1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thành phần nấm bệnh truyền qua hạt giống lúa sản xuất tại huyện tứ kỳ tỉnh hải dương và đề xuất biện pháp hạn chế bệnh

113 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 3,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2 Tình hình nghiên cứu nấm bệnh truyền qua hạt giống lúa 2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2.2.1.1 M ột số kết quả ñiều tra, nghiên cứu bệnh trên hạt giống Nấm gây bệnh có thể p

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-      -

NGUYỄN THỊ NGỌC ANH

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN NẤM BỆNH TRUYỀN QUA HẠT GIỐNG LÚA SẢN XUẤT TẠI HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG VÀ ðỀ XUẤT BIỆN PHÁP HẠN CHẾ BỆNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH

Mã số: 60.54.10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ XUÂN MẠNH

Trang 2

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã

đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận

được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân

Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Ngô Xuân Mạnh - Trưởng Khoa Công nghệ thực phẩm - trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin được gửi lời chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa Công nghệ thực phẩm, Viện Đào tạo Sau đại học

Tôi cũng xin được chân thành cảm ơn các cán bộ tại Trung tâm Giống lúa thuần - Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn bè và

đồng nghiệp những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

và thực hiện bản luận văn này

Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2009

Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2009 Tác giả luận văn Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Anh Nguyễn Thị Ngọc Anh

Trang 4

3 ðỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG

Trang 5

4.1.3 Kết quả ñiều tra phương pháp thu hoạch và chế biến thóc lúa của các

Trang 6

7 A padwickii Alternaria padwickii

8 B oryzae Bipolaris oryzae

9 V cinnabarium Veticillium cinnabarium

10 N oryzae Nigrospora oryzae

11 F moliniforme Fusarium moliniforme

12 M oryzae Microdochium oryzae

13 T barclayana Tilletia barclayana

14 S oryzae Sarocladium oryzae

15 R spp Rhizopus spp

16 TLHNB Tỷ lệ hạt nhiễm bệnh

17 XN Giống Xí nghiệp Giống cây trồng Tứ Kỳ

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.3 Diện tích lúa cả năm phân theo huyện, thành phố của tỉnh Hải

4.1 Tình hình sử dụng thóc giống của các nông hộ tại huyện Tứ Kỳ,

4.2 Khả năng nhận biết và phương pháp xử lý bệnh trên hạt thóc

4.3 Phương pháp thu hoạch và chế biến của các nông hộ tại huyện Tứ

4.4 Phương pháp bảo quản thóc giống của các nông hộ tại huyện Tứ

4.5 Thành phần nấm bệnh gây hại trên một số giống thóc tại Xí

4.6 Thành phần nấm bệnh gây hại trên giống thóc thu thập tại xã

4.7 Thành phần nấm bệnh gây hại trên giống thóc thu thập tại xã

4.8 Ảnh hưởng của nấm bệnh ñến chất lượng nảy mầm của giống lúa

4.9 Phân tích mối tương quan giữa tỷ lệ bệnh ñến chất lượng nảy mầm

4.10 Ảnh hưởng của nấm bệnh ñến chất lượng nảy mầm của giống lúa

Trang 8

4.11 Phân tích mối tương quan giữa tỷ lệ bệnh ñến chất lượng nảy mầm

4.12 Ảnh hưởng của nấm bệnh ñến chất lượng nảy mầm của giống lúa

4.13 Phân tích mối tương quan giữa tỷ lệ bệnh ñến chất lượng nảy mầm

4.14 Ảnh hưởng của nấm bệnh ñến chất lượng nảy mầm của giống lúa

4.15 Phân tích mối tương quan giữa tỷ lệ bệnh ñến chất lượng nảy mầm

4.16 Ảnh hưởng của nấm bệnh ñến chất lượng nảy mầm của giống lúa

4.17 Ảnh hưởng của các công thức xử lý thuốc ñến thành phần và số

4.18 Ảnh hưởng của các công thức xử lý thuốc ñến chất lượng nảy

4.19 Ảnh hưởng của các công thức xử lý trước thu hoạch ñến thành

phần và số lượng nấm bệnh trên giống Q5 vụ mùa 2008 tại Xí

4.20 Ảnh hưởng của các công thức xử lý thuốc hóa học trước thu

hoạch ñến chất lượng nảy mầm của giống Q5 vụ mùa 2008 tại Xí

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

4.9 Tỷ lệ hạt nhiễm bệnh trên các giống thóc khác nhau thu thập tại

4.10 Tỷ lệ hạt nhiễm bệnh trên các giống thóc khác nhau thu thập tại

4.11 Tỷ lệ hạt nhiễm bệnh trên các giống thóc khác nhau thu thập tại

4.13 Mẫu giám ñịnh thành phần bệnh nấm trên hạt thóc giống tại Tứ

4.14 Ảnh hưởng của các công thức xử lý thuốc ñến tỷ lệ hạt nhiễm

4.15 Ảnh hưởng của các công thức xử lý thuốc ñến hiệu lực phòng trừ

4.16 Ảnh hưởng của các công thức xử lý trước thu hoạch ñến tỷ lệ hạt

nhiễm bệnh nấm trên giống Q5 vụ mùa 2008 tại Xí nghiệp

Trang 10

Tuy nhiên, sản lượng lúa gạo chưa ổn ñịnh vì ngành sản xuất lúa phải ñương ñầu với những thử thách mới của sâu bệnh Trong những năm qua, bên cạnh những sâu bệnh hại như rầy nâu, sâu ñục thân, ñạo ôn, bạc lá, khô vằn

ñã xuất hiện những bệnh mới như ñen hạt, lem lép hạt, vàng lá vi khuẩn…

Theo thống kê của FAO, hàng năm thiệt hại do bệnh hại lúa gây ra làm giảm 12% sản lượng lúa gạo thế giới, tương ñương 55,0 triệu tấn, trị giá khoảng 13 tỉ ñô la Mỹ [41]

Cây lúa thường bị tấn công bởi rất nhiều loại vi sinh vật gây bệnh và ñược truyền qua nhiều nguồn khác nhau như gió, nước tưới, ñất, tàn dư cây trồng và

Trang 11

qua hạt giống Hầu hết các loại bệnh hại lúa ựều có thể truyền qua hạt giống như nấm bệnh, vi khuẩn, tuyến trùng, thậm trắ cả bệnh do virus gây ra

Theo Pearce (1996) [48], trong các vi sinh vật gây bệnh và truyền lan qua hạt giống cây trồng nông nghiệp nói chung thì nấm chiếm tỷ lệ 72%,

vi khuẩn 9%, virus 18% và tuyến trùng 1%

Bệnh trên hạt lúa là vấn ựề phức tạp, nan giải đã có nhiều nghiên cứu

về bệnh trên tán lá ở ngoài ựồng nhưng các bệnh do nấm gây ra có nguồn gốc

từ hạt thì còn rất ắt tác giả ở Việt Nam nghiên cứu Hạt giống nhiễm bệnh là nơi dễ dàng lây lan nguồn bệnh trên phạm vị rộng một cách nhanh chóng Mặt khác hạt giống bị nhiễm bệnh do nấm còn ảnh hưởng ựến chất lượng hạt giống (mất sức nảy mầm, ảnh hưởng ựến sức sống của cây mầm) ựiều này ảnh hưởng trực tiếp ựến năng suất và chất lượng cây trồng

Hải Dương là tỉnh nông nghiệp nằm tại trung tâm đồng bằng sông Hồng, một trong hai vựa lúa của Việt Nam Theo số liệu thống kê 2007, diện tắch lúa là 128.630 ha chiếm 75,5% diện tắch các loại cây trồng hàng năm của tỉnh với sản lượng ựạt 741.945 tấn Tứ Kỳ là một huyện thuần nông của tỉnh Hải Dương Tại ựây, diện tắch cấy lúa là 16.101 ha, cao nhất trong toàn tỉnh, trong ựó diện tắch lúa vụ ựông xuân là 8.165ha, vụ mùa là 7.936 ha [15]

để góp phần ựảm bảo sản xuất lúa bền vững tại huyện Tứ Kỳ - Hải

Dương chúng tôi tiến hành nghiên cứu ựề tài: ỘNghiên cứu thành phần nấm bệnh truyền qua hạt giống lúa sản xuất tại huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải Dương

Trang 13

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình sản xuất lúa

2.1.1 Tình hình sản xuất lúa trong nước thời gian qua

Từ năm 1989 ñến nay, nhờ thành công trong sản xuất lúa gạo, Việt Nam từ một quốc gia thiếu lương thực, phải nhập khẩu, ñã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới Số lượng gạo xuất khẩu ñã tăng dần và chất lượng không ngừng ñược cải thiện, nhờ vậy, năm 2007 giá gạo của Việt Nam ñã bằng giá gạo của Thái Lan, nước ñứng ñầu thế giới về xuất khẩu gạo

Cùng với việc phát triển nhanh một số cây lương thực khác, Việt Nam

ñã ñưa sản lượng lương thực có hạt từ 34,5 triệu tấn năm 2000 lên gần 40 triệu tấn vào năm 2007, gấp 2,22 lần năm 1986, nhờ ñó ñã tự cung cấp ñủ lương thực cho tiêu dùng trong nước với số dân 85,2 triệu người (năm 2007), tạo ñược quỹ dự trữ lương thực quốc gia với khối lượng trên 1 triệu tấn và xuất khẩu mỗi năm từ 4,5 ñến 5,0 triệu tấn gạo

