1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân lập và nuôi trồng nấm linh chi trong điều kiện bán tự nhiên

41 5 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Lập Và Nuôi Trồng Giống Nấm Linh Chi Trong Điều Kiện Bán Tự Nhiên
Tác giả Nguyễn Thị Hà My
Người hướng dẫn ThS. Vi Đại Lâm
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Công nghệ sinh học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 896,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Đặ t v ấn đề (0)
  • 1.2 M ụ c tiêu c ủa đề tài (7)
    • 1.2.1 Mục tiêu tổng quát (7)
    • 1.2.2 M ụ c tiêu c ụ th ể (7)
  • 1.3 Ý nghĩa khoa họ c và th ự c ti ễ n (7)
    • 1.3.1 Ý nghĩa khoa họ c c ủa đề tài (7)
    • 1.3.2 Ý nghĩa thự c ti ễ n c ủa đề tài (7)
  • 2.1. T ổ ng quan v ề n ấ m linh chi (8)
    • 2.1.1. Phân lo ạ i (8)
    • 2.1.3 Công dụng của nấm Linh chi (13)
    • 2.1.4. Cách phân l ậ p gi ố ng n ấ m t ừ th ể qu ả (16)
    • 2.1.5. Các ngu ồ n cacbon, nito, vitamin (19)
    • 2.1.6. Các điề u ki ệ n thích h ợ p nuôi c ấ y n ấ m Linh chi (20)
    • 2.1.7. Các hình thức nuôi trồng (20)
  • 2.2 Tình hình nghiên c ứ u n ấ m trên th ế gi ới và trong nướ c (21)
    • 2.2.1. Tình hình nghiên c ứ u trên th ế gi ớ i (21)
    • 2.2.2 Tình hình nghiên c ứu trong nướ c (23)
  • 3.1. Đối tượ ng nghiên c ứ u và ph ạ m vi nghiên c ứ u (25)
  • 3.2. N ộ i dung nghiên c ứ u (25)
  • 3.3. Phương pháp nghiên cứ u (25)
    • 3.3.1. N ộ i dung 1: Phân l ậ p gi ố ng n ấ m Linh chi (25)
    • 3.3.2. N ộ i dung 2: S ả n xu ấ t meo n ấ m (27)
    • 3.3.3 Nội dung 3: Sản xuất thể quả nấm linh chi (28)
  • 4.1. Phân l ậ p gi ố ng n ấ m Linh chi (30)
  • 4.2. S ả n xu ấ t meo n ấ m (33)
  • 4.3. Sản xuất thể quả nấm Linh chi (36)
  • 5.1. K ế t lu ậ n (39)
  • 5.2. Ki ế n ngh ị (39)

Nội dung

M ụ c tiêu c ủa đề tài

Mục tiêu tổng quát

Nuôi trồng nấm Linh chi ngoài trời mà không cần hệ thống lán trại giúp tạo ra một quần thể nấm tương tác tích cực với hệ sinh thái môi trường Phương pháp này không chỉ mang lại giá trị cảnh quan mà còn cung cấp nguồn dược liệu quý giá.

M ụ c tiêu c ụ th ể

- Phân lập giống nấm Linh chi

- Nhân giống nấm sản xuất trên các nguyên liệu: Thóc, mùn cưa, tăm bông

- Sản xuất thể quả nấm Linh chi, sử dụng lớp đất che phủ

Ý nghĩa khoa họ c và th ự c ti ễ n

Ý nghĩa khoa họ c c ủa đề tài

Đề tài phát triển quy trình nuôi trồng nấm Linh chi mới, dễ chăm sóc, dễ sử dụng, thân thiện với môi trường tự nhiên.

Ý nghĩa thự c ti ễ n c ủa đề tài

- Nâng cao chất lượng sống cho người dân, giá trị dinh dưỡng từ nấm mang lại rất tốt cho sức khỏe con người

- Định hướng cho người dân hướng tới những mô hình nuôi trồng lớn hơn, đa dạng hơn, có ý nghĩa kinh tế

- Phát triển thị trường cho các loại giống nấm (hay meo nấm) thương mại, tăng thu nhập cho người sản xuất.

T ổ ng quan v ề n ấ m linh chi

Phân lo ạ i

Nấm linh chi có tên khoa học: Ganoderma lucidum ((Leyss sx Fr.) Karst) (Hình 1)

Hình 1: Thể quả nấ m Linh chi

Linh chi, một vị thuốc quý được ghi chép trong "Thần nông bản thảo" cách đây khoảng 2000 năm, đã được Lý Thời Trân giới thiệu trong tác phẩm "Bản thảo cương mục" nổi tiếng thế giới vào năm 1595 Ông đã mô tả Linh chi với khoảng 2000 từ và phân loại thành 6 loại khác nhau dựa trên màu sắc, bao gồm Thanh chi (màu xanh), Hồng chi (màu hồng, còn gọi là Xích chi), Đơn chi, Hoàng chi (hay Kim chi, màu vàng), Bạch chi (hay Ngọc chi, màu trắng), Hắc chi (hay Huyền chi, màu đen) và Tử chi (màu tím).

Linh chi, mặc dù được đề cập trong các sách cổ, nhưng ít người biết đến và sử dụng, nên từ lâu đã trở thành loại thuốc quý hiếm, chủ yếu dành cho vua chúa và những người giàu có.

Nấm Linh chi, một loại nấm hóa gỗ, có cuống dài hoặc ngắn và mũ nấm hình thận, tròn hoặc quạt Cuống thường lệch sang một bên mũ nấm, với hình dạng trụ tròn hoặc dẹt, có thể phân nhánh và có màu sắc khác nhau tùy theo loài Màu sắc của nấm đỏ có thể thay đổi từ nâu đến đỏ vàng, đỏ cam, với bề mặt bóng loáng và các vân đồng tâm Thụ tầng có màu trắng ngà, khi già chuyển sang nâu vàng, mang nhiều lỗ nhỏ là các ống thụ tầng chứa bào tử Bào tử của loài xích chi có hình trứng, được bao bọc bởi hai lớp màng, với màng ngoài nhẵn và không màu, còn màng trong có màu gỉ sắt và lôc nảy mầm hình gai nhọn Toàn bộ nấm được cấu tạo từ những sợi nấm trong sáng, không màu, có đường kính từ 1-3mm và có khả năng phân nhánh.

Cấu tạo của sợi nấm

Nấm Linh chi và các loại nấm ăn chủ yếu được cấu tạo từ hệ sợi nấm, có dạng ống tròn với đường kính khoảng 2-4 micromet Các ống này có vách ngăn ngang và được gọi là khuẩn ty Hệ sợi nấm, hay còn gọi là khuẩn ty thể (mycelium), bao gồm các tế bào được phân cách bởi các vách ngăn ngang Khi quan sát dưới kính hiển vi quang học với độ phóng đại 1000 lần, cấu trúc của tế bào sợi nấm sẽ được hiện rõ.

1500 lần) hoặc kính hiển vi điện tử có thể thấy rõ các bào quan

Tế bào nấm có những đặc trưng riêng biệt so với tế bào thực vật và động vật, đặc biệt là thành phần của thành tế bào Dưới kính hiển vi điện tử, thành tế bào nấm được quan sát thấy có cấu trúc nhiều lớp Trong khi thành tế bào thực vật chủ yếu được cấu tạo từ xenluloza, thì thành tế bào của các nhóm nấm khác nhau lại chứa các thành phần khác nhau, như nấm ăn và nấm Linh chi, với thành tế bào chủ yếu được tạo thành từ kitin-glucan.

