1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính hiệu quả của kỹ thuật kích hoạt noãn trong thụ tinh ống nghiệm

70 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 875,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng phương pháp hoạt hóa noãn bằng calcium ionomycin trong các trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm sử dụng phương pháp tiêm tinh

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Chuyên ngành Công nghệ sinh học

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS DƯƠNG VĂN CƯỜNG

Thái Nguyên -2020

Trang 4

L ỜI CAM ĐOAN

k ỹ thuật kích hoạt noãn trong thụ tinh ống nghiệm” là trung thực, hoàn toàn

thực hiện tại Khoa Hỗ trợ sinh sản – Bệnh viện A Thái Nguyên Ngoài ra, trong bài báo cáo có sử dụng một số nguồn tài liệu tham khảo đã được trích dẫn rõ ràng

và được phép công bố

Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của các nội dung khác trong đề tài của mình

H ọc viên

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, em đã nhận được

sự giúp đỡ về nhiều mặt của các cấp lãnh đạo, các tập thể và các cá nhân

Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến giáo viên hướng dẫn

PGS.TS Dương Văn Cường đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt

quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

sản cùng các cán bộ, quý đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn

thành đề tài nghiên cứu này

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2020

Học Viên

Trang 6

M ỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ viii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG 1 4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cở sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Th ụ tinh tự nhiên 4

1.1.2 Ti ếp xúc màng trong suốt 4

1.1.3 Ph ản ứng cực đầu 5

1.1.4 Xuyên màng trong suốt 7

1.1.5 S ự hòa nhập tinh trùng và noãn 7

1.1.6 Ho ạt hóa noãn 8

Trang 7

1.2.7 Ph ản ứng vỏ và các cơ chế ngăn chặn đa thụ tinh 10

1.2.8 S ự hình thành và hòa nhập của hai tiền nhân 11

1.2 Thụ tinh trong ống nghiệm 12

1.2.1 K ỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) 12

1.2.2 Ho ạt hóa noãn nhân tạo 16

1.3 Tổng quan kết quả nghiên cứu tại Việt Nam và thế giới 17

CHƯƠNG 2 19

ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 19

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

2.3 Trang thiết bị, dụng cụ, hóa chất nghiên cứu 19

2.3.1 Trang thi ết bị 19

2.3.2 D ụng cụ 19

2.3.3 Hóa chất nghiên cứu 20

2.4 Nội dung nghiên cứu 20

2.5 Phương pháp 20

2.5.1 Phương pháp kích hoạt noãn 20

2.5.2 Các phương pháp đánh giá 20

2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu 25

2.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 25

2.6 Quy trình 26

2.6.1 Chu ẩn bị 26

2.6.2 Th ực hiện 26

CHƯƠNG 3 28

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

3.1 Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp hoạt hóa noãn đến tỉ lệ thụ tinh sau ICSI 28

Trang 8

3.2 Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp hoạt hóa noãn đến chất lượng phôi

hữu dụng ngày 3 30 3.3 Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp hoạt hóa noãn đến tỉ lệ lên phôi ngày 5 và chất lượng phôi ngày 5 34 3.4 Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp hoạt hóa noãn đến tỉ lệ có thai 39

KẾT LUẬN 41 KIẾN NGHỊ 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 9

DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đánh giá tinh dịch theo tiêu chuẩn WHO 2010 21 Bảng 2.2: Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng phôi ngày 3 dựa theo chuẩn đồng thuận của ALPHA 2011 23

thuận ALPHA 2011 24 Bảng 2.4: Xếp loại chất lượng phôi ngày 5 dựa theo chuẩn đồng thuận ALPHA

2011 25

Bảng 3.1: Các trường hợp bất thường tinh trùng trong nghiên cứu 28

Bảng 3.2: So sánh tỉ lệ thụ tinh giữa 2 nhóm noãn điều trị và nhóm đối chứng 29

phương pháp AOA và đối chứng 30

Bảng 3.4: So sánh tỉ lệ lên phôi ngày 5 giữa 2 nhóm nghiên cứu và đối chứng 35

phương pháp AOA và đối chứng 38 Bảng 3.6: So sánh giữa 2 nhóm AOA và đối chứng 39

Trang 11

DANH M ỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Phản ứng cực đầu 6

Hình 1.2: Quá trình hoạt hóa noãn của tinh trùng 9

Hình 1.3: Các đợt tăng Ca2+ sau khi tinh trùng xâm nhập 10

Hình 1.4: Noãn thụ tinh 12

Hình 1.5: Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn 14

Hình 3.1: Sự phát triển của phôi giai đoạn phân chia 32

Hình 3.2 Hình ảnh phôi nang Error! Bookmark not defined. Đồ thị 3.1: Chất lượng phôi nuôi ngày 5 giữa 2 nhóm nghiên cứu và đối chứng 34

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng phương pháp hoạt hóa noãn bằng calcium ionomycin trong các trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm sử dụng phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) do tinh trùng ít, yếu và

dị dạng nặng, tinh trùng từ phẫu thuật thủ thuật

Phương pháp: Nghiên cứu so sánh hai giá trị trung bình Noãn được chia thành

2 nhóm: Nhóm 1 gồm 30 bệnh nhân được thực hiện hỗ trợ hoạt hóa noãn (AOA) bằng calcium ionomycin 10 μM sau khi ICSI và nhóm 2 là nhóm đối chứng (nghiên cứu hồi cứu) không thực hiện AOA sau ICSI Tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ tạo phôi

có chất lượng khá/tốt, tỉ lệ lên phôi ngày 5 và tỉ lệ có thai được so sánh giữa hai nhóm

Kết quả: Nhóm 1 (ICSI + AOA) có 284 noãn từ 30 chu kỳ điều trị ICSI do bất

thường tinh trùng nặng từ tháng 8 /2019 đến tháng 8/2020, nhóm 2 (ICSI) có 1445 noãn từ 176 chu kỳ đã điều trị tại Bệnh viện A Thái Nguyên Có sự gia tăng đáng

kể về tỉ lệ thụ tinh ở nhóm 1 so với nhóm 2 (93% so với 89%, P<0,05), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê

Các tỉ lệ khác có sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm

Kết luận: Phương pháp AOA có thể là tăng tỉ lệ thụ tinh của phương pháp ISCI đối với các trường hợp bất thường tinh trùng nặng

Trang 13

M Ở ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Năm 1978, sự kiện em bé thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên ra đời đánh dấu bước ngoặt trong ngành y học thế giới [44] Đến nay, ước tính đã có hơn 8 triệu

trẻ em ra đời từ IVF, hàng năm trên toàn thế giới có hơn 2 triệu trường hợp IVF

và các kỹ thuật tương đương được thực hiện Ở các nước phát triển, có từ 1-5% trẻ em ra đời từ IVF Người ta ước tính mỗi năm số trường hợp thực hiện IVF trên thế giới tăng khoảng 10%

Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF - Invitro Fertilizaton) ra đời kết hợp với Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI – Intra cytoplasmic Sperm Injection) đã giúp tỉ lệ thành công của IVF tăng đáng kể Đây là một kỹ thuật rất hiệu quả được sử dụng ở các cặp vợ chồng được chẩn đoán có bất thường tinh trùng nghiêm trọng

