1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Năm giải pháp giúp học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1 học tốt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa

28 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích tổng quát của đề tài là giới thiệu một số giải pháp của bản thân đã làm nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1. Giúp học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1 học tốt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa, từ đó làm nâng cao chất lượng học tập.

Trang 1

TỪ ĐỒNG ÂM, TỪ NHIỀU NGHĨA; PHÂN BIỆT

TỪ ĐỒNG ÂM VỚI TỪ NHIỀU NGHĨA”

Tên tác giả: Nguyễn Thị Diễm My

Năm học 2018-2019

Trang 2

2 Đề ra biện pháp triển khai áp dụng đề tài vào thực tiễn 23

Trang 3

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài:

Không biết mọi người có cảm giác thế nào, riêng tôi mỗi khi được thấy ai

đó là người ngoại quốc nói hoặc hát được những bài hát tiếng Việt, một cảm xúc thán phục xen lẫn xúc động và niềm tự hào về tiếng Việt lại trào dâng trong lòng Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập hiện nay, Việt Nam chúng ta đang mở rộng quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Nhiều người nước ngoài biết đến Việt Nam, biết nói, hát và giao tiếp bằng tiếng Việt cũng là điều bình thường Nhưng sự thán phục của tôi đối với họ là bởi một lẽ

đi sâu vào ngôn ngữ tiếng Việt của chúng ta thực sự có nhiều khía cạnh khó, đôi khi chính chúng ta cũng còn có sự nhầm lẫn Một trong những nội dung khó của tiếng Việt là phần nghĩa của từ

Trong chương trình Tiếng Việt lớp 5, mảng nội dung nghĩa của từ được tập trung và được biên soạn có hệ thống trong phần Luyện từ và câu Nhiều năm liền trong quá trình dạy học, tôi thấy các em học sinh dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, việc tìm các từ cùng nghĩa, gần nghĩa cũng không mấy vất vả Tuy nhiên, khi học xong từ nhiều nghĩa và từ đồng âm thì các em bắt đầu có sự nhầm lẫn và khả năng phân biệt các từ đồng âm với từ nhiều nghĩa của học sinh không được như mong đợi của cô giáo Kể cả một số học sinh hoàn thành tốt môn

Tiếng Việt cũng làm thiếu chính xác Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Năm

giải pháp giúp học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1 học tốt từ đồng

âm, từ nhiều nghĩa; phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa” để nghiên

cứu

2 Lịch sử của đề tài:

Đề tài được hình thành dựa trên những biện pháp nhằm giúp cho học sinh

học tốt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa Sau

đó, qua quá trình giảng dạy, bản thân tôi tích góp và học hỏi thêm nhiều biện pháp khác nhau để nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 5

3 Mục đích nghiên cứu đề tài:

Với đề tài sáng kiến này, mục đích nghiên cứu của bản thân tôi là:

- Giới thiệu một số giải pháp của bản thân đã làm nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1

- Giúp học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1 học tốt từ đồng âm,

từ nhiều nghĩa; phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa, từ đó làm nâng cao chất lượng học tập

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu:

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu vấn đề lí luận

Trang 4

- Nguyên cứu thực trạng và đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học về từ nhiều nghĩa - từ đồng âm cho học sinh

- Rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc dạy - học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: đọc tài liệu Hướng dẫn học Tiếng Việt

5, tài liệu tham khảo, các chuyên đề có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp điều tra, khảo sát: điều tra thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu, dự giờ thực tế giáo viên và học sinh lớp 5

- Phương pháp thực nghiệm, thống kê, phân loại: kiểm tra chất lượng học sinh về kỹ năng thực hành làm bài tập phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để kiểm chứng lý luận của đề tài và đánh giá kết quả học tập của học sinh khi áp dụng nội dung đã nghiên cứu

- Phương pháp thực hành

- Phương pháp phân tích tổng hợp

5 Giới hạn (phạm vi) nghiên cứu:

- Nội dung: việc dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa ở lớp 5

- Thời gian: từ tháng 9/2017 đến tháng 5/2018

- Đối tượng áp dụng: học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1

6 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:

Sáng kiến “Năm giải pháp giúp học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1 học tốt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa” là một trong những sáng kiến nói riêng về nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt được tích góp những kinh nghiệm có sẵn từ rất lâu Nội dung sáng kiến chưa được công khai dưới nhiều hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hay bất cứ hình thức nào khác; không trùng với nội dung và giải pháp trước

