Trong khi đó gỗ khai thác từ rừng trồng hàng năm khoảng 1.000.000m3 gỗ nguyên liệu, nhưng chỉ cung cấp cho các nhà máy băm dăm trên địa bàn tỉnh, chưa tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
Trang 2Theo kết quả khảo sát, điều tra về nhu cầu gỗ làm nhà ở các huyện trung
du, miền núi của tỉnh, trong giai đoạn từ năm 2021 – 2035 có khoảng 21.659 hộ dân có nhu cầu làm nhà, với tổng khối lượng gỗ cần cung cấp là 154.145m3
, bình quân mỗi năm cung cấp gần 10.276m3
và số hộ có nhu cầu làm nhà bình quân mỗi năm là: 1.444 hộ
Hiện nay, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 08/8/2017 về dừng việc khai thác gỗ rừng tự nhiên đã tác động đến nguồn cung cấp gỗ từ rừng
tự nhiên Trong khi đó gỗ khai thác từ rừng trồng hàng năm khoảng 1.000.000m3 gỗ nguyên liệu, nhưng chỉ cung cấp cho các nhà máy băm dăm trên địa bàn tỉnh, chưa tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu gỗ làm nhà, trang trí nội thất cho người dân Vì vậy việc tạo sản phẩm gỗ có chất lượng phục vụ nhu cầu
gỗ làm nhà cho người dân là một vấn đề khó khăn đặt ra cần phải giải quyết
Để giải quyết nhu cầu gỗ làm nhà cho các hộ dân ở các huyện trung du, miền núi cần phải có nguồn cung thay thế, trong đó trồng cây phân tán, rừng trồng gỗ lớn là một trong những giải pháp đơn giản, hiệu quả, người dân có thể
tự thực hiện Tuy nhiên trong giai đoạn này cần có sự hỗ trợ, thúc đẩy của Nhà
Nước Do đó việc xây dựng đề án“ Hỗ trợ trồng cây lấy gỗ làm nhà cho người dân các huyện trung du, miền núi tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2021 – 2025, tầm nhìn đến 2035” là rất cần thiết, từng bước góp phần đáp ứng nhu cầu gỗ
làm nhà người dân, đồng thời góp phần hạn chế việc khai thác gỗ rừng tự nhiên của người dân địa phương sống gần rừng và thực hiện nghiêm Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 08/8/2017 của Chính phủ
II HIỆN TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG NGUỒN CUNG ỨNG GỖ LÀM NHÀ TỪ TÀI NGUYÊN RỪNG CỦA TỈNH
Quảng Nam có diện tích tự nhiên 1.057.474 ha, trong đó: Diện tích đất lâm nghiệp 770.423 ha, chiếm 72,81% tổng diện tích tự nhiên (gồm: diện tích rừng tự nhiên: 466.115 ha, chiếm tỷ lệ: 44,08%, diện tích rừng trồng: 216.107
ha, chiếm tỷ lệ: 20,44% và diện tích đất trống: 88.201 ha, chiếm tỷ lệ: 8,34%) Phân theo mục đích sử dụng như sau:
Trang 3Biểu 01: Phân loại rừng theo chức năng
Tổng diện tích có rừng tự nhiên trên toàn tỉnh 466.115 ha Trong đó:
- Rừng giàu: 75.976 ha, chiếm tỷ lệ: 16,3%
- Rừng trung bình: 178.363 ha, chiếm tỷ lệ: 38,27%
- Rừng nghèo: 134.468 ha, chiếm tỷ lệ: 28,85%
- Rừng phục hồi: 77.308 ha, chiếm tỷ lệ 16,59%
Diện tích rừng tự nhiên phân theo quy hoạch 3 loại rừng
- Diện tích rừng tự nhiên được quy hoạch rừng đặc dụng là 128.960 ha; trong đó: diện tích rừng giàu: 32.834 ha, chiếm tỷ lệ: 7,04%, rừng trung bình: 57.910 ha, chiếm tỷ lệ: 12,42%, diện tích rừng nghèo: 24.642 ha, chiếm tỷ lệ: 5,3% và diện tích rừng phục hồi: 13.574 ha, chiếm tỷ lệ: 2,9%