Mặc dù tỷ lệ thành công cao, thất bại thụ tinh sau ICSI vẫn xảy ra ở 1- 3% các

cặp vợ chồng Tỉ lệ thụ tinh thường dao động trong khoảng 70-80%, trong đó có các chu kì thất bại thụ tinh hoàn toàn Kết quả này có thể do noãn không được hoạt hóa hay bất thường nhiễm sắc thể (NST) của noãn hoặc tinh trùng Sau ICSI, noãn không thụ tinh có thể chứa đầu tinh trùng còn cô đặc, tinh trùng còn nguyên hay bị đẩy ra khỏi noãn, tình trạng này phải chiếm 12% trong tổng số noãn không thụ tinh Ngoài ra khoảng 7% noãn trưởng thành chứa đầu tinh trùng có nhân chưa được giải nén, DNA của tinh trùng hiện diện ở trạng thái NST chưa trưởng thành, còn cô đặc Chỉ có một vài xét nghiệm chẩn đoán hiện có sẵn để đánh giá lý do

thất bại trong thụ tinh ICSI Việc thất bại thụ tinh dẫn đến giảm số lượng hoặc không có phôi để chuyển là một thử thách cho những bệnh nhân thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm

Những tinh trùng bất thường nặng, cụ thể là trường hợp chỉ có vài tinh trùng

có thể cực đầu, dẫn đến trong quá trình di chuyển dễ thất thoát zeta (PLCζ) làm

Trang 14

giảm khả năng hoạt hóa noãn từ đó dẫn đến noãn không thể vượt qua giai đoạn nghỉ trong phân bào, kết quả là thất bại thụ tinh [39] Để giải quyết vấn đề thất bại trong việc hoạt hóa noãn, người ta đã nghiên cứu nhiều phương pháp để khởi phát quá trình hoạt hóa noãn Hoạt hóa noãn (AOA - Assisted oocyte activation) đang ngày càng được áp dụng trong sinh sản có sự trợ giúp của con người để khôi phục

tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ mang thai ở các cặp vợ chồng có tiền sử thất bại trong thụ tinh ICSI [22], [52] Từ cuối những năm 1990 [35], nhiều trung tâm đã thực hiện AOA trong nhóm bệnh nhân hiếm gặp này, cho tỉ lệ của thụ tinh và tỷ lệ mang thai khả quan hơn ở nhiều cặp vợ chồng

Hiện nay, nhiều phương pháp hoạt hóa noãn nhân tạo khác nhau được sử dụng như hoạt hóa bằng dòng điện, vật lý hay hóa học Trong đó, phương pháp phổ biến nhất là hoạt hóa noãn sử dụng chất hóa học, bao gồm calcium ionophores, như ionomycin và calcimycin (A23197), hoặc là tổ hợp protein tổng hợp như 6-dimethylaminopurine (6-DMAP)

Bên cạnh việc thiếu hụt PLCζ dẫn đến không thể hoạt hóa noãn, vẫn còn nhiều nguyên nhân khác dẫn đến giảm tỉ lệ thụ tinh Vì vậy, việc hoạt hóa noãn nhân tạo được cho rằng không phải phù hợp với tất cả trường hợp thất bại thụ tinh, mà

chỉ có hiệu quả với trường hợp tiền sử thất bại thụ tinh do tinh trùng bất thường

nặng không thể hoạt hóa noãn [14], [48]

Sử dụng phương pháp hoạt hóa noãn hiện nay được cho là phương án tối ưu nhất đối với những trường hợp bất thường tinh trùng nặng nhằm cải thiện tỉ lệ thụ tinh sau ICSI Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều bằng chứng khoa học về tính an toàn

và hiệu quả về sử dụng phương pháp hoạt hóa noãn nhân tạo nên kỹ thuật này vẫn chưa thể được coi là một phương pháp điều trị thường quy

Trang 15

2 M ục tiêu nghiên cứu

2.1 M ục tiêu chung

Đánh giá hiệu quả của phương pháp hỗ trợ hoạt hóa noãn bằng hóa học trong thụ tinh ống nghiệm

2.2 M ục tiêu cụ thể

Đánh giá hiệu quả của phương pháp hỗ trợ hoạt hóa noãn bằng ionomycin tới

tỉ lệ thụ tinh, chất lượng phôi ngày 3, tỉ lệ lên phôi ngày 5, chất lượng phôi ngày

5 và tỉ lệ có thai của các trường hợp làm thụ tinh trong ống nghiệm

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trang 16

CHƯƠNG 1

T ỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cở sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Thụ tinh tự nhiên

Sự thụ tinh là hiện tượng kết hợp giữa tinh trùng và noãn để tạo thành hợp tử

có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội Trong invivo, quá trình thụ tinh thường xảy ra ở 1/3 ngoài của vòi trứng Sự thụ tinh diễn ra bên trong ống sinh dục nữ phụ thuộc vào hai cấu trúc: cực đầu của tinh trùng và màng trong suốt của noãn Ba sự kiện chính liên quan đến sự tương tác của tinh trùng và noãn gồm: 1) tinh trùng gắn vào màng trong suốt; 2) tinh trùng xảy ra phản ứng cực đầu, phóng thích các enzyme phân hủy và lộ ra màng cực đầu bên trong; 3) màng tinh trùng tương tác với màng bào tương của noãn và hai màng hòa vào nhau [49]

Để phát triển đầy đủ các đặc điểm cần thiết cho quá trình thụ tinh, sau khi xuất tinh tinh trùng cần di chuyển đến hệ thống ống sinh dục nữ để trải qua các biến đổi về phân tử, sinh hóa và sinh lý [38] Các thay đổi được khởi phát bởi các tín hiệu từ môi trường, sự tương tác của tinh trùng với noãn và các yếu tố ngoại bào

Sự biến đổi của tinh trùng bao gồm biến đổi trong độ di động, hoạt hóa, phản ứng

người, sự thụ tinh có thể chia làm 6 giai đoạn:

- Tiếp xúc giữa tinh trùng và màng trong suốt

- Phản ứng cực đầu

- Hoạt hóa noãn

- Sự hình thành và hòa nhập ở hai tiền nhân

1.1.2 Tiếp xúc màng trong suốt

Sự gắn sơ cấp đầu là tương tác vật lý đầu tiên của các giao tử liên quan đến

nhận diện đặc trưng loài của cấu trúc và phân tử Theo nguyên tắc, một phân tử

Trang 17

trên tinh trùng sẽ nhận diện và gắn với phân tử bổ sung trên vỏ của noãn Cấu trúc chính liên quan đến sự gắn kết giữa các giao tử tương tự ở tinh trùng của các loài khác nhưng có sự khác biệt ở noãn Cơ chế nhận diện giao tử ở động vật có vú dựa trên tương tác protein – carbohydrate giữa tinh trùng và noãn