Tế bào nấm không tồn tại độc lập trong sợi nấm do có vách ngăn với lỗ thủng Một số loại nấm như nấm túi chỉ có một lỗ giữa vách ngăn, với đường kính khoảng 0,1-0,2 μm Trong khi đó, nấm Linh chi và nấm đảm có cấu trúc lỗ thông phức tạp hơn, với gờ cao và nắp đậy hai bên, trên nắp có nhiều lỗ nhỏ có đường kính khoảng 0,09-0,18 μm Qua các lỗ này, chất nguyên sinh có thể di chuyển dễ dàng trong sợi nấm, và thậm chí nhân tế bào cũng có thể thắt nhỏ để chui qua Khu vực đầu sợi nấm, nơi diễn ra quá trình tăng trưởng, thường chứa đựng một lượng chất nguyên sinh dày đặc.

Có 3 cấp sợi nấm, sợi nấm cấp một (sơ sinh), sợi nấm cấp hai (thứ sinh) và sợi nấm cấp ba (tam sinh) Sợi nấm cấp một lúc đầu không có vách ngăn và có nhiều nhân, dần dần sẽ tạo vách ngăn và phân thành những tếbào đơn nhân trong sợi nấm Sợi nấm cấp hai được tạo thành do sự phối trộn giữa hai sợi nấm cấp một Khi đó nguyên sinh chất giữa hai sợi nấm khác dấu sẽ trộn với nhau

Chất phối plasmogamy dẫn đến sự hình thành của các tế bào có hai nhân, được gọi là sợi nấm song nhân Sợi nấm cấp ba phát triển từ sợi nấm cấp hai, với sự liên kết chặt chẽ giữa các sợi nấm, tạo thành quả nấm (quả thể).

Quả nấm, hay còn gọi là quả thể, là cơ quan sinh sản và sinh bào tử của nấm bậc cao, bao gồm phần thu hái để ăn hoặc làm dược liệu Quả nấm ở nấm đảm được gọi là quả đảm (basidiocarp), trong khi quả nấm ở nấm túi là quả túi (ascocarp) Hình thái, màu sắc và kích thước của quả nấm khác nhau tùy thuộc vào loại nấm Phần trên cùng của quả nấm là mũ nấm (pileus), mọc trên cuống nấm (stipe), và mặt dưới của mũ nấm có nhiều phiến nấm (gill) Khi cuống nấm và mũ nấm chưa xòe rộng, quả nấm được gọi là nụ nấm (button) Ở nấm đảm, phiến nấm có thể chứa nang nối liền hoặc thể nang tự tiêu, có đảm (basidium) và bào tử đảm (basidiospore) Một số loài nấm đảm không có phiến nấm mà có ống nấm chứa cystidia, đảm và bào tử đảm Đảm là tế bào phình to của sợi nấm song nhân tại phiến nấm, trong đó nhân tiến hành phối nhân để tạo hợp tử 2n, sau đó phân cắt giảm nhiễm để hình thành 4 nhân đơn bội (1n), phát triển thành 4 bào tử đảm.

Nấm và vai trò trong hệ sinh thái

Các loại hình dinh dưỡng của nấm ăn và dược liệu đóng vai trò quan trọng trong các vòng tuần hoàn vật chất tự nhiên Nấm ăn được phân loại dựa vào phương thức hấp thu thức ăn thành ba loại: hoại sinh, ký sinh và cộng sinh, trong đó nấm hoại sinh chiếm ưu thế và góp phần vào các vòng tuần hoàn carbon và nitơ Chúng chỉ có thể sinh trưởng trong những môi trường sống xác định như rừng, đồng ruộng, đồng cỏ và các môi trường khác, và việc hiểu rõ các loại hình sinh thái này sẽ giúp thuần hoá và nuôi cấy nấm hoang dại Môi trường sinh thái ảnh hưởng rõ rệt đến sự phân bố của nấm, với mối quan hệ mật thiết đến các yếu tố như vĩ độ địa lý, độ cao, loại thực bì và độ phì nhiêu của đất Ở độ cao trên 2000 m, số lượng và chủng loại nấm rất hạn chế, trong khi dưới 2000 m, sự phong phú về loài và số lượng cá thể cao hơn Quan hệ giữa nấm ăn và các nhóm sinh vật khác trong hệ sinh thái rất phức tạp, đặc biệt là giữa nấm ăn, nấm dược liệu và các vi sinh vật khác.

Quan hệ trung tính (neutralism) có vẻ không có mối liên hệ trực tiếp, nhưng thực tế lại tồn tại nhiều mối quan hệ phức tạp, chẳng hạn như trong chuỗi thức ăn Trong chuỗi thức ăn, xác của một loại vi sinh vật hoặc sản phẩm phân giải của cơ chất trở thành thức ăn cho một loại vi sinh vật khác Quá trình phân giải lá rụng trong rừng sâu phụ thuộc vào sự tác động liên tục của nấm sợi, vi khuẩn và nấm bậc cao Sự hình thành quả thể của một số loại nấm, như nấm mỡ (Agaricus spp.), là kết quả của sự tương tác giữa sợi nấm mỡ và vi sinh vật trong lớp đất phủ.

Trong môi trường đất, nấm có thể gặp phải sự cạnh tranh từ các nhóm vi sinh vật khác về không gian sống, nguồn thức ăn và khả năng sản sinh chất kháng sinh Sự cạnh tranh này ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh trưởng của nấm, đồng thời tác động đến hệ sinh thái đất.

Quan hệ ký sinh giữa các loài nấm có thể gây hại cho cây trồng và cây rừng, như nấm đầu khỉ và nấm linh chi Ngoài ra, một số nấm sợi cũng ký sinh trên các loại nấm khác như nấm mỡ, nấm hương và nấm sò, dẫn đến tác động tiêu cực đối với hệ sinh thái.

Quan hệ cộng thê (commensation) là sự tương tác giữa hai loài có khả năng sống độc lập nhưng lại cùng tồn tại trong một môi trường Trong mối quan hệ này, một loài có thể có ảnh hưởng tích cực hoặc không ảnh hưởng gì đến loài kia, nhưng điều quan trọng là không gây hại cho nhau.

Quan hệ cộng sinh là sự tương tác giữa hai loài không thể sống độc lập, trong đó cả hai bên đều hưởng lợi Một ví dụ điển hình là mối quan hệ giữa khuẩn căn và thực vật, trong đó khuẩn căn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của cây rừng Việc chủ động nhiễm khuẩn căn mang lại lợi ích tích cực cho cây chủ Sự phát triển của nấm ăn chịu ảnh hưởng của các yếu tố vật lý và hóa học như nhiệt độ, độ ẩm, độ chiếu sáng và mức độ thông khí Mỗi loại nấm ăn có phạm vi thích ứng riêng với từng yếu tố, bao gồm giới hạn tối thiểu, tối đa và mức tối ưu Dựa trên nhiệt độ thích hợp cho sự hình thành quả nấm, nấm ăn và nấm dược liệu được phân loại thành ba nhóm: loại ưa nóng, loại ưa ấm và loại ưa lạnh, tương tự cũng có thể áp dụng cho các yếu tố khác như độ ẩm, độ pH và độ chiếu sáng.