- Diện tích rừng tự nhiên được quy hoạch rừng phòng hộ là 257.985 ha; trong đó: diện tích rừng giàu: 38.945 ha, chiếm tỷ lệ: 8,35%, rừng trung bình: 104.540 ha, chiếm tỷ lệ: 22,42%, diện tích rừng nghèo: 70.241 ha, chiếm tỷ lệ: 15,06% và diện tích rừng phục hồi: 44.259 ha, chiếm tỷ lệ: 9,5%
- Diện tích rừng tự nhiên được quy hoạch rừng sản xuất là 79.170 ha; trong đó: diện tích rừng giàu: 4.401 ha, chiếm tỷ lệ: 0,9%, rừng trung bình: 16.897 ha, chiếm tỷ lệ: 3,6%, diện tích rừng nghèo: 39.581 ha, chiếm tỷ lệ: 8,5%
và diện tích rừng phục hồi: 18.291 ha, chiếm tỷ lệ: 3,9%
Từ số liệu nêu trên, diện tích rừng giàu và rừng trung bình được quy hoạch cho rừng phòng hộ và rừng đặc dụng là 234.229 ha, chiếm tỷ lệ 50,24% trên tổng diện tích rừng tự nhiên hiện có, diện tích này chất lượng gỗ tương đối tốt, tuy nhiên mục tiêu quản lý rừng của các đối tượng này là phòng hộ và để bảo tồn đa dạng sinh học; diện tích rừng giàu và rừng trung bình được quy hoạch rừng sản xuất có khoảng 21.298 ha, chiếm tỷ lệ 4,56%, diện tích còn lại phần lớn là rừng nghèo và phục hồi, chất lượng rừng rất kém, do rừng bị khai thác kiệt, khai thác quá mức, không bền vững, giảm khả năng cung ứng gỗ lớn, nên không có khả năng cung cấp gỗ cho người dân làm nhà
2 Rừng trồng
Tổng diện tích rừng trồng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam là 216.107 ha Trong đó: diện tích rừng trồng loài cây mọc nhanh là 212.400 ha (gồm: Keo,
Trang 4Bạch đàn, Xoan ta….), diện tích rừng trồng cây bản địa là 3.707 ha (gồm: Lim xanh, Sao đen, Dầu rái, Lát hoa…) Trong diện tích rừng trồng cây bản địa này
có 2.284 ha là diện tích rừng trồng kinh tế của các hộ gia đình phần lớn được sự
hỗ trợ từ các chương trình dự án và của tổ chức, hộ gia đình tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng; diện tích còn lại 1.423 ha là rừng trồng từ nguồn trồng rừng thay thế
Qua theo dõi chất lượng rừng hàng năm, thì chất lượng rừng trồng đối với các loài cây Keo, Bạch đàn, Xoan ta trên địa bàn tỉnh còn thấp, năng suất bình quân 75 m3/ha/chu kỳ 5 năm, với trữ lượng gỗ khoảng 16.036.000 m3; sản lượng gỗ khai thác rừng trồng hằng năm bình quân khoảng 1.000.000m3, gỗ chủ yếu làm nguyên liệu giấy, dăm gỗ cung cấp cho các nhà máy băm dăm trên địa bàn tỉnh Đối với diện tích rừng trồng cây bản địa (Lim xanh, Sao đen, Dầu rái, Lát hoa) trồng từ nguồn trồng rừng thay thế hiện nay cây trồng được 4-5 năm tuổi chủ yếu là rừng phòng hộ Với mục tiêu phòng hộ nên cần duy trì rừng đảm bảo chức năng phòng hộ nên quy định khai thác chỉ được tỉa thưa và duy trì rừng đến tuổi thành thục; trong trường hợp khai thác theo quy định với cường độ (20%) thì sản lượng gỗ thu được từ đối tượng này cũng đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu gỗ làm nhà cho hộ gia đình, cá nhân
3 Trồng cây phân tán
