Cùng với những thông tin về sao ở vùng nhìn thấy, chúng ta có thể tìm hiểu về thành phần bụi và tốc độ hình thành sao từ các bức xạ liên tục hồng ngoại, về khí phân tử từ các vạch phổ ph
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN VẬT LÍ
PHẠM TUẤN ANH
QUAN SÁT Ở BƯỚC SÓNG MILLIMET MỘT THIÊN
HÀ CÓ DỊCH CHUYỂN ĐỎ CAO DỰA TRÊN HIỆU
ỨNG THẤU KÍNH HẤP DẪN
Chuyên ngành: Vật lí nguyên tử
Mã số: 62 44 01 06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VẬT LÍ
Hà Nội 2015
Trang 2Công trình được thực hiện trong khuôn khổ luận văn đồng hướng dẫn giữa Viện Vật Lí, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
và Trường Đại học Paul Sabatier, Toulouse, Pháp
Người hướng dẫn: GS Pierre DARIULAT (Việt Nam)
TS Frédéric BOONE (Pháp)
Phản biện 1: TS Võ Văn Thuận, Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận
Phản biện 2: PGS.TS Đinh Văn Trung, Viện Vật Lí
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Quỳnh Lan, Đại học Sư phạm Hà Nội
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện tại ……… … vào hồi……giờ… ngày….tháng… năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Viện Vật lí
Trang 3Tổng quan
Nghiên cứu sự hình thành và tiến hóa của các thiên hà thời kì đầu vũ trụ là một trong những hướng nghiên cứu năng động nhất của vật lý thiên văn đương đại
Có hai nhóm các thiên hà: một nhóm gồm các thiên hà đang hình thành sao và nhóm kia gồm các thiên hà không hình thành sao Nhóm các thiên hà hình thành sao thường xanh, đậm đặc và có cấu trúc bụi xoắn ốc bao gồm một đĩa các ngôi sao mới đang quay và một quầng các ngôi sao có ít bạn đồng hành Nhóm các thiên hà không hình sao thường là các thiên hà dạng elip đỏ, gồm các ngôi sao già và bao gồm rất ít hoặc không bụi Cả hai nhóm loại thiên hà này thường gồm một hố đen ở tâm của chúng với khối lượng từ vài triệu tới và tỉ lần khối lượng mặt trời Các thiên hà nằm trong quầng vật chất tối lớn, khối lượng của chúng tỉ lệ với kích cỡ của quầng vật chất đó Sự sáp nhập các thiên hà đóng vai trò quan trọng trong sự tiến hóa cấu trúc của vũ trụ, các vụ sáp nhập lớn giữa hai thiên hà xoắn ốc tạo nên thiên hà elip
Với dịch chuyển đỏ lớn chúng ta đang quan sát thời kì đầu của vũ trụ Cùng với những thông tin về sao ở vùng nhìn thấy, chúng
ta có thể tìm hiểu về thành phần bụi và tốc độ hình thành sao từ các bức xạ liên tục hồng ngoại, về khí phân tử từ các vạch phổ phân tử (phần lớn là từ CO), về các thiên hà tâm hoạt động từ bức xạ vô tuyến và tia X của chúng Sự khám phá vũ trụ ở tất cả các bước sóng gần đây đã đạt được những kết quả ngoạn mục Mật độ tốc độ hình thành sao và quá trình tạo nên khối lượng của sao đã được xác định tới thời điểm 1 tỷ năm sau Vụ nổ lớn Mật độ này tăng ổn định trong
khoảng z~10 tới 6 khi bức xạ từ các thiên hà đầu tiên tới ion hóa môi trường trung hòa (về điện) giữa các thiên hà Nó đạt đỉnh ở z~3 tới 1,
thời kì các thiên hà tập hợp, thời mà một nửa các ngôi sao hiện nay trong vũ trụ được hình thành Tốc độ hình thành sao trong giai đoạn
cuối giảm khoảng 10 lần với z~1 tới 0
Trang 4Luận văn tập trung vào nghiên cứu thiên hà chứa quasar, RX
