ninh giai đoạn 1986 đến nay, đồng thời đè xuất những giải pháp góp phần nângcao hiệu quả thực hiện chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng trong thờigian tới.Nhiệm vụ Để đạt được những m
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÔN HỌC: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TIỂU LUẬN
NHẬN THỨC VỀ QUỐC PHÒNG, AN NINH CỦA ĐẢNG
TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI
GVHD: Ths Lê Quang Chung
Tp Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2021
Trang 2ĐIỂM SỐ
TIÊU CHÍ NỘI DUNG BỐ CỤC TRÌNH BÀY TỔNG
ĐIỂM
NHẬN XÉT
Ký tên
Ths Lê Quang Chung
Trang 3BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
kết luận
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận 3
6 Kết cấu của tiểu luận 3
Chương 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ 4
Chương 2 NHẬN THỨC VỀ QUỐC PHÒNG AN NINH CỦA ĐẢNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 9
2.1 Nhận thức về quốc phòng an ninh của Đảng thời kỳ đổi mới từ năm 1986 – 1996 9
2.2 Nhận thức về quốc phòng an ninh của Đảng thời kỳ đổi mới từ năm 1996 – nay 13
2.2.1 Từ năm 1996 đến năm 2000 13
2.2.2 Từ năm 2001 đến năm 2005 14
2.2.3 Từ năm 2006 đến năm 2010 14
2.2.4 Từ năm 2011 đến năm 2015 15
2.2.5 Từ năm 2016 đến năm 2020 16
Chương 3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VỀ QUỐC PHÒNG AN NINH 18
3.1 Mục đích xây dựng nền quốc phòng, an ninh vững mạnh 18
3.2 Nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng, an ninh vững mạnh 18
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 5Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang diễn biếnnhanh chóng, phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố khó lường Các thế lực thù địchvẫn ráo riết chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, chủ yếu và thôngqua diễn biến hoà bình, với mục đích xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chuyển hướng cách mạngnước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa Thực tế cho thấy, những các hànhđộng xâm hại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các thế lực thù địch đối với nước
ta vẫn tiếp diễn dưới nhiều hình thức, âm mưu và với vô vàn thủ đoạn hết sứctinh vi, sảo quyệt Căn cứ vào nhiệm vụ của cách mạng, nắm bắt và phân tíchkhoa học tình hình thế giới, tình hình trong nước Đảng ta đã xác định đường lối,chủ trương lãnh đạo nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Namtrong giai đoạn hiện nay
Với mục đích nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những thành tựu, cũng như hạnchế của Đảng về quốc phòng, an ninh trong thời kì đổi mới, đồng thời đề xuấtnhững giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế, vượt qua những khókhăn, thách thức, nâng cao hiệu quả thự hiện công tác quốc phòng, an ninh của
đảng trong thời gian tới, nhóm chúng em chọn đề tài: ”Nhận thức về quốc phòng, an ninh của Đảng trong thời kì đổi mới” làm tiểu luận kết thúc môn
học Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
2. Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận
Trang 6ninh giai đoạn 1986 đến nay, đồng thời đè xuất những giải pháp góp phần nângcao hiệu quả thực hiện chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng trong thờigian tới.
Nhiệm vụ
Để đạt được những mục đích trên, tiểu luận cần thực hiện một số nhiệm
vụ cụ thể như sau:
- Trình bày có hệ thống các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước ta về chính sách quốc phòng, an ninh và thực hiện chính sách quốcphòng, an ninh trong thời kỳ đổi mới
- Trình bày quá trình Đảng tiếp thu, vận dụng những chủ trương, chínhsách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước vào điều kiện cụ thể của đấtnước
- Đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện chính sáchquốc phòng, an ninh gia đoạn 1986 đến nay
- Rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo thực hiện chính sách quốcphòng, an ninh gia đoạn 1986 đến nay, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng caohiệu quả thực hiện chính sách quốc phòng, an ninh trong thời gian tới
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận
Đối tượng nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản về chính sách quốc phòng,
an ninh của Đảng và Nhà nước trong thời kì đổi mới, tiểu luận đi sâu nghiêncứu sự tiếp thu, vận dụng của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo thực hiện chínhsách quốc phòng, an ninh thời gian tới
Trang 7Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc; các quan điểm, chủ trương, chính sách vềquốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước.
Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng hai phương pháp nghiêncứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Bên cạnh đó, tác giảcòn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp phân tích, phương pháptổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận
Tiểu luận góp phần cung cấp và làm rõ hơn những nội dung cơ bản củaĐảng và Nhà nước về chính sách quốc phòng, an ninh, phục vụ cho các cơ quan,đơn vị và cá nhân có nhu cầu tìm hiểu về các nội dung này
Trình bày sâu sắc, có hệ thống quá trình Đảng thực hiện lãnh đạo thực hiệnchính sách quốc phòng, an ninh giai đoạn 1986 đến nay, góp phần vào việcnghiên cứu, tổng kết lịch sử Đảng và Nhà nước về vấn đề quốc phòng, an ninhtrong giai đoạn này
Đánh giá, tổng kết quá trình thực hiện chính sách quốc phòng, an ninh giaiđoạn 1986 đến nay, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiệnchính sách quốc phòng, an ninh trong thời gian tới
Ngoài ra, tiểu luận còn có thể là tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu về quátrình thực hiện chính quốc phòng, an ninh giai đoạn 1986 đến nay, cũng như lịch
sử Đảng ở nội dung thực quốc phòng, an ninh trong giai đoạn này
6. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, tiểu luận đượcchia làm 3 chương, 7 tiết
Chương 1: Hoàn cảnh lịch sử
Chương 2: Nhận thức về Quốc phòng, An ninh của Đảng thời kì đổi mới Chương 3: Đánh giá kết quả thực hiện đường lối của Đảng về quốc phòng,
an ninh
Trang 8Chương 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ
Vào thế kỷ thứ X sau Công nguyên đất nước đã giành được độc lập vững chắc
và xây dựng một nhà nước độc lập mang tên Đại Việt Đất nước đã trải quanhiều triều đại vua chúa phong kiến mà quan trọng nhất là triều Lý (thế kỷ XI vàXII), triều Trần (thế kỷ XIII và XIV), triều Lê (thế kỷ XV, XVI và XVII) vớimột nền hành chính tập quyền, một lực lượng quân đội mạnh, một nền kinh tế vàvăn hoá phát triển cao Trong suốt thời kỳ này, Việt Nam phải liên tục đấu tranhchống lại các âm mưu xâm lược của các đế chế phong kiến Trung Hoa và Mông
Cổ Các cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ chống quân xâm lược Tống (thế
kỷ XI), Nguyên (thế kỷ XIII), Minh (thế kỷ XV) đã giành những thắng lợi vangdội Sau mỗi cuộc kháng chiến, Việt Nam trở nên mạnh hơn, các dân tộc đoànkết hơn và đất nước bước vào một thời kỳ cường thịnh mới
Nền văn hoá Đông Sơn được bổ sung bởi ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa
đã phát triển qua nhiều thế kỷ trong khuôn khổ một nhà nước độc lập Phật giáo,Nho giáo, Khổng giáo thâm nhập vào Đại Việt mang theo nhiều yếu tố văn hoáquần chúng và nhiều hình thức đặc biệt Tuy vậy, Việt Nam vẫn có ngôn ngữriêng và một nền văn minh nông nghiệp phát triển khá cao
Đến thế kỷ XVII và XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam suy yếu nghiêmtrọng Các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tục diễn ra đã dẫn đến phong trào TâySơn (1771-1802) Tây Sơn đã tiêu diệt các chế độ vua chúa cát cứ, thống nhấtđất nước, đánh đuổi quân xâm lược Thanh (Trung Quốc) đồng thời ban hànhnhiều cải cách xã hội và văn hoá Nhưng không lâu sau đó với sự giúp đỡ củangoại bang, Nguyễn Ánh đã giành được quyền thống trị và lập nên triều đìnhnhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam
Vào giữa thế kỷ XIX (1858), thực dân Pháp bắt đầu cuộc xâm chiếm ViệtNam Triều đình nhà Nguyễn bất lực đã dần dần nhân nhượng quân xâm lược và
từ năm 1884, Pháp thiết lập chế độ bảo hộ và thuộc địa trên toàn bộ lãnh thổViệt Nam Ngay từ những ngày đầu, các phong trào kháng chiến quần chúngdưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước nổ ra ở khắp mọi nơi, nhưng cuối cùngđều thất bại
Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc (sau đó trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh) đãhoạt động ở nước ngoài để tìm con đường cứu nước Người đã sáng lập ĐảngCộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930 Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản,
Trang 9quần chúng nhân dân đã đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp và quân chiếmđóng Nhật, thực hiện cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 và thành lập nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 2/9/1945.