Trong những năm qua việc phát động trồng cây lâm nghiệp phân tán trong nhân dân đã được quan tâm chỉ đạo UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết định số 3099/QĐ-UBND ngày 25/8/2017 về phê duyệt Phương án hỗ trợ cây giống trồng rừng, trồng cây phân tán trên địa bàn tỉnh từ nguồn kinh phí dịch vụ môi trường rừng và Quyết định số 1180/QĐ-UBND ngày 22/4/2019 sửa đổi, bổ sung một số nội dung Quyết định số 3099/QĐ-UBND
Theo số liệu thống kê từ năm 2015 – 2019, trên địa bàn tỉnh đã trồng được 38.796.000 cây trồng phân tán, với tổng diện tích 19.398 ha, bình quân mỗi năm trồng được 7.760.000 cây, với số hộ tham gia trồng cây phân tán mỗi năm là 7.371 hộ Tuy nhiên việc trồng cây lâm nghiệp phân tán trong nhân dân chủ yếu chỉ trồng các loài keo và sản phẩm làm gỗ nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy băm dăm trên địa bàn tỉnh, chưa tạo ra được sản phẩm gỗ phục vụ cho nhu cầu gỗ làm nhà, trang trí nội thất cho người dân
Trong năm 2020, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và PTNT giao nhiệm vụ cho Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh gieo ươm hơn 300.000 cây để cấp phát cho hộ gia đình có nhu cầu gỗ làm nhà Số lượng cây này góp phần đáp ứng nhu cầu gỗ trong 7-10 năm đến
Trang 5trồng mới 776 ha, với các loài cây Keo cho năng suất cao và loài cây bản địa hiện có tại địa phương
Để đảm bảo số lượng và chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp phục vụ
kế hoạch trồng rừng gỗ lớn, các tổ chức, doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng vườn ươm công nghệ cao và đã được UBND tỉnh thống nhất chủ trương và cho phép xây dựng, cụ thể như: Công ty Cổ phần Gỗ Công nghiệp Quảng Nam đã xây dựng Dự án Đầu tư Trung tâm sản xuất giống Nông Lâm nghiệp công nghệ cao tại thôn Tích Phú, xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc với diện tích 13 ha, công suất thiết kế khoảng 10 triệu cây giống chất lượng cao/1 năm và đã được UBND tỉnh Quảng Nam thống nhất chủ trương đầu tư tại Quyết định số 3636/QĐ-UBND ngày 13/11/2019; Công ty TNHH MTV Hào Hưng Đông Giang đầu tư xây dựng khu sản xuất cây giống chất lượng bằng công nghệ cao với diện tích 4 ha tại thôn A Sờ, xã Mà Cooih huyện Đông Giang và đã được UBND tỉnh quyết định chủ trương đầu tư tại Quyết định số 112/QĐ-UBND ngày 14/01/2019; Công ty TNHH Đầu tư Quốc Tế Phú Ninh đầu tư xây dựng vườn ươm giống cây Gáo Vàng với diện tích 0,5 ha tại thôn Pà Lanh, xã Cà Dy huyện Nam Giang và đã được UBND tỉnh quyết định chủ trương đầu tư tại Quyết định số 1725/QĐ-UBND ngày 11/6/2019
5 Đánh giá chung
Theo Quyết định số 623/QĐ-UBND ngày 11/3/2020 của UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt, công bố hiện trạng rừng năm 2019 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, tổng diện tích đất có rừng: 682.222 ha Trong đó: diện tích rừng tự nhiên: 466.115 ha, diện tích rừng trồng: 216.107 ha
Qua điều tra, theo dõi diễn biến rừng hàng năm, rừng tự nhiên có loài cây
