1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO SƠ LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG VỀ GIỚI CỦA DỰ ÁN PTLNXH SÔNG ĐÀ

17 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 386,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với cán bộ phụ trách vấn đề giới của dự án SFDP Sông Đà cập nhật việc thực hiện các hoạt động về giới theo kế hoạch đã lập ra đến tháng 5 năm 2003; 2.. Kết quả tổng hợp của chuyên g

Trang 1

Hợp tác Kỹ thuật Việt Nam – CHLB Đức

DỰ ÁN PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI SÔNG ĐÀ

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – GTZ

BÁO CÁO SƠ LƯỢC

VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG VỀ GIỚI CỦA DỰ ÁN PTLNXH SÔNG ĐÀ

ĐẾN THÁNG 5 – 2003

Báo cáo tư vấn trong nước số 15 Nguyễn Thị Khánh Minh

Tháng 6 - 2003

Trang 2

I Giíi thiÖu s¬ l−îc vÒ nhiÖm vụ của đợt tư vấn ngắn hạn

Trên cơ sở thực hiện các hoạt động về giới năm 2002 và Biểu đồ kế hoạch dự án của

dự án Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà, kế hoạch thực hiện các hoạt động giới năm 2003 đã được chuẩn bị (xin tham khảo trong phụ lục 2, báo cáo tư vấn ngắn hạn

về giới tháng 11 năm 2003),

Trên cơ sở các hoạt động giới được nêu trong Kế hoạch thực hiện hàng năm của dự án PTLNXH Sông đà do chuyên gia theo dõi đánh giá chuẩn bị cho năm 2003,

Xác định mục tiêu chính cho đợt tư vấn ngắn hạn của chuyên gia tư vấn lần này là:

1 Cùng với cán bộ phụ trách vấn đề giới của dự án SFDP Sông Đà cập nhật việc thực hiện các hoạt động về giới theo kế hoạch đã lập ra đến tháng 5 năm 2003;

2 Chuẩn bị kết quả tổng hợp về Giới trong Quy hoạch sử dụng và giao rừng tự nhiên (GRTN) và trong Phương pháp luận khuyến nông có người dân tham gia (PAEM) cho cuộc hợp quý của dự án;

3 Hỗ trợ việc thực hiện khoá đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ giảng viên nữ trên địa bàn dự án tổ chức trong tháng 4 năm 2003

Thời gian thực hiện các hoạt động tại hiện trường và phân tích số liệu, viết báo cáo hoàn thành các mục tiêu nêu trên là 33 ngày tính từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2003

II Kết quả tổng hợp của chuyên gia tư vấn

2.1 Vấn đề giới trong Giao rừng tự nhiên (GRTN) và Lập quy ước bảo vệ rừng có

sự tham gia (QƯBVR) tại xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu tỉnh Sơn La

Cuối năm 2002 và đầu năm 2003, Hội liên hiệp phụ nữ huyện Yên Châu đã phối hợp với cán bộ dự án Sông Đà thực hiện một đợt đánh giá khảo sát sự tham gia của phụ nữ thôn bản tại xã Chiềng Hặc huyện Yên Châu trong qúa trình GRTN Mẫu phiếu được

sủ dụng trong theo dõi đánh giá là mẫu phiếu đã được chuyên gia ngắn hạn xây dựng trong năm 2002 (xem chi tiết trong phụ lục 4, báo cáo tư vấn về giới năm 2002) Cán

bộ dự án chịu trách nhiệm hỗ trợ chính việc đánh giá này là ông Vũ Đức Thuận, cán bộ điều động của chi cục Kiểm Lâm tỉnh Sơn La Nhưng do yêu cầu của đợt thi cao học, ông Thuận chỉ hỗ trợ về mặt kĩ thuật và liên lạc từ xa Việc đào tạo, tập huấn và hỗ trợ Huyện hội phụ nữ Yên Châu thực hiện đợt đánh giá vào tháng 12 năm 2002 chủ yếu do ông Hạnh, cán bộ dự án thực hiện