J0911, với z=2.8, chứa một lỗ đen hoạt động ở tâm của nó ở thời kì
các thiên hà tập hợp Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ hệ thống kính thiên văn giao thoa Plateau de Bure ở tần số tương ứng với dịch chuyển đỏ của bức xạ vạch CO(7-6) Quan sát với vạch phổ cung cấp các thông tin về phân tử khí trong thiên hà, trong khi đó phổ liên tục cho các thông tin về bụi Cường độ của vạch phổ cho biết kích thước
và các tính chất vật lý của đám khí phân tử, độ rộng và đặc trưng của vạch phổ cho biết động học và thành phần động năng của đám khí Cường độ phổ liên tục cho biết tốc độ hình thành sao, liên quan trực tiếp tới sự phát bức xạ của bụi
RX J0911 được quan sát qua bốn ảnh nhờ hiệu ứng thấu kính hấp dẫn bởi một thiên hà phía trước Tín hiệu được khuếch đại khoảng 20 lần thuận lợi cho việc tìm những tính chất của thiên hà nhưng hiệu ứng này cũng gây biến dạng nó, làm tăng độ khó trong việc diễn giải dữ liệu Thông thường với hệ số khuếch đại lớn thì vị trí của nguồn gần với đường tới hạn trên mặt phẳng nguồn (đường caustic)của thấu kính nơi biến dạng là lớn nhất Đây chính là trường hợp của RX J0911, thiên hà chứa nó bao phủ lên đường tới hạn đó
Nội dung luận án gồm 5 chương
Chương đầu tiên giới thiệu chung các đối tượng chính được
đề cập trong luận án: các thiên hà trong vũ trụ sơ khai, các quasar với
độ dịch chuyển đỏ cao, thấu kính hấp dẫn và giao thoa vô tuyến Phần này nội dung được lấy từ các sách giáo khoa, bài giảng, các bài tổng hợp trong ngành liên quan Các kết quả quan sát của RX J0911 cũng được trình bày bao gồm: các quan sát bởi kính viễn vọng không gian Hubble ở vùng nhìn thấy và hồng ngoại, dữ liệu tia X và dữ liệu
về vạch phân tử (chủ yếu là CO) Các thành phần của thấu kính cũng được mô tả, các cụm thiên hà và cơ chế thấu kính hấp dẫn Phần cuối chương trình bày về dữ liệu đo đạc bởi Plateau de Bure và cách xử lý
Trang 5từ dữ liệu thô tới dữ liệu chuẩn hoá trong mặt phẳng Fourier và mặt phẳng ảnh
Hình 1 Bốn ảnh của quasar RX J0911 (A1, A2, A3, B) quan sát nhờ thiên
hà G đóng vai trò như một thấu kính hấp dẫn, chụp bởi kính viễn vọng không gian Hubble ở bước sóng khả kiến và gần hồng ngoại Thấu kính cũng bao gồm một cụm các thiên hà và một thiên hà vệ tinh khác Quasar có
độ dịch chuyển đỏ z=2.8 (cách đây 11.3 tỉ năm ánh sáng) trong khi thấu kính
có độ dịch chuyển đỏ z=0.8
Chương thứ hai tập trung nghiên cứu chi tiết các kịch bản
thấu kính hấp dẫn Chương này trình bày việc sử dụng hai thế thấu kính khác nhau (1 và 2) cho phép so sánh các kết quả giữa chúng và ước tính sai số hệ thống quan trọng nhất gắn liền với kết quả Một thế kết hợp một thấu kính dạng elip với một số hạng bổ chínhđại diện cho đóng góp của cụm các thiên hà và thiên hà vệ tinh nhỏ Nghiên cứu với thế này là hoàn toàn do chúng tôi phát triển bằng cách giải tường minh phương trình thấu kính Thế còn lại sử dụng một công cụ phức tạp hơn, LENSTOOL, do nhóm của Kneib phát triển Thay vì
sử dụng số hạng bổ chính, nó mô tả các hiệu ứng thấu kính của cụm
Trang 6
Hình 2 Đường tới hạn trên mặt phẳng nguồn của thế 1 (xanh lá cây) và thế