Nước Việt Nam non trẻ vừa mới ra đời lại phải đương đầu với các âm mưuxâm lược và can thiệp của Pháp và Mỹ, phải tiến hành cuộc chiến tranh giảiphóng dân tộc kéo dài suốt 30 năm sau đó Trước hết, sự trở lại xâm lược củaPháp đã gây ra cuộc kháng chiến 9 năm (1945-1954) của Việt Nam, kết thúcbằng chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève về Việt Nam năm 1954.Theo Hiệp định này, đất nước tạm thời bị chia làm hai vùng lãnh thổ miền Bắc
và miền Nam lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến và sẽ được thống nhất hai năm sau
đó (1956) thông qua một cuộc tổng tuyển cử Miền Bắc Việt Nam vào thời kỳnày mang tên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, dưới sự lãnh đạo của Đảng Laođộng với Thủ đô là Hà Nội Miền Nam mang tên Việt Nam Cộng hoà nằm dưới
sự quản lý của chính quyền thân Pháp, rồi thân Mỹ đặt tại Sài Gòn Chính quyềnSài Gòn sử dụng mọi sức mạnh để ngăn chặn cuộc tổng tuyển cử, đàn áp và loại
bỏ những người kháng chiến cũ, do vậy xuất hiện phong trào đấu tranh vì hoàbình, thống nhất đất nước Chính quyền Sài Gòn đã không thể ngăn cản đượcnguyện vọng thống nhất đất nước của quần chúng, đặc biệt từ ngày Mặt trậnDân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, ngày 20/12/1960
Để duy trì chế độ Sài Gòn, Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự Đặc biệt kể từgiữa thập kỷ 1960 Mỹ đã gửi nửa triệu quân Mỹ và đồng minh đến miền NamViệt Nam trực tiếp tham chiến, và từ 5/8/1964 bắt đầu ném bom miền Bắc ViệtNam Nhưng nhân dân Việt Nam, theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh
"Không có gì quý hơn độc lập tự do", đã đứng vững và giành nhiều thắng lợi ở
cả hai miền Nam và Bắc Năm 1973, Washington buộc phải ký Hiệp định Paris
về lập lại hoà bình ở Việt Nam và rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam.Mùa xuân năm 1975, trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc và được sự đồng tìnhcủa nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới, các lựclượng vũ trang yêu nước Việt Nam đã thực hiện cuộc tổng tiến công giải phóngmiền Nam, thống nhất đất nước
Ngày 2/7/1976, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được đổi tên thành nướcCộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam với lãnh thổ bao gồm cả hai miền Nam vàBắc
Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc
Trang 10Sau nhiều năm chiến tranh kéo dài, đất nước bị tàn phá nặng nề Từ năm 1975
-1986, Việt Nam phải đối phó với vô vàn khó khăn Những hậu quả và tệ nạn xãhội do chiến tranh để lại, dòng người tị nạn, chiến tranh ở biên giới Tây Namchống diệt chủng Khme đỏ, chiến tranh ở biên giới phía Bắc, bao vây, cấm vậncủa Mỹ và các nước phương Tây, thêm vào đó thiên tai liên tiếp xảy ra đã đặtViệt Nam trước những thử thách khắc nghiệt Hơn nữa, những khó khăn càngtrầm trọng do xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan, nóng vội và duy ý chímuốn xây dựng lại đất nước nhanh chóng mà không tính đến những điều kiện cụthể Vào đầu những năm 1980, khủng hoảng kinh tế - xã hội ở Việt Nam trở nêngay gắt, tỉ lệ lạm phát lên đến 774,7% vào năm 1986
Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện nhằmvượt qua khó khăn, đi vào vào con đường phát triển và từng bước hội nhập khuvực và quốc tế Tại Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12/1986 đãnghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt làm được,phân tích những sai lầm khuyết điểm, đề ra đường lối Đổi mới toàn diện trong
đó đổi mới kinh tế được đặt lên hàng đầu với chủ trương phát triển nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước, theo định hướng XHCN, đi đôi với việc tăng cường cơ sở pháp lý, đổimới tổ chức Đảng và Nhà nước Nền kinh tế Việt Nam thực sự mở cửa, chuyển
từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp dựa trên việc nhập khẩu và nhận viện trợcủa nước ngoài sang cơ chế thị trường, tự chủ về tài chính nhằm cân bằng ngânsách nhà nước và hướng tới xuất khẩu Trước năm 1989, hàng năm Việt Namđều phải nhập khẩu lương thực, có năm trên 1 triệu tấn Từ năm 1989, Việt Nam
đã bắt đầu xuất khẩu 1-1,5 triệu tấn gạo mỗi năm; lạm phát giảm dần (đến năm
1990 còn 67,4%) Đời sống của nhân dân được cải thiện, dân chủ trong xã hộiđược phát huy Quốc phòng, an ninh được giữ vững Quan hệ đối ngoại được
mở rộng, đẩy lùi tình trạng bị bao vây, cô lập
Tháng 6/1991, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định lại quyếttâm tiếp tục chính sách Đổi mới với mục tiêu vượt qua khó khăn, thử thách, ổnđịnh và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cựcđảm bảo công bằng xã hội, đưa đất nước cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng.Đại hội cũng đề ra chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá
và đa phương hoá quan hệ với mục tiêu Việt Nam "Muốn làm bạn với tất cả cácnước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển."