Màng trong suốt (ZP – Zona pellucida) được cấu tạo chủ yếu bởi các glycoprotein, đây là một cấu trúc đàn hồi được hình thành bởi mạng lưới sợi và

tơ trong đó bao gồm 4 lớp glycoprotein là ZP1, ZP2, ZP3 và ZP4 ZP3 chính là nơi tinh trùng sẽ gắn kết và có nhiệm vụ khởi phát phản ứng cực đầu [25], [24], [58] ZP1, ZP3, ZP4 có vai trò hoạt hóa tinh trùng và khởi phát phản ứng cực đầu Sau khi xảy ra phản ứng cực đầu, ZP2 sẽ thay thế ZP3 tiếp tục giữ cho tinh trùng gắn kết vào, để từ đó tinh trùng dễ dàng chui qua màng trong suốt để vào khoang quanh noãn Trong khi đó, ZP1 chủ yếu là cầu nối để kết nối ZP2 và ZP3

với nhau

Nhiều nghiên cứu cho thấy việc tiếp xúc và gắn kết với ZP3 của tinh trùng có tính đặc hiệu loài, nghĩa là chỉ có tinh trùng và màng trong suốt của noãn cùng loài mới gắn kết được với nhau [43] Như vậy, chức năng đầu tiên rất quan trọng của màng trong suốt, đó là thực hiện vai trò như một rào cản hữu hiệu ngăn chặn

hiện tượng đa thụ tinh

có 2 lớp màng, màng ngoài nằm ngoài ngay dưới màng bào tương và màng trong

áp sát vào màng nhân tinh trùng, nơi chứa thông tin di truyền

Trang 18

Khi tinh trùng vừa gắn với ZP3, phản ứng cực đầu sẽ xảy ra Đây là một phản ứng quan trọng cần thiết cho sự thụ tinh của tinh trùng vì chỉ những tinh trùng nào

đã xảy ra phản ứng cực đầu mới có thể xâm nhập qua màng trong suốt và hòa nhập với màng bào tương noãn Tuy nhiên, để phản ứng cực đầu có thể xảy ra, tinh trùng cần trải qua quá trình hoạt hóa trước đó Đây là quá trình nhằm làm thay đổi cấu trúc và tính bền vững của tế bào tinh trùng và là tiền đề cho phản ứng cực đầu xảy ra Trong in-vitro, hoạt hóa có thể xảy ra trong quá trình chuẩn bị tinh trùng Khi phản ứng cực đầu được khởi phát, màng ngoài của cực đầu sẽ hòa với bào tương của tinh trùng, giúp giải phóng các enzyme bên trong cực đầu Trong

số đó quan trọng nhất là hyaluronidase và acrosin Acrosin được dự trữ dưới dạng

tiền enzyme là pro-acrosin được chuyển hóa sang dạng hoạt động khi được phóng thích nhờ phản ứng cực đầu Cả hai enzyme này đều đóng vai trò quan trọng trong

chúng đóng góp vào việc này chưa được xác định rõ, bởi lẽ mạng lưới của tế bào

hạt chủ yếu chứa carbonhydrate hơn là acid hyaluronic, và các enzyme khác khác của cực đầu như aryl sulphatase có thể cũng có vai trò kết hợp giúp tinh trùng xâm nhập vào noãn Vì vậy, cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định vai trò của các

Hình 1.1 Phản ứng cực đầu [16]

Trang 19

Phản ứng cực đầu xảy ra với sự tham gia của ba thành phần chính là calcium ion (Ca2+), sự hoạt hóa phospholipase và enzyme protein kinase [45] ZP3 ban đầu

sẽ kích hoạt tyrosine kinase (dẫn đến sự gia tăng phosphoryl hóa protein tyrosine)

và sự tự phosphoryl hóa cụ thể G-protein dẫn truyền tính hiệu tương tác với các

enzyme dẫn đến sự gia tăng tín hiệu truyền tin thứ hai là cAMP, inositol triphosphate (IP3) và diacylglycerol Hậu quả của sự gia tăng tín hiệu truyền thứ hai là sự hoạt hóa protein kinase như cAMP-dependent kinase và Ca2+

phospholipid dependent kinase với sự phosphoryl hóa protein IP3 có thể làm tăng

nồng độ Ca2+ nội bào bằng cách phóng thích các Ca2+ từ nguồn dự trữ Ca2+ nội bào Sự gia tăng Ca2+ nội bào là hậu quả của sự kích thích thụ thể ZP3 do dòng nhập vào từ môi trường ngoài, phụ thuộc và sự hoạt hóa protein G, qua kênh Ca2+

và kèm theo sự xâm nhập của ion hydro dẫn đến sự gia tăng pH nội bào Sự gia tăng nồng độ Ca2+cùng với nồng độ pH nội bào dẫn đến phản ứng cực đầu Người

ta thấy rằng phản ứng cực đầu xảy ra trong suốt thời gian nồng độ Ca2+tăng

1.1.4 Xuyên màng trong suốt

Sau khi phản ứng cực đầu xảy ra, tinh trùng vẫn gắn với màng trong suốt tại

vị trí ZP2, tiếp theo tinh trùng sẽ phải xuyên qua màng trong suốt để đến và hòa màng với màng bào tương noãn Sự xâm nhập qua màng trong suốt xảy ra sau khi tinh trùng trải qua hiện tượng tăng động và ly giải bằng enzyme Hoạt động ly giải bằng enzyme được thực hiện bởi một enzyme protease của thể cực đầu gọi là acrosin Nơi gắn kết của tinh trùng với ZP2 được cho là có vai trò tạo ra một vị

thế chắc chắn để tại đó tinh trùng chui qua màng trong suốt bằng một đường hẹp

hoặc song song với bề mặt màng

1.1.5 Sự hòa nhập tinh trùng và noãn

Quá trình hòa màng giữa các giao tử phụ thuộc vào nhiệt độ, pH và Ca2+ Sự

Trang 20

vào màng trong suốt, tinh trùng mất dần cực đầu và chỉ màng cực đầu bên trong

là trực tiếp tương tác với màng trong suốt [9]

Bề mặt của màng noãn được cấu tạo bởi các vi lông mao ngắn, có khoảng cách đều nhau tạo thuận lợi cho sự dung hợp ở người, vi lông mao hiện diện trên toàn

còn lại hòa với màng bào tương noãn và đánh dấu điểm xâm nhập Tinh trùng thụ tinh tiếp tục di chuyển một đoạn khoảng 20 giây sau khi gắn vào bề mặt noãn [9]

1.1.6 Hoạt hóa noãn

S ự trưởng thành tế bào chất: để có thể thụ tinh thành công va phát triển phôi

ở giai đoạn sớm, noãn cần trưởng thành tế bào chất Quá trình này song song diễn

ra với quá trình hoạt hóa tinh trùng gồm [9]:

Các nhân tố hoạt hóa noãn:

Trong quá trình thụ tinh, sự xâm nhập tinh trùng vào noãn ngoài việc cung cấp các thành phần di truyền, còn gây một loạt các phản ứng sinh lý giúp noãn

tiếp tục hoàn tất quá trình giảm phân và chuẩn bị cho quá trình hình thành phôi sau đó Hiện tượng này gọi là hoạt hóa noãn

Sự kiện đầu tiên của quá trình hoạt hóa noãn là sự tăng các ion xuyên màng bào tương Ở người, tinh trùng tạo ra một dòng điện bên ngoài bằng cách hoạt hóa kênh K+được điều khiển qua cổng Ca2+

Trang 21

Hình 1.2 Quá trình hoạt hóa noãn của tinh trùng [22]