2 (đỏ) Nguồn điểm quasar (tâm của thiên hà) được đánh dấu bằng dấu cộng màu xanh
các thiên hà bởi một thấu kính hư cấu nằm ở tâm của chúng Vị trí của nguồn ở mặt phẳng ảnh rất gần với thiên hà đóng vai trò thấu kính chính nên hiệu ứng gây bởi cụm các thiên hà chỉ đóng vai trò
Hình 3 Trái: các vị trí của ảnh cho bởi thế 1 được đánh dấu bằng các dấu cộng màu đỏ, vị trí nguồn điểm dấu cộng màu đen Thấu kính chính G ở tâm của hệ trục tọa độ Các dấu cộng màu đỏ chỉ các vị trí ảnh quan sát bởi kính
Hubble Phải: Phân bố trên mặt phẳng nguồn của χ 2 mô tả sự phù hợp giữa các ảnh bởi Hubble và các ảnh cho bởi mô hình 1 Thang màu sắc hiển thị
theo log(χ 2) nhân với một hằng số
(arcsec)
Trang 7nhiễu loạn Chúng tôi so sánh sự khác biệt kết quả từ hai phương pháp tiếp cận này Phương pháp giải tường minh phương trình thấu kính được nêu ra một cách chi tiết và chú ý đặc biệt tới vùng gần
Hình 4 Đặt các nguồn điểm trên mặt phẳng nguồn theo đường thẳng với
φ s=15 với bước nhảy 5 10-4 r 0 bắt đầu từ 0.25 r 0 Trái: vị trí các điểm ảnh được hiển thị bằng các dấu chấm đen trước khi biến mất, các chấm màu đỏ chỉ đường tới hạn Giữa: mật độ hình ảnh điểm (bỏ qua hiệu ứng khuếch đại) Phải: cường độ sáng của ảnh
Hình 5 Các ảnh A khi tách nguồn có bán kính R s=0.15” làm đôi Nguồn được tách đôi dọc theo đường kính với các góc định hướng 0 0
, 300, 450, 600 and 900 (từ trái qua phải) Phía trên là phần phía đông, phía dưới là phần phía tây của nguồn
Trang 8đường tới hạn trên mặt phẳng nguồn Thiên hà RX J0911 bao phủ lên đường đó, một phần của nó cho hai hình ảnh và một phần cho bốn ảnh, với sự biến dạng tối đa ở ranh giới Các đường tới hạn ở hai thế khác nhau đôi chút gây ra các biến dạng khác nhau đối với các ảnh, tạo ra sai số hệ thống Chúng tôi nghiên cứu chi tiết ảnh hưởng của sai số này trên các kết quả cuối cùng Chúng tôi cũng mô tả các đặc điểm chung của nguồn gần đường tới hạn đặc biệt là cho trường hợp quasar bốn ảnh điểm và những vấn đề liên quan tới sự thay đổi vận tốc (velocity gradient) và độ sáng tỉ đối giữa các ảnh
Chương thứ ba áp dụng kiến thức về thấu kính hấp dẫn từ
chương trước để xây dựng mô hình cho thiên hà RX J0911 Hầu hết các công việc được thực hiện trong mặt phẳng Fourier, nơi các phép
đo là độc lập, cho phép xử lí sai số chính xác Chúng tôi sử dụng χ 2
để đánh giá sự phù hợp giữa kết quả quan sát và mô phỏng thông qua điều chỉnh các tham số mô hình sao cho phù hợp nhất với các dữ liệu
đo đạc Chúng tôi sau đó thảo luận độ tin cậy của phương pháp cùng với đánh giá các nguồn sai số đóng góp vào kết quả
Figure 6 Phân bố χ 2 cho vạch phổ (trái) và phổ liên tục (giữa) sử dụng thế 1
(xanh) và thế 2 (đỏ) theo hàm của kích thước nguồn ρ (mas) Vạch liền cho
nguồn phân bố độ sáng đồng nhất, vạch đứt cho nguồn phân bố độ sáng theo dạng Gauss, vạch đứt với chấm cho nguồn phân bố độ sáng kết hợp của hai phân bố trước đó (đồng nhất ở tâm và theo phân bố Gauss ở phía ngoài)
Trang 9Hình 7 Dạng của nguồn phát từ phép khớp hàm tốt nhất cho thế 1 (trái) và thế 2 (phải) Tâm của hai nguồn đều là tâm của hệ tọa độ
