Mở đầuVận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn coi trọng gắn kết
Trang 1Mở đầu
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn coi trọng gắn kết phát triển kinh tế và công bằng xã hội, đây là định hướng đúng đắn cho phát triển kinh tế bền vững của Đất nước.Tuy nhiên, chính sách chú trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh có thể gây ra bất bình đẳng (về thu nhập, cơ hội học tập, tiếp cận dịch vụ xã hội) và làm cho nghèo đói gia tăng, thậm chí có thể làm phát sinh các mâu thuẫn xã hội Ngược lại, chính sách chú trọng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội có thể làm triệt tiêu các động lực tăng trưởng kinh tế
Hiện nay, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đang chịu sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa, của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 Trong bối cảnh đó, vấn đề giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội càng trở nên cấp thiết Đây cũng chính là lý do tác giả chọn đề tài “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay”
Trang 2Kết cấu
Mở đầu
Phần 1: Lý thuyết chung về chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội
1 Chủ nghĩa xã hội
1.1 Khái niệm, điều kiện ra đời của chủ nghĩa xã hội
1.2 Những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội
2 Công bằng xã hội
2.1Khái niệm công bằng xã hội
2.2Nội dung
2.3Điều kiện để thực hiện công bằng xã hội
2.4Công bằng xã hội- mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
Phần II: Vận dụng thực tiễn: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay
1 Lý thuyết chung
1.1 Tăng trưởng kinh tế
1.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và cân bằng xã hội
2 Thực trạng, nguyên nhân
3 Giải pháp
Phần III: Kết luận
Danh sách tài liệu tham khảo
Trang 3PHẦN I: Lý luận chung về chủ nghĩa xã hội và công bằng xã hội
1.Chủ nghĩa xã hội
1.1.Khái niệm, điều kiện ra đời của Chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa xã hội được hiểu theo bốn nghĩa: Là phong chào thực tiễn, phong trào đấu tranh của nhân dân lao động chống lại áp bức, bất công, chống giai cấp thống trị Là trào lưu tư tưởng lý luận, phản ánh lý tưởng giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột bất công Là một khoa học, chủ nghĩa xã hội khoa học, lý luận khoa học về sự mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Là một chế độ xã hội tốt đẹp, giai đoạn đầu của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa
Chủ nghĩa xã hội, giai đoạn đầu của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa: Theo quan điểm của Mác Angghen cho rằng hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ thấp đến cao qua hai giai đoạn: Giai đoạn thấp của xã hội cộng sản sau này Lênin và đảng Cộng sản gọi là Chủ nghĩa xã hội Giai đoạn cao của xã hội cộng sản sau này Lênin gọi là cộng sản chủ nghĩa Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là thời kỳ của quá
độ chính trị Quan điểm của Lênin lại cho rằng hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển qua các nấc thang sau:
1-những cơn đau đẻ kéo dài, thời kỳ quá độ
2- giai đoạn đầu xã hội cộng sản
3- giai đoạn cao của xã hội cộng sản
Chủ nghĩa xã hội ra đời từ những nước tư bản phát triển cao,cơ bản của chủ nghĩa tư bản là do sự ra đời của nền đại công nghiệp cơ khí, chủ nghĩa tư bản tạo ra bước phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa cao mâu thuẫn với quan hệ sản xuất, dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất chủ yếu.Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền đại công nghiệp cơ khí đó là sự phát triển vượt bậc về số lượng và chất lượng
Trang 4của giai cấp công nhân dẫn tới mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp công nhân
và giai cấp tư sản
1.2.Những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội
Khi nghiên cứu về hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội quan tâm dự báo những đặc trưng, đặc biệt là giai đoạn đầu giai đoạn thấp của xã hội cộng sản nhằm định hướng phát triển trong phong trào công nhân quốc tế Những đặc trưng cơ bản của giai đoạn đầu, phản ánh bản chất và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội được bộc lộ đầy đủ cùng với quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa Căn cứ vào những dự báo của
C Mác và Ph.Angghen và những quan điểm của V.I.Lênin về chủ nghĩa xã hội
ở nước Nga xô - viết, có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa
xã hội như sau:
Thứ nhất: Mục tiêu cao cả của xã hội xã hội chủ là nghĩa giải phóng giai
cấp,giải phóng xã hội, giải phóng con người thoát khỏi áp bức bóc lột, thực hiện công bằng bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện cơ bản để con người phát triển toàn diện Đây là sự khác biệt về chất giữa hình thái kinh tế-
xã hội cộng sản chủ nghĩa so với các hình thái kinh tế- xã hội ra đời trước, thể hiện bản chất nhân văn, nhân đạo của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội
Thứ hai: Cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền sản xuất công
nghiệp hiện đại, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại, xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, từng bước thiết lập chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu C Mác và Ph.Angghen chỉ rõ: Xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản không đồng nghĩa với xóa bỏ sở hữu do cá nhân làm ra “ Điều chúng tôi muốn là xóa
bỏ tính chất bi thảm của cái phương thức chiếm hữu nó…” Đó là cơ sở kinh tế
để xây dựng một xã hội công bằng , bình đẳng , tiến bộ , quan hệ tốt đẹp giữa người và người Tuy nhiên , đây là quá trình khó khăn , phức tạp , lâu dài , không thể thực hiện chóng vánh , ngay lập tức được
Trang 5Thứ ba, tổ chức quản lý có hiệu quả, năng suất lao động cao, phân phối chủ
yếu theo lao động Một mặt , các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ
ra những đặc trưng kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa , trong đó có đặc trưng
là xác lập từng bước chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Mặt khác , các ông rất coi trọng việc đổi mới cách thức tổ chức quản lý , thiết lập một chế độ xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản , là phải tăng năng suất lao động V.I.Lênin chỉ
rõ : Sau khi giai cấp vô sản đã làm xong nhiệm vụ giành được chính quyền rồi thì tất nhiên có một nhiệm vụ căn bản khác được đề lên hàng đầu , đó là : Thiết lập một chế độ xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản , nghĩa là nâng cao năng suất lao động và do đó ( và nhằm mục đích đó ) phải tổ chức lao động theo một trình độ cao hơn
Thứ tư: chủ nghĩa xã hội có nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới
là nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc, đại biểu cho lơi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động
Thứ năm: Chủ nghĩa xã hội có nền văn hóa phát triển cao, kế thừa và phát
huy những giá trị của văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại Tính ưu việt, sự ổn định và phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa không chỉ thể hiện ở lĩnh vực kinh tế, chính trị mà còn ở lĩnh vực văn hóa, tinh thần xã hội
Thứ sáu, chủ nghĩa xã hội đảm bảo công bằng bình đẳng, đoàn kết giữa các
dân tộc và có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới 2.Công bằng xã hội
2.1 Khái niệm công bằng xã hội
Tự do, bình đẳng và bác ái là những giá trị mà cả nhân loại đang cố gắng để đạt được Công bằng xã hội cũng vậy, nó là giá trị mà loài người luôn mong đạt được trong cuộc sống hàng ngày
Trong chế độ xã hội công xã nguyên thủy, công bằng xã hội là mọi người đều tuân theo trật tự đã được cộng đồng thừa nhận, ai vi phạm sẽ bị trừng phạt Khi xuất hiện sở hữu tư nhân thì nội dung của khái niệm công bằng xã hội
Trang 6cũng thay đổi Sự công bằng ở đây được xem xét trong mối quan hệ với địa vị
xã hội Theo Aristotle, công bằng là sự bình đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội Còn sự bất bình đẳng giữa những người không có cùng địa vị xã hội cũng được Arisotle coi là công bằng
Dưới chủ nghĩa tư bản, nội dung của khái niệm công bằng cũng thay đổi Quan hệ trao đổi hàng hóa được gọi là công bằng khi chúng thực hiện theo nguyên tắc ngang giá Trong xã hội, mọi người được tuyên bố là bình đẳng trước pháp luật Các nhà lý luận của chủ nghĩa tư bản không đề cao giá trị công bằng mà đề cao giá trị "dân chủ" "tự do" (theo kiểu chủ nghĩa tư bản) Họ đồng nhất bình đẳng (bình đẳng hình thức, bình đẳng một số phương diện nhất định) với công bằng xã hội
Với chủ nghĩa xã hội, công bằng xã hội được thể hiện trong nguyên tắc phân phối theo lao động Theo C.Mác, sau khi đã khấu trừ đi những khoản cần thiết nhất để duy trì sản xuất, tái sản xuất cũng như để duy trì đời sống của cộng đồng, toàn bộ số sản phẩm xã hội còn lại sẽ được phân phối theo nguyên tắc: mỗi người sản xuất sẽ nhận trở lại từ xã hội một số lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội (sau khi