Công dụng của nấm Linh chi

Tính chất và tác dụng của nấm Linh chi theo Thần nông bản thảo và Bản thảo cương mục như sau:

Thanh chi tính bình, không độc chủ trị sáng mắt, bổ can khí, an thần, tăng trí nhớ, cường khí, chữa viêm gan cấp và mãn tính

Hổng chi (xích chi, đơn chi) vịđắng, tính bình, không độc, tăng trí nhớ, chữa các bệnh về huyết và thần kinh, tim

Hoàng chi (kim chi) vị ngọt, tính bình, không độc, chủ trì bí tiểu tiện, sỏi thận, bệnh ởcơ quan bài tiết

Bạch chi (ngọc chi) vịcay, tính bình, không độc, chủ trì hen, ích phế khí

Nấm Linh Chi (Tử chi) có vị ngọt, tính ôn, không độc, giúp giảm đau nhức khớp xương và gân cốt Nó cung cấp vitamin, khoáng chất và protein cần thiết, tăng cường hệ miễn dịch và kháng siêu vi, giúp cơ thể luôn tươi trẻ và kéo dài tuổi thọ Nấm Linh Chi còn kích thích sản xuất interferon, nâng cao hoạt tính của đại thực bào và lympho bào trong điều trị viêm gan siêu vi, đồng thời hỗ trợ thải độc, bao gồm kim loại nặng và chống lại tia chiếu xạ Đối với hệ tuần hoàn, Linh Chi giúp chống nhiễm mỡ, xơ mạch, loại bỏ cholesterol trong máu, hỗ trợ tim, lọc sạch máu, hạ huyết áp và mỡ trong máu, đồng thời giảm nguy cơ huyết khối và tắc mạch máu.

-Linh chi có thể làm tăng lượng lipoprotein mật độ cao trong máu, từ đó dần dần chuyển hóa, hòa tan và đào thải cholesterol mật độ thấp

Nấm linh chi có khả năng nâng cao khả năng hòa tan trong máu, ngăn ngừa huyết khối và tắc mạch Đối với hệ thần kinh, nấm giúp an thần, giảm đau đầu, mất ngủ và stress, đồng thời có tác dụng kháng viêm, hỗ trợ phục hồi trí nhớ Trong việc bảo vệ gan, nấm linh chi chứa steroid giúp thải độc và điều trị các bệnh gan mật như xơ gan và viêm gan Nó cũng nâng cao khả năng miễn dịch, hỗ trợ tái sinh tế bào gan Về tác dụng chống ung thư, nấm linh chi ức chế sự phát triển và lây lan của tế bào ung thư, đồng thời làm giảm tác dụng phụ của thuốc tây Đối với bệnh u bướu, nấm giúp cải thiện triệu chứng, phục hồi chức năng miễn dịch và kéo dài tuổi thọ Trong lĩnh vực làm đẹp, nấm linh chi làm chậm quá trình lão hóa, làm mờ nám và hỗ trợ giảm cân bằng cách tăng cường cung cấp oxy cho cơ thể.

Cách phân l ậ p gi ố ng n ấ m t ừ th ể qu ả

2.1.4.1 Nguyên tắc chung khi thu thập thể quả nấm

Khi thu nhận nấm, nguyên tắc quan trọng đầu tiên là phải thu toàn bộ cây nấm, không chỉ một phần, vì thiếu đi bộ phận nào có thể làm mất những đặc điểm quan trọng để xác định loại nấm Ngoài ra, cần đào nấm lên thay vì kéo để tránh làm đứt thân nấm.

Nguyên tắc 2: Sau khi thu hoạch nấm, hãy gói nấm bằng giấy sáp hoặc giấy bạc, tránh sử dụng giấy bóng và túi nilon vì chúng không cho phép thoát hơi nước, dễ dẫn đến thối hỏng Giấy sáp giữ lại lượng hơi nước phù hợp, giúp nấm tươi và không bị nhũn Gói nấm trong một mảnh giấy sáp và cuộn tròn thành hình trụ, xoắn hai đầu lại Không nên gói nhiều loại nấm trong cùng một cuộn giấy, đặc biệt khi không xác định được loại nấm, mỗi loại cần được gói riêng biệt.

Nguyên tắc 3: Trong quá trình vận chuyển nấm nên sử dụng các loại rổ nông sao cho nấm được đứng thẳng

Nguyên tắc 4: Khi thu thập nấm, cần tránh thu các loại côn trùng, hạt hay cây bị thối rữa Nhiều người thường nhầm lẫn và thu tất cả vào túi bóng, dẫn đến việc chứa cả những thứ không phải nấm.

Nguyên tắc 5: Ghi chú các thông số về kích thước, hình dạng, màu sắc, mùi vị và đặc điểm của nấm vào thời điểm thu hoạch là rất quan trọng Nhiều loại nấm khi khô hoặc thối nhũn sẽ có hình dáng khác biệt so với trạng thái bình thường.

Nguyên tắc 6 trong việc làm tiêu bản bào tử nấm nhấn mạnh tầm quan trọng của màu sắc bào tử trong việc xác định các loại nấm Để quan sát bào tử nhỏ, cần sử dụng kính hiển vi hoặc cắt mũ nấm để thu thập bào tử, sau đó đặt chúng lên tiêu bản Phần chứa bào tử phải tiếp xúc với giấy trắng sạch để tránh nhầm lẫn màu sắc Tuy nhiên, bào tử màu trắng khó quan sát trên giấy trắng, nhưng có thể phát hiện bằng kỹ thuật cấy ria Một số loại nấm độc có bào tử khó phát hiện và cần thời gian dài để giải phóng bào tử, do đó cần kiên nhẫn trong quá trình này.

Nguyên tắc 7 trong nghiên cứu nấm là nghiên cứu kỹ hình dạng để mô tả thể quả Điều này bao gồm việc tìm kiếm các điểm tương đồng giữa mẫu nấm thu được và các loại nấm đã được nghiên cứu trước đó.

Nguyên tắc 8: Khi phát hiện một nhóm nấm tương tự với mẫu nấm đang xem xét, hãy sử dụng que cấy nhọn để phân tách các mẫu Sau đó, mô tả ngắn gọn những đặc điểm chính nhằm thu hẹp phạm vi xác định loài, thực hiện trên đĩa thủy tinh hoặc dụng cụ phù hợp.

Nguyên tắc 9: Cần mô tả chi tiết hơn để xác nhận giả thuyết về loài của mình, đồng thời kiểm tra thông tin với các loài tương tự để đảm bảo tính chính xác.

Nguyên tắc 10: Trước khi tiêu thụ nấm hoang dã, cần kiểm tra giá trị thực phẩm để xác định xem đó có phải là nấm ăn hay không Nhiều người có thể nhạy cảm với độc tố của nấm, vì vậy việc đảm bảo an toàn là rất quan trọng Không bao giờ nên ăn nấm hoang dã nếu chưa qua chế biến và kiểm tra các cảnh báo về độ an toàn.

2.1.4.2 Phương pháp phân lập nấm truyền thống

Phương pháp phân lập từ bảo tử

Cắt mũ nấm sắp chín và gắn vào dây thép, đặt trong hộp chứa 3-5ml nước vô trùng, sau đó đậy chuông thuỷ tinh lên trên Để 1-2 ngày cho bào tử rơi vào nước, sau đó dùng que cấy để tách bào tử ra trên thạch đĩa Giữ ở nhiệt độ 20-25°C cho đến khi bào tử phát triển thành khuẩn lạc, rồi dùng que cấy cắm sang thạch nghiêng Có thể sử dụng mộc nhĩ, ngân nhĩ hoặc nấm sò gắn vào dây thép, đặt trong bình tam giác chứa nước vô trùng để thu thập bào tử Một phương pháp khác là dùng cuống dây thép qua cuống phễu kín, úp phễu lên khay có nước vô trùng bên dưới Bào tử sẽ rơi vào nước và có thể cấy gạt như trên Ngoài ra, cắt một mẩu tổ chức từ mũ nấm bằng dao vô trùng và cấy vào hộp lồng hay ống nghiệm thạch nghiêng Khi thấy sợi nấm mọc, cấy sang ống thạch nghiêng khác Cắt các đoạn gỗ có mộc nhĩ hay ngân nhĩ, khử trùng bằng dung dịch HgCl 0,1%, rồi cấy vào thạch đĩa hoặc thạch nghiêng Khi có sợi nấm mọc, cấy ngay sang ống thạch nghiêng khác và tiếp tục cấy sau 5-7 ngày.