Có ba giả thuyết cho sự hoạt hóa noãn, trong đó giả thuyết dựa trên sự khuếch tán các phân tử hiện diện trong bào tương tinh trùng được ủng hộ hơn cả Các phân tử này sẽ được chuyển vào bào tương noãn khi dung hợp và kích hoạt các

sự kiện hoạt hóa [11] Giả thuyết trên được gọi là mô hình yếu tố hòa tan

Đóng vai trò trung tâm trong sự huy động và phóng thích Ca2+ của sự thụ tinh

là phosphatidylinositol (4,5)-bisphosphate (PIP2) Sự gia tăng Ca2+ nội bào tự do

gần như là tín hiệu kích hoạt chuỗi các sự kiện dẫn đến sự hoạt hóa noãn Kết quả của quá trình hoạt hóa noãn là noãn vượt qua được giai đoạn block và phản ứng

vỏ xảy ra Khi vừa xảy ra hiện tượng phóng noãn, noãn vẫn còn đang ở giai đoạn trung kì của giảm phân II Sự xâm nhập của tinh trùng sẽ khởi phát hàng loạt các

với tinh trùng [6] Trong vòng 1 đến 3 phút sau khi tinh trùng xâm nhập, trong tế bào có sự gia tăng nồng độ Ca2+ nhờ vào sự phóng thích các nguồn dự trữ Ca2+ từ lưới nội bào tương, với vị trí gia tăng đầu tiên là điểm tinh trùng xâm nhập Các đợt tăng Ca2+ thoáng qua đầu tiên sẽ được nối tiếp bởi hàng loạt những đợt tăng

Ca2+ tiếp theo ngắn hơn nhưng có cường độ cao, tạo nên những đợt sóng dao động

Ca2+ Khi quá trình thụ tinh đang tiếp diễn, cường độ và tần số các đợt sóng Ca2+

này giảm dần nhưng độ dài của chúng lại tăng lên cho đến khi hoàn toàn ngưng

Trang 22

hẳn [23] Sự khởi phát các sóng Ca2+ từ kho dự trữ nội bào được cho là nhờ sự kích hoạt của IP3 – một chất được xúc tác qua enzyme phospholipase C đặc hiệu của tinh trùng, enzyme này được gọi là PLC zeta (PLCζ), hiện diện ở phần vỏ xung quanh nhân của tinh trùng [39] Enzyme PLCζ chịu trách nhiệm cho sự ly

tương Sự thay đổi điện tích của màng bào tương là sự kiện quan trọng trong quá trình hoạt hóa noãn [50]

Hình 1.3 Các đợt tăng Ca2+ sau khi tinh trùng xâm nhập [19]

1.2.7 Ph ản ứng vỏ và các cơ chế ngăn chặn đa thụ tinh

để ngăn chặn hiện tượng đa thụ tinh Hiện tượng này gồm 2 pha: (1) pha nhanh

và (2) pha chậm Ở pha nhanh, khi tinh trùng vừa xâm nhập vào màng trong suốt,

sẽ xuất hiện sự biến đổi điện thế dọc theo màng bào tương noãn Sự biến đổi điện thế nhanh chóng trong vòng một phần nghìn giây ngay khi có sự xâm nhập của tinh trùng đầu tiên, kéo dài khoảng 60 giây và có tác dụng ngăn chặn sự xâm nhập

của tinh trùng thứ hai Sau 60 giây, điện thế màng sẽ khôi phục lại như trước khi

thụ tinh Sau pha nhanh, pha chậm diễn ra để tiếp tục duy trì ngăn chặn đa thụ tinh

nhờ sự biến đổi của màng trong suốt (phản ứng vỏ) và sự tái cấu trúc của lớp chất nền bao bên ngoài của noãn Biến đổi này phải diễn ra trước khi điện thế màng không còn tác dụng ngăn chặn sự xâm nhập của tinh trùng

trong của màng trong suốt có chứa những hạt vỏ có chứa các túi bài tiết bên trong

Trang 23

Các hạt vỏ được tổng hợp trong quá trình tạo noãn và được phóng thích cùng với

hiện tượng phóng noãn Khi tín hiệu dẫn truyền Ca2+ xảy ra, các hạt vỏ sẽ nhanh chóng phóng thích các thành phần bên trong ra môi trường Các thành phần này làm thay đổi tính chất của mặt trong màng trong suốt, làm màng trong suốt trở nên cứng chắc hơn, làm ngăn cản sự xuyên màng của các tinh trùng khác

Đối với những tinh trùng đã xuyên màng trong suốt, hiện tượng đa thụ tinh sẽ được ngăn chặn nhờ sự tái cấu trúc của lớp vỏ ngoài của noãn Lớp vỏ ngoài của noãn được cấu tạo từ 2 nhóm protein: nhóm cơ bản gồm 25 loại glycoprotein chính có nguồn gốc từ lớp noãn hoàng của noãn chưa thụ tinh Ngay khi thụ tinh

xảy ra, một nhóm các protein khác gồm khoảng 12 loại có nguồn gốc từ hạt vỏ sẽ được bài tiết Các protein này sẽ nhanh chóng gắn lên lớp noãn hoàng, cũng nhóm protein cơ bản biến đổi lớp chất nền quanh noãn thành lớp vỏ ngoài bảo vệ giúp ngăn chặn sự xâm nhập tiếp theo của tinh trùng

1.2.8 Sự hình thành và hòa nhập của hai tiền nhân

Sau khi noãn bào được hoạt hóa, quá trình giảm phân của noãn sẽ được tiếp tục đến kỳ sau (anaphase), dẫn đến sự tống xuất thể cực thứ hai và sự thành lập tiền nhân cái Sự thành lập tiền nhân đực thường xảy ra chậm hơn do tinh trùng

phải trải qua một số thay đổi trong cấu trúc ở phần đầu, dưới tác động của một số

chất có trong bào tương noãn

Ở tinh trùng trưởng thành, nhiễm sắc thể tinh trùng ở dạng nén chặt do có nhiều cầu nối disulfide (-SS-) giữa các protamin với DNA (khác với histone ở các

tế bào khác) Ngay sau khi đầu tinh trùng vào noãn, màng nhân tinh trùng tăng tính thấm, phình to và các yếu tố ở bào tương noãn bào tác động các thành phần bên trong nhân tinh trùng Các cầu nối disulfide ở các protamin bị khử thành nối sulfhydryl (-SH), các protamin nhanh chóng tách rời và nhiễm sắc thể tinh trùng

duỗi ra bên trong nhân (tiền nhân đực), sau đó histone sẽ gắn vào nhiễm sắc thể tinh trùng Ngoài ra, tinh trùng còn cung cấp trung thể, hình thành nên các vi sợi

tơ Dưới sự hỗ trợ của các sợi tơ, cả hai tiền nhân đều trải qua cử động giống như xoay tròn trong bào tương noãn và dần tiến đến gần nhau về phía trung tâm của