gỗ quý có chất lượng tương đối tốt dùng trong xây dựng, làm nhà và trang trí nội thất nằm trong vùng quy hoạch là rừng phòng hộ và đặc dụng, diện tích rừng này với mục đích để phòng hộ, bảo tồn, nghiên cứu khoa học là chính, không được tác động Đối với diện tích rừng tự nhiên quy hoạch là rừng sản xuất có chất lượng rừng kém, phần lớn diện tích rừng mới phục hồi do khai thác kiệt ở thập niên 80, 90 của thế kỷ trước, không có khả năng cung cấp gỗ làm nhà cho người dân Hơn nữa, hiện nay nhà nước tạm dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên theo Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 08/8/2017 của Chính phủ, nên không thể sử dụng nguồn gỗ từ rừng tự nhiên để làm nhà
Đối với rừng trồng: hiện tại rừng trồng trên địa bàn tỉnh có diện tích tương đối lớn, rừng trồng phần lớn là các loài cây mọc nhanh, nên chủ yếu cung cấp nguyên liệu giấy, gỗ nhỏ, ván để làm vách ngăn, chưa có loại gỗ có khả năng cung cấp gỗ lớn để làm nhà Chỉ có khoảng 1.423 ha rừng cây bản địa được trồng từ nguồn trồng rừng thay thế, đến năm 2035 (rừng đủ 20 năm) có thể cung cấp khoảng gỗ khoảng 340 m3/năm
Trang 6III CƠ SỞ LẬP ĐỀ ÁN
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật
Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22/11/2019;
- Luật Lâm nghiệp 2017 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội phê suyệt
Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giai đoạn 2021 2030;
- Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ Ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Quản lý bảo vệ và Phát triển rừng;
- Căn cứ Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư
hỗ trợ kết cấu hạ tầng,giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông lâm nghiệp;
- Nghị Quyết số 12/2017/NQ-HĐND ngày 19/4/2017 của HĐND tỉnh Quảng Nam về phát triển kinh tế xã hội miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn
2017 – 2020, định hướng đến năm 2025;
- Quyết định số 120/QĐ-UBND ngày 11/01/2017 của UBND tỉnh Quảng Nam Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011 - 2020;
- Quyết định số 437/QĐ-UBND ngày 10/02/2017 của UBND tỉnh Quảng Nam Phê duyệt Kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam giai đoạn
- Công văn số 6806/UBND-KTN ngày 13/11/2019 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc xây dựng cơ chế hỗ trợ trồng cây lấy gỗ làm nhà cho người dân các huyện trung du, miền núi, giai đoạn 2020 – 2025;
- Thông báo số 415/TB-UBND ngày 20/12/2019 về Kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh tại Hội nghị trực tuyến tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2016 – 2019 và đề xuất chính sách giai đoạn
2020 – 2025
Trang 7Phần thứ hai XÁC ĐỊNH QUY MÔ DIỆN TÍCH RỪNG TRỒNG, CÂY PHÂN TÁN ĐÁP ỨNG NHU CẦU GỖ LÀM NHÀ CỦA CÁC HUYỆN TRUNG
DU MIỀN NÚI
I Nhu cầu làm nhà của các hộ gia đình trung du miền núi
1 Nhu cầu từ thực hiện chính sách sắp xếp, bố trí lại dân cƣ trên địa bàn tỉnh:
Theo Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 17/8/2016 của Tỉnh ủy, để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho đồng bào vùng Tây của tỉnh, cần tập trung rà soát và điều chỉnh quy hoạch sắp xếp, bố trí lại dân cư theo nội dung xây dựng xã nông thôn mới phù hợp với điều kiện địa hình, kinh tế, văn hóa miền núi; xây dựng kế hoạch và triển khai các điểm định canh định cư tập trung
ở những nơi có điều kiện, phù hợp với địa hình tự nhiên, gần nơi canh tác sản xuất; đồng thời, quy hoạch bố trí lại dân cư tại các vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, vùng đệm các khu rừng đặc dụng
Ngày 21/02/2017, UBND tỉnh ban hành Công văn văn số KTN về việc triển khai thực hiện rà soát, điều chỉnh quy hoạch sắp xếp, bố trí dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 17/8/2016 của Tỉnh uỷ Quảng Nam Qua đó các huyện trung du, miền núi đã thực hiện việc rà soát quy hoạch, với tổng số hộ có nhu cầu sắp xếp, di dời bố trí tái định cư giai đoan 2017 – 2020, định hướng đến năm 2025 là 17.810 hộ Đối tượng di dời là các hộ bị ảnh hưởng thiên tai, có nguy cơ mất nhà ở, đất ở, đất sản xuất do sạt lở đất, lũ ống, lũ quét; hộ sống phân tán, thưa thớt, khó khăn về đất sản xuất, nước sinh hoạt; hộ đặc biệt khó khăn; hộ đưa ra khỏi rừng đặc dụng, rừng phòng hộ Từ khi triển khai thực hiện cho đến nay, các địa phương mới triển khai thực hiện việc di dời, sắp xếp chỗ ở tái định cư cho 5.549 hộ1
- Tổng số hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu làm nhà là: 21.659 hộ, với nhu cầu gỗ 154.145 m3 Trong đó dự kiến định mức 5 m3/nhà sửa chữa và 10 m3
/nhà làm mới Như vậy:
+ Nhu cầu gỗ sửa chữa nhà do nhà xuống cấp: 64.945 m3/ 12.989 hộ
+ Nhu cầu gỗ làm nhà mới (do hư hỏng nặng, do tách hộ, tái định cư): 91.700 m3/ 9.170 hộ
1
Báo cáo số 350/BC-SNN&PTNT ngày 26/12/2019 về Kết quả thực hiện sắp xếp, ổn định dân cư theo Nghị quyết số 12/2017/NQ-HĐND ngày 19/4/2017 và Nghị quyết số 31/2018/NQ-HĐND ngày 28/9/2018 của HĐND tỉnh
Trang 8Dự kiến nhu cầu các loại gỗ sử dụng cho làm nhà gồm 60% sản lượng gỗ từ cây sinh trưởng nhanh và 40% từ cây sinh trưởng chậm cho các kết cấu chịu lực lớn
Biểu 02: Nhu cầu gỗ làm nhà giai đoạn 2021-2035
(Kèm theo phụ lục số 01 thống kê số hộ và khối lượng gỗ)
Do đặc điểm của cây trồng lâm nghiệp từ khi trồng đến khai thác có thời gian rất dài Do đó, trong giai đoạn 2021 – 2025 sẽ không đáp ứng được nhu cầu
gỗ làm nhà cho 9.696 hộ, với tổng khối lượng gỗ 74.185 m3 Kính đề nghị HĐND tỉnh có cơ chế hỗ trợ bằng tiền hoặc bằng vật liệu khác thay gỗ để người dân làm nhà đối với các hộ có nhu cầu gỗ làm nhà trong giai đoạn 2021-2025
Đối với giai đoạn 2026-2035, và 5 năm sau 2035 về cơ bản nhu cầu gỗ từ cây sinh trưởng nhanh có thể đáp ứng cho nhu cầu gỗ làm nhà Riêng nhu cầu gỗ
từ cây sinh trưởng chậm do cây trồng chưa đạt tiêu chuẩn nên chưa thể cung cấp
từ Đề án Tuy nhiên với diện tích rừng phòng hộ đã trồng từ nguồn trồng rừng thay thì sau năm 2035 có thể cung cấp gỗ khoảng 340 m3/năm So với nhu cầu
gỗ làm nhà đối với loại gỗ này là 4.111m3/năm thì vẫn còn thiếu 3.771 m3/năm, tương ứng 34.971 m3