đó

Kết quả nghiên cứu mang lại hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao chất

lượng dạy học môn Tiếng Việt của bản thân tôi trong những năm vừa qua

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận của vấn đề:

Trong chương trình Tiểu học, mỗi môn học đều có tính ưu việt riêng, có những nội dung giáo dục riêng; về tâm hồn, tình cảm, trí thức, kĩ năng… Nhưng đối với nhu cầu thực tiễn của lớp 5 thì yêu cầu về kiến thức, kĩ năng phân môn Luyện từ và câu đóng một vai trò hết sức quan trọng Phân môn Luyện từ và câu lớp 5 có nhiều kiến thức cơ bản, những kiến thức ấy học sinh cần phải đạt để

Trang 5

làm bàn đạp cho việc học tốt các môn học ở lớp trên Phân môn Luyện từ và câu trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản như kĩ năng dùng từ, đặt câu;

mở rộng và làm phong phú vốn từ ngữ cho các em; giúp các em nói và viết đúng

ngữ pháp

Từ đồng âm, từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho các em biết khái niệm, cách tìm và lựa chọn sử dụng đúng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; tạo điều kiện để các em có năng lực nhận biết các sự vật, hiện tượng một cách đầy đủ, nhanh chóng và chính xác

Học sinh tiểu học vốn từ còn ít, từ ngữ mà các em được cung cấp ở trường học chưa thể đủ so với nhu cầu giao tiếp hàng ngày Khả năng sử dụng, phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa cũng như vận dụng vào từng hoàn cảnh còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy, giúp học sinh tăng vốn từ, hiểu nghĩa từ, sử dụng hiệu quả vốn từ là công việc, nhiệm vụ quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữ của học sinh Nhờ đó mà vốn từ của học sinh đã được bổ sung cả về số lượng, chất lượng, làm cho tiếng Việt thêm phong phú và mang đậm nét đặc sắc riêng mà không thể lẫn với một thứ ngôn ngữ nào khác

đề, thao giảng, hội giảng, qua đó trao đổi và rút ra được nhiều kinh nghiệm

- Thực hiện mô hình trường học mới tạo điều kiện cho học sinh mạnh dạn,

tự tin, sôi nổi

- Thư viện nhà trường đã có đầy đủ Tài liệu Hướng dẫn học và các tài liệu

tham khảo phục vụ công tác giảng dạy và học tập

- Học sinh nhiệt tình tham gia các hoạt động học tập, mạnh dạn, tự tin trình bày những ý kiến của bản thân

b Khó khăn:

- Có nhiều gia đình học sinh thuộc diện gia đình nghèo, khó khăn, trình độ dân trí nói chung còn thấp nên chưa nhận thức đúng về việc học tập của con em mình

- Vốn từ đồng âm, từ đồng nghĩa của học sinh nói riêng cũng như vốn từ tiếng Việt nói chung còn hạn chế

2.2 Thực trạng lớp 5A, trường Tiểu học Vạn Thọ 1:

Trong thực tế quá trình giảng dạy lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1, tôi nhận thấy: học sinh làm các bài tập về từ đồng âm nhanh và ít sai hơn khi học các bài tập về từ nhiều nghĩa Đặc biệt, khi cho học sinh phân biệt và tìm các từ có quan hệ đồng âm, các nghĩa của từ nhiều nghĩa trong một số văn cảnh

Trang 6

Để kiểm tra khả năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa sau phần học

từ đồng âm, từ nhiều nghĩa tôi đã ra đề kiểm tra (học sinh lớp 5A năm học 2017

Bát chè này nhiều đường nên rất ngọt

Các chú công nhân đang chữa đường dây điện thoại

Ngoài đường, mọi người đang đi lại nhộn nhịp

c) vạt

Những vạt nương màu mật

Lúa chín ngập lòng thung

(Nguyễn Đình Ảnh)

Chú Tư lấy dao vạt nhọn đầu chiếc gậy tre

Những người Giáy, người Dao

Đi tìm măng, hái nấm

Câu 1: Trong các từ in đậm sau đây, những từ nào là từ đồng âm,

những từ nào là từ nhiều nghĩa? (3 điểm)

Bát chè này nhiều đường nên rất ngọt

Các chú công nhân đang sửa chữa đường dây điện thoại

Ngoài đường, mọi người đang đi lại nhộn nhịp

c) vạt

Những vạt nương màu mật

Lúa chín ngập lòng thung

(Nguyễn Đình Ảnh) Những người Giáy, người Dao

Đi tìm măng, hái nấm

Vạt áo chàm thấp thoáng

Nhuộm xanh cả nắng chiều

(Nguyễn Đình Ảnh)

Chú Tư lấy dao vạt nhọn đầu chiếc gậy tre

Câu 2: Phân biệt nghĩa của những từ đồng âm trong các cụm từ sau?