Trang 24

noãn đã thụ tinh, cho đến khi sát vào nhau Đồng thời, chromatin của tiền nhân và các thể tiền hạt nhân (nucleolar precursor bodies – NPBs) được hình thành nhờ những đợt sóng tổng hợp RNA (Ribonucleic acid) sớm Sự tiếp xúc của cả hai tiền nhân được thực hiện qua trung gian các vi thể được thành lập từ trung thể của tinh trùng Khi sự biệt hóa tiền nhân hoàn tất, màng nhân rã ra và cả chất liệu di truyền của hai tiền nhân hợp lại với nhau Quá trình này gọi là sự hòa nhập nhân Sau đó quá trình phân chia của hợp tử bắt đầu để hình thành phôi

Hình 1.4 Noãn thụ tinh Noãn thụ tinh có hình cầu, với 2 thể cực và 2 tiền nhân (pronuclei - PN) có màng bao riêng biệt, kích thước bằng nhau, nằm sát nhau ở vùng trung tâm của noãn Mỗi PN có số lượng và kích thước của các thể hạt nhân (NPB - nucleolar precursor body) tương đương nhau, sắp xếp thẳng hàng tại vùng giao nhau của màng 2PN

1.2 Thụ tinh trong ống nghiệm

1.2.1 K ỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI)

Gi ới thiệu kỹ thuật ICSI

Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF – Invitro Fertilization) là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi

Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) được Palermo và cs báo cáo thành công lần đầu tiên trên người vào năm 1992, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc điều trị vô sinh nam ICSI là phương pháp tiêm một tinh

Trang 25

trùng duy nhất vào bào tương noãn để chúng thụ tinh và phát triển thành phôi Sau

đó phôi được chuyển vào tử cung người mẹ để tiếp tục phát triển bình thường Theo Nagy và cs (1995), sự ra đời của kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) đã giúp cho những bệnh nhân nam gặp các bất thường tinh trùng như

mật độ tinh trùng thấp, độ di động kém, hình dạng tinh trùng bất thường, được điều trị vô sinh một cách hiệu quả [30]

Trong quá trình ICSI, một tinh trùng duy nhất được tiêm trực tiếp vào bào tương của một tế bào noãn trưởng thành thông qua quá trình vi mô Đây là một phương pháp hiệu quả để hỗ trợ sinh sản ở nam giới có các thông số tinh dịch dưới mức tối ưu, điển hình là tinh trùng phẫu thuật thủ thuật (PESA - percutaneous epididymal sperm aspiration hay TESE – testicular sperm extraction), yếu ít – yếu – dị dạng (OAT - oligoasthenoteratozoospermia) hoặc ở các cặp vợ chồng có tỷ

lệ thụ tinh thấp sau IVF cổ điển Những lần mang thai đầu tiên sau ICSI đã được báo cáo vào đầu những năm 1990 [35] Với sự ra đời của ICSI, hầu như bất kỳ

loại tinh trùng nào cũng có thể thụ tinh tế bào noãn, giúp cho đây trở thành phương pháp điều trị vô sinh nam thành công nhất Tỷ lệ thụ tinh lên tới 80% và tỷ lệ mang thai lâm sàng lên tới 45% được theo dõi sau ICSI Tỷ lệ thành công sau này

đã làm giảm nhu cầu xin tinh trùng hiến tặng ở các cặp vợ chồng bị vô sinh nam nghiêm trọng [36]

Tinh trùng dùng cho ICSI có thể thu nhận từ nhiều nguồn khác nhau như tinh dịch (xuất tinh tự nhiên) hay sử dụng các thủ thuật để lấy tinh trùng ở mào tinh,

mô tinh hoàn Vì tinh trùng được tiêm trực tiếp vào bào tương noãn, nên các bước

có tác dụng chọn lọc tinh trùng trong thụ tinh tự nhiên đều được bỏ qua như tinh

trùng di chuyển trong cơ quan sinh dục nữ, tinh trùng gắn với màng trong suốt, tinh trùng tiếp xúc với màng bào tương và giải phóng DNA vào bào tương noãn Tinh trùng được chọn cho ICSI chủ yếu là tinh trùng có hình dạng bình thường và

khả năng di động cao

Trang 26

Hình 1.5 Tiêm tinh trùng vào bào tương noãn Tinh trùng sau khi được thu nhận sẽ được lọc rửa, chọn một tinh trùng di động trong môi trường và thực hiện bất động tinh trùng bằng cách dùng kim tiêm chà vào đuôi tinh trùng hoặc hút nhả vài lần Thao tác này sẽ làm tổn thương màng tinh trùng giúp cho việc giải phóng các yếu tố của tinh trùng vào bào tương noãn

dễ dàng hơn [1] Các yếu tố tinh trùng chủ yếu là những protein nhạy cảm với nhiệt độ và chỉ có hiệu quả sinh học khi tinh trùng đã được tiêm vào bào tương noãn Sau khi tinh trùng được tiêm vào noãn, trong noãn có sự gia tăng nồng độ

Ca2+ nhờ vào sự phóng thích các nguồn dự trữ Ca2+ từ lưới nội chất, với vị trí gia

thành các đợt sóng dao động Ca2+ được kích hoạt bởi inositol trisphosphate (IP3)

tinh trùng (cơ chế chất truyền tin thứ hai) [24], [25] Theo con đường truyền tín hiệu nội bào này, noãn sẽ được hoạt hóa và hình thành một loạt phản ứng sinh hóa trong bào tương noãn Kết quả là nhân tinh trùng được giải nén, hình thành tiền nhân và đẩy thể cực thứ hai ra khoang quanh noãn Tiền nhân đực và tiền nhân cái tiến lại gần nhau, phân chia và tạo thành hợp tử Sau đó, hợp tử tiếp tục phát triển tạo thành phôi trước khi được chuyển vào tử cung người mẹ

Trang 27

Đánh giả kết quả sau khi tiến hành ICSI

Đánh giá kết quả thụ tinh [3]

Noãn được xem là thụ tinh bình thường khi xuất hiện 2 tiền nhân: một tiền nhân đực và một tiền nhân cái Thông thường, cả hai tiền nhân xuất hiện cùng thời gian trong khoảng 17 ± 1 giờ sau khi tiến hành tiêm tinh trùng vào bào tương noãn Noãn thụ tinh bình thường có hình cầu, màng zona pellucida còn nguyên vẹn, có hai thể cực và hai tiền nhân, kích thước tiền nhân gần bằng nhau, nằm sát nhau ở vùng trung tâm của noãn Tiền nhân có số lượng và kích thước của các thể

hạt nhân tương đương nhau, sắp xếp thẳng hàng tại vùng giao nhau của màng hai

thước hoặc có thể hạt nhân quá nhỏ được xem là bất thường Noãn không thụ tinh thì bào tương thường trơn, có thể có màu nâu, đen hay thoái hóa và biến dạng

Đánh giá chất lượng phôi [3]

Sau khi thụ tinh, hợp tử bắt đầu quá trình nguyên phân nhiều lần và tạo thành

Khoảng 23 – 29 giờ sau khi ICSI, hợp tử bắt đầu phân chia lần thứ nhất tạo ra phôi hai tế bào Đây chính là tín hiệu chứng tỏ sự phát triển của phôi Việc đánh giá phôi ngày 3 dựa trên hình thái phôi theo các tiêu chuẩn như số lượng phôi bào,