cho giai đoạn này Kính đề nghị HĐND tỉnh có cơ chế hỗ trợ bằng tiền hoặc bằng vật liệu khác thay gỗ
3 Xác định diện tích rừng trồng, cây phân tán cung ứng cho nhu cầu
gỗ giai đoạn 2026-2035 và nhu cầu hàng năm sau năm 2035
Từ nhu cầu gỗ làm nhà được các địa phương khảo sát, dự báo trên cơ sở nhu cầu các hộ gia đình, xác định nhu cầu gỗ trung bình hàng năm 10.276 m3
Trang 9ngay thì đảm bảo ổn định diện tích và khả năng cung ứng gỗ bền vững cho nhu cầu gỗ làm nhà hàng năm
Căn cứ khoản 15, 16 Điều 3 Thông tư số 29/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 quy định về các biện pháp lâm sinh thì: Loài cây sinh trưởng nhanh
là loài cây gỗ đạt lượng tăng trưởng đường kính bình quân từ 02 cm/năm trở lên hoặc năng suất đạt từ 10m3
/ha/năm trở lên; loài cây sinh trưởng chậm là loài cây
gỗ đạt lượng tăng trưởng đường kính bình quân dưới 02 cm/năm hoặc năng suất đạt dưới 10m3
/ha/năm;
Trên cơ sở thực tiễn tình hình sinh trưởng của rừng trồng trên địa bàn tỉnh, ước tính: Sản lượng gỗ thành phẩm (gỗ làm nhà) = Thể tích cây đứng x 70% tỷ lệ tận dụng gỗ Cụ thể sản lượng gỗ từng loài cây như sau:
+ Cây sinh trưởng nhanh (sau 7 năm): Sản lượng gỗ thành phẩm: Thể tích cây đứng x 70% = 0,23562 m3
x 70 % = 0,16534 m3/ 01 cây
+ Cây sinh trưởng chậm (sau 20 năm): Sản lượng gỗ thành phẩm: Thể tích cây đứng x 70% = 0,2827 m3
x 70 % = 0,1979m3/ 01 cây
(Kèm theo phụ lục 02 chi tiết xác định sản lượng)
Từ sản lượng gỗ cây đứng có thể thu được và nhu cầu gỗ làm nhà hàng năm như đã xác định ở điểm 2, với thời gian thực hiện trồng cây phân tán và trồng rừng trong 5 năm, từ năm 2020-2025, Đề án xác định hỗ trợ khối lượng cây trồng và diện tích rừng trồng cụ thể như sau:
- Nhu cầu gỗ làm nhà 15 năm, trong đó 10 năm của giai đoạn 2026-2035
và 5 năm sau năm 2035:
+ Đối với gỗ nhóm cây sinh trưởng nhanh là 92.250 m3 Tương ứng với số lượng cây phân tán trồng trong giai đoạn này là 673.000 cây
Tuy nhiên như đã trình bày ở điểm 3, Mục II, Phần thứ nhất, trong năm
2020 UBND tỉnh đã chỉ đạo tổ chức gieo ươm và cấp phát đến hộ 300.000 cây
Số cây còn lại Đề án cần hỗ trợ là 373.000 cây
+ Đối với gỗ nhóm cây sinh trưởng chậm 61.665 m3 Tương ứng số lượng cây phân tán phải trồng là 372.000 cây;
(Kèm theo phụ lục số 02 chi tiết số lượng cây phân tán)
- Nhu cầu gỗ ổn định 10.276 m3/năm, từ 2040 trở đi (rừng 20 tuổi) Tương ứng với diện tích rừng tập trung phải trồng tối thiểu 1.400 ha (mật độ trung bình 1.333 cây cho 1 ha) Với diện tích rừng trồng tập trung này, khi đủ điều kiện khai thác để lấy gỗ làm nhà, có khả năng đáp ứng nhu cầu gỗ trong 20 năm
Hiện nay, có 06 Ban quản lý rừng phòng hộ huyện đã đăng ký thực hiện
đề án, gồm: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nam Trà My, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Bắc Trà My, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phước Sơn, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nam Giang, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Đông Giang và Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Giang