Trang 11Mặc dù bị tác động sâu sắc do việc Liên Xô, Đông Âu tan rã, các thị trườngtruyền thống bị đảo lộn; tiếp tục bị bao vây cấm vận và phải đối phó với các âmmưu hoạt động gây mất ổn định chính trị và bạo loạn lật đổ của các thế lực thùđịch, Việt Nam đã từng bước khắc phục khó khăn, trở ngại, tiếp tục giành nhiềuthắng lợi to lớn Từ năm 1991-1995 nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổngsản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2% Đến tháng 6/1996, đầu tư trực tiếp củanước ngoài đạt trên 30,5 tỷ USD Lạm phát giảm từ mức 67,1% (1991) xuốngcòn 12,7% (1995) và 4,5% (1996) Đời sống vật chất của phần lớn nhân dânđược cải thiện Trình độ dân trí, mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân đượcnâng lên Sự nghiệp giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, các hoạt động văn hoánghệ thuật thể dục thể thao, thông tin đại chúng, công tác kế hoạch hoá gia đình
và nhiều hoạt động xã hội khác có những mặt phát triển và tiến bộ Chính trị ổnđịnh, độc lập chủ quyền và môi trường hoà bình của Việt Nam được giữ vững,quốc phòng an ninh được củng cố tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho công cuộcĐổi mới Hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở được củng cố, bộ máy nhànước pháp quyền được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Chính sách đối ngoạiđộc lập tự chủ, đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ của Việt Nam đã đạtđược những kết quả tốt đẹp
Trong gần 1 thập kỷ qua, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội cho 10năm đầu của TK 21, kinh tế nước ta liên tục tăng trưởng và phát triển tương đốitoàn diện Trong 5 năm 2001 - 2005 Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăngtrưởng bình quân 7,5% và trong giai đoạn từ năm 2005-2008, GDP tăng trưởngbình quân 7,84% Văn hoá và xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt; việc gắn pháttriển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, nhất là trongcông cuộc xoá đói, giảm nghèo; đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện.Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng và an ninh được tăng cường; quan hệ đốingoại có bước phát triển mới Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa có tiến bộ trên cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp Sức mạnhkhối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy
64 năm qua, kể từ thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và việcthành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu hết sức to lớn
Đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổquốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổquốc, đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội; thắng lợi của sự nghiệp đổi mới doĐảng đề ra và lãnh đạo đã đưa nước ta bước vào một thời kỳ phát triển mới Từ
Trang 12những thắng lợi giành được trong thế kỷ XX và nhất là từ khi Nhà nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã làm cho đất nước ta từ một nước thuộc địanửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo conđường xã hội chủ nghĩa với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam "Dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Việt Nam hiện có quan hệquốc tế rộng rãi, có vị trí ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thếgiới.Hiện nay Việt Nam đã thiết lập hơn 80 cơ quan đại diện ngoại giao ở nướcngoài, có quan hệ ngoại giao với 176 quốc gia, quan hệ kinh tế thương mại vớitrên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó khoảng 80 quốc gia và vùng lãnhthổ đầu tư trực tiếp vào nước ta
Trang 13Chương 2 Nhận thức về quốc phòng an ninh của Đảng thời kỳ đổi mới
2.1 Nhận thức về quốc phòng an ninh của Đảng thời kỳ đổi mới từ năm
1986 – 1996
Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội vànền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo
vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc làsức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trịdưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sứcmạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lựclượng và thế trận an ninh nhân dân Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và
an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Phối hợp hoạt động quốc phòng và an ninhvới hoạt động đối ngoại
Giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại nhằm tạo rasức mạnh tổng hợp là kế sách độc đáo của dân tộc ta trong quá trình dựng nước
và giữ nước Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hainhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam trong công cuộc đổi mới Trongkhi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn chỉ rõbảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ thiêng liêng, không một chút lơi lỏng Trong côngcuộc đổi mới, cùng với quá trình đổi mới tư duy về kinh tế-xã hội mang tínhchất sáng tạo, cách mạng và khoa học, Đảng cũng luôn chăm lo xây dựng vàtừng bước đổi mới hoàn thiện đường lối quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.Giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, trên thế giới và khu vực diễn ra sự chuyển biếnsâu sắc Quan hệ chính trị quốc tế có những thay đổi và tác động mạnh mẽ đếnchiến lược đối ngoại của các quốc gia dân tộc, trong đó có Việt Nam
Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đượcdiễn ra từ ngày 15 - 18/12/1986 tại Hà Nội là đại hội đổi mới toàn diện, triệt đểđất nước Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, “nói rõ sự thật”, “đổi mới tưduy” Đại hội lần thứ VI xác định: “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kếtmột lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện thắng lợihai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững
Trang 14chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đồng thời tích cực góp phần vào cuộcđấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ vàchủ nghĩa xã hội” Trong giai đoạn mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân luônthấu suốt quan điểm: “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; pháthuy sức mạnh tổng hợp của đất nước, của cả hệ thống chính trị trong thực hiệnnhiệm vụ quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc Đảng đã đánh giá khách quantình hình đất nước, thừa nhận những sai lầm trong xây dựng và phát triển là “chủquan, duy ý chí” và đề ra chủ trương đổi mới toàn diện Về đối ngoại, mục tiêucủa chính sách đối ngoại được Đại hội xác định là phải kết hợp sức mạnh dântộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ gìn hòa bình ở Đông Dương, góp phầngiữ vững hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường quan hệ hữu nghịhợp tác với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, “tranh thủ điều kiện quốc tếthuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc” Cùngvới đó là những tìm tòi đổi mới mang tính đột phá trong đường lối phát triểnkinh tế-xã hội, nhiều chủ trương, chính sách trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng,
an ninh cũng được đổi mới, nhằm đáp ứng kịp thời với những đổi mới trên cáclĩnh vực khác nhau Định hướng cho sự phát triển đất nước theo con đường xãhội chủ nghĩa,Đại hội VI cũng chỉ rõ, xây dựng nền quốc phòng toàn dân trongthời kỳ đổi mới là phải xây dựng quân đội chính quy, có chất lượng tổng hợpngày càng cao, có tổ chức hợp lý, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiếnđấu cao, luôn gắn liền với phát triển dân quân, tự vệ với số lượng và chất lượngphù hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới; thực hiệntốt chính sách hậu phương quân đội; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn,nghiên cứu, phát triển khoa học và nghệ thuật quân sự nước nhà Từng bướcphát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế củađất nước
Sau gần hai năm thực hiện đường lối đổi mới, ngày 20/5/1988, Bộ Chính trị
ra Nghị quyết số 13/NQ-TW “Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tìnhhình mới” Trong đó, mục tiêu đối ngoại được Nghị quyết khẳng định “lợi íchcao nhất của Đảng và nhân dân ta là phải củng cố và giữ vững hòa bình để tậptrung sức xây dựng và phát triển kinh tế” Sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị,tháng 3/1990, Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI
đã ban hành Nghị quyết số 8A “Về tình hình các nước xã hội chủ nghĩa, sự pháhoại của chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta” Theo đó, việc
mở rộng quan hệ đối ngoại theo phương châm “thêm bạn, bớt thù” được coi làmột trong những nhiệm vụ cấp bách; đồng thời, Nghị quyết xác định: Cách đónggóp tốt nhất và thiết thực nhất lúc này vào các mạng thế giới là thực hiện thắng
Trang 15lợi đường lối đổi mới của Đảng, làm cho Việt Nam ngày càng ổn định về chínhtrị, phát triển về kinh tế, xã hội, mạnh về quốc phòng và an ninh.