Trước năm 2000, sản lượng lúa tăng nhờ tăng diện tích gieo cấy lúa (từ 5,88 triệu ha năm 1986 lên 7,66 triệu ha) Từ năm 2001 ñến nay diện tích gieo cấy lúa ñã giảm do một bộ phận chuyển sang nuôi trồng thủy sản hoặc chuyển sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn, một bộ phận khác chuyển sang mục ñích phi nông nghiệp Do vậy, diện tích gieo cấy lúa giảm còn khoảng trên 7,3 triệu ha Song nhờ năng suất lúa bình quân tăng từ 42 tạ/ha lên 49 tạ/ha ñã làm cho sản lượng của nước ta vẫn tăng bình quân mỗi năm khoảng 1,0 triệu tấn [25]

Trang 14

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa cả nước giai ñoạn 2000 - 2007

(1000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (1000 tấn)

2 1.2 Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Hải Dương và huyện Tứ Kỳ

2.1.2.1 Tình hình s ản xuất lúa tại tỉnh Hải Dương

Hải Dương là một tỉnh nông nghiệp nằm trong vùng châu thổ sông Hồng Trong những năm qua cơ cấu kinh tế của tỉnh ñã có nhiều thay ñổi theo hướng tăng tỷ lệ công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ lệ nông nghiệp Trong nội bộ ngành nông nghiệp, cơ cấu cũng có sự thay ñổi theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, dịch vụ và giảm tỷ lệ trồng trọt Năm 2000, tỷ lệ trồng trọt: chăn nuôi: dịch vụ là 75,8: 22,1: 2,1; năm 2007 tỷ lệ này tương ứng là 67,3: 28,8:3,9 Trong trồng trọt, diện tích ñất trồng lúa cũng liên tục giảm do chuyển ñổi sang nuôi trồng thủy sản

và các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn Bên cạnh ñó còn có một bộ phận không nhỏ ñất trồng lúa ñược chuyển sang mục ñích phi nông nghiệp Tuy nhiên, diện tích trồng lúa vẫn chiếm khoảng 60% tổng diện tích ñất nông nghiệp của cả tỉnh với năng suất bình quân 58 tạ/ha, sản lượng hàng năm ñạt từ 750-

800 nghìn tấn [15] Số liệu ñược thể hiện ở bảng 2.2

Trang 15

Bảng 2.2 Diện tích trồng lúa của tỉnh Hải Dương giai ñoạn

cả năm

Diện tích

% so với tổng DTðNN

Diện tích

% so với tổng DTðNN

Nguồn: Niên giám thống kê 2007 tỉnh Hải Dương

Tăng: (+); giảm (-); DTðNN: Diện tích ñất nông nghiệp 2.1.2.2 Tình hình s ản xuất lúa tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

Tứ Kỳ là một huyện thuần nông của tỉnh Hải Dương Trong những năm gần ñây, cùng với sự phát triển kinh tế của cả tỉnh, cơ cấu kinh tế của huyện

Tứ Kỳ ñã có sự chuyển dịch nhanh theo hướng tích cực, tỷ trọng nông nghiệp, thủy sản - công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng - dịch vụ chuyển từ 45,4% - 26,1% - 28,5% (năm 2007) sang 42,2%- 29%- 28,8% (năm 2008), kế hoạch năm 2009 tương ứng là: 38,9% - 32,2 - 28,9% [27] Tuy nhiên nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong ñó diện tích cây lúa chiếm từ 68,9% - 70,9% tổng diện tích ñất nông nghiệp của cả huyện (số liệu năm 2007) và huyện Tứ Kỳ vẫn là huyện có diện tích lúa cao nhất trong 12 huyện, thành

phố của tỉnh (xem số liệu bảng 2.3)

Trang 16

Bảng 2.3 Diện tích lúa cả năm phân theo huyện, thành phố của tỉnh Hải

Dương giai ñoạn 2003 - 2007

Cẩm Giàng 11.106 10.636 10.170 9.725 9.386 Bình Giang 13.121 13.117 13.040 12.881 12.858 Gia Lộc 12.698 12.031 11.877 11.488 11.378

Tứ Kỳ 16.827 16.696 16.490 16.432 16.101 Ninh Giang 14.994 14.801 14.271 14.271 14.004 Thanh Miện 15.113 14.874 14.375 14.375 14.270

Nguồn: Niên giám thống kê 2007 tỉnh Hải Dương [15]

2.1.2.3 C ơ cấu giống lúa và tình hình cung ứng giống trên ñịa bàn tỉnh Hải Dương

Theo Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hải Dương, các giống lúa ñược dùng trên ñịa bàn tỉnh gồm 2 loại lúa thuần và lúa lai, trong ñó lúa thuần chiếm tỷ trọng chủ yếu Qua theo dõi các vụ từ 2006 - 2008, các giống lúa ñược dùng phố biến tại tỉnh Hải Dương và huyện Tứ Kỳ là Q5 chiếm từ 39 - 44% diện tích gieo cấy, Khang dân 12 - 16%, Xi23 từ 5 - 7%, Bắc thơm khoảng 5% tổng diện tích gieo cấy và chiếm 25 - 30% diện tích lúa chất lượng cao của tỉnh

Trang 17

Trên ñịa bàn tỉnh hiện có 1 công ty sản xuất và cung ứng giống cho sản xuất, hàng năm lượng giống ñảm bảo chất lượng cung cấp cho sản xuất chỉ mới ñáp ứng ñược từ 10 - 15% nhu cầu, còn lại do người dân tự ñể giống Năm 2003 - 2005, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh ñã triển khai chương trình

“vùng giống lúa nhân dân” trên tất cả các huyện, thành phố nhằm cung cấp ñủ

giống tốt phục vụ nhu cầu sản xuất tại chỗ, kết quả ñã cung cấp giống cho sản xuất ñại trà ñược 52 - 60% diện tích Nếu cộng với lượng giống do Công ty giống cây trồng của tỉnh cung cấp, toàn tỉnh ñến nay ñã có 62 - 70% diện tích ñược gieo cấy bằng giống xác nhận [20]

2.2 Tình hình nghiên cứu nấm bệnh truyền qua hạt giống lúa

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

2.2.1.1 M ột số kết quả ñiều tra, nghiên cứu bệnh trên hạt giống

Nấm gây bệnh có thể phát triển và gây hại rất nhanh chóng trên các loại cây trồng ở mọi giai ñoạn, mọi lúc, mọi nơi [41] ðối với những loại nấm truyền qua hạt giống nếu không bị diệt trừ sẽ phát triển thành dịch bệnh ngoài ñồng ruộng Trong số các biện pháp nhằm ngăn chặn khả năng phát triển thành dịch bệnh ngoài ñồng thì việc sử dụng hạt giống khỏe, sạch bệnh là biện pháp ñơn giản và ít tốn kém nhất Chính vì vậy mà hiện nay, ở các nước phát triển và ñang phát triển, việc kiểm tra bệnh trên hạt giống ñể cấp giấy chứng nhận chất lượng của các lô hạt giống ñã trở thành nhiệm vụ bắt buộc cũng như các chỉ tiêu chất lượng khác Nhiều nước trong khu vực Châu Á như Ấn

ðộ, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia… ñều ñã thành lập hệ thống các phòng thí nghiệm kiểm tra sức khỏe hạt giống từ trung ương tới các vùng nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các lô giống bị nhiễm các nguồn bệnh nguy hiểm, có nguy cơ phát sinh dịch bệnh, gây tổn thất cho mùa màng [46]

Sự tồn tại và phát triển của các loài nấm gây hại ñã ñược các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm (từ cuối thế kỷ 18) [29] Tuy nhiên, sự tồn tại của

Trang 18

nấm trên hạt chỉ ñược nghiên cứu kỹ từ giữa thế kỷ XX, ñến cuối thế kỷ ñã có nhiều công bố về bệnh trên hạt của các nhà nghiên cứu như Richarson 1979,

1981, Neergard Ou năm 1985…Theo thống kê của Viện Nghiên cứu lúa Quốc

tế (International Rice Research Institute - IRRI) có khoảng 43 loại nấm ñược xác ñịnh là có truyền qua hạt giống [45] Theo Richarson (1981) (dẫn qua tài liệu [44], [49], [51]) cho biết có 41 loại nấm truyền qua hạt giống và chúng cũng gây bệnh trên thân, lá lúa, bao gồm một số loại ñiển hình như

Pyricularia oryzae, Bipolaris oryzae, Cercospra jansiana, Alternaria padwickii, Monogrphella albescens, Magnaporthe salvinii, Fusarium moniliforme, Sarocladium oryzae Các loài nấm gây bệnh trên hạt gồm

Ustilaginoidea viens (hoa cúc), Tilletia barclayana (than ñen), Curvularia spp (ñốm nâu), Nigrospora spp (ñốm hạt), Phoma sorghina (thối mày),

nhiễm cao là Alternaria padwickii (trên 90%), Curvularia spp (80 - 93%),

Sarocladium oryzae (trên 70%)

Ở Nigeria khi phân tích 16 mẫu hạt người ta ñã phát hiện thấy có các

loài nấm như Bipolaris oryzae, Fusarium moliniforme, Penicillium spp.,

Curvularia lunata , Aspergillus sp., Rhizopus arhizus, Alternaria spp (Lange

và CS, 1983) [36], (Imolehin, 1986) (dẫn qua tài liệu [46])