Như đã nêu trong báo cáo của huyện hội phụ nữ Yên Châu về kết quả đợt đánh giá, mục tiêu của đợt đánh giá này là: (a) phản ánh tâm tư nguyện vọng của phụ nữ thôn bản khi tham gia quá trình giao rừng tự nhiên tại địa bàn mình, (b) tăng cường nhận thức của chị em về quyền và nghĩa vụ thực hiện bảo vệ, và (c) đề nghị lên ban quản lí giao rừng tự nhiên của tỉnh và huyện để có được cả tên vợ và tên chồng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) Để đạt được các mục tiêu nêu trên, huyện hội phụ nữ phối hợp với các chi hội và hội viên của mình đã thực hiện một đợt đánh giá

Trang 3

qua hai hình thức cơ bản sau: họp tập huấn tại huyện và xã và sử dụng mẫu phiếu theo dõi đánh giá sự tham gia khi đi phỏng vấn tại 15 thôn bản Tổng số có 36 cán bộ phụ

nữ tham gia trong đợt đánh giá bao gồm 4 cán bộ của huyện hội phụ nữ và 32 cán bộ các chi hội thuộc xã Chiềng Hặc Đợt đánh giá được thực hiện trong thời gian từ ngày

14 đến ngày 27 tháng 12 năm 2002 Số lượng phụ nữ được phỏng vấn tại các thôn bản

là 748 trên tổng số 769 phụ nữ của xã Chiềng Hặc Nhìn vào bảng tổng hợp sau có thể thấy số lượng phụ nữ tham gia trong quá trình giao rừng tự nhiên và trong lập quy ước bảo vệ rừng tại xã Chiềng Hặc huyện Yên Châu là khá cao

Bảng 1: Sự tham gia của phụ nữ xã Chiềng Hặc huyện Yên Châu trong công tác giao rừng tự nhiên và lập quy ước bảo vệ rừng

Họp GĐGR (nữ/tổng số hộ)

Họp lập QƯBVR (nữ/tổng số hộ)

Stt Thôn bản/người

theo dõi

1st 2nd 3rd 1st 2nd 3rd

Mai, Nguyễn Thị

An

3 Huổi Mông/Hà Thị

4 Huổi Thón/Lò Thị

On

5 Nà Ngà/Hà Thị

Viển

7 Huổi Lắc/Hà Thị

Hom

Anh, Hà Thị Bốn

10 Tà Vài 1/Hà Thị

Bông

11 Co Sảy/Vàng Thị

Mỷ

13 Bản Kang/Lù Thị

Mỷ

14 Huổi Toi/Hà Thị

Trang 4

Lan Anh, Hà Thị

Bốn

Bình quân ~ 20/44 26/48 27/49 23/45 36/63 39/55 Tổng số 294/655 340/626 189/345 344/668 362/626 273/387

Trong báo cáo của mình, hội phụ nữ Huyên Yên Châu cũng chỉ ra rằng có một số bản chỉ thực hiện một cuộc họp bản chung cho toàn bộ quá trình giao rừng tự nhiên bao gồm phổ biến chính sách nội dung, giao rừng ngoàI thực địa và các điều chỉnh cần thiết Một vàI thôn bản có tổ chức hai cuộc họp và số còn lại tổ chức đủ cả ba cuộc họp Đặc biệt , tại bản Chi Đẩy, một thôn bản người Hmông do không có phụ nữ nào biết đọc biết viết nên không có ai tham gia các cuộc họp bản Có hai thôn bản trên tổng

số 15 là Nà Ngà và Huổi Thón, chi hội phụ nữ được giao đất lâm nghiệp và rừng để quản lí vào bảo vệ với tổng diện tích là 6 ha Kết quả điều tra cũng cho thấy, khi được hỏi ý kiến, 100% số chị em phụ nữ trong thôn bản cho biết họ mong muốn có được cả tên vợ và chông trên giấy chúng nhận sử dụng đất mà họ được cấp