độ đồng đều của tế bào, tỷ lệ mảnh vỡ và tình trạng đa nhân của phôi bào

N ồng độ β-hCG trong chẩn đoán thai

Sau khi được chuyển vào tử cung của người mẹ, phôi bắt đầu làm tổ và phát triển thành thai Các thành phần trong tử cung người mẹ kết hợp với một số tế bào

của thai sẽ hình thành nhau thai nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho thai từ máu

đi vào máu của mẹ để duy trì hoàng thể, cho phép tổng hợp progesterone, estrogen

nhằm duy trì và hỗ trợ sự phát trển của lớp nội mạc tử cung β-hCG là một tiểu đơn vị của hCG và là dấu hiệu để chẩn đoán thai sớm Xét nghiệm nồng độ β-

Trang 28

hCG trong máu người phụ nữ đạt trên 5 mIU/mL thì người phụ nữ này được xem

là đã mang thai

Ch ẩn đoán thai lâm sàng

Vào tuần thứ 8 sau khi tiến hành ICSI, người mẹ sẽ được siêu âm để chẩn đoán thai lâm sàng Siêu âm là phương pháp chẩn đoán bên ngoài thông qua hình ảnh không gây tổn thương, không đau đớn, thao tác đơn giản và có thể lặp lại nhiều lần Hình ảnh siêu âm có thể quan sát chân thực độ lớn của tử cung, hình thái bào thai, vị trí và nhịp đập của tim thai Đến cuối tuần thứ 6, tim bào thai bắt đầu đập

nhịp nhàng, và tiếp đó, tay chân của thai nhi cũng dần dần hình thành Như vậy,

kết quả thai lâm sàng được xem là dương tính khi kết quả siêu âm có tim thai

1.2.2 Hoạt hóa noãn nhân tạo

Mặc dù tỷ lệ thành công cao của ICSI, nhưng thất bại thụ tinh toàn bộ vẫn xảy

ra trong 1 - 3% số chu kỳ ICSI sau khi tiêm tinh trùng [28] Thất bại trong việc kích hoạt tế bào noãn được coi là nguyên nhân chính gây ra sự thất bại trong thụ tinh sau ICSI thông thường [32], [46] Trong IVF, một nhóm bệnh nhân đặc biệt thường phải đối mặt với tình trạng thất bại thụ tinh sau ICSI như tinh trùng ít, yếu

và dị dạng (OAT – oligoasthenoteratozoospermia) nặng và tinh trùng đầu tròn (globozoospermia: tinh trùng có đầu tròn, ít hoặc không có acrosome) Những

dạng tinh trùng này thường chứa rất ít PLCζ so với những tinh trùng có hình dạng bình thường [22], [41], [48]

Đối với những trường hợp noãn không có hiện tượng thụ tinh sau khi tiêm tinh trùng do thất bại trong quá trình hoạt hóa noãn, người ta đã nghĩ đến cách khởi động quá trình này một cách nhân tạo Nhiều phương pháp hoạt hóa noãn nhân

tạo (AOA – artificial oocyte activation) khác nhau đã được áp dụng tại nhiều trung tâm IVF trên thế giới Hai phương pháp AOA được biết đến nhiều nhất hiện nay

là AOA bằng dòng điện và AOA hóa học Với phương pháp AOA bằng dòng điện, một dòng điện rất nhỏ được sử dụng để kích thích noãn sau ICSI, điện trường

sẽ tạo thành những lỗ nhỏ trên màng bào tương noãn và nhờ đó sẽ kích thích tạo

Trang 29

dòng Ca2+ bên trong noãn Phương pháp này từng được áp dụng thành công trên noãn bò và noãn người [26] Với phương pháp AOA bằng hóa học, những hợp chất hóa học (như calcium ionophore A213187, ionomycin, purimycin, strontium chloride,…) có thể được sử dụng để tạo ra sự gia tăng nồng độ Ca2+ và khởi động

nội bào từ các nguồn dự trữ của tế bào cho đến khi cạn, điều này sẽ tạo thuận lợi cho Ca2+ ngoại bào tràn vào Nhờ đó mà nồng độ Ca2+ bên trong tế bào tăng lên,

và kết quả là hoạt hóa noãn xảy ra

1.3 Tổng quan kết quả nghiên cứu tại Việt Nam và thế giới

đối với những trường hợp tinh trùng thu từ phẫu thuật (PESA – percutaneous

nay, đa số các nghiên cứu về áp dụng AOA trong kỹ thuật ICSI là các báo cáo ca,

trong đó cho thấy AOA có thể có hiệu quả cải thiện kết quả ICSI đối với các trường hợp tinh trùng bất thường [31], [55] Tại Việt Nam, kỹ thuật ICSI được áp dụng thành công từ năm 1998 và đã trở thành kỹ thuật phổ biến tại tất cả các trung tâm IVF ở Việt Nam AOA được thực hiện cho một số trường hợp tinh trùng bất thường hoàn toàn dạng đầu tròn hoặc bất động toàn bộ và đã cho kết quả điều trị khả quan Năm 2011, nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Lan và cs thực hiện tại Đơn

vị hỗ trợ sinh sản An Sinh, bệnh viện An Sinh nghiên cứu trên 101 chu kỳ ICSI

có bất thường tinh trùng nặng Kết quả tỉ lệ thụ tinh ở nhóm thực hiện AOA cao hơn với nhóm đối chứng và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (80,8% so với 74,3%, p<0,05) Tuy nhiên, về tỉ lệ thoái hóa, tỉ lệ phôi khá và tốt lại không có sự khác biệt giữa hai nhóm [2] Những số liệu trên cho thấy AOA có thể giúp tinh trùng vượt qua khiếm khuyết do bất thường nặng, cho phép noãn hoàn tất quá trình giảm phân, kết quả làm tăng tỉ lệ thụ tinh đáng kể

Trang 30

Năm 2012, nhóm tác giả Ebner và cs đánh giá kết quả ICSI sử dụng tinh trùng

nhân ít tinh trùng (cryptozoospermia) Đây là nghiên cứu đa trung tâm thực hiện tại Úc và Đức Kết quả cho thấy tỉ lệ thụ tinh ở nhóm ICSI-AOA bằng A23187 cao hơn so với nhóm ICSI không AOA và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (azoospermia 64,4% và cryptozoospermia 48,4% so với 34,7%, p<0,001) Kết quả lâm sàng 32 trẻ sinh sống trên 73 ca chuyển phôi [14] Năm 2013, nhóm nghiên cứu Vanden Meerschaut thực hiện so sánh hiệu quả của AOA trên hai nhóm đối tượng thụ tinh kém và thất bại thụ tinh hoàn toàn Nghiên cứu thực hiện ICSI tinh trùng của hai nhóm đối tượng trên noãn chuột, sau đó tiến hành sibling-AOA (AOA một nửa và không AOA một nửa) Kết quả, tỉ lệ thụ tinh nhóm thất bại thụ tinh hoàn toàn thực hiện AOA cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chỉ ICSI thường qui (74,2% so với 43,5%, p<0,001) Tuy nhiên, ở nhóm thụ tinh kém, kết

thống kê của nhóm Murugesu và cs (2017) tiến hành so sánh các nghiên cứu thực hiện IVF có kết hợp thực hiện AOA, số liệu cho thấy sử dụng AOA kết hợp với ICSI có tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ làm tổ, tỉ lệ có thai lâm sàng và tỉ lệ trẻ sinh sống cao hơn nhóm không AOA [29]