Một số kết quả kiểm tra nấm bệnh của Viện Bệnh hạt giống ðan Mạch cho thấy: trong 337 lô hạt giống từ Ai Cập, Ấn ðộ, Iran, Nepal, Nigeria, Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, phía Tây Pakistan ñã kiểm tra và phát

hiện thấy 12 loài nấm Curvulria tồn tại trên hạt giống lúa (Benoit, 1970) [31]

Trang 19

Trong 14 mẫu lúa thu nhập từ Philippines, Ấn ðộ, Ai Cập khi kiểm tra sức khỏe hạt bằng phương pháp Blotter cho thấy hầu hết các mẫu này bị

nhiễm nấm Bipolaris oryzae với một tỷ lệ thấp, chủ yếu là nhiễm nấm

Pyricularia oryzae (32%) (Mathur, 1970) [37]

Ở Marocco, khi kiểm tra 103 mẫu hạt giống ñã phát hiện thấy ña số các

mẫu hạt giống bị nhiễm nấm Bipolaris oryzae (39,0%), Fusarium moniliforme (8,5%), Fusarium semitectum (22,5%), Alternaria padwickii (2,5%), Curvularia

lunata (0,5%) và Pyricularia oryzae (5,0%) (Mohamed, 2000) [42]

Bệnh truyền qua hạt giống ñã ñược xác ñịnh rõ, chúng có một hoặc nhiều giai ñoạn của chu kỳ sống ñược kết hợp với hạt (sợi nấm, bào tử) Hầu hết các loại nấm gây bệnh trên cây lúa ñã ñược ghi nhận có truyền qua hạt giống, phạm vi hạt giống bị nhiễm các vi sinh vật rất rộng Tuy nhiên, biết về vai trò và sự quan trọng của nấm truyền qua hạt giống còn chưa nhiều (Pearce, 1998) [48]

2.2.1.2 M ột số nấm bệnh truyền qua hạt giống

* Bệnh ðốm nâu (Curvularia spp.)

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Curvularia spp gây ra

Bệnh ñược Boedijin công bố năm 1933, Bugnicourt năm 1950, Padwick năm 1950, Grove và Skolko năm 1954 và Wei năm 1957 [19]

Bệnh làm tăng số lượng hạt lép, làm giảm trọng lượng hạt, ảnh hưởng tới năng suất Martin (1939, 1940) [14] phát hiện thấy các hạt thóc bị bệnh sinh ra ñen hạt sau khi ñược xay sát Khi bệnh nặng nấm có thể gây cháy mạ hoặc mạ yếu, nếu bị bệnh nặng kéo dài tới cuối thời kỳ sinh trưởng có thể làm cho cây lúa cằn lại, trỗ kém, ña số hạt bị ñen, tỷ lệ lép lên tới 60-70%

* Bệnh cháy lá (Alternaria padwickii)

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Alternaria padwickii gây ra

Bệnh cháy lá ñược Godfrey mô tả ñầu tiên vào năm 1916 ở Mỹ Năm

1930 Tullis ñã phát hiện ra loài nấm này trên vết bệnh và ñặt tên là Triconis

caudate Năm 1947, Ganguly cũng tìm thấy loài nấm tương tự và ñặt tên là

Trang 20

Triconis padwickii Những nghiên cứu sau này của Ellis (1971) ñã quyết ñịnh

gọi theo một tên mới là Alternaria padwickii [45]

Bệnh phân bố ở nhiều nước trên thế giới Nhìn chung, bệnh này không

gây hại ñáng kể trên thân và lá, những thiệt hại thường là khi nấm Alternaria

padwickii tấn công lên hạt Khi kiểm tra sức khỏe hạt giống, các tác giả ñã ghi

nhận rằng tỷ lệ hạt nhiễm nấm Alternaria padwickii rất cao Ở Ấn ðộ,

Padmanabhan (1949) (dẫn qua tài liệu [29]) ñã ghi nhận 51 -76% hạt bị nhiễm bệnh, tỷ lệ này có thể còn lên tới 80% (Cheerran và Raj, 1966) [33]) Kết quả ñiều tra ở 11 nước Châu Á và Châu Phi của Mathur và CS (1972) ñã quan sát thấy tỷ lệ hạt bị nhiễm bệnh cũng lên tới 80% và tỷ lệ này ảnh hưởng rất lớn ñến khả năng nảy mầm của hạt (dẫn qua tài liệu [29], [38])

Theo Cheeran và Raj (1966) [33], Ou (1985) [46], bào tử nấm Alternaria

padwickii có thể tồn tại trên bề mặt hạt, tản nấm có thể phát triển trong tế bào nội nhũ, phôi, mày hạt và vỏ cám của hạt thóc

Khi kiểm tra sức khỏe hạt giống bằng phương pháp giấy thấm cho thấy

các hạt bị nhiễm nấm Alternaria padwickii ñều nảy mầm kém, hạt, rễ và lá

mầm bị thối, cây con có thể bị chết hoặc khó phát triển thành cây mầm bình thường (Cheeran và Raj, 1966) [33]

Theo Cheern và Raj (1966) [33], Mathur (1972) [38] cho biết: 50% hạt nhiễm bệnh sẽ bị chết khi ñem trồng ra các chậu nhỏ Guerrero (1972) quan

sát thấy Alternaria padwickii gây ra 23% cây mầm bất thường, trong ñó 15%

cây bị thối thân hoặc rễ Tisdale (1922) thấy rằng nấm có thể sống qua ñông ở trong ñất và trong tàn dư của cây lúa và gây hại cho vụ sau (dẫn qua tài liệu [12]) Ou (1985) [46] quan sát thấy có tới 60% hạt lúa bị biến mầu khi bị nhiễm loài nấm này tại Thái Lan

* Bệnh Lúa von (Fusarium moniliforme)

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Fusarium moniliforme gây ra

Trang 21

Bệnh lúa von ñược phát hiện từ rất sớm Năm 1898, Hori là người ñầu

tiên xác ñịnh bệnh và ñặt tên nấm gây bệnh là Fusarium heterosporum Năm

1919, Sawada tìm thấy giai ñoạn hữu tính của nấm và ñặt tên là Lisae

fujikuroi Năm 1931, Ito và Kimura xác ñịnh tên nấm là Gibberella fujikuroi

và giai ñoạn vô tính là Fusarium moniliforme Sau ñó các nhà khoa học ñã thống nhất ñặt tên là Fusarium moniliforme [14]

Bệnh phân bố ở tất cả các vùng trồng lúa trên thế giới Cây nhiễm bệnh nặng thường bị chết trước khi cấy hoặc sau khi cấy Những cây nhiễm bệnh trung bình hoặc nhẹ hơn hầu như cũng chết ở giai ñoạn ruộng lúa ñang ôm dòng [28] Ở Nhật Bản, thiệt hại do bệnh gây ra từ 20% - 50%, ở Ấn ðộ 15%,

ở Thái Lan 3,7% -14,7% (Ou, 1985) [46] Ở Bangladesh trên những giống mẫn cảm với bệnh này năng suất giảm 20% (Agrwal và CS, 1989) [29]

Nấm gây bệnh ñược tìm thấy chủ yếu ở phôi hạt (Vidhya Sekaran và

CS, 1970) [51] Ngoài ra nấm cũng tồn tại trên mày hạt, vỏ trấu trên và vỏ trấu dưới, nấm tồn tại trên hạt có thể làm mất màu tự nhiên của hạt Các hạt trông có vẻ khỏe cũng có thể nhiễm nấm Yu và Sun (1976) (dẫn qua tài liệu

[34]) cho biết với 100% hạt mang bao tử nấm Fusarium moniliforme khi gieo

trồng có 30% số hạt có biểu hiện bệnh von Ở Thái Lan, Kanjanasoon (1965) (dẫn qua tài liệu [29], [32], [35]) ñã tìm thấy 1 - 31,2% cây con bị nhiễm bệnh

từ những hạt trông bên ngoài có vẻ khỏe thu thập từ các ruộng bị bệnh

* Bệnh Tiêm lửa (Bipolaris oryzae)

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Bipolaris oryzae gây ra

Bệnh ñược Breda de Haan mô tả ñầu tiên vào năm 1900 với tên gọi là

Helminthosporium oryzae Bệnh này cũng ñược Hori mô tả năm 1901, ñược nghiên cứu sâu hơn bởi Tanaka năm 1922, Hori năm 1918, Nishikado và Hemmi 1920 - 1930, Oku Akai và CS năm 1950 -1958, Asada và Baba 1951 -

1957 [29] Hiện nay, nấm gây bệnh này ñược ñặt tên là Bipolaris oryzae

Trang 22

ðây là một bệnh phố biến ở tất cả các vùng trồng lúa trên thế giới Bệnh gây hại trên hạt làm cho hạt lúa có các vết mầu nâu hay bị biến màu ñen Bệnh còn làm cho rễ mầm biến màu và thối ñen ða số cây mầm bị nhiễm bệnh nặng thường bị chết hoặc phát triển không bình thường [28] Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy thiệt hại do loài nấm này gây ra rất nặng nề ðây là bệnh dẫn ñến nạn ñói ở Bengal và Ấn ðộ năm 1942 làm cho khoảng 2 triệu người bị chết ñói Theo Ghose và CS (1960), Padmanabhan (1973) thì tỷ lệ thiệt hại do nấm này gây ra từ 50 - 90% (dẫn qua tài liệu [12])

Ở Nigeria, Aluko (1969) ñã quan sát thấy mẫu lúa có 81,9% số hạt bị nhiễm bệnh, khi ñem gieo sẽ có 90% cây con bị chết Mẫu này nếu ñem gieo

ra ngoài ñồng sẽ có 45% hạt nảy mầm và sau 6 tuần những cây mạ ñã nhiễm bệnh phát triển rất yếu và chết