Bước tiếp theo sau đợt đánh giá điều tra là huyện hội phụ nữ huyện Yên Châu tổng hợp kết quả đánh giá, viết một báo cáo và trên cơ sở báo cáo này, gửi công văn tới ban chỉ đạo giao đất giao rừng của tỉnh và huyện đề nghị có được cả tên vợ và chồng trên giấy chứng nhận sử dụng đất cho xã Chiềng Hặc Tuy nhiên, do một vài chậm trễ và khó khăn trong thủ tục hành chính, nguyện vọng của chị em xã Chiềng Hặc đã không thể trở thành hiện thực

Đầu tháng 5 năm 2003, ban quản lí giao đất giao rừng của tỉnh Sơn La đã bắt đầu triển khai in ấn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với sự hỗ trợ kĩ thuật của các chuyên gia mời từ Tổng cục địa chính

2.2 Vấn đề giới trong Phương pháp khuyến nông có người dân tham gia (PAEM) tại tỉnh Sơn La

Với sự hỗ trợ của cán bộ dự án tại bộ phận đào tạo và khuyến nông, đã thu lại được 16 phiếu theo dõi sự tham gia của nữ giới trong các hoạt động khuyến nông tại các địa bàn

mở rộng thử nghiệm của tỉnh Sơn La Tuy vậy, các mẫu phiếu được phát đầu tiên ở huyện Sông Mã khi dự án tổ chức đào tạo về PAEM cho các xã thuộc địa bàn dự án

EU vẫn chưa thu được về Lí do là sau khi đào tạo, cán bộ của dự án SFDP không trực tiếp phụ trách các hoạt động thực địa với cán bộ khuyến nông xã Ông Duy Phương, cán bộ dự án phụ trách chỉnh sửa tàI liệu hướng dẫn phương pháp luận để được tỉnh phê duyệt chính thức sau hội thảo khuyến nông vào đầu tháng 5 đã liên lạc với cán bộ

dự án EU để thu lại các mẫu phiếu Tuy nhiên, do công việc chuẩn bị hội thảo nhiều và chưa thấy co phản hồi của cán bộ EU về các mẫu phiếu nên phần đánh giá của chuyên gia ngắn hạn chủ yếu dựa trên 16 mẫu phiếu nêu trên

Các mẫu phiếu được phân tích và đánh giá này thuộc các huyện và thị xã: Thị xã Sơn

La, Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Mộc Châu, Phù Yên, Mường La và Mai Sơn Tại thời điểm các mẫu theo dõi được thu về, dự án SFDP đang chuẩn bị thực hiện

Trang 5

module đào tạo ToT thứ ba cho các địa bàn mở rộng thực hiện thí điểm phương phap

khuyến nông có người dân tham gia Quan phân tích cho thấy, trong hầu hết các mẫu

theo dõi, cán bộ khuyến nông xã - những người trực tiếp hướng dẫn phương pháp

khuyến nông với bà con nông dân, là những người trực tiếp điền vào các mẫu phiếu

trên cơ sở theo dõi qua từng cuộc họp và đợt thăm đồng Các cán bộ khuyến nông đều

cho rằng phương pháp luận này là một phương pháp rất có hiệu quả tích cực trong

công tác khuyến nông, nông dân tham gia nhiệt tình, chủ động và việc trao đổi qua lại

giữa cán bộ và nông dân có hiệu quả cao, đặc biệt khi trực tiếp ra đồng cùng làm trên

thử nghiệm Trong tổng số 16 cán bộ khuyến nông điền vào các phiếu, có 9 là cán bộ

nữ vì thế, hộ không thấy có khó khăn gì lớn trong việc trao đổi thông tin với phụ nữ

thôn bản và khuyến khích họ khi làm thử nghiệm

Bảng tổng hợp kết quả đánh giá sau cho thấy sự tham gia của nữ giới và nam giới trong

quá trình lập thực hiện và đánh giá thử nghiệm nông nghiệp (T&D) Lí do cuộc họp

đầu tiên để thiết lập thử nghiệm thường không đông như hướng dẫn trong phương pháp

luận là vì các hộ nông dân đã được lựa chọn làm thử nghiệm ngay từ khi lập VDP năm

trước, do đó, thành phần cuộc họp này chỉ có cán bộ khuyến nông xã và đại diện các hộ

