý hành chính nhà nước thực hiện Ví dụ: Uỷ ban nhân dân xử phạt các

vi phạm quy tắc xây dựng, sử dụng đất Sự áp dụng các chế tài hình sự và dân sự thì nhất thiếtphải theo trình tự xét xử của toà án Mặc dù, toà án nhân dân cũng có thẩm quyền xử

Trang 11

phạt hành chính đối với các hành vi gây rối trước phiên toà, nhưng trong trường hợp ấy toà ánđóng vai trò là cơ quan xử phạt hành chính thông thường và không theo trình tự xét xử.

- Trách nhiệm hành chính được thể hiện ở chỗ: cơ quan nhà nước, người cóthẩm quyền ấn định đối với người vi phạm pháp luật các biện pháp xử phạt hành chính tươngứng với hành vi vi phạm mà người đó đã gây ra Phạt hành chính khác với phạt hình sự, kỷ luật

và trách nhiệm dân sự ở mục đích cụ thể, đặc điểm và mức độ tác động

- Khái niệm trách nhiệm hành chính hẹp hơn khái niệm cưỡng chế hành chính.Không phải vì bất kỳ biện pháp cưỡng chế hành chính nào cũng là trách nhiệm hành chính Sự

áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính trong các trường hợp khẩn cấp như thiên tai địchhoạ, dịch bệnh không phải là trách nhiệm hành chính

*

Quan điểm tích cực cho rằng, trách nhiệm hành chính là quan hệ có trách nhiệm của

chủ thể pháp luật đối với các nghĩa vụ, bổn phận được giao phó trong lĩnh vực quản lý hànhchính Nhà Nước

* Một quan điểm khác xem xét trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm hành

chính nói riêng dưới dạng một quan hệ pháp luật Trong quản lý hành chính nhà nước, quan hệpháp luật ấy được thể hiện ở hai khía cạnh:

- Nhà nước ấn định cho các chủ thể những quyền và nghĩa vụ nhất định và các chủthể trách nhiệm ý thức được nghĩa vụ, bổn phận của mình cũng như sự cần thiết phải thực hiệnchúng Đó là quan hệ pháp luật hiện tại;

- Sự áp dụng bởi Nhà nước thông qua các cơ quan, người có thẩm quyền chế tàipháp lý đối với người có lỗi trong trường hợp người đó vi phạm pháp luật hay thiếu trách nhiệmtích cực Đây là quan hệ pháp luật - trách nhiệm đối với hành vi đã xảy ra trong quá

khứ

→ Trách nhiệm hành chính là một loại trách nhiệm pháp lý, là quan hệ pháp luật đặc thù xuất hiện trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, trong đó thể hiện sự đánh giá phủ nhận về pháp lý và đạo đức đối với hành vi vi phạm hành chính và người vi phạm (cá nhân hay tổ chức) phải chịu những hậu qua bất lợi, những sự tước đoạt về vật chất hay tinh thần tượng ứng với vi phạm đã gây ra.

Trang 12

Truy cứu trách nhiệm hành chính đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính thực chất là việc

áp dụng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính đối với các tổ chức, cá nhân này

Tuy nhiên, trong thực tế một số trường hợp cơ quan thẩm quyền áp dụng một số biệnpháp cưỡng chế hành chính cũng làm hạn chế quyền, tài sản hoặc tự do của đối tượng bị ápdụng, nhưng điều này không có nghĩa là truy cứu trách nhiệm hành chính đối với đối tượng đó

Vì vậy, trách nhiệm hành chính đặt ra đối với cả cá nhân và tổ chức Đây là điểm khácbiệt giữa trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự do trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đốivới cá nhân thực hiện hành vi phạm tội

Ví dụ minh hoạ: Một DNTN kinh doanh loại hình Karaoke nhưng không tuân thủ theo quy định như: bán rượu mạnh không giấy phép, không ký kết HĐLĐ với NLĐ, ánh sáng không

đủ sáng…thì Đội Liên ngành 814 của Quận, Phường có quyền tạm giữ GPĐKKD hoặc yêu cầu đóng cửa Đây là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo để xử phạt hành chính, không có nghĩa là DNTN này đã bị truy cứu trách nhiệm hành chính.

b) Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm trước Nhà Nước

Nhà nước thiết lập các quy định về trật tự quản lý hành chính nhà nước Nhà nước buộc

tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi để bảo vệtrật tự quản lý hành chính nhà nước mà mình đã thiết lập ra

Chủ thể vi phạm hành chính phải thực hiện biện pháp chế tài của tổ chức, cá nhân viphạm hành chính là trách nhiệm của họ trước Nhà nước chứ không phải trước một tổ chức hay

cá nhân cụ thể nào trong xã hội Đây là điểm khác biệt giữa trách nhiệm hành chính với tráchnhiệm dân sự

Ví dụ minh hoạ:Nhà Nước quy định các cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp khi mua bán hàng hoá, dịch vụ phải lập hoá đơn cho khách hàng nhằm phục vụ cho công việc quản lý thuế Nếu cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp nào không thực hiện đúng thì Cơ quan thuế sẽ lập biên bản và có các biện pháp chế tài… khi phát hiện, để thực hiện đúng quy định pháp luật của Nhà Nước đã đề ra.

c) Việc truy cứu trách nhiệm hành chính được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật hành chính

Những người được trao thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính trước hết và chủyếu là những người có thẩm quyền quản lý hành chính Nhà nước trong hệ thống cơ quan hànhchính Nhà nước do Pháp luật hành chính quy định Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt,thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính còn được trao cho thẩm phán tòa án nhân dân vàchấp hành viên của cơ quan thi hành án dân sự

Ngày đăng: 25/07/2021, 10:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w