Tại Nigeria, theo Aluko (1975) năng suất lúa giảm từ 12 - 43%, trọng lượng của hạt giảm từ 12 - 30%, tỷ lệ hạt chắc giảm từ 18- 22% Tỷ lệ này cũng ñược xác nhận ở Nhật Bản và Surinam bởi Ou (1985) [46]

Bipolaris oryzae thường tồn tại trên vỏ trấu của hạt thóc, ở mày hạt, có khi ở nội nhũ (Ocfemia, 1924) [44] Các hạt bị nhiễm bệnh thường có ñốm nâu trên vỏ trấu Những hạt có biểu hiện khỏe mạnh cũng không loại trừ khả năng mang nấm bệnh này (Hiremath và Hegde, 1981)

Nấm gây bệnh có thể sống lâu trong hạt bị bệnh trong quá trình bảo quản Kuribayashi (1929) cho biết nấm có thể tồn tại trên hạt một thời gian dài trung bình là 2 năm Ở Nhật Bản, Ou (1985) [46] có thể tìm thấy nấm bệnh tồn tại trên hạt sau 4 năm và cũng xác ñịnh những hạt lúa thu hoạch vào mùa xuân thường mang nhiều nấm hơn các mùa khác

Tỷ lệ nảy mầm của các hạt mang bệnh thường thấp hơn tỷ lệ nảy mầm của các hạt khỏe mạnh Singh và Shukla (1979) [50] ñã quan sát thấy tỷ lệ

nảy mầm của những hạt mang nấm Bipolaris oryzae giảm 11- 29% Herera và

Seidel (1978) cho rằng tỷ lệ này lên tới 66% (dẫn qua tài liệu [30])

Trang 23

Tại Ấn ðộ, Hiremath và Hegde (1981) xác ñịnh ñược nếu mẫu giống lúa nhiễm nấm với tỷ lệ 60 -72% thì những cây mạ gieo từ mẫu giống ñó sẽ bị chết trước khi ñẻ nhánh (dẫn qua tài liệu [35])

Quan sát một vài lô hạt giống lúa IAC 899 bị nhiễm nặng cho thấy tỷ lệ nảy mầm giảm 17,5% và tỷ lệ truyền bệnh sang cây con là 59,4% (Agrwal và

CS, 1989) [29]

* Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani)

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Rhizoctonia solani gây ra

Bệnh ñược Miyake phát hiện ở Nhật Bản năm 1910, Wasada năm

1912 Các nhà khoa học tại các nước khác cũng công bố sự phát hiện của nấm bệnh này như Reinking (1918), Palo (1926), Bertus (1932) [14]

Bệnh ñược phân bố khá rộng ở tất cả các nước trồng lúa vùng Châu Á

và các châu lục khác Bệnh này gây hại khá nặng nề Tại Nhật Bản, lúa bị nhiễm bệnh làm thiệt hại 24.000 ñến 38.000 tấn hàng năm và gây hại 120.000 ñến 190.000 ha và năng suất có thể giảm 30 - 40% [46]

Theo Rangawani (1975) [39] thống kê thấy 25 - 50% diện tích lúa sản xuất bị gây hại hàng năm bởi bệnh này Ở Mỹ, theo báo cáo của Lee và Rush (1983), năng suất lúa bị giảm 50% trên những giống mẫn cảm với bệnh

Bệnh khô vằn thường gây hại chủ yếu ở các bộ phận của cây như bẹ lá, phiến lá và cổ bông Bệnh chỉ có mặt ở trên hạt khi nấm bệnh ñã lan tới cổ bông và khi ñó hạt lúa mới có nhiều khả năng mang bệnh [46]

* Bệnh ðạo ôn (Pyricularia oryzae)

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Pyricularia oryzae gây ra

Bệnh này ñược biết ñến từ rất sớm Bệnh ñược phát hiện ñầu tiên ở Italia năm 1560, ở Trung Quốc năm 1637, Nhật Bản 1760, Mỹ 1906, Ấn ðộ

Trang 24

(dẫn qua tài liệu [29]) Ở Philippines ñã có vài nghìn ha bị hại vì bệnh ñạo ôn

và sản lượng thất thu ước tính khoảng 50% [46]

Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy mẫu hạt bị nhiễm bệnh ñạo ôn với tỷ lệ nhiễm nấm trên bề mặt hạt là 40%, kết quả có 7 - 13% cây con nhiễm bệnh (Lamey, 1970) (dẫn qua tài liệu [29])

Bào tử của nấm Pyricularia oryzae có thể tồn tại trên bề mặt hạt và sợi

nấm phát triển vào bên trong tế bào của phôi, nội nhũ, lớp vỏ cám và mày hạt (Mathur, 1981) [29]

Những mẫu hạt ñược Jinheung thu thập từ cánh ñồng nhiễm ñạo ôn nặng ở Triều Tiên ñem kiểm tra trong phòng thí nghiệm cho thấy có 65% bào

tử nằm trên vỏ trấu, 4% nằm trong phôi, 25% nằm ở vỏ cám Những hạt thóc trong cùng lô nay khi ñem gieo hạt trên môi trường agar, kết quả có 7 - 8% cây con bị nhiễm bệnh và 90% cây con biểu hiện triệu chứng không rõ ràng (Chung và Lee, 1983) (dẫn qua tài liệu [41])

Những nghiên cứu gần ñây của Manandha và CS (1998) (dẫn qua tài liệu [32]) cho biết hạt của những giống lúa bị nhiễm bệnh ngoài ñồng ñược thu thập từ 3 ñịa phương của Nepal có tỷ lệ truyền bệnh qua hạt là rất thấp Khi gieo hạt trong ñiều kiện nhiệt ñộ thấp (15 - 200C) cây mạ sẽ không biểu hiện triệu chứng nhưng nếu gieo hạt trong ñiều kiện nhiệt ñộ cao hơn (25 -

300C) thì sẽ có những biểu hiện triệu chứng của bệnh trên cây mạ và các tác giả ñã phân lập ñược nấm gây bệnh từ cây mạ bị bệnh

* Bệnh Khô ñầu lá (Microdochium oryzae)

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Microdochium oryzae gây ra

Bệnh phân bố ở nhiều vùng trồng lúa trên thế giới Tại Nhật Bản, năm

1967 bệnh này ñã phát sinh thành dịch (Mastuyama và Wakimoto, 1977) (dẫn qua tài liệu [29]) Trong vài thập kỷ gần ñây, bệnh dần trở nên phổ biến, ñôi khi gây nguy hiểm ở một số vùng của Châu Phi và Châu Á Theo Lammy và

Trang 25

Wiliam (1972) ở Tây Phi bệnh này có lúc gây thiệt hại tương tự như bệnh ựạo

ôn (dẫn qua tài liệu [29]) Tại Bangladesh, Bakr và Miah (1975) thống kê cho thấy năng suất lúa bị giảm từ 20 - 30% khi bị nhiễm bệnh này Bệnh cũng gây thiệt hại ựáng kể ở Châu Mỹ Latin (Ou, 1985) [46]

Singh và Sengupta (1981) tìm thấy nấm Microdochium oryzae ở bên

ngoài vỏ hạt Năm 1986, Mia, Safeculla và Shetty lại xác ựịnh rằng nấm gây bệnh tồn tại cả trên vỏ trấu, nội nhũ và phôi hạt với tỷ lệ khá cao 35,21% Với tỷ lệ hạt nhiễm nấm này sẽ có 10% số cây bị gây hại nghiêm trọng Yu và Mathur cũng quan sát thấy ở những mẫu có tỷ lệ hạt nhiễm nấm 29,5 - 30%thì

có 9% số cây bị gây hại

Theo Mia và CS (1985), nấm tồn tại rất lâu trong hạt, khi bảo quản hạt

ở 50C nấm có thể sống ựược 11 năm (dẫn qua tài liệu [29])

* Bệnh Thối bẹ lá ựòng (Saroclarium oryzae)

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Saroclarium oryzae gây ra

Bệnh phổ biến ở các nước đông Nam Châu Á, đài Loan, Nhật Bản, Ấn

độ và Mỹ Bệnh thường xuất hiện và gây hại bẹ lá ựòng, làm cho bông lúa cũng như hạt lúa bị ngắn lại, cây lúa bị bệnh sớm thì bông trổ không thoát, hạt lúa thường bị lép và biến màu, làm giảm năng suất, chất lượng của cây trồng Ở

Ấn độ, theo Chakravarty và Biswas (1978) cho biết thiệt hại từ 9,6% - 26% Theo Chien và Huang (1979), ở đài Loan thiệt hại do bệnh này gây ra có thể lên tới 85% Ở Philippines, tổng sản lượng thiệt hại lên tới 52,8% (Torres và Bonman, 1984) Bệnh lan truyền qua hạt giống (dẫn qua tài liệu [29], [32])

Nấm gây bệnh ựược phát hiện trong mày hạt (Shachan và CS, 1977) Nấm còn tồn tại trong vỏ hạt, phôi hạt và nội nhũ làm cho hạt lúa biến màu (Shachan và Agrwal, 1995) (dẫn qua tài liệu [29], [32]) Trên những hạt không biểu hiện triệu chứng biến màu cũng có thể tìm thấy nấm gây bệnh Nấm có thể sống ựược trong hạt từ 7 - 10 tháng và trong bảo quản (Mew và