được lựa chọn

Bảng 2: Sự tham gia của nông dân trong các hoạt động khuyến nông (T&D)

Cuộc họp giữa CBKN

và hộ ND

Thực hiện thử nghiệm

Theo dõi thử nghiệm

Hội thảo đầu bờ

khuyến nông

xã phụ trách

1 Bản Cọ,

Thị xã Sơn

La

Quàng Thị Xuôi

K

nêu

K

nêu

2 Châu Quán

Mường

Chiêng

Quỳnh Nhai

3 Thuận

Châu

4 P.Ban 3

Bắc Yên

Dương Thị Hương

5 Nghé Tỏng

Mường Chiến

Quỳnh Nhai

Pham Van

6 Bá Kha

Loóng Luông

Mộc Châu

Hoàng Đăng Ngọc

7 Phiêng

Dón Tân Lập

Mộc Châu

Lò Ngọc Hoan

5 20 1 2 0 1 5 20

Trang 6

8 Mai Sơn Đỗ Xuân

Nghĩa

Chân

3 2 3 2 K

nêu

K

nêu

20 40

10 Phuc

Mường Khoa

Bắc Yên

Nguyễn Thị Nương

11 Mo 2

Quang Huy

Phù Yên

Phạm Thị

12 Chiềng

An

thị xã Sơn La

13 Mường

Trai

Mường La

14 Thuận

Châu

nêu

K nêu

15 Chiềng

Ngàm

Thuận Châu

16 Chiềng

khoang

Thuận Châu

Chuyên gia đào tạo và khuyến nông của dự án nhậ định trên cơ sở đánh giá các khoá

đào tạo rằng phiếu theo dõi sự tham gia là cần thiết và nên tiếp tục thực hiện để đánh

giá được sự tham gia toàn diện của cả phụ nữ và nam giới trong PPKN có người dân

tham gia (PAEM) Tuy nhiên, trong khi đào tạo cần chú ý đến việc giới thiệu và hướng

dẫn học viên kĩ càng về cách điền vào mẫu và cần điền những thông tin gì khi thực

hiện các hoạt động khuyến nông tại thực địa để các dữ liệu trên mẫu phiếu thu được

thực tế và đáng tin cậy

Về việc có cần thiết phải chỉnh sửa bổ sung nội dung của hướng dẫn thực hiện phương

pháp luận có liên quan đến tăng cường hiệu quả quá trình giao tiếp giữa cán bộ khuyến

nông xã và nông dân, đặc biệt là nữ giới trong thôn bản khi tiến hành thử nghiệm hay

không, chuyên gia tư vấn đã thảo luận với các cán bộ chuyên trách của dự án SFDP và

đi đến kết luận như sau: TàI liệu hướng dẫn thực hiện phương pháp luận sẽ được tỉnh

Sơn la phê duyệt trong thời gian tới không đề cập đến các chi tiết về việc hướng dẫn

trao đổi thông tin giữa cán bộ khuyến nông xã và nông dân mà chỉ đưa ra hướng dẫn

kháI quát thực hiện phương pháp luận Các chi tiết về kĩ thuật cụ thể được đề cập đến

trong tàI liệu đào tạo và trong các bàI giảng cụ thể

Trang 7

2.3 Về đợt một của khoá đào tạo nâng cao năng lực đào tạo tập huấn cho cán bộ giảng viên nữ của tỉnh Sơn La và Lai Châu

Khoá đào tạo này được tổ chức thực hiện tại Thị xã Sơn La trung tuần tháng Tư năm