(3 điểm)

a) đậu tương, đất lành chim đậu, thi đậu

b) sợi chỉ, chỉ đường, chỉ vàng

Câu 3: Dùng các từ dưới đây để đặt câu (một câu theo nghĩa gốc và một

câu theo nghĩa chuyển): nhà, đi, ngọt, xuân? (4 điểm)

Trang 7

* Bảng thống kê kết quả điểm bài kiểm tra từng học sinh:

Trang 8

24 Ngô Trọng Tốt 6

* Bảng thống kê kết quả điểm kiểm tra theo tỉ lệ %:

Với kết quả như trên thực sự là một vấn đề đáng lo ngại, vì thế tôi đã trăn trở tìm ra nguyên nhân của thực trạng trên Sau đây là một số nguyên nhân:

- Về phía giáo viên:

+ Chưa vận dụng hiệu quả các phương pháp dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

+ Hình thức tổ chức dạy học chưa phong phú và chưa hiệu quả

- Về phía học sinh:

+ Chưa nắm vững kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

+ Chưa biết cách nhận diện từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

+ Chưa biết cách phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa

+ Hiểu sai nghĩa của từ

Chính vì thế để giúp học sinh có khả năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa tôi đã quyết định chọn đề tài: “Năm giải pháp giúp học sinh lớp 5A, Trường Tiểu học Vạn Thọ 1 học tốt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; phân biệt từ

đồng âm với từ nhiều nghĩa” nhằm giúp cô và trò hứng thú hơn khi học nội dung

này, góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học phân môn Luyện từ và câu lớp 5

3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:

3.1 Nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa và phương pháp dạy từ đồng âm, từ nhiều nghĩa:

3.1.1 Nắm vững kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa:

Phần từ đồng âm và từ nhiều nghĩa có nhiều từ học sinh dễ nhầm lẫn và khó xác định là từ đồng âm hay từ nhiều nghĩa, giáo viên cần giúp các em nhấn

25

Trang 9

*Từ đồng âm : Là những từ giống nhau về âm nhưng khác nhau về nghĩa

(Hướng dẫn học Tiếng Việt 5 - tập 1A - Trang 89)

Đây là kiến thức cô đọng, xúc tích nhất dành cho học sinh tiểu học ghi nhớ, vận dụng khi làm bài tập, thực hành

Cần chú ý thêm từ đồng âm còn bao gồm cả từ đồng âm ngẫu nhiên (nghĩa là có 2 hay hơn 2 từ có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống nhau, trùng nhau nhưng giữa chúng không có mối quan hệ nào, chúng vốn là những từ hoàn

toàn khác nhau) như trường hợp “câu” trong “câu cá” và “câu” trong “đoạn văn

có 5 câu” là từ đồng âm ngẫu nhiên và cả từ đồng âm chuyển loại (nghĩa là các

từ giống nhau về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về nghĩa, đây là kết quả của hoạt động chuyển hoá từ loại của từ)

Trong giao tiếp cần chú ý đầy đủ đến ngữ cảnh để tránh hiểu sai nghĩa của

từ hoặc dùng từ với nghĩa nước đôi do hiện tượng đồng âm

- Ví dụ: Đem cá về kho

Câu trên có thể hiểu là hai cách:

Cách 1: Đem cá về kho cất để dự trữ

Cách 2: Đem cá về để kho lên ăn

* Từ nhiều nghĩa: là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa

chuyển Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau

(Hướng dẫn học Tiếng Việt 5 - Tập 1A - Trang 107)

- Ví dụ: Từ “mắt” trong câu “Quả na mở mắt” là nghĩa chuyển

Chúng ta có thể hiểu, một từ có thể gọi tên nhiều sự vật hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm (khái niệm về sự vật, hiện tượng) trong thực tế khách quan thì từ ấy được gọi là từ nhiều nghĩa Các nghĩa trong từ nhiều nghĩa có mối liên

hệ mật thiết với nhau

Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ nhiều nghĩa ta có thể so sánh từ nhiều nghĩa với từ một nghĩa

- Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạt một khái niệm thì

từ ấy chỉ có một nghĩa

Ví dụ: Từ “xe đạp” chỉ loại xe người đi có hai bánh hoặc ba bánh, dùng

sức người đạp cho quay bánh

Trang 10

Đó là nghĩa duy nhất thông dụng của từ “xe đạp” Vậy có thể nói từ “xe

đạp” là từ chỉ có một nghĩa

- Từ nào là tên gọi của nhiều sự vât, hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm thì từ ấy là từ nhiều nghĩa

Ví dụ: Từ “ăn” có các nghĩa sau đây:

+ ăn cơm: tự cho vào cơ thể thức ăn để nuôi sống cơ thể

+ ăn cưới: ăn uống nhân dịp cưới

+ tàu ăn hàng: tiếp nhận hàng để chuyên chở

+ ăn hoa hồng: nhận lấy để hưởng

+ ăn con xe: giành về mình phần hơn, phần thắng

+ da ăn nắng: hấp thụ cho thấm vào, nhiễm vào

+ ăn ảnh: vẻ đẹp được tôn lên (trong ảnh)

+ sông ăn ra biển: lan ra hoặc hướng đến nơi nào đó

Như vậy từ “ăn” là một từ nhiều nghĩa

Trong Tài liệu hướng dẫn học Tiếng Việt 5, phân môn Luyện từ và câu không đề cập tới nghĩa đen và nghĩa bóng của từ nhiều nghĩa mà đề cập tới nghĩa chuyển và nghĩa gốc Nghĩa đen chính là nghĩa gốc của từ còn được gọi là nghĩa trực tiếp, là nghĩa đầu tiên của từ, là cơ sở để tạo ra các nghĩa khác Trong

từ điển, nghĩa đen được nói tới đầu tiên Nghĩa bóng cũng chính là nghĩa chuyển, là loại nghĩa được hình thành từ nghĩa đen (hoặc nghĩa chuyển này được hình thành từ nghĩa chuyển khác), có mối liên hệ mật thiết với nghĩa đen Nghĩa bóng (nghĩa chuyển) là sản phẩm của hoạt động chuyển nghĩa của từ theo các phương thức như ẩn dụ, hoán dụ,… Trong từ điển, nghĩa bóng được nói đến sau nghĩa đen Nghĩa bóng (nghĩa chuyển) cũng mang tính cố định, ổn định, bền vững, tính xã hội và tính dân tộc như nghĩa đen

3.1.2 Nắm vững phương pháp dạy từ đồng âm và từ nhiều nghĩa:

Bài học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là loại bài khái niệm Tôi tổ chức các hình thức dạy học để giải quyết các bài tập ở phần nhận xét, giúp học sinh phát hiện các hiện tượng về từ ở các bài tập từ đó rút ra được những kiến thức về

từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Bước tiếp theo, tôi tổng hợp kiến thức như nội dung phần ghi nhớ Đến đây, nếu là học sinh hoàn thành tốt, tôi có thể cho các

em lấy ví dụ về hiện tượng đồng âm, nhiều nghĩa giúp các em nắm sâu và chắc phần ghi nhớ Chuyển sang phần luyện tập, tôi tiếp tục tổ chức các hình thức dạy học để giúp học sinh giải quyết các bài tập phần luyện tập Sau mỗi bài tập tôi lại củng cố, khắc sâu kiến thức liên quan đến nội dung bài học, liên hệ thực tế và liên hệ tới các kiến thức đã học của phân môn Luyện từ và câu nói riêng và tất

cả các môn học nói chung

Trang 11

Trong quá trình dạy học các bài về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa; tôi sử dụng

đồ dùng dạy học, tranh ảnh vật thật để minh hoạ nhằm giúp học sinh dễ dàng phân biệt nghĩa của từ

Ví dụ: Để phân biệt nghĩa từ “đồng” trong “cánh đồng - tượng đồng - một nghìn đồng”, tôi đưa bức ảnh chụp cánh đồng, một pho tượng làm bằng đồng và

tờ tiền một nghìn đồng cho học sinh xem để học sinh nắm nghĩa của các từ đồng

âm này

* Hình ảnh minh họa: Minh chứng 1: Phục lục 1

Vận dụng cách liên tưởng, liên hệ trong từng bài tập cụ thể

Ví dụ: Yêu cầu học sinh tìm một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của các từ: lưỡi, miệng, cổ, tay, lưng