Hình 8 Sự phụ thuộc của cường độ tỉ đối B/A theo kích thước ρ (mas) cho nguồn ellip có λ và α (giá trị xác định từ khớp hàm tốt nhất của chúng) với
nguồn phân bố độ sáng kết hợp Tỉ số này được hiển thị bằng đường màu xanh nước biển cho thế 1 và màu đỏ cho thế 2 Tỉ số B/A đo được (±1 độ lệch chuẩn) hiển thị bằng dải màu xanh đậm nằm ngang với phép đo của Weiss và cộng sự (2012) và xanh nhạt với phép đo của chúng tôi Giá trị
khớp hàm tốt nhất của ρ ở đây, 92±15 mas, được hiển thị bằng dải đứng màu
xanh lá cây
Trang 10Kích thước nguồn được đánh giá bằng cách sử dụng mô hình phân bố độ sáng với khu vực trung tâm đồng nhất và phân bố Gauss
ngoài cạnh, cả hai đều là hình elip với λ 2 là tỷ lệ giữa các bán trục lớn
và bán trục nhỏ Kích thước tổng thể được xác định bằng tham số ρ,
căn bậc hai của trung bình bán kính bình phương, và góc định hướng
α Chúng tôi cũng nghiên cứu cho trường hợp đặc biệt khi sự phân bố
độ sáng là hoàn toàn đồng nhất hoặc Gauss với nguồn hình tròn Cả hai thế 1 và 2 được sử dụng làm thấu kính và sự khác biệt giữa kết quả giữa chúng được dùng để ước tính sai số hệ thống Kết quả khớp
hàm tốt nhất cho các thông số như sau: ρ=104±16 mas, λ=1.60+0.35−0.18 và α=111o
±9o Giả thuyết về nguồn điểm bị loại trừ tới 6 độ lệch chuẩn, với nguồn tròn là 3,3 độ lệch chuẩn Kết quả này phù hợp với phép đo về tỉ số cường độ sáng B/A Nếu kết hợp
thêm phép đo chính xác hơn, B/A = 21±1% thì ρ = 120±15 mas Kết hợp tất cả các kết quả lại với nhau cho ρ = 106±15 mas và B/A =
0.19 ± 0.01
Hình 9 Kết quả của khớp hàm tốt nhất của sự thay đổi vận tốc cho thế 1
(xanh) và thế 2 (đỏ) Trục tung chỉ tham số α + và trục hoành α – Các đường ellip ở đây chỉ sai số ứng với 1 và 2 độ lệch chuẩn Tâm của hệ trục tọa độ tương ứng với không có sự thay đổi vận tốc
Chúng tôi tìm thấy bằng chứng về sự thay đổi vận tốc đối với vạch phổ ở mức độ 4.5 độ lệch chuẩn Thế 2 cho vị trí khớp hàm tốt nhất của nguồn gần đường tới hạn (mặt phẳng nguồn) hơn thế 1 (hệ
Trang 11số khuếch đại của thế 2 lớn hơn thế 1) do đó kích thước nguồn cho bởi thế 2 nhỏ hơn thế 1 Tuy nhiên, cả thế 1 và 2 đưa ra dự đoán tương tự đáng kể về độ elip của nguồn và sự thay đổi vận tốc Các phép khớp hàm thực hiện trên cả ảnh bẩn (dirty map) và ảnh sạch (clean map) minh họa những khó khăn khi xử lý với nhiễu trong trường hợp này và củng cố thêm độ tin cậy của các kết quả thu được trên mặt phẳng Fourier Kết quả khớp hàm tốt nhất cho dữ liệu liên
tục, sử dụng cùng giá trị λ và α từ phổ vạch cho ρ=32±16 mas; nguồn
được phân giải chỉ ở mức 2 độ lệch chuẩn
Hình 10 Phổ thông lượng tổng của tất cả các ảnh A và B
Chương thứ tư dành cho diễn giải kết quả trên Chương này
bắt đầu bằng giới thiệu chung về hình thành các thiên hà và sự tiến hóa, với sự nhấn mạnh đặc biệt vào các dữ liệu hồng ngoại xa (FIR)
và CO gần đây
Độ trưng vạch phổ thu được từ thông lượng tổng đo trên ảnh
sạch S line Δν Kết quả khớp hàm Gauss cho vạch phổ cho kết quả giá
trị đỉnh phổ là 47.6 mJy, vận tốc trung bình −22±6 kms−1 và độ rộng tại nửa chiều cao đỉnh (FWHM) 120±14 kms−1; cho phổ liên tục