2003 với mục tiêu tăng cường năng lực trong đào tạo tập huấn cho chị em giảng viên

về các phương pháp luận như VDP, PAEM, FPR, v,v Tổng số học viên tham gia là 10 cán bộ nữ (trên tổng số trong danh sách mời là 14) là cán bộ của các cơ quan ban ngành, hội phụ nữ và các trường trung học chuyên nghiệp của hai tỉnh Sơn La và Lai Châu Giảng viên là giáo viên của trường Đại học Thái Nguyên, là người đã có kinh nghiệm trong việc giảng dạy cho người lớn tuổi và học tập bằng kinh nghiệm Nhiệm

vụ chủ yếu của chuyên gia tư vấn ngắn hạn là chuẩn bị liên lạc với giảng viên, sơ lược chương trình đào tạo cho 5 ngày, chuẩn bị về điạ điểm, hậu cần và mời học viên cho khoá học NgoàI ra, chuyên gia ngắn hạn còn phụ trách một phần bài giảng trong đó bao gồm việc giới thiệu về tình hình hoạt động giới của dự án SFDP trên địa bàn, khái niệm giới và một phần giảng cụ thể về về đề giới trong thu thập thông tin từ cơ sở (xem

chi tiết trong phụ lục 1)

Theo đánh giá chung, khoá học đã được tổ chức khá tốt và có được một kết quả là một bản tổng hợp kế hoạch tập huấn và đào tạo của các thành viên tham gia khoá học mà

họ có thể thực hiện được trong khoảng thời gian từ đợt học thứ nhất đến đợt học thứ hai được dự kiến tổ chức vào tháng 10 năm 2003 Chuyên gia đào tạo của dự án đã kiểm duyệt và tàI liệu hoá báo cáo đào tạo

III Kết luận

• Về giao đất giao rừng tự nhiên

- Các số liệu thu được từ kết quả điều tra cho thấy số lượng phụ nữ tham gia trong quá trình giao rừng tự nhiên tại xã Chiềng Hặc huyện Yên Châu

là rất khả quan sau khi dự án kết hợp với huyện hội phụ nũ đã hỗ trợ một khoá tập huấn về giới và quy trình giao đất giao rừng cho phụ nữ huyện Yên Châu năm 2002

- Trong số 15 thôn bản được điều tra, có một bản người Hmông do phụ nữ không biết chữ nên không tham gia các cuộc họp bản Điều này cho thấy cần có phiên dịch ra tiếng địa phương khi tổ chức các cuộc họp dân, các hoạt động tuyên truyền tại các thôn bản, đặc biệt là khi phụ nữ thôn bản không biêt nói tiếng phổ thông

• Lập quy ước bảo vệ rừng tại thôn bản

- Một số thôn bản trong diện điều tra thay vì phảI tổ chức một số cuọc họp nhất định khi thực hiện lập quy ước bảo vệ rừng thì chỉ tổ chức một cuộc họp Về mặt chất lượng và yêu cầu kĩ thuật của các quy ước đã được lập, nên chăng cần có sự kiểm tra giám sát để xác định xem các quy ước này thực sự có tính dân chủ và đều do người dân nhất trí lập nên hay không

Trang 8

• Phương pháp khuyến nông có người dân tham gia

- Kiểm tra lại vấn đề giới trong tàI liêụ hướng dẫn kĩ thuật cũng như tàI liệu đào tạo của phương pháp luận này, đặc biệt phần hướng dẫn cán bộ khuyến nông hỗ trợ và thảo luận với nông dân nhất là nữ giới, để đảm

bảo việc trao đổi kinh nghiệm và thông tin có hiệu quả nhất

- Theo yêu cầu trong hướng dẫn thực hiện phương pháp luận, cuộc họp bản đầu tiên giữa cán bộ khuyến nông và các hộ trong bản để lựa chọn hộ tham gia thử nghiệm phảI có đầy đủ thành phần đại diện các hộ trong bản Tuy nhiên, các cán bộ dự án đã cho biết, sở dĩ số thành viên tham gia cuộc họp này trên thực tế chỉ có cán bộ khuyến nông và hộ làm thử nghiệm vì các hộ đã được lựa chọn từ khi làm VDP năm trước Như vậy, vấn đề ở đây là liệu có thể thực hiện tắt như vậy hay cần có cuộc họp đầy