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

C ỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng người vợ và người chồng được lựa chọn đồng thời, mẫu đối chứng

là những trường hợp vợ bình thường, tinh trùng chồng yếu, đã thực hiện IVF/ICSI không sử dụng phương pháp kích hoạt noãn từ năm 2017 đến năm 2019

Mẫu đánh giá được lựa chọn từ những trường hợp tương tự, đã thực hiện IVF/ICSI có sử dụng phương pháp hoạt hóa noãn bằng chất hóa học từ tháng 8 năm 2019 đến tháng 8 năm 2020

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện và thu thập số liệu tại khoa Hỗ trợ sinh sản,

đến tháng 8 năm 2020

2.3 Trang thi ết bị, dụng cụ, hóa chất nghiên cứu

2.3.1 Trang thi ết bị

- Tủ thao tác vô trùng 2 người

- Tủ cấy CO2nuôi phôi

Trang 32

2.3 3 Hóa chất nghiên cứu

(10634-1MG, Sigma-Aldrich – Mỹ)

2.4 N ội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp hoạt hóa noãn đến tỉ lệ thụ tinh sau ICSI

lượng phôi hữu dụng ngày 3

Nội dung 3: Đánh giá ảnh hưởng của phương pháp hoạt hóa noãn tỉ lệ lên phôi ngày 5 và chất lượng phôi ngày 5

thai

2.5 Phương pháp

2.5.1 Phương pháp kích hoạt noãn

Noãn sau khi ICSI được ủ trong môi trường đã pha hóa chất ionomycin 2 lần,

mỗi lần 10 phút, thời gian nghỉ giữa 2 lần là 20 phút Sau đó noãn đã hoạt hóa được nuôi trong đĩa nuôi cấy phôi

2.5.2 Các phương pháp đánh giá nhận mẫu

Công thức tính cỡ mẫu: N= (𝐸𝑆)2𝐶2

Trang 33

Phương pháp đánh giá lựa chọn mẫu, loại trừ mẫu đối tượng người vợ và người chồng:

Đối tượng người vợ: Bệnh nhân dưới 38 tuổi, dự trữ buồng trứng bình thường (số lượng nang thứ cấp ≥ 6), các chỉ số nội tiết (Estradiol, Luteninizing Hormone, Follicular Stimulating Hormone, Prolactin, Progesteron) trong ngưỡng bình thường Buồng tử cung bình thường

Đối tượng người chồng: Đối tượng nghiên cứu được chọn lọc dựa tên kết quả xét nghiệm tinh dịch đồ theo tiêu chuẩn WHO 2010 [57] Tinh trùng OAT nặng,

<1 triệu tinh trùng bình thường/mẫu (theo tiêu chuẩn WHO 2010), bất thường hình dạng đầu trên 80%, mẫu tinh trùng phẫu thuật, thủ thuật

Các tham số xét nghiệm Trị số bình thường

(Tiêu chuẩn Who 2010)

Kết quả xét nghiệm

Trang 34

Đánh giá khả năng thụ tinh

được xác nhận bởi sự hiện diện của 2 nhân (PN) và sự xuất hiện của thể cực thứ hai Sau khi dấu hiệu thụ tinh của các tế bào noãn được quan sát, noãn đã thụ tinh được nuôi cấy trong một giọt môi trường 25µL được phủ bằng dầu ở 37℃ trước khi chuyển phôi Phôi được theo dõi từ ngày thứ 0 đến ngày thứ 5

Đánh giá chất lượng phôi ngày 3, ngày 5 dựa trên chuẩn đồng thuận của ALPHA 2011 [3]

Hiện nay đánh giá chất lượng phôi chủ yếu là đánh giá của chuyên viên phôi học được đào tạo dựa theo chuẩn đồng thuận của ALPHA 2011 Chuyên viên có thể đánh giá chủ quan bằng mắt khi quan sát hình ảnh phôi trên kính hiển vi hoặc dựa vào hệ thống Timelapse quan sát động học của phôi xuyên suốt từ quá trình thụ tinh đến giai đoạn ngày 3, ngày 5 để đưa ra kết luận về chất lượng phôi Tại trung tâm Hỗ trợ sinh sản Bệnh viện A Thái Nguyên, đánh giá chất lượng

phôi được đánh giá bằng cách quan sát trực tiếp hình ảnh phôi trên kính hiển vi

Phôi được đánh giá và xếp loại thành 4 bậc: rất tốt (loại 1), tốt (loại 2), trung bình (loại 3), xấu (loại 4) Phôi hữu dụng là phôi loại 1, 2, 3

Để đánh giá chính xác chất lượng phôi phát triển qua từng giai đoạn, phải chú

ý những cột mốc thời gian sau:

- Phôi phân chia sớm (2 tế bào) : 26h±1

- Phôi phân chia ngày 2 (4 tế bào): 44h±1

- Phôi phân chia ngày 3 (8 tế bào) 68h±1

- Phôi nang (blastocyst) ngày 5: 116h±1

Trang 35

Bảng 2.2: Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng phôi ngày 3 dựa theo chuẩn đồng