CS, 1994) [41] Hạt giống bị nhiễm bệnh làm giảm trọng lượng 1000 hạt và làm giảm tỷ lệ nảy mầm (Vidhyasekaran và CS, 1970) [51]

Trang 26

* Bệnh Hoa cúc (Ustilaginoidea viens)

Bệnh do nấm Ustilaginoidea viens gây ra

Bệnh này phân bố rộng rãi ở Châu Phi, Châu Á, Châu Úc, Châu ðại Dương, Bắc Mỹ, phía tây Ấn ðộ và Nam Mỹ Ở một vài nước trồng lúa, thiệt hại do bệnh hoa cúc gây ra rất lớn như ở Colombia thiệt hại lên ñến 20% (Martinez, 1953), ở Peru là hơn 25% (Revilla, 1955), 10% ở Fuji (Morwood, 1966) (dẫn qua tài liệu [32]) và lên tới 44% ở Ấn ðộ (Singh và Dube, 1978) [50]

Bệnh thường gây hại từ khi hạt lúa vào chắc ñến chín Triệu chứng ñiển hình của bệnh là các bào tử nấm dính vào khe vỏ trấu, bọc bào tử nấm có ñường kính 1-3 cm, ñược chia thành 3 lớp Lớp ngoài cùng có màu xanh ñen, lớp giữa là khối sợi nấm ñan kết lại, lớp phía trong có màu vàng ñến màu vàng cam

Bệnh hoa cúc ñược xem như là một bệnh hại lúa nghiêm trọng và là bệnh truyền qua hạt giống, bào tử nấm tồn tại trên bề mặt hạt và làm giảm tỷ

lệ nảy mầm của hạt (Hu, 1985; Bariuah và CS, 1992) (dẫn qua tài liệu [32]) Nấm còn tồn tại bên trong hạt làm cho hạt lúa bị phồng lên, vỏ hạt bị tách ra, toàn bộ hạt gạo bị biến thành một khối bột màu vàng làm giảm trọng lượng của hạt (Singh và CS, 1978) [50]

* Bệnh Than ñen (Tilletia barclayana)

Nguyên nhân gây bệnh: Do nấm Tilletia barclayana gây ra

Bệnh ñược Takahashi và Anderson mô tả vào những năm 1896, 1899 Bệnh gây hại ở Châu Phi, Châu Á tại Bruney, Trung Quốc, Ấn ðộ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Pakistan, Philippines Ngoài ra bệnh còn phát triển ở Châu ðại Dương Ở Châu Âu, nấm gây hại tại Hy Lạp Tại Châu Mỹ, nấm gây hại tại các nước như Mexico, Mỹ, Trinidad (theo CMI Distribution Map of plant Diseases No 75/1976)

Trang 27

Bệnh này ñược coi là bệnh phụ do tại thời ñiểm gây hại thì năng suất cũng giảm không ñáng kể và thiệt hại về kinh tế cũng không nhiều Ở phía nam Carolina (Mỹ) cho thấy tỷ lệ hạt bị nhiễm bệnh từ 3 - 4% Ở Mandalay

và Burma sự thất thu do bệnh này khoảng 2 - 5% Ở Philippines, các tác giả cho biết khi gieo hạt giống bị nhiễm nấm than ñen, cây mạ bị còi cọc, ñẻ nhánh kém (Reyes, 1933) Năm 1992, Webster và Gunnell cho biết tỷ lệ thất thu do bệnh có thể lên tới 15% (dẫn qua tài liệu [46]) Padwick (1950) [47] thấy rằng chỉ một vài hạt trong những bông bị lây nhiễm và thường cũng chỉ

từng phần bị nguy hiểm bởi nấm Tilletia barclayana Bào tử nấm gây bệnh có

thể sống hơn hai năm, trong bảo quản có thể sống tới 3 năm (Singh, 1975), bệnh có thể truyền qua hạt giống (Reyes, 1933) (dẫn qua tài liệu [46])

* Bệnh ðốm hạt (Nigrospora oryzae)

Bệnh do nấm Nigrospora oryzae gây ra

Bệnh phân bố trên khắp thế giới Khi cây lúa bị suy yếu do các ñiều kiện dinh dưỡng hoặc ñiều kiện thời tiết hoặc bị hại do các bệnh khác hoặc do côn trùng, nấm có thể hại hạt, thân, lá hoặc các bộ phận khác của cây Dưới một số ñiều kiện ñặc biệt chúng gây bệnh cháy hạt hoặc ñen hạt (Hopkins,

1950, Prasad và CS, 1960) [19]

* Bệnh Que hương (Ephelis oryzae)

Bệnh do nấm Ephelis oryzae gây ra

Bệnh ñã ñược phát hiện tại Ấn ðộ, Trung Quốc, Hồng Kông, New Caledonia và Tây Phi (CMI Descriptions of pathogenic Fungi and Bacteria

No 640/1979) Ở Việt Nam, bệnh ñang là ñối tượng kiểm dịch

Ở Ấn ðộ, năm 1979 bệnh gây thiệt hại 2 - 3%, năng suất bị mất từ 10 - 11% trên những giống lúa mẫm cảm Theo Shetty (1986 - 1988) tại bang Karnataka năng suất bị mất tới 30% Tại Trung Quốc số bông bị ảnh hưởng từ

5 - 20% và có thể lên tới 30% (Ou, 1985) [46] Theo Shivanandapa và Govindu (1976) (dẫn qua tài liệu [47]) cho rằng bệnh que hương là loại bệnh nghiêm trọng ở một vài vùng của Babglora Bệnh làm ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp ñến năng suất từ 1,75 - 3,6% trên các giống lúa khác nhau

Trang 28

Trên hạt bị bệnh, nấm bao phủ toàn bộ bề mặt bông lúa có dạng như que hương, hạt không vào mẩy ñược, lép hoặc méo mó không ñịnh hình Sợi nấm gây bệnh có thể tồn tại trong phôi hạt (Shetty, 1998) (dẫn qua tài liệu [41]) và bào tử tồn tại trên bề mặt của hạt (Mohanty, 1977) [43]

2.2.1.3 M ột số phương pháp kiểm tra phát hiện nấm trên hạt

Hiện nay có 5 phương pháp chủ yếu ñược sử dụng ñể kiểm tra sự tồn tại của nấm bệnh trên hạt

1 Phương pháp giấy thấm (Blotter method) [40]

ðây là phương pháp ñược dùng phổ biến ñể xác ñịnh nấm gây bệnh trên hạt Phương pháp này ñã ñược phát hiện và áp dụng rộng rãi tại Viện Nghiên cứu bệnh hạt giống ðan Mạch ðây là phương pháp giữ hạt phát triển trong ñiều kiện thuận lợi Phương pháp này ñược miêu tả trong phần phương pháp nghiên cứu

2 Phương pháp ñĩa agar (Agar plate method) [40]

Phương pháp này có thể xác ñịnh nấm nhanh chóng dựa trên ñặc ñiểm của chúng khi phát triển trên môi trường Mẫu hạt ñược ñặt trên môi trường agar và nuôi cấy ở 220C trong 7 ngày với 12 giờ chiếu sáng và 12 giờ tối xen

kẽ Kiểm tra ñặc ñiểm hình thái tản nấm từ ngày thứ 3 ñến ngày thứ 7 sau nuôi cấy ñể phân loại nấm

3 Phương pháp rửa (Washing test) [40]

Phương pháp rửa là phương pháp kiểm tra dung dịch ñược lấy sau quá trình rửa hạt Phương pháp này chủ yếu ñể kiểm tra các loại nấm tồn tại trên

bề mặt của hạt giống Theo phương pháp này hạt ñược ngâm và lắc trong nước, kiểm tra dung dịch ñó trên kính hiển vi hoặc ly tâm với tốc ñộ 3000-

5000 vòng/phút trong thời gian khoảng 5 phút, sau ñó tách cặn bào tử, nhỏ thêm 1 ít nước hoặc dung dịch khác vào ñó, nhỏ dung dịch lên lam kính và quan sát dưới kinh hiển vi quang học các ñặc ñiểm hình thái của nấm như hình dạng, kích thước, màu sắc của sợi nấm, bào tử nấm…

Trang 29

4 Phương pháp kiểm tra phôi hạt (Examination of embryos)[40]

Trong một số trường hợp sợi nấm gây bệnh tồn tại trên phôi hạt, thông thường hạt ñược ngâm trong dung dịch NaOH 5% Sau ñó tách phôi hạt bằng nước nóng 500C, tách vỏ, ñun nhẹ trong dung dịch acid lactic và glycerol Kiểm tra phôi nhiễm bệnh dưới kính hiển vi

5 Kiểm tra triệu chứng bệnh trên cây con (Seedling symptom test)[40]

Phương pháp này áp dụng cho những mẫu có số lượng hạt ít Hạt ñược gieo trên những môi trường thích hợp cho nảy mầm và theo dõi quá trình hình thành triệu chứng bệnh

2.2.1.4 Các bi ện pháp phòng trừ nấm trên hạt

ðể phòng trừ nấm bệnh trên hạt trên thế giới thường sử dụng 2 phương pháp:

1 Phương pháp vật lý: thông thường xử lý hạt giống bằng nước nóng

khoảng 540C trong thời gian 10 phút hoặc dùng nước muối 15% ñể loại bớt hạt lép, lửng