Phương pháp nuôi cấy mô

Quả thể nấm Linh chi có thể cung cấp các mảnh mô để nuôi cấy và thu nhận hệ sợi tinh sạch Quy trình bắt đầu bằng việc rửa sạch và khử trùng quả thể nấm bằng cồn 70% trong 1-4 phút, sau đó tách một phần mũ nấm kích thước 2x2 mm để cấy vào môi trường phân lập giống Khi sợi nấm gốc phát triển và bao phủ môi trường, giống gốc sẽ được chuyển sang môi trường nhân giống cấp 1 Phương pháp này dễ thực hiện, không gây biến dị di truyền và đảm bảo chất lượng ổn định.

Các ngu ồ n cacbon, nito, vitamin

Nấm Linh chi có khả năng sản sinh enzyme phân giải các hợp chất như xenlulo, lignin, hemixenlulo, tinh bột và pectin thành đường đơn, từ đó cung cấp nguồn dinh dưỡng cho sự phát triển Mùn cưa từ các loại gỗ tạp hoặc khúc gỗ thường được sử dụng để nuôi trồng Linh chi chứa khoảng 40% xenlulô và 24% lignin, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình này.

Trong quá trình nuôi trồng Linh chi trên mùn cưa, cần sử dụng 20% pentozan và 1% metil pentozan Việc bổ sung đường mía có thể thực hiện, nhưng không nên vượt quá nồng độ 5%, vì nồng độ đường cao sẽ ức chế sự phát triển của hệ sợi nấm Tốt nhất là chỉ nên sử dụng nồng độ đường khoảng 1-2% để đảm bảo sự phát triển tối ưu của nấm.

Linh chi có khả năng hấp thụ nitơ không chỉ từ các nguồn hữu cơ như pepton và axit amin mà còn từ các hợp chất vô cơ như canxi nitrat, urê, ammonium sulfat, ammonium clorua và diammonium phosphate, thường được sử dụng trong nông nghiệp Khi nuôi cấy trên mùn cưa, lượng urê nên hạn chế dưới 0,5% để đạt hiệu quả tốt nhất Ammonium sulfat thường có hiệu quả đồng hóa thấp và ít được ưa chuộng, trong khi canxi nitrat 0,1% được khuyến nghị sử dụng nếu có điều kiện.

Nguồn vitamin: Linh chi cần có vitamin để phát triến hệ sợi nấm, nhất là vitamin B1, vitamin B6 và vitamin H (B7)

Để phát triển hệ sợi nấm, ngoài các nguồn dinh dưỡng chính, cần cung cấp thêm canxi (Ca), magiê (Mg), lân (P) và kali (K), cùng với một lượng nhỏ vi lượng sắt (Fe) Khi nuôi trồng Linh chi trên mùn cưa, thường thêm bột nhẹ (CaCO3) hoặc thạch cao (CaSO4.2H2O), và đôi khi bổ sung một ít KH2PO4 để tăng cường P và K.

Các điề u ki ệ n thích h ợ p nuôi c ấ y n ấ m Linh chi

Điều kiện nuôi cấy nấm gồm nhiệt độ tối ưu từ 20-35°C cho sự phát triển sợi nấm và 25-30°C cho quá trình ra thể quả Độ ẩm trong cơ chất cần duy trì ở mức 55-60%, trong khi độ ẩm không khí lý tưởng là 90-95% pH phù hợp nhất cho sự phát triển của nấm nằm trong khoảng 4,5-6,0, và nồng độ CO2 trong không khí không được vượt quá 0,1% Mặc dù sợi nấm không cần ánh sáng để phát triển, nhưng khi hình thành thể quả, chúng lại cần ánh sáng tán xạ.

Các hình thức nuôi trồng

Nuôi trồng trong túi màng mỏng (túi nilon) được thực hiện bằng cách ủ mùn cưa vào các túi PP Trước khi cho nguyên liệu vào, túi cần được lộn ngược và tạo hình tròn ở đáy Nguyên liệu được nén chặt để tạo thành khối hình trụ với bề mặt phẳng, chiếm 2/3 chiều cao túi Sử dụng một cán gỗ có đầu hình nón để tạo ra một "giếng" rỗng ở giữa khối nguyên liệu Mỗi túi chứa khoảng 1,1-1,2 kg nguyên liệu và được hấp bằng hơi nước sôi trong 3 giờ Sau đó, để nguội trong 30 giờ nhằm cho phép các bào tử tạp khuẩn chưa bị diệt có cơ hội nảy mầm, rồi tiếp tục hấp thêm 3 giờ nữa Phương pháp này, gọi là diệt khuẩn kiểu Tyndall, giúp tiêu diệt hoàn toàn tạp khuẩn, kể cả bào tử, mặc dù nhiệt độ trong nồi hấp chỉ khoảng 85-100 độ C.

Nồi hấp cần có chỗ cắm nhiệt kế để theo dõi nhiệt độ trong quá trình diệt khuẩn Sau khi hấp xong, cần đợi nồi nguội hẳn trong 20-30 giờ trước khi đưa vào phòng cấy giống Nếu lấy ra sớm khi màng mỏng còn mềm, sẽ dễ làm rách các túi.

Nuôi trồng trên gỗ tươi yêu cầu cắt các cành gỗ thành khúc dài khoảng 1,0 đến 1,2m và loại bỏ các cành bên Để giảm lượng nước trong gỗ xuống còn 45-50%, cần xếp các khúc gỗ thành cũi hình vuông hoặc tam giác và phơi khô trong 10-15 ngày, đảo các khúc gỗ thường xuyên Khi gỗ đã đạt độ ẩm mong muốn, tiến hành đục lỗ bằng búa chuyên dụng và lấy giống cấp 2 từ chai ra, rửa tay và khử trùng bằng cồn 75% Sau đó, nhét giống vào từng lỗ và dùng các nút gỗ đã đục để bịt lại, đồng thời phết một lớp xi măng loãng lên bề mặt để ngăn ngừa tạp khuẩn Cần thực hiện cấy ngay sau khi đục lỗ và không để qua đêm Sau khi cấy xong, xếp gỗ thành hình cũi hoặc nơm, giữ khoảng cách 2-3cm giữa các khúc, và phủ kín bằng bao tải sạch hoặc chăn ẩm.

Nấm Linh chi chất lượng cao thường được trồng bằng phương pháp khai thác gỗ tự nhiên, với thời gian nuôi cấy khoảng 85 ngày Những khúc gỗ được cấy nấm sẽ được đặt trong nhà kính và chôn dưới đất giàu dinh dưỡng trong 5 tháng Trong giai đoạn này, nấm hấp thụ hầu hết chất dinh dưỡng từ đất, đòi hỏi đầu tư cho nhà ươm, nhà lưới và hệ thống giữ ẩm.

Tình hình nghiên c ứ u n ấ m trên th ế gi ới và trong nướ c

Tình hình nghiên c ứ u trên th ế gi ớ i

Nấm Linh chi có khả năng nâng cao hệ miễn dịch và mang lại lợi ích cho hệ thần kinh, tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, đồng thời giúp kéo dài tuổi thọ Các nghiên cứu tại Trung Quốc từ thời Hán cho thấy nấm Linh chi có tác dụng tích cực trong điều trị nhiều bệnh phức tạp như bệnh tim, viêm phế quản mãn tính, thừa cholesterol, bệnh gan, cao huyết áp và suy nhược thần kinh Hiện nay, nhiều chuyên gia nhận định rằng nấm Linh chi có tiềm năng hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường, đau nửa đầu, đau mật và có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ điều trị ung thư.