đủ thành phần trong thôn bản và có nên xem xét là sự kết nối có liên quan giữa PAEM và VDP để giảm bớt các yêu cầu về tàI chính chi cho

các cuộc họp bản có cùng nội dung

• Về đào tạo

- Sau khi đợt đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ giảng viên nữ trong vùng dự án được tổ chức thành công trong tháng Tư vừa qua, bộ phận đào tạo của dự án cần tiếp tục chú ý về vấn đề huấn luyện và bồi dưỡng cho các học viên khi họ thực hiện tập huấn đào tạo trong khoảng thời gian giữa hai đợt học Công tác huấn luyện bồi dưỡng có thể được thực hiện bởi cán bộ dự án hoặc có thể thuê chuyên gia có kinh nghiệm từ bên ngoài

Trang 9

Phụ lục 1: BàI giảng về vấn đề giới

Tên bài giảng Thu thập thông tin từ cơ sở và vấn đề giới

Lưu ý: Kiến thức từ phần bài giảng này có thể được ứng dụng với vấn đề giới trong lập KHPTTH (VDP) hoặc trong các phương pháp luận có người dân tham gia khác

Mục tiêu học

tập

Sau bài giảng, học viên có thể:

• Xác định được tầm quan trọng của việc thu thập thông tin hoặc bổ sung thông tin về giới từ cơ sở

• Vận dụng kĩ năng trao đổi ý kiến với nam giới và phụ nữ khi thu thập thông tin

Số lượng học

viên

10 đến 15

Thời lượng 1 tiếng rưỡi (bao gồm cả thời gian cho các trò chơi minh hoạ)

Vật tư cần

thiết

Giấy Ao, các giấy nhỏ, phim và máy chiếu

Các bước 1 Tầm quan trọng của việc thu thập thông tin :

• Trước khi thực hiện chủ đề này, khởi động với trò chơi: truyền tin: (Yêu

cầu của trò chơi là cần truyền tải thông tin nhanh và chính xác) Chia lớp học thành 2 nhóm và xếp thành 2 hàng Giảng viên sẽ đọc thầm vào tai của người đứng đầu tiên của mỗi hàng một thông tin tương đối phức tạp với các con số và tên riêng Học viên đó sẽ truyền thông tin theo cách tương tự đến người cuối cùng Hai người cuối hàng sẽ ghi lại thông tin ra giấy và đọcc to lên cho cả lớp

So sánh thông tin thu được với thông tin do giảng viên đưa ra Yêu cầu học viên phát biểu về ý nghĩâ của thông tin, ví dụ như chính xác, đầy đủ, kịp thời,v,v Đề nghị học viên cho biết một số đơn vị thông tin mà họ sự dụng trong công việc (sự dụng các giấy nhỏ) Nhấn mạnh: thông tin tin cậy là thông tin sử dụng đơn vị thu thập thông tin theo hai chiều: từ dưới lên và từ trên xuống

Đề nghị học viên trình bày ý kiến của họ, yêu cầu những người khác cho ý kiến và thảo luận về việc thu thập thông tin có chú ý đến yếu tố giới hay chưa

• Giải thích các ý sau:

9 Hỗu hế các đơn vị thông tin được hiểu là bao gồm cả hai giới, vì vậy, cán bộ thống kê cũng như các nhà làm chính sách thường cho là thông tin đã nói lên đầy đủ về phụ nữ và nam giới

9 Trên thực tế, những đơn vị thông tin “trung tính” có thể bao gồm

cả phụ nữ Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ nó không phản ánh gì cụ thể về phụ nữ cả Ví dụ như, nó không thể trả lời câu hỏi: bao nhiêu cán bộ công nhân viên là nữ? bao nhiêu học viên là nữ? bao nhiêu học sinh nữ?