~4.0±0.5 mJy Thông lượng tổng hợp đo được với vạch phổ 5.0±0.5 Jykms−1 và với phổ liên tục là 4.4±0.5 mJy Việc đánh giá độ trưng phụ thuộc rất nhiều vào giá trị của hệ số khuếch đại nhận được từ các
Trang 12mô hình thấu kính Đây là nguồn sai số quan trọng nhất Hệ số khuếch đại được sử dụng cho vạch phổ là 12±4 cho phổ liên tục là 24±10 và cho nguồn điểm là 26±10 Bảng dưới đây tóm tắt các tính chất chính:
Bảng 1 Dữ liệu RX J0911
Khuếch đại (nguồn điểm) 17.4 35.9 26±10 Khuếch đại (vạch) 9.4±0.7 16.0±1.1 12±4 Khuếch đại (liên tục) 15.4±2.2 33.9±4.8 24±10 L’ CO(7-6) [109K km s –1 pc 2 ] 3.9±0.8 2.3±0.5 3.1±1.0 L’ CO(1-0) [109K km s –1 pc 2 ] 4.9±1.0 2.9±0.6 3.9±1.3 Thông lượng liên tục [mJy] 0.31±0.08 0.14±0.04 0.20±0.09
M H2 [10 9 M Sun ] 3.9±0.8 2.3±0.5 3.1±1.0
Tốc độ tiêu thụ [10 7 yr] 1.1 1.4 1.3 Khối lượng bụi [10 8 M Sun ] ~1.3 ~0.6 ~0.8
M dyn [10 9 M Sun ] 4.7±1.4 4.7±1.4 4.7±1.4
Trang 13Sai số chính trong việc xác định khối lượng khí vẫn là do giá trị của hệ số khuếch đại, bằng một nửa khi sử dụng thế 1 so với thế 2, nghĩa là khối lượng khí 2 lần lớn hơn khi dùng thế 1 so với thế 2
Hình 11 Sự phụ thuộc bước sóng của thông lượng bụi RX J0911 (trục tung
là logarit cơ số 10 của thông lượng theo μJy và trục hoành là logarit cơ số 10 của bước sóng theo μm) Thông lượng chúng tôi đo (chấm đỏ) hiển thị cùng với các phép đo trước đó (chấm đen) Đường màu xanh da trời là kết quả của phép khớp hàm mũ ứng với hệ số phát xạ bằng 2.04 Các đường cong là kết quả của phép khớp hàm dạng bức xạ vật đen với nhiệt độ tương ứng
T d=30 (đen), 40 (xanh nước biển) and 60 K (đỏ)
Hình 12 Khối lượng đám mây phân tử khí và độ rộng vạch phổ FWHM của
CO cho 36 thiên hà phát bức xạ phân tử Dấu cộng đỏ chỉ RX J0911 Vẫn
có sai số lớn trong việc xác định khối lượng của đám mây phân tử khí (chủ yếu do hệ số khuếch đại) nhưng thiên hà RX J0911 vẫn nằm ở phía dưới của các quasar khác đã được quan sát
Trang 14Mặc dù vậy, khối lượng phân tử khí là khá nhỏ và nằm ở vùng phía dưới của các quasar đã được quan sát Những sai sót có thể mắc phải khi đánh giá thấp khối lượng này đều được cân nhắc và càng được củng cố khi so sánh với các đối tượng có độ dịch chuyển đỏ cao khác như các thiên hà chứa quasar hay các thiên hà phát bước sóng dưới
mm (SMGs) Sự phân bố phổ năng lượng, dùng để tính tốc độ hình thành sao, không được ràng buộc chặt chẽ từ những dữ liệu đã có nên
sự đánh giá có phần tùy ý ; dựa trên hiểu biết từ các thiên hà khác
chúng tôi đo được L FIR =320 μ –1 10 11 L Sun , trong đó μ là hệ số khuếch
đại bởi thấu kính Tương tự, đánh giá về khối lượng bụi từ bức xạ liên tục cũng có sai số lớn Hiệu suất hình thành sao của thiên hà RX J0911 nằm ở phía trên của tất cả các thiên hà khác, kể cả các thiên hà
có độ dịch chuyển đỏ thấp hoặc cao Độ trưng CO và FIR của nó nằm
ở ngưỡng dưới của các thiên hà có độ dịch chuyển đỏ cao, nằm ở
Figure 13 Tương quan giữa thông lượng FIR và thông lượng phổ vạch CO cho các nhiều loại thiên hà khác nhau từ Carilli & Walter 2013 Phép đo của thiên hà RX J0911 được hiển thị bằng thanh màu xanh