Nấm Linh chi đã được nghiên cứu rộng rãi về các chất có dược tính tại nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới Năm 2013, nhóm tác giả Chi H.J Kao và cộng sự từ đại học Auckland, New Zealand đã công bố những phát hiện quan trọng về triterpenes và polysaccharides chiết xuất từ nấm Linh chi, cùng với năm cơ chế hoạt động của các chất này liên quan đến điều trị ung thư Những nghiên cứu này mở ra hướng phát triển chất chống ung thư từ nấm Linh chi và các nguồn dược liệu tự nhiên khác.

Năm 2016, Ahmet Unlu và các cộng sự tại Đại học Akdeniz, Khoa Y Dược, Thổ Nhĩ Kỳ đã tiến hành nghiên cứu ứng dụng y dược học để kiểm chứng thông tin về nấm Linh chi, được xem như "thần dược" trong tài liệu cổ của Trung Quốc Nhóm nghiên cứu đồng ý rằng nấm Linh chi có tiềm năng hỗ trợ trong quá trình điều trị ung thư.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc sử dụng nấm Linh chi phải tuân thủ nghiêm ngặt cho đến khi các đặc tính của các hoạt chất sinh học trong dịch chiết nấm này được làm rõ hoàn toàn.

Linh chi, với nhiều giá trị trong Y dược học, đang trở thành sản phẩm có giá thành cao và được ưa chuộng trên toàn thế giới Việc nuôi trồng và khai thác nấm này đã trở thành nguồn thu nhập cho nhiều hộ sản xuất tại các quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan Sản phẩm Linh chi ngày càng đa dạng, bao gồm trà Linh chi, thể quả khô, tươi và bột viên nang Nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, cùng với các nghiên cứu khoa học và thông tin dư luận, đặc biệt ở các nước Châu Á, đang thúc đẩy Linh chi trở thành mặt hàng kinh tế được chú ý và khai thác quy mô lớn.

Tình hình nghiên c ứu trong nướ c

Sự phát triển của công nghệ sinh học nông nghiệp và công nghệ thực phẩm tại Việt Nam đang thúc đẩy quy trình nuôi cấy nấm ăn và nấm dược liệu Từ các thể quả nấm, nhiều sản phẩm giàu dinh dưỡng và thực phẩm chức năng đã được nghiên cứu và phát triển, góp phần nâng cao giá trị dinh dưỡng và sức khỏe cộng đồng.

Năm 2003, tác giả Nguyễn Lân Dũng từ Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã giới thiệu phương pháp nuôi trồng nấm Linh chi bằng nguyên liệu giá rẻ như mùn cưa và cám gạo, chuyển đổi từ thiết bị hiện đại sang lò hấp thủ công phù hợp với người dân Viện Di Truyền Nông Nghiệp Việt Nam đã phát triển và cung cấp giống nấm Linh chi cho nhiều địa phương Các phương pháp nuôi cấy nấm tại Việt Nam đã đạt được sự thống nhất từ sản xuất giống đến chăm sóc và tạo thể quả, mang lại kết quả đáng ghi nhận Năm 2018, Khoa Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, công bố quy trình nhân giống nấm từ nuôi cấy mô trên tăm bông, rút ngắn thời gian nhân giống từ 25-30 ngày xuống còn 14-15 ngày, giảm tỉ lệ hỏng giống Phương pháp này đã thành công với nấm Dai (Lentinus tigrinus) và đang được thử nghiệm trên nhiều loại nấm khác, bao gồm nấm Linh chi.

Quá trình trồng nấm Linh chi tại Việt Nam vẫn chưa phổ biến rộng rãi, đặc biệt trong cộng đồng lao động Mặc dù các cơ quan nghiên cứu đã cố gắng đơn giản hóa quy trình nuôi trồng để các hộ gia đình có thể tự sản xuất, nhưng chủ yếu chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ Giá thành sản phẩm nấm Linh chi trên thị trường hiện nay vẫn còn cao, gây khó khăn cho nhiều người dân tiếp cận Do đó, cần phát triển các mô hình sản xuất với kỹ thuật cải tiến, nhằm chuyển giao kiến thức từ nghiên cứu đến thực tiễn, đồng thời thúc đẩy việc truyền bá thông tin và giới thiệu sản phẩm đến cộng đồng.

Đối tượ ng nghiên c ứ u và ph ạ m vi nghiên c ứ u

- Đối tượng nghiên cứu: Nấm Linh Chi

- Địa điểm: Khoa CNSH-CNTP, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

N ộ i dung nghiên c ứ u

- Nội dung 1: Phân lập giống nấm Linh chi

- Nội dung 2: Sản xuất meo nấm

- Nội dung 3: Sản xuất thể quả nấm Linh chi

Phương pháp nghiên cứ u

N ộ i dung 1: Phân l ậ p gi ố ng n ấ m Linh chi

Thí nghi ệm 1: Đánh giá ảnh hưở ng c ủ a các lo ại môi trườ ng nuôi c ấ y khác nhau t ớ i kh ả năng phát triể n c ủ a m ả nh mô th ể qu ả n ấ m Linh chi

Thí nghiệm được thực hiện trên ba loại môi trường khác nhau: môi trường PDA (Potato dextrose agar), môi trường YEPD (Yeast extract peptone dextrose) và môi trường PDA trên tăm bông Cách chuẩn bị các môi trường này được thực hiện theo quy trình cụ thể.

Môi trường PDA (Potato dextrose agar): Khoai tây: 200g/l, đường:

Để tiến hành nuôi cấy mô, chuẩn bị môi trường với nồng độ 20g/l và agar 15g/l, hấp khử trùng ở 121°C trong 30 phút với áp suất 1atm Trước khi đưa quả thể tươi vào hộp cấy, cần xịt cồn 70°C lên bề mặt để khử trùng Dao và kẹp cũng cần được tiệt trùng bằng lửa cho đến khi đỏ, sau đó để nguội Tiếp theo, dùng tay xé đôi quả thể và cắt lấy mảnh mô lõi kích thước khoảng 0,5-1cm² Cấy mảnh mô vào môi trường đã chuẩn bị và bọc kín bằng túi nilon vô trùng Cuối cùng, nuôi cấy trong điều kiện không ánh sáng ở nhiệt độ 20-30°C.

Để chuẩn bị môi trường PDA lỏng cho tăm bông, cần sử dụng 200g khoai tây và 20g đường cho mỗi lít nước Chọn tăm bông loại thân gỗ và ngâm trong môi trường này trong 5 phút Sau đó, chuyển tăm bông vào túi nilon hoặc chai thủy tinh và hấp khử trùng ở 121°C trong 30 phút với áp suất 1 atm Trước khi cho vào hộp cấy, cần xịt cồn 70°C lên quả thể tươi Cuối cùng, hơ dao và kẹp trên ngọn lửa đèn cồn và để nguội trước khi sử dụng.

Để tiến hành cấy mô, hãy dùng tay xé đôi quả thể và sử dụng dao để cắt lấy mảnh mô lõi có kích thước khoảng 0,5-1cm² Sau đó, cấy mảnh mô vào môi trường đã chuẩn bị và nuôi cấy trong điều kiện không có ánh sáng, ở nhiệt độ từ 20-30°C.

Môi trường YEPD (Yeast extract peptone dextrose) được chuẩn bị với thành phần gồm 20g/l đường, 20g/l agar, 5g/l peptone và 3g/l cao nấm men, sau đó hấp khử trùng ở 121°C trong 30 phút dưới áp suất 1 atm Quả thể tươi cần được xịt cồn 70°C trước khi đưa vào hộp cấy Dao và kẹp phải được hơ trên ngọn lửa đèn cồn và để nguội Sau đó, dùng tay xé đôi thể quả và cắt lấy mảnh mô lõi có kích thước khoảng 0,5-1cm² để cấy vào môi trường đã chuẩn bị Cuối cùng, nuôi cấy trong điều kiện không có ánh sáng ở nhiệt độ 20-30°C.