Phân loại Số phôi bào Kích thước phôi bào T ỉ lệ phân

Lo ại 4

Ngày đăng: 25/07/2021, 05:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[9]. Coughlan C., Ledger B. &amp; Ola B. (2011), “In-vitro fertilization”, Obstetrics Gynaecology &amp; Reproductive Medicine, 21(11), pp. 303–310 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In-vitro fertilization”,"Obstetrics Gynaecology & Reproductive Medicine
Tác giả: Coughlan C., Ledger B. &amp; Ola B
Năm: 2011
[10]. D’haeseleer E., Vandeneerschaut F., Bettens K., Luyten A., Gysels H., Thienpont Y., DeWitte G., Heindryckx B., Oostra A., Roeyers H. (2014),“Language development of children born following intracytoplasmic sperm injection (ICSI) combined with assisted oocyte activation (AOA)”, Int J Language Commun Disord, 49(6), pp. 702 – 709 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Language development of children born following intracytoplasmic sperm injection (ICSI) combined with assisted oocyte activation (AOA)”, "Int J Language Commun Disor
Tác giả: D’haeseleer E., Vandeneerschaut F., Bettens K., Luyten A., Gysels H., Thienpont Y., DeWitte G., Heindryckx B., Oostra A., Roeyers H
Năm: 2014
[11]. Dale B. et al. (2010), “How do spermatozoa ac - tivate oocytes?”, Reproductive BioMedicine Online, 21(1), pp.1-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: How do spermatozoa ac- tivate oocytes?”, "Reproductive BioMedicine Online
Tác giả: Dale B. et al
Năm: 2010
[12]. Debec A., Sullivan W., Bettencourt M. (2010), “Centrioles: active players or passengers during mitosis?”, Cellular and Molecular Life Sciences, 67, pp.2173-2194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Centrioles: active players or passengers during mitosis?”, "Cellular and Molecular Life Sciences
Tác giả: Debec A., Sullivan W., Bettencourt M
Năm: 2010
[13]. Ebner, T., E. Radler, R. B. Mayer, L. Peter, S. Enengl, P.r Oppelt, O. Shebl (2018). “Ionophore treatment for artificial oocyte activation does not alter morphokinetics of the associated embryos”, Reproductive BioMedicine Online, 37(9), pg. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ionophore treatment for artificial oocyte activation does not alter morphokinetics of the associated embryos”, "Reproductive BioMedicine Online
Tác giả: Ebner, T., E. Radler, R. B. Mayer, L. Peter, S. Enengl, P.r Oppelt, O. Shebl
Năm: 2018
[14]. Ebner, T., M. Kửster, O. Shebl, M. Mo ser, H. Van der Ven, G. Tews and M. Montag (2012), "Application of a ready-to-use calcium ionophore increases rates of fertilization and pregnancy in severe male factor infertility", Fertil Steril, 98(6), pp. 1432-1437 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Application of a ready-to-use calcium ionophore increases rates of fertilization and pregnancy in severe male factor infertility
Tác giả: Ebner, T., M. Kửster, O. Shebl, M. Mo ser, H. Van der Ven, G. Tews and M. Montag
Năm: 2012
[15]. Edson B., Daniela B., Tatiana B., Assumpto I. and Jose F. (2009), “Artificial oocyte activation with calcium ionophore A23187 in intracytoplasmic sperm injection cycles using surgically retrieved spermatozoa”, Fetil Steril, 92 (1), pp. 131-136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artificial oocyte activation with calcium ionophore A23187 in intracytoplasmic sperm injection cycles using surgically retrieved spermatozoa”, "Fetil Steril
Tác giả: Edson B., Daniela B., Tatiana B., Assumpto I. and Jose F
Năm: 2009
[18]. Figueira R., Selti A., Baraga D. et al (2010), “Blastomere multinucleation: Contributing factors and effects on embryo development and clinica l outcome”, Human Fertility, 13(3), pp. 143-150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blastomere multinucleation: Contributing factors and effects on embryo development and clinical outcome”, "Human Fertility
Tác giả: Figueira R., Selti A., Baraga D. et al
Năm: 2010
[19]. Frauke Vanden Meerschaut, Dimitra Nikiforaki, Bjo¨rn Heindryckx, Petra De Sutter (2014), “Assisted oocyte activation following ICSI fertilization failure”, Reproductive BioMedicine Online, 28, pp. 560 – 571 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assisted oocyte activation following ICSI fertilization failure”, "Reproductive BioMedicine Online
Tác giả: Frauke Vanden Meerschaut, Dimitra Nikiforaki, Bjo¨rn Heindryckx, Petra De Sutter
Năm: 2014
[20]. French DB., Sabanegh ES., Goldfarb J. and Desai N. ( 2010 ), “Does severe teratozooospermia affect blastocyst formation , live birth rate and other clinical outcome parameters in ICSI cycles ?”, Fertil . Steril , 93, pp. 1097-1103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Does severe teratozooospermia affect blastocyst formation , live birth rate and other clinical outcome parameters in ICSI cycles ?”, "Fertil . Steril
[21]. Gardner D., Lan M. and S choolcraft W. ( 2000 ), “Culture and transfer of viable blastocyst , a feasible proposi tion for human IVF”, Hum. Reprod , 6, pp.9-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Culture and transfer of viable blastocyst , a feasible proposi tion for human IVF”, "Hum. Reprod
[22]. Heytens E., Gerris J., Dhont M., De Sutter P., Parrington J., Young C., Coward K., Lambrecht S., Deforce D., Cuvelier C. (2008), “First evidence of distribute expression of the oocyte-ac tivating factor PCLζ in globozoospermic men”, Hum Reprod, 23, pg. 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: First evidence of distribute expression of the oocyte-activating factor PCLζ in globozoospermic men”, "Hum Reprod
Tác giả: Heytens E., Gerris J., Dhont M., De Sutter P., Parrington J., Young C., Coward K., Lambrecht S., Deforce D., Cuvelier C
Năm: 2008
[23]. Jones, K.T., (2005), “Mammalian egg activation: from Ca2+ spiking to cell cycle progression”, Reproduction, 130, pp. 813-823 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mammalian egg activation: from Ca2+ spiking to cell cycle progression”, "Reproduction
Tác giả: Jones, K.T
Năm: 2005
[24]. Machaty Z. (2016), “Signal transduction in mammalian oocy tes during fertilization”, Cell Tissue Res, 363(1), pp. 169 – 183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Signal transduction in mammalian oocytes during fertilization”, "Cell Tissue Res
Tác giả: Machaty Z
Năm: 2016
[25]. Machaty Z., Miller AR., Zhang L. (2017), Egg activation at fertilization, Adv Exp Med Biol, 953, pp.1 – 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Egg activation at fertilization
Tác giả: Machaty Z., Miller AR., Zhang L
Năm: 2017
[26]. Mansour R., Fahmy I., Tawad N., Kamal A., El-Demery J., Aboulghar M., et al (2009), “Electrical activation of oocytes after intracytoplasmic sperm injection: a controlled randomized study”, Fertil Steril, 91, pp. 133-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electrical activation of oocytes after intracytoplasmic sperm injection: a controlled randomized study”, "Fertil Steril
Tác giả: Mansour R., Fahmy I., Tawad N., Kamal A., El-Demery J., Aboulghar M., et al
Năm: 2009
[27]. Miller N., Biron-Shental T., Sukenik-Halevy R., Klement A. H., Sharony R. and Berkovitz A. (2016), "Oocyte activation by calcium ionophore and congenital birth defects: a retrospective cohort study", Fertil Steril, 106(3), pp.590-596 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oocyte activation by calcium ionophore and congenital birth defects: a retrospective cohort study
Tác giả: Miller N., Biron-Shental T., Sukenik-Halevy R., Klement A. H., Sharony R. and Berkovitz A
Năm: 2016
[28]. Mohammad HN, Shahnaz R, Zeinab J and Marziyeh T (2008), “Artificial oocyte activation in severe teratozoospermia undergoing intracytoplasmic sperm injection”, Fetil Steril, 90 (6), pp. 2231-2337 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artificial oocyte activation in severe teratozoospermia undergoing intracytoplasmic sperm injection”, "Fetil Steril
Tác giả: Mohammad HN, Shahnaz R, Zeinab J and Marziyeh T
Năm: 2008
[30]. Nagy Z.P., Liu J., Joris H. et al. (1995), “The result of intracytoplasmic sperm injection is not related to any three basic sperm parameters”, Hum Reprod, 10, pp. 1123-1129 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The result of intracytoplasmic sperm injection is not related to any three basic sperm parameters”, "Hum Reprod
Tác giả: Nagy Z.P., Liu J., Joris H. et al
Năm: 1995
[31]. Nasr-Esfahani, M.H., Deemeh, M.R., and Tavalaee, M. (2010), “Artificial oocyte activation and intracytoplasmic sperm injection”, Fertil. Steril., 94, pp.520 – 526 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artificial oocyte activation and intracytoplasmic sperm injection”, "Fertil. Steril
Tác giả: Nasr-Esfahani, M.H., Deemeh, M.R., and Tavalaee, M
Năm: 2010

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w