Trang 10Biểu 03: Kế hoạch trồng và chăm sóc giai đoạn 2021- 2025
Đơn vị
2021 2022 2023 2022 2023 2024 2025
BQL rừng PH huyện Tây Giang 80 60 60 80 140 200 200
BQL rừng PH huyện Nam Giang 80 70 70 80 150 220 220
BQL rừng PH huyện Phước Sơn 100 100 100 100 200 300 300
BQL rừng PH huyện Đông Giang 100 100 90 100 200 290 290
BQL rừng PH huyện Bắc Trà My 100 50 40 100 150 190 190
BQL rừng PH huyện Nam Trà My 80 60 60 80 140 200 200
Đối với loài cây sinh trưởng chậm thời gian kiến thiết cơ bản được thực
hiện 5 năm (theo TCVN 15209-2:2018), như vậy việc chăm sóc sẽ kéo dài đến
2028 với khối lượng chăm sóc 7.000 lượt ha.năm Trong phạm vi đề án, đến
năm 2025 đã chăm sóc 4.320 lượt ha.năm, cần phải tiếp tục kéo dài thời gian để
chăm sóc tiếp 2.680 lượt ha.năm
4 Loài cây trồng
- Cây sinh trưởng nhanh gồm các loài: Gáo vàng, Xoan ta, Mít, Bạch
đàn v v… thời gian khai thác từ 7 – 10 năm
- Cây sinh trưởng chậm (cây bản địa) gồm các loài: Trám trắng, Dầu rái,
Lim xanh, Giổi, Sao đen, Huỷnh, Chò, Tếch v v… Thời gian khai thác trên 20
năm
Trang 11Phần thứ ba NỘI DUNG ĐỀ ÁN HỖ TRỢ TRỒNG CÂY LẤY GỖ LÀM NHÀ CHO
NGƯỜI DÂN CÁC HUYỆN TRUNG DU, MIỀN NÚI
I MỤC TIÊU
1 Mục tiêu chung:
- Tạo nguồn cung cấp gỗ làm nhà từ rừng trồng, cây trồng phân tán thông qua việc hỗ trợ trực tiếp cho người dân có nhu cầu làm nhà, các Ban quản lý rừng phòng hộ huyện góp phần hạn chế khai thác gỗ từ rừng tự nhiên và ổn định cuộc sống vùng trung du, miền núi của tỉnh
- Trồng cây lâm nghiệp phân tán và trồng rừng tập trung tạo cảnh quan, bảo
vệ các công trình kết cấu hạ tầng, bảo vệ đất đai, phòng hộ sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái, chống sạt lở và góp phần ứng phó biến đổi khí hậu
- Từ năm 2035, khai thác và trồng lại duy trì diện tích rừng trồng tập trung
ổn định 1.400 ha; sản lượng gỗ cung cấp cho người dân làm nhà đạt 80% nhu cầu gỗ hàng năm
II PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH, ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN
1 Phạm vi điều chỉnh
- Đối với trồng cây phân tán được thực hiện trong phạm vi 09 huyện, gồm: Nam Trà My, Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Phước Sơn, Nông Sơn, Nam Giang, Đông Giang, Tây Giang
- Đối với trồng rừng tập trung được thực hiện trong 06 Ban quản lý rừng phòng hộ huyện: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nam Trà My, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Bắc Trà My, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nam Giang, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phước Sơn, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Đông Giang và Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Giang
2 Đối tượng áp dụng
- Hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu trồng cây phân tán để lấy gỗ sữa chữa nhà hoặc làm nhà mới; đất trồng cây phân tán là đất chưa có rừng, nương rẫy, vườn rừng, vườn nhà