Thí nghi ệm 2: Đánh giá ảnh hưở ng c ủ a n ồng độ mu ối ăn (NaCl) t ớ i kh ả năng phát triể n c ủ a m ốc xanh trên môi trườ ng phân l ậ p n ấ m Linh chi

Mốc xanh là vi sinh vật lây nhiễm phổ biến trong nuôi trồng nấm Linh chi Để hạn chế sự lây nhiễm, môi trường YEPD được bổ sung NaCl với nồng độ từ 1% đến 5%, sau đó hấp khử trùng ở 121°C trong 30 phút Mẫu nấm mốc xanh được thu nhận từ bịch nấm lây nhiễm và cấy lên môi trường Sau 3-5 ngày nuôi cấy trong điều kiện thường, khả năng phát triển của nấm mốc xanh được đánh giá.

Thí nghi ệm 3: Đánh giá ảnh hưở ng c ủ a n ồng độ mu ối ăn (NaCl) t ớ i kh ả năng ph át tri ể n c ủ a s ợ i n ấ m Linh chi

Muối ăn được kỳ vọng có khả năng ức chế một số vi sinh vật gây nhiễm, nhưng cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm Linh chi Để nghiên cứu tác động của nồng độ NaCl, môi trường YEPD được bổ sung NaCl với các nồng độ 1%, 2%, 3%, 4% và 5% Mẫu môi trường được hấp khử trùng ở nhiệt độ 121°C trong 30 phút tại áp suất 1 atm Một mảnh thạch có sợi nấm kích thước khoảng 0,5-1cm² được cấy vào môi trường và nuôi cấy trong điều kiện không ánh sáng ở nhiệt độ 20-30°C.

N ộ i dung 2: S ả n xu ấ t meo n ấ m

Thí nghi ệm 1: Đánh giá ảnh hưở ng c ủ a lo ại cơ chấ t t ớ i kh ả năng sinh trưở ng c ủ a n ấ m Linh chi

Thí nghiệm được tiến hành trên 3 loại cơ chất khác nhau gồm hỗn hợp thóc và CaCO3, hỗn hợp mùn cưa và cám, hỗn hợp thóc và mùn cưa.

Để sản xuất meo nấm từ hỗn hợp thóc và bột CaCO3, trước tiên cần cân lượng thóc cần dùng, rửa sạch với nước để loại bỏ bụi bẩn và hạt lép Sau đó, ngâm thóc trong nước sạch khoảng 12 tiếng Tiếp theo, cho thóc vào nồi luộc cho đến khi vỏ hạt thóc nứt Cuối cùng, vớt thóc ra và để khô trong 20 - 30 phút để bay hơi bớt hàm lượng nước.

Bổ sung 1% bột CaCO3 vào hỗn hợp, trộn đều và cho vào túi nilon Hấp khử trùng ở 121 độ C trong 3 giờ với áp suất 1atm Tiếp theo, cấy một mảnh thạch chứa sợi nấm từ môi trường agar vào túi thóc Cuối cùng, nuôi cấy trong điều kiện ít ánh sáng, ở nhiệt độ phòng và theo dõi sự phát triển sau mỗi 3 ngày.

Để sản xuất meo nấm, cần chuẩn bị mùn cưa đủ dùng và tưới nước để tạo độ ẩm Sau đó, bổ sung 5% cám gạo, trộn đều và cho vào túi nilon Tiến hành hấp khử trùng ở nhiệt độ 121°C trong 3 giờ với áp suất 1atm Tiếp theo, cấy một mảnh thạch chứa sợi nấm từ môi trường agar vào túi thóc Cuối cùng, nuôi cấy trong điều kiện ít ánh sáng, ở nhiệt độ phòng và theo dõi sự phát triển sau mỗi 3 ngày.

Sản xuất meo nấm từ hỗn hợp thóc và mùn cưa bao gồm các bước quan trọng như: rửa sạch thóc để loại bỏ bụi bẩn và hạt lép, ngâm thóc trong nước sạch khoảng 3 giờ, và luộc thóc đến khi vỏ hạt nứt Sau khi vớt ra, để thóc khô trong 20 - 30 phút, rồi bổ sung 10% mùn cưa và trộn đều Hỗn hợp này sau đó được cho vào túi nilon và hấp khử trùng ở 121 độ C trong 3 giờ với áp suất 1atm Cuối cùng, cấy một mảnh thạch chứa sợi nấm từ môi trường agar vào túi thóc và nuôi cấy trong điều kiện ít ánh sáng, ở nhiệt độ phòng, kiểm tra định kỳ sau mỗi 3 ngày.

Thí nghi ệm 2: Đánh giá ảnh hưở ng c ủ a lo ạ i gi ố ng c ấ y

Chuẩn bị hỗn hợp thóc bổ sung 10% mùn cưa, trộn đều, hấp khử trùng

Nghiên cứu được thực hiện bằng cách nuôi cấy nấm ở nhiệt độ 121 độ C trong 3 giờ tại áp suất 1 atm Hai loại giống nấm được sử dụng, bao gồm giống nấm trên môi trường agar và giống nấm mọc trên tăm bông, được cấy vào túi cơ chất Quá trình nuôi cấy diễn ra trong điều kiện ít ánh sáng, ở nhiệt độ phòng, và được theo dõi định kỳ 3 ngày.

Thí nghi ệm 3: Đánh giá ảnh hưở ng c ủ a t ỉ l ệ mùn cưa phố i tr ộ n v ới cơ ch ấ t thóc trong s ả n xu ấ t meo n ấ m

Để chuẩn bị thóc, trước tiên cần cân lượng thóc cần dùng và rửa sạch với nước để loại bỏ bụi bẩn và hạt lép Sau đó, ngâm thóc trong nước sạch khoảng 3 giờ Tiếp theo, cho thóc vào nồi luộc cho đến khi vỏ hạt nứt, sau đó vớt ra để khô trong 20 - 30 phút nhằm giảm độ ẩm Tiến hành bổ sung mùn cưa theo tỷ lệ 0%, 5%, 10%, 15% và 20%, trộn đều hỗn hợp Cuối cùng, cho hỗn hợp thóc và mùn cưa vào túi nilon vừa đủ, hấp khử trùng ở nhiệt độ 121°C trong 3 giờ dưới áp suất 1atm, sau đó hơ kẹp trên ngọn lửa đèn cồn và để nguội.

Cấy 2 tăm bông đã nuôi cấy hệ sợi vào 2 mặt đối diện của túi thóc, sau đó buộc miệng túi lại Tiến hành nuôi cấy trong điều kiện ánh sáng yếu để đảm bảo sự phát triển tối ưu.

Nội dung 3: Sản xuất thể quả nấm linh chi

Thí nghi ệ m 1: S ả n xu ấ t th ể qu ả n ấ m Linh chi s ử d ụ ng l ớp đấ t che ph ủ

Nguyên liệu sản xuất thể quả trong nghiên cứu này bao gồm mùn cưa và thân gỗ keo Các đoạn gỗ keo có đường kính khoảng 10 cm được cắt thành đoạn ngắn 20-30 cm, sau đó ngâm trong nước 12 giờ và hấp khử trùng ở 121°C trong 3 giờ với áp suất 1 atm Giống nấm cấp 2 được cấy với khoảng 2-3 thìa giống cho mỗi bịch nấm, nuôi cấy ở nhiệt độ phòng với ít hoặc không có ánh sáng Khi sợi nấm lan phủ kín cơ chất, túi bóng được loại bỏ và chuyển sang các khay đất ẩm có lỗ thoát nước, để phần đầu khối gỗ keo hở lên mặt đất Quá trình nuôi cấy diễn ra dưới bóng cây, cần tưới nước đầy đủ để tránh làm khô bề mặt đất.