(Nhiệm vụ 2/115 - Hướng dẫn học Tiếng việt 5)

Tôi gợi ý bằng cách đưa ra một số câu hỏi gợi ý có nội dung liên tưởng

như: lưỡi của những đồ vật gì có tính sắc, sáng (học sinh dễ tìm được lưỡi dao,

lưỡi kiếm, lưỡi gươm, lưỡi lê, lưỡi lam, lưỡi hái ) Các từ còn lại tôi tổ chức

cho học sinh thảo luận nhóm, trình bày bằng trò chơi “Ai nhanh hơn” Ngoài ra,

để nhận diện chính xác từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, tôi đã hướng dẫn học sinh đặt từ vào văn cảnh để hiểu đúng nghĩa của từ Đồng thời, bản thân dùng sổ tay

tự tích lũy ghi chép các khái niệm và một số từ đồng nghĩa, từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong cuộc sống hàng ngày để có thêm vốn từ

3.2 Tìm các căn cứ để giúp học sinh nhận diện, phân biệt từ đồng âm

và từ nhiều nghĩa:

Dạy các nội dung về nghĩa của từ thực sự không đơn giản nhất là nhận diện, phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Trong quá trình giảng dạy, tổ chức cho học sinh nắm được kiến thức, bản thân tôi cũng đã cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi và lựa chọn sao cho học sinh nắm kiến thức mới và vận dụng trong

học tập cũng như trong cuộc sống một cách hiệu quả Tôi đã thử nghiệm một số biện pháp phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa như sau:

3.2.1 Yêu cầu học sinh thuộc ghi nhớ:

Tâm lí học sinh thích làm những bài tập đơn giản, để lộ kiến thức, ngại học thuộc lòng, ngại viết các đoạn, bài cần yếu tố tư duy Biết vậy, tôi thường cho học sinh ngắt ý của phần ghi nhớ cho đọc nối tiếp, rồi ghép lại cho đọc toàn phần, đọc theo cặp đôi, đọc theo nhóm, có lúc thi đua xem ai nhanh nhất, ai đọc tốt Cách làm này tôi đã cho các em thực hiện ở các tiết học trước đó (về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa) Do đó, dạy đến từ đồng âm, từ nhiều nghĩa các em cứ sẵn cách tổ chức như trước mà thực hiện Và kết quả có tới 18/25 học sinh thuộc ghi nhớ một cách trôi chảy tại lớp chỉ còn một vài có thuộc song còn ấp úng, ngắc

ngứ

3.2.2 Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của các từ phát âm giống nhau:

Trang 12

Điều đặc biệt của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là phát âm giống nhau

(nói đọc giống nhau viết cũng giống nhau) Ta thấy rõ ràng là “đường” (1) trong

“đường rất ngọt”, “đường” (2) trong “đường dây điện thoại” và “đường” (3) trong “ngoài đường xe cộ đi lại nhộn nhịp” đều phát âm, viết giống nhau Vậy

mà “đường” (1) với “đường” (2) và “đường” (1) với “đường” (3) lại có quan hệ đồng âm, còn “đường” (2) với “đường” (3) lại có quan hệ nhiều nghĩa

Để có được kết luận trên đây, trước hết học sinh phải hiểu rõ nghĩa của

các từ “đường” (1), “đường” (2), “đường” (3) là gì?

- Đường (1) (đường rất ngọt): chỉ một chất có vị ngọt

- Đường (2) (đường dây điện thoại): chỉ dây dẫn, truyền điện thoại phục

vụ cho việc thông tin liên lạc

- Đường (3) (ngoài đường, xe cộ đi lại nhộn nhịp): chỉ lối đi cho các

phương tiện, người, động vật

Để có thể giải nghĩa chính xác các từ “đường” như trên, các em phải có

vốn từ phong phú, có vốn sống Vì vậy, trong dạy học tất cả các môn, tôi luôn chú trọng trau dồi, tích lũy vốn từ cho học sinh, nhắc học sinh có ý thức tích lũy cho mình vốn sống và yêu cầu mỗi học sinh phải có được một cuốn từ điển tiếng Việt, biết cách tra từ điển tiếng Việt đồng thời nắm được một số biện pháp giải nghĩa từ