2 Phương pháp hóa học: ðây là phương pháp ñược dùng khá phổ

biến và có hiệu quả cao trong xử lý hạt giống Theo Ou (1985) [46], xử lý hạt

ở dạng khô bằng một lớp dung dịch thuốc trừ nấm Benomyl hoặc Benomyl –

T nồng ñộ 1-2% trong thời gian 1 giờ hoặc dung dịch tỷ lệ 1:2000 trong thời gian 5 giờ cho hiệu quả phòng trừ tốt Theo Kang và Heo (1986) xử lý hạt bằng Proraz - EC có hiệu quả tốt trong việc phòng trừ nấm ñạo ôn và nấm lúa von trên hạt giống ñã ñược sử dụng rộng rãi tại Hàn Quốc Xử lý hạt bằng Chitosan sẽ làm giảm tác hại của bệnh (Yu và CS, 1998) (dẫn qua tài liệu [32]) Tại Việt Nam, các nhà khoa học của Viện Bảo vệ thực vật cũng khuyến cáo sử dụng Thiram 80WP tỷ lệ 0,2% ñể xử lý hạt giống trước khi gieo trong việc phòng trừ bệnh lúa von và bệnh tiêm lửa [28]

Trang 30

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.2.1 M ột số kết quả ựiều tra, nghiên cứu nấm bệnh trên hạt lúa

Ở nước ta, trong nhiều năm qua chủ yếu vẫn ựi sâu nghiên cứu thành phần bệnh hại trên cây lúa ở các giai ựoạn và phát triển ngoài ựồng Lĩnh vực bệnh hại truyền qua hạt giống cây trồng nông nghiệp nói chung và hạt giống lúa nói riêng chưa ựược ựi sâu nghiên cứu Lĩnh vực này chỉ mới bắt ựầu ựược nghiên cứu trong khoảng 10 năm trở lại ựây với một số kết quả thu ựược như sau:

Theo Trần đình Nhật Dũng (1995, 1996a, 1996b)[4], [5], [6] khi kiểm tra bệnh hạt giống trên 88 mẫu hạt giống lúa thu thập tại các tỉnh phắa Bắc và Bắc miền Trung ựã phát hiện thấy tất cả các mẫu ựều bị nhiễm nấm bệnh, ựiển

hình là các loài Bipolaris oryzae (gây bệnh tiêm lửa), Alternaria padwickii (gây bệnh cháy lá), Microdochium oryzae (gây bệnh khô ựầu lá), Fusarium

moniliforme (gây bệnh lúa von) và Sarocladium oryzae (gây bệnh thối bẹ lá)

Cũng theo Trần đình Nhật Dũng và CS (1999) [7], khi kiểm tra 300 mẫu giống trong hai vụ ựông xuân 1995 - 1996 và 1996 - 1997 ựại diện cho hơn 3000 tấn lúa giống thu thập tại một số tỉnh phắa Bắc và duyên hải miền

trung ựã phát hiện ựược 7 loài nấm bệnh gồm Tilletia barclayana (gây bệnh than ựen), Bipolaris oryzae (gây bệnh tiêm lửa), Alternaria padwickii (gây bệnh cháy lá), Microdochium oryzae (gây bệnh khô ựầu lá), Fusarium

moniliforme (gây bệnh lúa von) và Sarocladium oryzae (gây bệnh thối bẹ lá),

Rhizoctonia oryzae (gây bệnh khô vằn) Trong ựó có 4 loài nấm Bipolaris

oryzae , Alternaria padwickii, Microdochium oryzae, Fusarium moniliforme

phân bố tại tất cả các ựiểm ựiều tra Tỷ lệ hạt bị nhiễm bệnh ở các giống lúa tại các ựiểm ựiều tra ựều rất cao, thấp nhất là 14,4 % Tỷ lệ hạt giống bị nhiễm bệnh cao nhất là các lô hạt giống ở Quảng Nam - đà Nẵng, Thừa Thiên Huế Riêng ở Quảng Ngãi trong vụ ựông xuân 1995 -1996 tỷ lệ hạt giống bị nhiễm

bệnh lên ựến 39,5% Bệnh thối bẹ lá (Sarocladium oryzae) và bệnh than ựen

Trang 31

(Tilletia barclayana) xuất hiện với tỷ lệ rất thấp, bệnh tiêm lửa (Bipolaris

oryzae) có mặt nhiều nhất trong các lô hạt giống ựược kiểm tra

Trung tâm Khảo nghiệm giống Cây trồng Trung ương ựã công bố kết quả ựiều tra nấm bệnh ở một số lô hạt giống lúa nhập khẩu và sản xuất tại các tỉnh ven biển phắa Bắc và duyên hải miền Trung (Trần đình Nhật Dũng và

CS, 1996) [7] cho thấy: Tỷ lệ hạt giống nhiễm bệnh ở tất cả các lô hạt giống ựều rất cao, trung bình từ 11,6 - 51,6% số hạt, trong ựó cao nhất ở Quảng Ninh (51,6%), Thanh Hóa (41,3%), Thái Bình (37,2%), Nam định (28,6%), Quảng Ngãi (27,1%), Thừa Thiên Huế (25,1%), Nghệ An (21,8%) và thấp nhất là Hà Tĩnh (12,9%)

Các loài nấm ựược phát hiện ở các lô hạt giống là bệnh ựốm lá (15,9%), bệnh tiêm lửa (5,5%), bệnh lúa von (4,1%), bệnh khô vằn, bệnh ựạo

ôn, bệnh khô ựầu lá và bệnh than ựen

Giống lúa khác nhau có tỷ lệ nhiễm bệnh khác nhau Các giống lúa bị nhiễm bệnh cao là Mộc Tuyền (47,7%), các giống lúa thuần Trung Quốc (39,2%), CR 203 (34,9%), IR 17494 (23,4%)

Tỷ lệ các bệnh chắnh trên mỗi giống cũng khác nhau: Mộc Tuyền chủ yếu nhiễm bệnh ựốm lá với tỷ lệ trung bình là 20,5%, bệnh von là 13,5%, bệnh tiêm lửa 9,5%; hạt giống lúa thuần Trung Quốc chủ yếu nhiễm bệnh ựốm lá với tỷ lệ trung bình 37,7%, hạt giống CR203 chủ yếu nhiễm bệnh ựốm

lá (37,7%), hạt giống IR17494 chủ yếu là ựốm nâu (32%) Ầ

Kết quả nghiên cứu bệnh trên hạt giống lúa trong giai ựoạn chuyển ựổi

cơ cấu cây trồng ở Miền Bắc Việt Nam (Nguyễn Văn Tuất, 1998-1999)[26]

ựã xác ựịnh ựược 5 loài nấm gây biến màu hạt là: Bipolaris oryzae, Alternaria

padwickii, Fusarium monilirorme , Microdochium oryzae, Rhizoctonia solani Trong ựó 3 loại Bipolaris oryzae, Alternaria padwickii, Fusarium

monilirorme có tỷ lệ nhiễm cao và có mặt ở hầu hết các ựiểm ựiều tra.Trên

Trang 32

các giống lúa thuần Trung Quốc ñã phân lập ñược 5 loài gồm Bipolaris

oryzae, Alternaria padwickii, Fusarium moniliforme , Microdochium oryzae

và Sarocladium oryzae, trong ñó chủ yếu nhiễm nấm Alternaria padwickii với

oryzae , 39% số mẫu bị nhiễm nấm Sarocladium oryzae

Năm 1998 - 1999, Ngô Bích Hảo kiểm tra các mẫu hạt giống lúa thu nhập tại các tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh ñã giám ñịnh ñược 10 loài nấm gây bệnh trên hạt giống lúa gồm Bipolaris oryzae,

Alternaria padwickii, Fusarium monilirorme , Microdochium oryzae,

Fusarium palidoroseum, Phoma ssp., Ustilaginoidae virens, Pyricularia

oryzae , Tilletia barclayana và Curvularia lunata Trong ñó có 90% sỗ mẫu nhiễm Alternaria padwickii, 65% nhiễm Microdochium oryzae và 61% nhiễm

Bipolaris oryzae, số lượng mẫu nhiễm các loài nấm khác là dưới 10%

Theo kết quả ñiều tra trên 100 mẫu giống lúa Q5 và Khang Dân thu thập tại 10 tỉnh Bắc bộ và Bắc trung bộ (Trần Thị Hưng, 2002) [12] cho thấy 100%

số mẫu ñều nhiễm các loài nấm gây bệnh khác nhau với tỷ lệ nhiễm của từng

loài từ 0 - 100% Các loài nấm gây bệnh ñã ñược tìm thấy là Bipolaris oryzae,

Alternaria padwickii , Microdochium oryzae, Tilletia barclayana, Sarocladium

oryzae , Pyricularia oryzae và Curvularia lunata Trong ñó, 100% số mẫu nhiễm nấm Alternaria padwickii, 48% số mẫu nhiễm nấm Sarocladium oryzae, 38% số mẫu nhiễm nấm Curvularia lunata, 30% số mẫu nhiễm nấm Tilletia

barclayana , 18% số mẫu nhiễm nấm Bipolaris oryzae, 2% số mẫu nhiễm

Microdochium oryzae và 1% có sự xuất hiện của nấm Pyricularia oryzae

Trang 33

Theo Nguyễn ðức Huy (2003) [11] khi kiểm tra 210 mẫu giống lúa của

35 giống lúa ñược gieo trồng phổ biến tại các tỉnh trên cả nước và một số giống lúa lai nhập khẩu từ Trung Quốc Kết quả, trên các giống lúa thuần thu ñược 12

loài nấm gây bệnh, trong ñó phát hiện thấy 2 loài là Alternaria padwickii và

Curvularia spp xuất hiện thường xuyên trên các mẫu phân tích (> 50%); 5 loài

Bipolaris oryzae, Curvularia lunata, Fusarium moliniforme, Nigrospora

oryzae , Ustilaginoidea viens xuất hiện nhiều trong khi kiểm tra (11- 50%);