Với cơ chất mùn cưa, phối trộn cám tỉ lệ 5%, hấp khử trùng 121 0 C trong

Cấy giống nấm cấp 2 trong môi trường áp suất 1atm trong 3 giờ với khoảng 2-3 thìa giống cho mỗi bịch nấm Sau khi các bịch mùn cưa đã được phủ đầy sợi nấm, dùng dao rạch các đường dài trên thân bịch và vùi xuống đất Đảm bảo tưới nước thường xuyên cho đến khi nấm hình thành thể quả.

Thí nghi ệ m 2: S ả n xu ấ t th ể qu ả n ấ m Linh chi s ử d ụ ng l ớp đất đượ c tr ộ n v ới mùn cưa che phủ

Để trồng nấm hiệu quả, bạn cần sử dụng bịch mùn cưa đã được sợi nấm bao phủ hoàn toàn Hãy dùng dao rạch các đường dài trên thân bịch, sau đó phối trộn đất với 10% mùn cưa Vùi bịch nấm xuống hỗn hợp này và tưới nước thường xuyên cho đến khi nấm hình thành thể quả.

Thí nghiệm 3: Phương pháp khử trùng Tyndall được áp dụng để tìm kiếm hình thức khử trùng thích hợp cho bịch nấm Các khối gỗ keo có kích thước 20-30cm chiều dài và 15-30mm chiều rộng được ngâm nước qua đêm, sau đó khử trùng 2-3 lần ở nhiệt độ 100°C, mỗi lần cách nhau 24 giờ Giống nấm Linh chi được cấy trên cơ chất thóc và theo dõi sự sinh trưởng, phát triển của sợi nấm.

Thí nghi ệ m 4: Th ử nghi ệm phương pháp cấ y gi ố ng

Các khối gỗ keo có kích thước khoảng 20-30cm chiều dài, 15-30mm chiều rộng, được ngâm nước qua đêm và khử trùng 2-3 lần ở nhiệt độ 100 0 C

Mỗi lần cách nhau 24 giờ Cấy bằng giống nấm trên cơ chất thóc theo hai hình thức:

Hình thức thứ nhất: Cấy sao cho giông nấm phân bốđều ở2 đầu bịch nấm

Hình thức cấy giống thứ hai được thực hiện ở phần miệng túi, với điều kiện nuôi cấy ít ánh sáng và nhiệt độ phòng Cần theo dõi thời gian để sợi nấm lan tỏa và phủ kín bề mặt chất liệu.

Phân l ậ p gi ố ng n ấ m Linh chi

4.1.1 Đánh giá ảnh hưở ng c ủ a các lo ại môi trườ ng nuôi c ấ y khác nhau t ớ i kh ả năng phát triể n c ủ a m ả nh mô th ể qu ả n ấ m Linh chi

Thí nghiệm được thực hiện trên ba loại môi trường khác nhau: môi trường PDA (Potato dextrose agar), môi trường YEPD (Yeast extract peptone dextrose) và môi trường PDA trên tăm bông, với kết quả đáng chú ý.

Sau 2 ngày nuôi cấy trên môi trường PDA, sợi nấm bắt đầu phát triển từ mảnh mô (Hình 2) Đến ngày thứ 10, sợi nấm đã bao phủ hoàn toàn bề mặt đĩa petri với màu trắng đồng nhất, không có sự xuất hiện của mốc xanh hay vàng.

Hình 2 Nuôi cấy mô thể quả nấm Linh chi trên môi trường PDA

Mảnh mô thể quả nấm phát triển hiệu quả trên cơ chất tăm bông, với sự xuất hiện của sợi nấm chỉ sau 2 ngày nuôi cấy (hình 3A) Sau 10 ngày, sợi nấm đã bao phủ toàn bộ khối tăm bông (hình 3B).

A Sau 2 ngày nuôi cấy B Sau 10 ngày nuôi cấy

Hình 3 Nuôi cấy hệ sợi trên tăm bông

Trên môi trường YEPD, sau 2 ngày nuôi cấy, sợi nấm bắt đầu xuất hiện từ mảnh mô Đến ngày thứ 10, sợi nấm đã phát triển và phủ kín bề mặt đĩa petri, với màu trắng đồng nhất, không có sự xuất hiện của mốc xanh hay vàng.

A Sau 4 ngày nuôi cấy B Sau 10 ngày nuôi cấy

Nghiên cứu đã đánh giá ảnh hưởng của nồng độ muối ăn (NaCl) đến sự phát triển của nấm mốc xanh trong môi trường phân lập nấm Linh chi Mẫu nấm mốc xanh được cấy trên môi trường YEPD với các nồng độ NaCl từ 1% đến 5% Kết quả cho thấy nấm mốc xanh phát triển bình thường ở các nồng độ 1%, 2%, 3%, và 4%, không có dấu hiệu bị ức chế Tuy nhiên, ở nồng độ NaCl 5%, sự phát triển của nấm mốc xanh bị chậm lại Điều này cho thấy việc bổ sung NaCl có thể giúp hạn chế sự lây nhiễm của nấm hoang dại.

Các thành phần bổ sung phải không cản trở sự phát triển của nấm Linh chi Trong tương lai, sẽ tiếp tục thử nghiệm với nồng độ NaCl cao hơn.

Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của nồng độ muối ăn (NaCl) đến khả năng phát triển của sợi nấm Linh chi cho thấy, khi nuôi cấy trên môi trường YEPD với các nồng độ NaCl từ 1% đến 5%, sợi nấm phát triển tốt nhất ở nồng độ 1% và 2%, với sự phát triển đồng đều và màu trắng Tuy nhiên, ở nồng độ NaCl 3% và 4%, sự phát triển của sợi nấm giảm dần, và hoàn toàn ngừng phát triển tại nồng độ 5%.

Hình 5 Sự phát triển của sợi nấm Linh chi trên môi trường YEPD bổ sung NaCl

Nồng độ NaCl ảnh hưởng đến sự phát triển của sợi nấm Linh chi, với tỷ lệ tối ưu không vượt quá 3% trong môi trường nuôi cấy Việc sử dụng NaCl nhằm hạn chế sự lây nhiễm cho bịch nấm cần chú ý tránh phun trực tiếp lên vị trí cấy giống, để không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của meo nấm.

S ả n xu ấ t meo n ấ m

4.2.1 Đánh giá ảnh hưở ng c ủ a lo ại cơ chấ t t ớ i kh ả năng sinh trưở ng c ủ a n ấ m Linh chi

Thí nghiệm đã được thực hiện với ba loại cơ chất khác nhau: hỗn hợp thóc và CaCO3, hỗn hợp mùn cưa và cám, cùng với hỗn hợp thóc và mùn cưa Kết quả của thí nghiệm cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các loại hỗn hợp này.

Trên cơ chất thóc, việc phối trộn 1% CaCO3 theo công thức của Nguyễn Lân Dũng và cộng sự cho phép sợi nấm phát triển với màu sắc và hình thái đặc trưng trong 3-4 ngày Tuy nhiên, tốc độ phát triển của nấm chậm lại ở phần giữa túi do độ ẩm cao tại đáy túi, dẫn đến mùi chua và làm thóc bị nát, gây dính sợi nấm Tỉ lệ giống bị hỏng có thể lên tới 100%, nguyên nhân có thể do thóc bị luộc quá nát hoặc quá trình phơi thóc chưa đạt độ ẩm thích hợp, đòi hỏi kinh nghiệm tích lũy lâu dài.