Tiếp đó, học sinh căn cứ vào định nghĩa, khái niệm về từ đồng âm, từ

nhiều nghĩa để xác định mối quan hệ giữa các từ “đường”

Xét nghĩa của 3 từ “đường” trên ta thấy:

- Từ “đường” (1) và từ “đường” (2) có nghĩa hoàn toàn khác nhau không liên quan đến nhau Như vậy, hai từ “đường” này có quan hệ đồng âm Tương

tự, từ “đường” (1) và từ “đường” (3) cũng có mối quan hệ đồng âm

- Từ “đường” (2) và từ “đường” (3) thì có mối quan hệ mật thiết về nghĩa

Từ “đường” (3) có nghĩa là “chỉ lối đi”, từ “đường” (2) có nghĩa là “truyền đi” theo vệt dài (dây dẫn) Do đó, từ “đường” (3) là nghĩa gốc, còn từ “đường” (2) là nghĩa chuyển Như vậy, từ “đường” (2) và từ “đường” (3) có quan hệ nhiều

nghĩa với nhau

3.2.3 Dựa vào yếu tố từ loại cũng có thể giúp học sinh phân biệt được

từ đồng âm và từ nhiều nghĩa:

Biện pháp này thực ra ít khi tôi vận dụng bởi nếu học sinh đã hiểu đúng nghĩa của từ; thuộc được khi nhớ thì không cần thiết phải dùng đến cách dựa vào yếu tố từ loại Tuy nhiên, đối với một số học sinh học chậm giáo viên có thể kết

hợp cả 3 biện pháp

Nếu trong thực tế đời sống hàng ngày học sinh có thể bắt gặp hiện tượng một từ nào đó phát âm gần nhau nhưng xét về từ loại khác nhau thì kết luận đó

là hiện tượng đồng âm Chẳng hạn, khi chơi đùa học sinh hò reo đồng thanh để

cổ vũ cho một học sinh được mệnh danh là “cụ cố” là vì em này nhỏ, yếu: “Cố

Trang 13

lên cụ cố…ơi!” Từ “cố” thứ nhất là tính từ, “cố” thứ 2 là danh từ Đây hiện

tượng đồng âm dễ nhận diện

Tùy trường hợp những từ phát âm giống nhau nhưng cùng từ loại (cùng loại danh từ, động từ, tính từ) thì phải vận dụng biện pháp giải nghĩa từ trong văn cảnh Đồng thời, xét xem các từ đó có mối quan hệ về nghĩa hay không để tránh nhầm lẫn giữa từ đồng âm với từ nhiều nghĩa hoặc quan hệ đồng nghĩa nếu

có Trong trường hợp này thông thường ta dựa vào ngữ cảnh để nhận biết nghĩa của từ đồng âm, nói cách khác là dựa vào các từ cùng đi với nó trong câu Ngữ cảnh có tác dụng hiện thực hóa nghĩa của từ và giúp con người sử dụng ngôn ngữ tránh sự nhầm lẫn

Các từ trong câu có mối quan hệ với từ “đồng” thứ nhất gồm “đánh rơi”,

“mười nghìn”, nếu chỉ dừng lại ở đánh rơi mười nghìn thì người đọc chưa rõ

mười nghìn tiền Việt Nam hay tiền nước nào và chưa xác định rõ giá trị số tiền

đánh rơi Có từ “đồng” ngay sau cụm từ “đánh rơi mười nghìn” thì ta hiểu rõ số tiền đánh rơi ở đây là tiền Việt và xác định được giá trị của nó Vậy từ “đồng” thứ nhất là đơn vị tiền Việt Nam, từ “đồng” thứ hai nằm trong mối quan hệ với

từ “đoạn”, “cánh”, “làng” “Đồng” trong “cánh đồng” là khoảng đất rộng bằng

phẳng trồng lúa hoặc hoa màu

Hiện tượng đồng âm cùng từ loại như trên học sinh rất dễ nhầm lẫn với từ nhiều nghĩa hầu hết các từ nhiều nghĩa đều có cùng từ loại Trong quá trình dạy học, tôi gặp phần lớn các từ nhiều nghĩa đều có cùng từ loại Từ “đi” trong các trường hợp sau đều là động từ:

Ví dụ:

đi: đi bộ - đi chơi - đi ngủ - đi máy bay

Vì vậy, khi gặp những từ có cùng vỏ âm thanh giống nhau thì học sinh không được vội vàng phán quyết ngay hiện tượng đồng âm hay nhiều nghĩa mà phải suy nghĩ thật kĩ Giải nghĩa chính xác các từ đó trong văn cảnh tìm ra điểm khác nhau hoàn toàn hay giữa chúng có sự liên hệ với nhau về nghĩa Trong một

số bài tập, có một số trường hợp giống nhau về âm thanh nhưng khó phân biệt hiện tượng đồng âm hay nhiều nghĩa

Ví dụ: Các từ trong mỗi nhóm dưới đây có quan hệ như thế nào?

a) Đánh cờ, đánh giặc, đánh trống

Trang 14

b) Trong veo, trong vắt, trong xanh

c) Thi đậu, xôi đậu, chim đậu trên cành

- Xét về từ loại thì:

+ Ở nhóm a, các từ “đánh” đều là động từ nhưng xét về nghĩa các từ

“đánh cờ” (một trò chơi), “đánh giặc” (chiến đấu với kẻ thù bằng nhiều cách) và

“đánh trống” (dùng dùi hoặc tay đánh vào mặt trống cho phát ra âm thanh) thì

nghĩa của chúng có liên qua đến nhau, đều tác động đến một sự vật khác, làm

cho sự vật đó có sự thay đổi Vì vậy, các từ “đánh” ở nhóm a có quan hệ nhiều

nghĩa

+ Ở nhóm b, các từ “trong” cũng là các từ có cùng từ loại (tính từ) Song

chúng lại có quan hệ đồng nghĩa với nhau

+ Ở nhóm c, các từ “đậu” có quan hệ đồng nghĩa với nhau vì “đậu” trong

“thi đậu” là tính từ (đổ,trúng tuyển), “đậu” trong “xôi đậu” là danh từ (gạo nếp trộn với đậu ngâm muối để ráo rồi đồ lên), “đậu” trong “chim đậu trên cành” là

động từ (nghĩ tạm dừng lại)

Trong quá trình dạy, để giúp học sinh làm tốt các bài tập như trên, giáo viên yêu cầu các em luôn nắm chắc nghĩa của từ và suy xét kĩ lưỡng nghĩa của các từ đó, không vội kết luận mối quan hệ giữa các từ đã cho

3.2.4 Dùng sơ đồ:

Dạy theo cách vẽ sơ đồ thì học sinh nhớ kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa nhiều hơn, nhanh hơn đặc biệt là những học sinh học chậm Thông thường khi dạy đến bài tập về từ đồng âm, tôi vừa hướng dẫn vừa giúp học sinh nhớ lại kiến thức bằng việc vẽ hai hình tròn ngang nhau nhưng rời nhau như sau:

Khi ấy học sinh hiểu rằng mỗi hình tròn biểu thị cho nghĩa của một từ và các nghĩa ấy hoàn toàn khác nhau, không liên quan gì đến nhau, không có mối quan hệ gì

Ví dụ: “bức tranh” và “tranh giành”

Còn khi hướng dẫn học sinh các bài tập về từ nhiều nghĩa tôi cũng vừa hướng dẫn vừa vẽ hai hình tròn nhưng hai hình tròn lại có chỗ giao thoa với nhau như sau:

Ngày đăng: 25/07/2021, 08:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Trần Ái (2004), Phương pháp dạy môn Tiếng Việt Tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy môn Tiếng Việt Tiểu học
Tác giả: Ngô Trần Ái
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2004
2. Lê Phương Nga (2006), Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở tiểu học - Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Giáo trình đào tạo giáo viên Tiểu học hệ Caođẳng Sư phạm và Sư phạm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở tiểu học - Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Giáo trình đào tạo giáo viên Tiểu học hệ Cao đẳng Sư phạm và Sư phạm
Tác giả: Lê Phương Nga
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
3. Trần Mạnh Hưởng - Lê Hữu Tỉnh (2005), Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5
Tác giả: Trần Mạnh Hưởng - Lê Hữu Tỉnh
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2005
4. Lê Phương Nga (chủ biên) (2006), Tiếng Việt 5 nâng cao, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 5 nâng cao
Tác giả: Lê Phương Nga (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
5. Tài liệu Hướng dẫn học Tiếng Việt 5 – Tập 1A, NXB Giáo dục Khác
6. Tài liệu Mô hình trường học mới Vnen, NXB Giáo dục Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w