đã khấu trừ số lao động của anh ta cho các quỹ xã hội
2.2 Nội dung
Nội dung cơ bản nhất của công bằng xã hội là xử lý hợp lý nhất quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định Để phản ánh được nội dung cơ bản này, các nhà kinh tế học thường phân biệt hai khái niệm khác nhau về công bằng xã hội đó là: công bằng xã hội theo chiều ngang
(horizontal justice) nghĩa là đối xử như nhau đối với những người có đóng góp như nhau và công bằng xã hội theo chiều dọc (vertical justice) theo nghĩa là đối xử khác nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc có các điều kiện sống khác nhau
Trang 7Công bằng theo chiều ngang đòi hỏi phải đối xử bình đẳng giữa những người có cùng năng lực và cống hiến, hưởng thụ như nhau Công bằng theo chiều dọc thể hiện ở việc nhà nước có chính sách đãi ngộ, tạo điều kiện, mở rộng khả năng tiếp cận cho người nghèo, những nhóm người dễ bị tổn thương đến với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, việc làm, nguồn vốn, mạng lưới an sinh xã hội,
Được xây dựng trên nguyên tắc phân phối công bằng vì ở đây tất cả những người sản xuất đều có quyền ngang nhau tham dự quỹ tiêu dùng của xã hội khi làm một công việc ngang nhau Nguyên tắc phân phối theo lao động phản ánh, chủ nghĩa xã hội là chế độ đầu tiên trong lịch sử được xây dựng trên nguyên tắc công bằng xã hội Chủ nghĩa xã hội hướng tới mục tiêu: xóa bỏ áp bức, bất công và những cơ sở nảy sinh áp bức bất công, xây dựng các điều kiện để con người phát triển tự do và toàn diện, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Công bằng xã hội quan hệ mật thiết với dân chủ, đòi hỏi dân chủ vì dân chủ là điều kiện tiên quyết để thực hiện công bằng xã hội
2.3 Điều kiện để thực hiện công bằng xã hội
Công bằng xã hội là khái niệm mang tính lịch sử cụ thể Việc đặt ra và
giải quyết vấn đề này phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể: trình độ phát triển của phương thức sản xuất, trình độ nhận thức của con người, sự chi phối lợi ích của các giai cấp, các nhóm chủ thể xã hội thời kỳ đó Do vậy, việc thực hiện công bằng xã hội cũng phụ thuộc những điều kiện lịch sử - cụ thể của từng chế độ xã hội
Chủ thể thực hiện: Đảng cầm quyền, nhà nước, các tổ chức khác trong
hệ thống chính trị và các lực lượng, tổ chức xã hội, người dân ở quốc gia đó Ngoài ra, còn các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức hoạt động nhân đạo, từ thiện hỗ trợ, tham gia thực hiện CBXH
Phương thức thực hiện: Đảng chính trị cầm quyền ở quốc gia đó xác định quan điểm, chiến lược, chủ trương, các mục tiêu về thực hiện CBXH và
Trang 8lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Nhà nước có trách nhiệm triển khai thực hiện quan điểm, chiến lược, chủ trương, các mục tiêu về thực hiện CBXH trong cả nước và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thực hiện CBXH Các tổ chức khác trong hệ thống chính trị và các lực lượng xã hội ở nước
đó, tiến hành các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, vai trò của mình để thực hiện các nội dung của CBXH
2.4 Công bằng xã hội là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
Trong điều kiện đổi mới, hội nhập quốc tế và đẩy mạnh xây dựng nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công bằng là thúc đẩy sự phát triển, xúc tiến quá trình phát triển lành mạnh hài hòa; tiến hành sắp xếp chế độ và căn cứ dựa vào sáng tạo xã hội mới, là nguyên tắc cơ bản điều tiết quan hệ giữa các tầng lớp trong xã hội, cũng là tăng cường sức nghi tụ xã hội, ngọn cờ quan trọng để tụ hợp và hiệu triệu xã hội Chỉ có thực hiện công bằng người dân mới có thể phát triển, các quan hệ xã hội mới có thể được điều tiết, tính tích cực, tính chủ động, tính sáng tạo của người dân được phát huy, xã hội mới
có thể hài hòa ổn định, toàn thể nhân dân mới có thể đồng tâm hiệp lực xây dựng và phát triển đất nước
Phần 2: Vận dụng thực tiễn: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay
1 Lý thuyết chung
1.1 Tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một thời gian nhất định ( thường là một năm) Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Thu nhập của nền kinh tế biểu hiện dưới dạng giá trị được phản ánh qua các chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP) hoặc tổng thu nhập quốc gia(GNI) Tăng trưởng kinh tế được đo bằng hai chỉ tiêu Một là , chỉ tiêu quy mô tăng trưởng Chỉ tiêu này phản ánh sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế nhiều hay ít Hai là, chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng Chỉ tiêu