Trên cơ chất mùn cưa bổ sung 5% cám, sợi nấm phát triển mạnh mẽ với màu trắng và mùi thơm nhẹ, bao phủ hơn 80% túi cơ chất sau 40 ngày nuôi cấy, đạt tỉ lệ thành công 100% Phương pháp này cho thấy thời gian sản xuất meo nấm có tỉ lệ thành công cao, nhưng cần cải tiến để rút ngắn thời gian Đối với cơ chất hỗn hợp thóc bổ sung 10% mùn cưa, sợi nấm mọc kín sau 25-30 ngày, phù hợp với phương pháp của Nguyễn Lân Dũng Mùn cưa giúp hút ẩm, giảm nguy cơ hỏng thóc nguyên liệu, là lựa chọn tốt cho những người mới bắt đầu sản xuất meo giống Tuy nhiên, do mùn cưa chứa ít chất dinh dưỡng, cần tối ưu hóa tỉ lệ mùn cưa để đảm bảo chất lượng giống nấm trong tương lai.

A Sợi nấm phát triển trên hỗn hợp mùn cưa, cám sau 40 ngày nuôi cấy

B Sợi nấm phát triển trên hỗn hợp thóc, mùn cưa sau 30 ngày nuôi cấy

Hình 6 Sản xuất meo nấm trên cơ chất

Để đánh giá ảnh hưởng của loại giống cấy, hai loại giống nấm đã được thử nghiệm, bao gồm giống nấm phát triển trên môi trường agar và giống nấm mọc trên tăm bông.

Giống nấm cấy từ môi trường agar có khả năng lan phủ kín túi cơ chất trong 25-30 ngày, trong khi giống cấy bằng tăm bông chỉ mất khoảng 15 ngày để đạt được điều này Việc cấy sợi nấm dọc theo bịch nấm giúp lan phủ cả đáy và miệng túi, từ đó rút ngắn thời gian lan phủ cơ chất Kết quả này cho thấy giống nấm cấy bằng tăm bông sẽ được áp dụng cho các nghiên cứu tiếp theo.

Để đánh giá ảnh hưởng của tỉ lệ mùn cưa phối trộn với cơ chất thóc trong sản xuất meo nấm, các thí nghiệm đã được thực hiện với các tỉ lệ phối trộn thóc và mùn cưa lần lượt là 0%, 5%, 10%, 15% và 20% Kết quả cho thấy sự thay đổi trong hiệu suất sản xuất meo nấm tùy thuộc vào tỉ lệ mùn cưa được sử dụng.

Sau 2-4 ngày nuôi cấy, sợi nấm bắt đầu mọc từ que tăm bông, và sau 15 ngày, sợi nấm đã lan kín bịch thóc Sự phát triển của sợi nấm Linh chi không có sự khác biệt về thời gian lan phủ cơ chất ở 4 tỷ lệ khác nhau Để tối ưu hóa nguồn dinh dưỡng từ thóc và vai trò hút ẩm của mùn cưa, tỷ lệ mùn cưa 5% được chọn để sản xuất meo nấm với giống cấy tăm bông.

Hình 7 Đánh giá ảnh hưởng của tỉ lệ mùn cưa phối trộn với cơ chất thóc trong sản xuất meo nấm

Sản xuất thể quả nấm Linh chi

Để sản xuất thể quả nấm Linh chi, các bịch mùn cưa và thân gỗ keo được cấy giống và nuôi cấy trong khay/túi đất ẩm Sau khoảng 15 ngày, thể quả trên các bịch mùn cưa nhú lên qua lớp đất mỏng, có hình dạng và màu sắc đặc trưng của nấm Linh chi, nhưng kích thước nhỏ do khối lượng cơ chất hạn chế So với bịch nấm không phủ đất, thể quả của bịch nấm có lớp đất phủ có thời gian tăng trưởng dài hơn và kích thước lớn hơn Ở các bịch nấm phủ hỗn hợp đất và mùn cưa, sau 3-4 tuần, mầm thể quả đã nhú lên nhưng chưa tạo thành thể quả hoàn chỉnh do thời gian có giới hạn.

Vì vậy cần tiếp tục theo dõi và đánh giá.

A Sản xuất thể quả khi vùi xuống đất

B.Sản xuất thể quả trên bịch nấm phủđất và không phủđất

Để tìm kiếm phương án khử trùng hiệu quả và đơn giản, phương pháp Tyndall đã được áp dụng cho các bịch mùn cưa gỗ keo Kết quả cho thấy, sau một tuần nuôi cấy, không có sự xuất hiện của các giống nấm mốc xanh và mốc đen Sợi nấm phát triển tốt, chiếm hơn 50% diện tích cơ chất.

Bịch nấm được cấy theo hai hình thức: cấy ở cả hai phía và cấy ở một phía của khối cơ chất Kết quả cho thấy bịch nấm cấy từ hai phía lan phủ nhanh hơn, sau một tuần nuôi cấy đã phủ kín bề mặt cơ chất (Hình 9) Ngược lại, bịch nấm cấy ở diện tích trên miệng túi có tốc độ lan phủ chậm hơn Ở những vị trí không có sợi nấm bao phủ, nấm mốc nhiễm xuất hiện, làm giảm chất lượng của bịch nấm (Hình 10).

Hình 10 Bịch nấm Linh chi cấy ở vị trí miệng túi

Kết quả thử nghiệm cho thấy nấm có thể được nuôi trồng trong điều kiện thiết bị đơn giản với nhiệt độ khoảng 100 độ C Để đạt được hiệu quả tốt nhất, cần áp dụng nhiều kỹ thuật và phương pháp nuôi trồng phù hợp.

K ế t lu ậ n

Giống nấm Linh chi đã được phân lập thành công từ thể quả thông qua phương pháp nuôi cấy mảnh mô Việc nuôi cấy giống nấm này trên tăm bông đã giúp rút ngắn thời gian sản xuất meo nấm từ 25-30 ngày xuống chỉ còn khoảng 14 ngày.

Trong vòng 15 ngày, chúng tôi đã thành công trong việc sản xuất meo nấm trên cơ chất thóc kết hợp với mùn cưa, cũng như trên cơ chất mùn cưa phối trộn với cám Đặc biệt, chúng tôi đã sản xuất thành công thể quả nấm Linh chi bằng cách sử dụng lớp đất che phủ.

Ki ế n ngh ị

Tiếp tục tối ưu hóa quy trình nuôi cấy nấm Linh chi bằng cách sử dụng lớp đất che phủ, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của nồng độ muối đối với sự phát triển của sợi nấm mốc lây nhiễm trong bịch cơ chất nấm Linh chi.

Tách chiết dược chất từ nấm Linh chi nuôi trồng bán tự nhiên được so sánh với các mẫu nấm thu nhận trong môi trường tự nhiên và môi trường lán trại Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả và chất lượng dược chất, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho việc phát triển và ứng dụng nấm Linh chi trong y học và sức khỏe.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Tiếng Việt

1 Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam Nhà xuất bản Y học

2.Nguyễn Lân Dũng (2001), Công nghệ trồng nấm, Tập 1 và 2 Nhà xuất bản

Vi Đại Lâm, Nguyễn Xuân Vũ, Đinh Văn Thiện, Nguyễn Thị Trang, Vũ Đình Hợi và Bùi Thanh Ngọc (2018) đã thực hiện nghiên cứu về việc phân lập và sản xuất thử nghiệm giống nấm da báo tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, kết quả được công bố trên Tạp chí.

4.Ahmet Unlu, Erdinc Nayir, Onder Kirca, Mustafa Ozdogan (2016)

Ganoderma Lucidum (Reishi Mushroom) and Cancer, J BUON, Jul-Aug,

5.Chi H.J Kao, Amalini C Jesuthasan, Karen S Bishop, Marcus P Glucina,

Lynnette R Ferguson (2013), Anticancer activities of Ganoderma lucidum: active ingredients and pathways, Functional Foods in Health and Disease; 3(2):48-65

6.Kent H McKnight ( 1987) Peterson field guides-Mushroom, Library of

Congress cataloging in publication data

7.Wong Shu Sing (2003), Red Reishi, World Health Publishing Inc.

Ngày đăng: 25/07/2021, 06:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w