Triển khai thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, từ năm 1986 - 1990,Việt Nam đã đẩy mạnh hoạt động đối ngoại kinh tế, đối ngoại chính trị Kết quảhoạt động đối ngoại đạt được trong những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XXtuy mới là bước đầu, nhưng có ý nghĩa quan trọng, mở cửa giao lưu hợp tác vớibên ngoài, tạo được vị thế mới cho đất nước trong quan hệ quốc tế
Bước vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu, Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo chính quyền, chế độ chính trị, xã hộithay đổi Tình hình Liên Xô hết sức khó khăn, phức tạp Trong hoàn cảnh đó, tạiĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) Lần đầu tiên trong Nghị quyếtĐại hội VII, Đảng ta chính thức đưa ra quan điểm xây dựng thế trận an ninhnhân dân: “Phát huy sức sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chínhtrị, từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh của đất nước, xâydựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn vớinền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân” Ngoài việc quan tâm đếnviệc xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên bình diện rộng, trên toàn bộ lãnhthổ, để chủ động bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ quyền quốc gia trong mọitình huống, Đảng còn nhấn mạnh tới việc xây dựng các khu phòng thủ ở các địaphương; sự cần thiết phải xây dựng các công trình quốc phòng trọng điểm,không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu của lực lượng vũtrang, xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bướchiện đại, với cơ cấu tổ chức và quân số hợp lý Xây dựng lực lượng dự bị độngviên hùng hậu, được huấn luyện và quản lý tốt, bảo đảm khi cần thiết có thểđộng viên được nhanh chóng theo kế hoạch Xây dựng lực lượng dân quân, tự
vệ rộng khắp, lấy chất lượng làm chính Đảng ta xác định trọng tâm của công tácđối ngoại là tiếp tục tạo môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, thuận lợi cho sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Với những nội dung được quyết nghị, Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VII được đánh giá là “Đại hội của trí tuệ - đổi mới
- dân chủ - kỷ cương - đoàn kết” Thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng, đếngiữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đã phá được thế bao vây, cô lập, mởrộng quan hệ quốc tế trên phạm vi rộng lớn Lần đầu tiên, Việt Nam có quan hệchính thức với tất cả các nước lớn, kể cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồngBảo an Liên hợp quốc và cũng là lần đầu tiên Việt Nam gia nhập ASEAN, một
tổ chức khu vực mà trong đó các thành viên đều không cùng ý thức hệ và chế độchính trị, xã hội với Việt Nam
Trang 16Bối cảnh quốc tế thì chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông
Âu sụp đổ khiến chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đókhông làm thay đổi tính chất của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá
độ lên chủ nghĩa xã hội Nguy cơ chiến tranh thế giới hủy diệt bị đẩy lùi, nhưngxung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo,chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở nhiềunơi.Trong nước tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng diễn ra tại
Hà Nội từ ngày 28/6 - 1/7/1996, Đảng ta khẳng định: Tiếp tục thực hiện đườnglối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan
hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộngđồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Đại hội nêu rõ chủtrương: Tiếp theo việc gia nhập ASEAN và chuẩn bị cho việc tham gia Khốimậu dịch tự do (AFTA), cần xúc tiến tham gia Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á
- Thái Bình Dương (APEC) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đồngthời cũng đề ra những quan điểm chỉ đạo nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòngtoàn dân và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa: Kếthợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủnghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Kết hợp quốcphòng và an ninh với kinh tế Gắn nhiệm vụ quốc phòng với nhiệm vụ an ninh,hai nhiệm vụ đó có liên quan chặt chẽ với nhau trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc.Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thườngxuyên của cả hệ thống chính trị Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ Tổ quốc;thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng nền quốc phòngtoàn dân và an ninh nhân dân Tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng và
an ninh Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng, tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng đối với quân đội và công an, đối với củng cố quốc phòng và an ninh.Tuynhiên, nếu như chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là một chiến lược lâu dài, thìnhững diễn biến của tình hình thế giới, khu vực và trong nước xảy ra thườngxuyên, Đảng liên tục có những điều chỉnh cho phù hợp với thực tế
Như vậy, trong quá trình phát triển nhận thức lý luận, Đảng ta lần lượt cụthể hóa đường lối quần chúng, chính sách dân vận thành các hình thái nền anninh nhân dân, nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trậnquốc phòng toàn dân Đồng thời cùng với việc lãnh đạo xây dựng các nền, thếtrận độc lập, Đảng ta đã xác định phải kết hợp chặt chẽ nền an ninh nhân dân,thế trận an ninh nhân dân với nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòngtoàn dân, cùng với đó là kết hợp kinh tế - đối ngoại trong một thể thống nhấthoàn chỉnh Xuyên suốt các nền và thế trận ấy là “Thế trận lòng dân” nhằm huy