Trang 9này phản ánh sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế cao hay thấp , nhanh hay chậm Như vậy , bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế
1.2.Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và cân bằng xã hội
Theo lý luận của C.Mác, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là hai mặt của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội, có quan hệ tương hỗ lẫn nhau Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện vật chất để thực hiện công bằng xã hội Ngược lại, công bằng xã hội tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ví dụ, khi việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất của các chủ thể là công bằng thì tự nó
sẽ tạo ra động lực để thu hút và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngược lại, nếu việc tiếp cận các nguồn lực không công bằng thì
sẽ không thể có sự tăng trưởng kinh tế nào hết, và nếu việc tiếp cận nguồn lực quá bất công thì sẽ dẫn đến phá hoại sản xuất Thực chất việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là quá trình gắn kết kinh
tế với xã hội trong phát triển bền vững
Trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, từ nhận thức đúng đắn tính thống nhất và mâu thuẫn trong quá trình tăng thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước đề ra những quan điểm, chủ trương đúng đắn để xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Tư tưởng đó dần được hoàn thiện qua các kỳ đại hội của Đảng Giai đoạn 2011-2016, Đảng khẳng định rằng, tiến bộ xã hội và công bằng xã hội là hai mục tiêu song trùng của sự phát triển xã hội; mục đích tối cao của tăng trưởng kinh tế là nhằm phát triển con người; mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, xét cho cùng, là để giải phóng những giá trị văn hóa tích cực nhất cho loài người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; mặt khác, tăng trưởng kinh tế đồng thời giúp con người có nhiều cơ hội, khả năng tiếp nhận các giá trị văn hóa, đưa xã hội tiến lên những nấc thang mới trong lịch sử nhân loại Đại hội XII của Đảng đã khẳng định:
“Gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và
Trang 10thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân” [9, tr.299] Như vậy, trong thời kỳ đổi mới Đảng luôn chủ trương phát triển kinh tế phải gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội; coi hai mục tiêu này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó tăng trưởng kinh
tế là cơ sở, làm tiền đề và điều kiện cho nhau, ngược lại, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là điều kiện quan trọng thúc đẩy và bảo đảm tăng trưởng kinh
tế cao và bền vững
2 Thực trạng vấn đề ở Việt Nam và nguyên nhân
Trong công cuộc Đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu quyết tâm chính trị: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển” Đây là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt và luôn được quán triệt trong các kỳ Đại hội của Đảng Đến nay, đã đạt được những kết quả đáng khích lệ
Nhờ đổi mới nền kinh tế, bên cạnh hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, Đảng và Nhà nước còn khuyến khích phát triển các hình thức sở hữu
tư nhân (bao gồm: sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân) Mọi người đều có cơ hội như nhau trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân giai đoạn 19751985 của cả nước dao động ở 1,9%0,6%/ năm, thì giai đoạn 1986
-2017 đạt 6,6%/năm, năm 2018 đạt 7,08% Từ chỗ thuộc nhóm các nước nghèo nhất thế giới, năm 2008, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp, đạt mức 1.154 USD/ người Năm 2018, quy mô nền kinh tế đạt 240,5 tỷ USD gấp 34 lần sau 32 năm đổi mới, đưa Việt Nam lọt lên vị trí 49 trong bảng xếp hạng các nước có nền kinh tế mạnh nhất thế giớii(16) Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 2.587 USD và nếu tính theo ngang giá sức mua (PPP) thì đạt mức 7.640 USD/ người(17), cao gấp 26,7 lần so với năm 1989
Tăng trưởng kinh tế được gắn kết với phân phối thu nhập công bằng Đảng
và Nhà nước đã đổi mới căn bản chính sách phân phối thu nhập nhằm “thực hiện công bằng xã hội ngày một tốt hơn” Cụ thể là: “Thực hiện nhiều hình