9 Vì thiếu những con số cụ thể nên tình hình và các vấn đề của phụ

nữ ít được biết đến, ít được quan tâm Ví dụ, nếu không biết được

Trang 10

số lượng cụ thể số học viên tham gia khoá học, sẽ không thể đánh giá được việc học viên được mời đến như thế nào, tham gia trong khoá học ra sao và áp dụng như nào vào công việc của họ sau khi khoá học kết thúc

• Nhấn mạnh rằng thông tin luôn có ý nghĩa quyết định đối với bất cứ một lập luận hay một kiến nghị nào, và vì thông tin, số liệu về phụ nữ nhìn chung còn chưa đầy đủ và thiếu hệ thống nên việc thu thập, bổ sung các

số liệu tách biệt nam nữ là hết sức cần thiết

• Có thể lấy một ví dụ cụ thể để minh hoạ: Mẫu phiếu đánh giá sự tham gia của nữ giới trong lập kế hoạch phát triển thôn bản (vì hầu hết học viên đều có kinh nghiệm trong VDP) Phân tích ý nghĩa của việc sử dụng mẫu phiếu này trong việc thu thập thông tin có sự tách biệt về giới theo các điểm giải thích nêu trên Xem xét các ý kiến tách biệt của phụ nữ trong khi lập kế hoạch tại thôn bản, chú ý đến những ưu tiên của phụ nữ trong các hoạt động phát triển Nêu lên những khó khăn/vấn đề khi thông tin được tổng hợp ở các cấp cao hơn như cấp xã, huyện Khi đó, các đề xuất, ưu tiên của phụ nữ có thể hoậc không được xem xét cụ thể và đến khi kế hoạch được phản hồi lại thôn bản để thực hiện, có thể chỉ có một

số % rất nhỏ các ý kiến của phụ nữ có cơ hội trở thành hiện thực

2 Thu thập thông tin từ cơ sở

• Có nhiều các để thu thập thông tin từ cơ sở Việc lựa chọn một phương thức nhất định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mục đích và nội dung yêu cầu của hoạt động, và cả những yếu tố như kinh phí và thời gian cho phép Tuy nhiên, không có một phương thức nào được coi là tốt nhất, kết quả tốt chỉ thể đạt được khi sự dụng kết hợp một số phương pháp với nhau

• Yêu cầu học viên thảo luận theo cặp về các phương pháp nêu trong Tài liệu phát tay và hỏi đáp theo hướng:

- Học viên có bình luận và bổ sung thêm các phương pháp khác hay không

- Những phương pháp nào là phù hợp hơn cả với công việc mà học viên đang thực hiện?

Và yêu cầu một vài đại diện trình bày ý kiến của họ => tóm tắt các ý kiế phát biểu và nhấn mạnh rằng việc sử dụng thành công các phương pháp thu thập thông tin còn tuỳ thuộc vào người sử dụng các phương pháp đó Điều quan trọng đối với cán bộ thu thập thông tin là cần phải có nhận thức đầy đủ

về sự cần thiết và nhạy bén đối với các vấn đề giới, điều này sẽ giúp lựa chọn đựơc phương pháp thu thập thông tin thích hợp Đồng thời việc có được các cán bộ thu thập thông tin là nữ cũng rất quan trọng vì họ sẽ giúp phụ nữ cảm thấy thoải mái hơn khi cung cấp thông tin

3 Trao đổi ý kiến với nam giới và phụ nữ:

Mục đích của việc trao đổi ý kiến trực tiếp với các nhóm đối tượng là:

- để trực tiếp lắng nghe phụ nữ và nam giới nói về những điều mà họ quan tâm

- để tham khảo ý kiến của phụ nữ và nam giới về các kế hoạch dự định triển khai trên địa bàn

Ngày đăng: 25/07/2021, 00:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w