5 loài Cercospora jansiana, Fusarium graminearum, Microdochium oryzae,

Sarocladium oryzae , Titteltia barclayana xuất hiện ít trong khi phân tích

(<10%) Trên các giống lúa lai Trung Quốc phát hiện ñược 8 loài nấm gây

bệnh, trong ñó có 2 loài xuất hiện thường xuyên là Curvularia spp., Titteltia

barclayana ; 6 loài xuất hiện ở mức ñộ ít là Bipolaris oryzae, Curvularia

lunata , Fusarium moliniforme, Nigrospora oryzae, Ustilaginoidea viens,

Alternaria padwickii

Kết quả ñiều tra tại các tỉnh ñồng bằng sông Cửu Long vụ hè thu 2003 cho thấy có 19 loài nấm ký sinh trên mẫu hạt giống thu thập tại các tỉnh, trong

ñó phổ biến nhất là Pinatubo oryzae chiếm tỷ lệ (95,31%), kế ñến là Alternaria

padwickii (90,49%), Curvularia sp (80,41%), Aspergillus sp (80,73%),

Rhizopus spp (69,03%), Fusarium spp (64,29%), Bipolaris oryzae (61,82%),

Tilletia barclayana (37,55%), Verticillium spp (17,58%), Cephalosporium spp (2,47%), Dreshclera sp (11,36%), Nigrospora spp (36,03%), Penicillium spp (22,30%), Microdochicum oryzae (7,51%), Cladosporium spp (6,41%),

Phoma spp (2,22%), Myrothecium spp (3,85%), Memnonella spp (33,33%),

Trang 34

bệnh nhiều nhất (> 30%), nấm Alternaria padwickii 20 - 30%, 2 loài nấm

Fusarium moniliforme và Colletotrichum spp xuất hiện với tỷ lệ 10 - 20%, các loài nấm Bipolaris oryzae, Sarocladium oryzae, Microdochium oryzae,

Rhizopus spp có tỷ lệ xuất hiện thấp (<10%) Ở vụ xuân 2007 ñã xác ñịnh

ñược 10 loài nấm gây bệnh, trong ñó Curvularia spp có tỷ lệ xuất hiện bệnh

cao nhất (> 20%), tiếp ñó là 3 loài nấm là Fusarium moniliforme, Bipolaris

oryzae , Sarocladium oryzae có tỷ lệ xuất hiện từ 10 - 20%, 3 loài Alternaria

padwickii , Microdochium oryzae, Nigrospora oryzae có tỷ lệ xuất hiện từ 5- 10%; các loài nấm Tilletia barclayana, Colletotrichum spp., Rhizopus spp

có tỷ lệ xuất hiện ít (< 5%)

2.2.2.2 Thi ệt hại do nấm bệnh truyền qua hạt giống lúa và biện pháp hạn chế

Nấm bệnh trên hạt lúa làm ảnh hưởng không nhỏ ñến năng suất, chất lượng của cây trồng Hạt giống bị bệnh làm giảm ñáng kể tỷ lệ nảy mầm và tỷ

lệ phát triển bình thường của cây con, nếu bị nhiễm nặng hạt giống có thể không nảy mầm ñược gây ảnh hưởng ñến sản xuất nông nghiệp Kết quả ñánh giá ảnh hưởng của bệnh tới tỷ lệ nảy mầm của hạt giống lúa (Phạm Thị Thoa, 1997) [23] cho thấy với giống IR17494, mẫu có tỷ lệ bệnh thấp (< 10%) có tỷ

lệ nảy mầm cao, mẫu nhiễm ñồng thời cả nấm Bipolaris oryzae và Alternaria

padwickii với tỷ lệ nhiễm cao có tỷ lệ cây mầm không bình thường rất cao

Theo Nguyễn Văn Tuất (1997) [26] nhiều năm bệnh lem lép hạt gây hại nặng trên hầu hết diện tích trồng lúa, ñặc biệt vào năm 1992 sự thất thoát về năng suất ước tính 20 -50% do hạt bị lép lửng Theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật năm 1996, diện tích nhiễm bệnh ñen lép hạt ở Việt Nam là 144.630

ha Trong ñó 143.300 ha ước tính bị thiệt hại 30%, 1.300 ha bị thiệt hại 50 - 60% và 30 ha bị mất trắng

Theo Trần Văn Hai (1997) thì bệnh lem lép hạt ñã trở nên nghiêm trọng

ở nước ta những năm gần ñây Năm 1991, bệnh lan rộng ñến 100.000 ha ở

Trang 35

ñồng bằng sồng Hồng và ven biển miền Trung ðến năm 1993, diện tích bị hại

ñã lên tới 350.000 ha.Tại ðBS Cửu Long bệnh gây hại ñáng kể ở vụ hè thu và thu ñông Bệnh làm giảm năng suất ước tính ñến 20-50% do hạt bị lép lửng

Nghiên cứu mối quan hệ giữa bệnh trên hạt và năng suất các tác giả cho thấy: nguồn hạt giống bị nhiễm bệnh sẽ làm giảm số bông/m2 Tuỳ thuộc vào mức ñộ nhiễm sẽ ảnh hưởng ñến sức khoẻ cây mạ và năng suất thực tế

Nghiên cứu mối quan hệ giữa bệnh trên hạt và chất lượng gieo trồng các tác giả thấy: các mẫu hạt giống có tỷ lệ nhiễm bệnh cao sẽ dẫn ñến tỷ lệ nảy mầm thấp, tỷ lệ cây mạ nhiễm bệnh cao và tỷ lệ cây mạ chết cũng cao hơn so với mẫu hạt giống có tỷ lệ nhiễm bệnh thấp hơn Các loài nấm có ảnh

hưởng khác nhau ñến tỷ lệ lem lép hạt, trong ñó Alternaria padwickii,

Curvularia spp., Fusarium spp., Pinatubo oryzae, Phoma spp tỷ lệ thuận với

tỷ lệ hạt lem lép [9]

Tỷ lệ hạt không nảy mầm có tương quan thuận với tỷ lệ một số loại

nấm trên hạt như Curvularia, Tilletia, Fusarium, Pinatubo, Menoniella,

Rhizopus Tỷ lệ hạt nảy mầm không bình thường gia tăng khi tỷ lệ nấm

(Curvularia, Fusarium, Bipolaris) gia tăng

Theo ðinh Thị Thanh và CS (2005) [21] khi nghiên cứu ảnh hưởng của

bệnh lúa von (Fusarium moliniforme) trên giống lúa Tám xoan cho thấy: ở

công thức sử dụng hạt khỏe (10% hạt nhiễm bệnh) tỷ lệ hạt nảy mầm cao (88%), tỷ lệ hạt nảy mầm không bình thường 9,3% Ở công thức hạt giống nhiễm trung bình (20% hạt nhiễm bệnh) tỷ lệ hạt nảy mầm 78,7%, tỷ lệ hạt nảy mầm không bình thường 12,0% Ở công thức hạt giống nhiễm nặng (30% hạt nhiễm bệnh) tỷ lệ hạt nảy mầm ñạt thấp 70,7%, tỷ lệ hạt nảy mầm không bình thường cao 16,0% Khi xử lý thuốc Thiram 80WP nồng ñộ 0,2% cho thấy ở lô giống hạt khỏe không có sự sai khác giữa lô ñược xử lý thuốc và

lô không xử lý thuốc và tỷ lệ cây mọc, tỷ lệ cây khỏe cao nhất, tỷ lệ cây bệnh

Trang 36

và cây yếu thấp nhất Ở lô hạt giống nhiễm bệnh trung bình khi xử lý thuốc có hiệu quả rõ rệt so với công thức không ñược xử lý hạt giống nhưng ở lô giống

có tỷ lệ nhiễm bệnh nặng thì giữa 2 công thức xử lý và không xử lý thuốc không có sự sai khác, sức sống hạt giống kém, tỷ lệ cây mọc thấp, tỷ lệ cây yếu, cây bệnh cao

Việc xử lý hạt làm tăng có ý nghĩa tỷ lệ nảy mầm, sức sống cây mầm

và làm giảm cơ bản tỷ lệ cây mầm chết sau khi gieo, tăng năng suất cũng như chất lượng giống lúa Một số chất xử lý như CuCl2, KH2PO4, Axit Humic,

C2H2O4 có tác dụng tốt, làm tăng năng suất lúa Xử lý hạt với Dithane M-45

ở liều lượng 0,3% có thể diệt trừ hoàn toàn các loại nấm Alternaria padwickii

và Bipolaris oryzae và các loại nấm lây nhiễm trên bề mặt hạt [8],[3],[23],[9]

Mật ñộ gieo sạ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi nguồn giống, tỷ lệ mạ chết

14 % -27 %, trong ñó khoảng 14% khi sử dụng nguồn giống nhiễm nhẹ (20%)

và 27% ñối với nguồn hạt giống nhiễm nặng (30%) [9]

Việc xử lý hạt cũng góp phần giảm hao hụt lượng hạt giống ở giai ñoạn ñầu ñặc biệt là khi sử dụng nguồn hạt bị nhiễm Xử lý giúp tăng mật ñộ cây

mạ khoảng 20% trên nguồn hạt khoẻ, 35% trên nguồn hạt nhiễm nhẹ và 40% trên nguồn hạt nhiễm nặng [9]

Nguồn hạt nhiễm nặng (30%) có tỷ lệ hạt nhiễm nấm F moniliforme

cao (khoảng 50%) do ñó gây bệnh lúa von rất cao ở giai ñoạn ñầu (20 ngày sau sạ) với tỷ lệ chết bệnh lên ñến 28,8% Trong khi nguồn hạt khoẻ (10%)

hoặc nhiễm nhẹ (20%) với tỷ lệ hạt nhiễm F moniliforme khoảng 15 - 30%

nên chỉ gây bệnh lúa von khoảng 15% Vì vậy, chọn nguồn giống sạch bệnh

là cần thiết giúp giảm chi phí phòng trừ bệnh, nên sử dụng nguồn hạt giống có

tỷ lệ hạt lem khoảng < 10%

Xử lý hạt bằng cách loại bỏ hạt lép trong dung dịch muối 15% và xử lý hạt với Thiram 0,2% cho hiệu quả tốt trong việc cải thiện sức sống cây mạ

Trang 37

trong ñiều kiện ñồng ruộng Tỷ lệ cây bị bệnh lúa von có thể ñược kiểm soát hoàn toàn khi xử lý hạt với Thiram 0,2% Việc sản xuất hạt giống có phẩm cấp và giống xác nhận ñặc biệt là các loại giống ñặc sản phải xử lý hạt 100 % Ngoài ra tàn dư bệnh lúa Von trên ruộng cần phải thu dọn sạch từ 20 ngày trước khi thu hoạch [9]

Hạt có thể bị nhiễm nấm bệnh và các vi sinh vật khác trong quá trình thu hoạch, bảo quản và chế biến ðể hạn chế nấm bệnh trước khi thu hoạch cần lựa chọn vùng làm giống sạch bệnh Không lấy giống ở những vùng bị bệnh thậm trí không lấy cả những hạt gần ruộng bị bệnh, lựa chọn ruộng có hạt chắc mẩy, sáng bóng, không có vết bệnh Việc thu hoạch giống nên tiến hành vào những ngày khô ráo, dụng cụ thu hoạch cần ñược vệ sinh sạch sẽ, hạt giống khi thu hoạch về không nên ñể chất thành ñống, cần nhanh chóng ñưa ñộ ẩm của hạt về ñộ ẩm an toàn (12- 13%), loại bỏ tạp chất và bảo quản ở ñiều kiện thích hợp

Tóm lại, kết quả ñiều tra nghiên cứu bệnh hại trên hạt giống lúa ở nước

ta cho thấy các nấm bệnh gây hại trên lúa có mặt tại tất cả các vùng trồng lúa trong cả nước với tỷ lệ khá cao, gây ảnh hưởng không tốt ñến năng suất, chất lượng của cây trồng trong ñó có tỷ lệ nảy mầm và sức sống cây con Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trên chưa phản ánh hết mức ñộ nhiễm bệnh trên hạt

ở các vùng trồng lúa khác nhau, ñặc biệt tại vùng Tứ Kỳ - Hải Dương Do vậy, nghiên cứu thực trạng các bệnh nấm trên hạt lúa giống ñể có biện pháp hạn chế bệnh, giảm lây lan qua giống từ vùng này sang vùng khác là việc làm cần thiết

Trang 38

3 ðỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ðối tượng, vật liệu, ñịa ñiểm nghiên cứu

* ðối tượng nghiên cứu: Bệnh nấm hại hạt giống lúa trên các giống ñược

trồng phổ biến tại huyện Tứ Kỳ - Hải Dương như Q5, Khang dân 18, Xi23, P6, Bắc thơm số 7

* Vật liệu, dụng cụ nghiên cứu:

Hạt lúa giống Kính hiển vi soi nổi, kính hiển vi quang học, máy chụp ảnh, tủ ñịnh ôn, ñĩa petri ñường kính 9 cm, giấy thấm, giấy ñặt nảy mầm, hóa chất xử lý hạt giống, dụng cụ phòng thí nghiệm…

* ðịa ñiểm nghiên cứu: chọn 3 ñiểm vùng sản xuất giống bao gồm 2

xã là vùng sản xuất giống nhân dân (xã Hưng ðạo, xã Quang Phục) và 1 ñiểm tại Xí nghiệp giống lúa trên ñịa bàn huyện Tứ Kỳ - Hải Dương Phòng thí nghiệm của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm

* Thời gian thực hiện: Từ tháng 6/2008 ñến tháng 9/2009

3.2 Nội dung nghiên cứu

- ðiều tra (theo mẫu ñã thiết kế trước) về tình hình sản xuất, thu hoạch, chế biến, bảo quản giống lúa ở các ñiểm lấy mẫu

- Giám ñịnh thành phần và số lượng các loài nấm bệnh truyền qua hạt

- Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh nấm trên hạt ñến chất lượng nảy mầm của hạt giống: tìm hiểu mối tương quan giữa bệnh trên hạt với tỷ lệ nảy mầm, tỷ lệ cây mầm bình thường, tỷ lệ cây mầm không bình thường, tỷ lệ hạt không nảy mầm

- Xác ñịnh biện pháp hạn chế bệnh

Trang 39

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp lấy mẫu

Lấy mẫu theo Tiêu chuẩn 10TCN 322- 2003 [1]

3.3.1.1 S ố lượng mẫu ñiểm

ðối với những lô hạt giống ở trong các vật hoặc bao chứa từ 15 ñến

100 kg, số lượng mẫu ñiểm tối thiểu cần lấy theo quy ñịnh sau:

1- 4 bao Lấy mẫu ở tất cả các bao, mỗi bao lấy 3 mẫu ñiểm

5- 8 bao Lấy mẫu ở tất cả các bao, mỗi bao lấy 2 mẫu ñiểm

9- 15 bao Lấy mẫu ở tất cả các bao, mỗi bao lấy 1 mẫu ñiểm

16- 30 bao Lấy tổng số 15 mẫu ñiểm

31- 59 bao Lấy tổng số 20 mẫu ñiểm

≥ 60 bao Lấy tổng số 30 mẫu ñiểm

ðối với các lô hạt giống ở trong vật chứa hoặc bao chứa nhỏ hơn15 kg, các bao chứa sẽ ñược gộp lại thành các ñơn vị không vượt quá 100 kg và mỗi ñơn vị này ñược coi là 1 bao nêu trong quy ñịnh trên

Khi lấy mẫu hạt giống ở các vật chứa hoặc bao chứa lớn hơn 100 kg hoặc

từ dòng hạt ñang ñi vào các bao chứa, thì yêu cầu tối thiểu theo quy ñịnh sau:

≤ 500 kg Lấy ít nhất 5 mẫu ñiểm

501- 3.000 kg Cứ 300 kg lấy một mẫu ñiểm, nhưng không dưới 5

mẫu ñiểm 3.001- 20.000 kg Cứ 500 kg lấy một mẫu ñiểm, nhưng không dưới 10

mẫu ñiểm

≥ 20.001 kg Cứ 700 kg lấy một mẫu ñiểm, nhưng không dưới 40 mẫu ñiểm Trong mọi trường hợp, khi lấy mẫu lô hạt giống dưới 15 bao chứa hoặc vật chứa thì số lượng mẫu ñiểm ñược lấy ở mỗi bao chứa như nhau ñối với những bao chứa ñược chọn ñể lấy mẫu

Trang 40

3.3.1.2 Cách l ấy các mẫu ñiểm

- Khi lô hạt giống chứa trong bao hoặc vật chứa, thì bao hoặc vật chứa ñược chọn ñể lấy mẫu một cách ngẫu nhiên ñều khắp cả lô và các mẫu ñiểm

sẽ ñược lấy ở ñỉnh, ở giữa và ở ñáy bao, nhưng không nhất thiết lấy nhiều hơn một vị trí ở trong 1 bao, trừ khi phải lấy 2 hoặc 3 mẫu ñiểm ở mỗi bao như quy ñịnh tại 3.3.1.1

- Khi hạt giống ñựng trong thùng chứa hoặc vật chứa lớn, các mẫu ñiểm sẽ ñược lấy ở các vị trí và ñộ sâu ngẫu nhiên

- Khi hạt giống ñóng gói ở trong các vật chứa nhỏ hoặc vật chứa chống

ẩm thì nên lấy mẫu trước khi hạt ñược ñưa vào vật chứa Khi không thực hiện ñược thì một số lượng vật chứa vừa ñủ sẽ ñược mở ra ñể lấy mẫu ñiểm, sau

ñó sẽ ñược ñóng lại hoặc chuyển hạt giống sang các vật chứa mới

- Mẫu hạt giống cũng có thể ñược lấy trên băng chuyền ñóng gói, miễn

là mẫu phải ñược lấy ñồng ñều ngang qua mặt cắt của dòng hạt và không làm rơi vãi hạt ra ngoài

3.3.1.5 B ảo quản mẫu

Mẫu phân tích ñược tiến hành thử nghiệm sớm ngay sau khi tiếp nhận mẫu Những mẫu chưa kịp làm trong ngày hoặc giữ lại ñược bảo quản trong kho lạnh với ñiều kiện nhiệt ñộ và ñộ ẩm thấp ñể hạn chế tới mức thấp nhất những thay ñổi về chất lượng của mẫu

Ngày đăng: 25/07/2021, 09:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm