Là trường đại học tại địa phương được thành lập trên cơ sở hai trường cao đẳng giàu truyền thống và có uy tín, được nhân dân Quảng Ninh thừa nhận và tin tưởng nên hiện nay sinh viên là n
Trang 1UBND TỈNH QUẢNG NINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG
BÁO CÁO TỔNG HỢP NHIỆM VỤ KHOA HỌC CẤP TỈNH
TÍCH HỢP GIÁ TRỊ VĂN HÓA, LỊCH SỬ CÁC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH VÀO GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG
Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Hạ Long Chủ nhiệm nhiệm vụ: TS Hoàng Thị Thu Giang
QUẢNG NINH - 2019
Trang 2UBND TỈNH QUẢNG NINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG
BÁO CÁO TỔNG HỢP NHIỆM VỤ KHOA HỌC CẤP TỈNH
TÍCH HỢP GIÁ TRỊ VĂN HÓA, LỊCH SỬ CÁC DI TÍCH
QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH VÀO GIẢNG DẠY CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG
Chủ nhiệm nhiệm vụ: TS Hoàng Thị Thu Giang
Các cá nhân tham gia nhiệm vụ:
- TS Phan Thị Huệ
- ThS Nguyễn Thị Xứng
- ThS Nguyễn Duy Cường
- ThS Nguyễn Thị Thùy Dương
- ThS Nguyễn Thị Thu Hằng
- ThS Phạm Bình Quảng
- ThS Nguyễn Quỳnh Nga
- ThS Bùi Thị Lan Hương
- ThS Khổng Thị Thu Trang
- ThS Phạm Thị Minh Lương
Chủ nhiệm nhiệm vụ
Hoàng Thị Thu Giang
Đại diện cơ quan chủ trì
Trần Trung Vỹ
QUẢNG NINH - 2019
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
2.1 Tổng quan nghiên cứu về truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và giá trị của lịch sử, văn hóa dân tộc 4
2.2 Tổng quan nghiên cứu về giá trị văn hoá, lịch sử của các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 8
2.3 Tổng quan nghiên cứu về dạy học tích hợp 12
2.4 Tổng quan tình nghiên cứu về dạy học tích hợp giáo dục giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam 19
3 Mục tiêu của đề tài 22
3.1 Mục tiêu chung 22
3.2 Mục tiêu cụ thể 22
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
4.1 Đối tượng nghiên cứu 22
4.2 Phạm vi nghiên cứu 23
5 Phương pháp nghiên cứu 23
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 23
5.2 Phương pháp chuyên gia 24
5.3 Phương pháp thống kê 24
5.4 Phương pháp phân tích SWOT 24
5.5 Phương pháp nghiên cứu liên ngành 25
6 Kết cấu của báo cáo 25
Trang 4Chương 1 Cơ sở lý luận của việc tích hợp giá trị văn hoá, lịch sử các di tích Quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào dạy học các môn khoa
học xã hội và nhân văn tại Trường Đại học Hạ Long 26
1.1 Dạy học tích hợp 26
1.1.1 Khái niệm dạy học tích hợp 26
1.1.2 Sự cần thiết phải tích hợp trong dạy học 28
1.1.3 Phân biệt dạy học tích hợp và dạy học lồng ghép 30
1.1.4 Các dạng dạy học tích hợp 31
1.2 Tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc trong dạy học 36
1.2.1 Sự cần thiết của việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc đối với thế hệ trẻ 36
1.2.2 Định hướng ở cấp độ vĩ mô đối với công tác giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ 38
1.3 Tích hợp giá trị lịch sử, văn hóa địa phương, dân tộc trong giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn tại Trường Đại học Hạ Long 42
1.3.1 Ý nghĩa của việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa địa phương cho học sinh, sinh viên 42
1.3.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng và định hướng giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa địa phương, dân tộc thông qua khai thác giá trị lịch sử, văn hóa các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giảng dạy cho sinh viên Trường Đại học Hạ Long 43
Chương 2 Thực trạng dạy học tích hợp giá trị lịch sử, văn hoá truyền thống của địa phương, dân tộc vào dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn tại Trường Đại học Hạ Long 51
2.1 Bức tranh tổng thể công tác giáo dục giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống dân tộc cho học sinh, sinh viên hiện nay 51
2.1.1 Trên phạm vi cả nước 51
2.1.2 Ở Quảng Ninh 53
2.1.3 Tại Trường Đại học Hạ Long 55
2.2 Nhận thức về ý nghĩa của việc dạy học tích hợp giá trị lịch sử, văn hóa các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và tình hình tổ chức dạy học tích hợp nội dung này tại Trường Đại học Hạ Long 58
2.3 Xác định nguyên nhân của thực trạng 74
Trang 5Chương 3 Giải pháp tích hợp giá trị văn hoá, lịch sử các di tích Quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào dạy học các môn khoa học xã hội
và nhân văn tại Trường Đại học Hạ Long 82
3.1 Quan điểm đề xuất giải pháp 82
3.1.1 Đảm bảo các nguyên tắc của dạy học tích hợp 82
3.1.2 Đảm bảo các yêu cầu của giáo dục giá trị truyền thống dân tộc 84
3.2 Mục tiêu 88
3.2.1 Mục tiêu tổng quát 88
3.2.2 Mục tiêu cụ thể 88
3.3 Các giải pháp triển khai nhiệm vụ tích hợp giá trị văn hóa lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn tại trường Đại học Hạ Long 94
3.3.1 Xây dựng, kiện toàn chương trình đào tạo theo hướng phát triển con người toàn diện 94
3.3.2 Minh định, hệ thống hóa địa chỉ tích hợp, mức độ tích hợp, hướng tích hợp hợp giá trị văn hóa, lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn 95
3.3.3 Phát triển học liệu phục vụ tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn 95
3.3.4 Tổ chức dạy học và rút kinh nghiệm dạy học tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 98
Chương 4 Kết quả thực hiện nhiệm vụ tích hợp giá trị văn hoá, lịch sử các di tích Quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn tại Trường Đại học Hạ Long 100
4.1 Những khó khăn, thách thức, thuận lợi và cơ hội khi thực hiện nhiệm vụ 100
4.1.1 Những khó khăn, thách thức 100
4.1.2 Những thuận lợi, cơ hội 102
4.2 Những nội dung đã nghiên cứu 103
4.3 Các kết quả đạt được 106
4.3.1 Xây dựng, hoàn thiện 04 đề cương chi tiết học phần 106
Trang 64.3.2 Xác định được hệ thống địa chỉ tích hợp, mức độ tích hợp, hướng tích hợp hợp giá trị văn hóa, lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh vào dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn 110
4.3.3 Phát triển nguồn học hiệu phục vụ dạy học tích hợp 113
4.3.4 Triển khai dạy học tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn……….134
4.3.5 Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm dạy học tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn 138
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 141
1 Kết luận 141
2 Kiến nghị 142
2.1 Đối với Trường Đại học Hạ Long 142
2.2 Đối với ngành giáo dục Quảng Ninh Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1 Mô hình phân tích ma trận SWOT 24
Bảng 2 So sánh giữa dạy học từng môn học đơn lẻ với dạy học tích hợp 29
Bảng 3 Ý nghĩa của việc giáo dục giá trị văn hóa và lịch sử di tích 61
Bảng 4 Các hình thức giáo dục giá trị văn hóa, lịch sử các di tích 62
Bảng 5 Hình thức, mức độ dạy học giá trị văn hóa lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 66
Bảng 6 Mức độ tích hợp giáo dục giá trị văn hóa lịch sử 68
Bảng 7 Các phương pháp dạy học đã được sử dụng 70
Bảng 8 Kĩ thuật dạy học 71
Bảng 9 Hiệu quả hoạt động tích hợp giáo dục giá trị văn hóa 72
Bảng 10 Ý kiến của cán bộ quản lí về những thuận lợi và khó khăn khi triển khai tích hợp giáo dục giá trị văn hóa, lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 75
Bảng 11 Tổng hợp số ngành, số học phần, số tiết dạy học tích hợp giáo dục giá trị văn hóa, lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh của Trường Đại học Hạ Long 112
Bảng 12 Chương trình ngoại khóa tích hợp giáo dục giá trị văn hóa, lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh của Trường Đại học Hạ Long 113
DANH MỤC HÌNH Trang Hình 1 Biểu đồ khảo sát nhận thức của cán bộ quản lí về các hình thức giáo dục giá trị văn hoá, lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt 65
Hình 2 Biểu đồ khảo sát đánh giá của cán bộ quản lí về thực trạng 65
Viết tắt Viết đầy đủ
THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông PGD Phòng Giáo dục và Đào tạo PPDH Phương pháp dạy học GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các giá trị văn hoá, lịch sử đang ngày càng chứng minh vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững đối với mỗi quốc gia, vùng miền Văn hoá, lịch sử có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế, ổn định xã hội, vận mệnh của mỗi quốc gia, dân tộc Đã có những quốc gia, trong một giai đoạn, chú trọng phát triển kinh tế mà coi nhẹ phát triển, gìn giữ các giá trị văn hoá, lịch
sử đã phải trả giá cho một số thành tựu kinh tế trước mắt bằng sự bất ổn, xung đột xã hội, chính trị, suy thoái đạo đức dẫn tới khủng hoảng, kinh tế bị kéo chậm lại, phá sản các chương trình phát triển kinh tế
Nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của giá trị văn hoá, lịch sử trong quá trình phát triển, Đảng ta xác định tiến hành đồng bộ và gắn kết chặt chẽ
ba lĩnh vực: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt cùng với việc xây dựng văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội nhằm tạo nên sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước Trong đó, nội dung xây dựng văn hóa được xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, một định hướng quan trọng để đất nước phát triển bền vững Thực hiện Nghị quyết TW 5 khóa VIII về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Nghị quyết số 33-NQ/TW Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, những năm gần đây toàn xã hội đã và đang tích cực xây dựng, phát triển những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc Các địa phương, các ngành có các Chương trình hành động, Nghị quyết thực hiện phù hợp với tình hình, đặc điểm của địa phương, phù hợp với đặc trưng chuyên môn của các ngành
Chủ trương, chính sách đúng đắn và sự ủng hộ tích cực của toàn hệ thống chính trị, xã hội đã mang lại những kết quả đáng khích lệ: Xã hội ổn định, kinh tế phát triển, các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc được đề cao, các tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế được hạn chế Tuy nhiên, trong thời kì cách mạng công nghệ, bùng nổ thông tin như hiện nay, nhân dân Việt Nam nói chung và giới trẻ nói riêng đang ngày ngày tiếp xúc với rất nhiều nguồn thông tin về những sự việc không tốt đẹp, cổ suý những lối sống không lành mạnh, thậm chí những luận điệu xuyên tạc, chống phá và đã có những bộ phận không nhỏ bị tha hoá, bị tiêm nhiễm những liều
Trang 9văn hoá độc hại trở thành những người không có ích, cá biệt còn có hại cho xã hội Vì vậy, vai trò của văn hoá, lịch sử càng cần được tuyên truyền, đề cao và phát triển nhằm đề cao những giá trị tốt đẹp của truyền thống, con người Việt Nam và hạn chế những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập, của kinh tế thị trường
Dân tộc Việt Nam có nền văn hoá truyền thống tiên tiến, tốt đẹp Nền văn hoá đó đã hướng dẫn và cổ vũ một lối sống hòa hợp, hài hòa với thiên nhiên, đưa ra mô hình ứng xử có văn hóa của con người đối với thiên nhiên,
vì sự phát triển bền vững của thế hệ hiện nay và các thế hệ con cháu mai sau Hơn nữa, lịch sử Việt Nam là một lịch sử hào hùng của một dân tộc dũng cảm, đoàn kết dựa trên tinh thần yêu nước, lòng nhân ái và yêu chuộng hoà bình Những giá trị văn hoá, lịch sử trên được lưu giữ lại qua hệ thống các di tích lịch sử, văn hoá cần được bảo tồn, khai thác và phát triển
Quảng Ninh, được ví như hình ảnh của một “nước Việt Nam thu nhỏ” đang có những chuyển biến đột phá về phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng, cải cách hành chính, phát triển các giá trị văn hoá, bản sắc người Quảng Ninh
“Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hoá và mở rộng hội nhập quốc tế, công tác xây dựng và phát triển văn hoá, con người Quảng Ninh vẫn còn một số hạn chế, khuyết điểm: (1) Việc khai thác và phát huy các nguồn lực văn hoá, con người hiệu quả chưa cao Văn hoá chưa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội (2) Việc dạy cho thế hệ trẻ tiếp nối, giữ gìn và phát huy văn hoá truyền thống chưa được quan tâm đúng mức (3) Một bộ phận nhân dân, cán bộ, đảng viên có biểu hiện giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng, sống thực dụng, vô cảm (4) Môi trường văn hoá có mặt bị
đe doạ do ảnh hưởng bởi hội nhập thiếu chọn lọc; một số giá trị truyền thống
bị mai một (5) Hệ giá trị nhân cách với các chuẩn mực về đạo đức, lối sống con người Quảng Ninh trong thời kì mới chưa được hình thành rõ nét.” – Trích Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 09/3/2018 của Ban chấp hành Đảng Bộ tỉnh về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững (Nghị quyết 11) Nghị quyết 11 cũng chỉ rõ một trong các mục tiêu cần đạt được là đến năm 2021 có 100% thanh thiếu nhi trong các trường học được giáo dục về giá trị lịch sử - văn hoá truyền thống Quảng Ninh, kỹ năng sống, giao tiếp, ứng xử Một trong những nhiệm vụ giải pháp là
Trang 10“Bảo tồn và phát huy tốt giá trị các di tích lịch sử văn hoá Bảo tồn, khôi phục làng nghề truyền thống, đặc biệt là di sản văn hoá của cộng đồng các dân tộc Quảng Ninh đang có nguy cơ mai một ” Như vậy, Quảng Ninh cũng đang đứng trước thách thức phải giải bài toán cân bằng giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội và con người Bài toán này đòi hỏi sự vào cuộc của các lực lượng chính trị, xã hội đặc biệt là vai trò của giáo dục và đào tạo
Trường Đại học Hạ Long (được thành lập theo Quyết định số 1869/TTg ngày 13/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở hai trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh và Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long) là trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực, đặc biệt, có hệ thống ngành đào tạo nguồn nhân lực lớn hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, du lịch, giáo dục đào tạo, … cho Quảng Ninh và các tỉnh lân cận Là trường đại học tại địa phương được thành lập trên cơ sở hai trường cao đẳng giàu truyền thống và có uy tín, được nhân dân Quảng Ninh thừa nhận và tin tưởng nên hiện nay sinh viên là người Quảng Ninh theo học tại Trường Đại học Hạ Long chiếm tỉ lệ lớn (trên 90%) vì vậy việc lựa chọn tích hợp các giá trị văn hóa, lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn tại trường Đại học Hạ Long là một hướng tiếp cận tự nhiên, thuận lợi và gần gũi với sinh viên và đảm bảo tính toàn diện trong mục tiêu giáo dục của nhà trường, phù hợp với yêu cầu phát triển các giá trị văn hoá, lịch sử của địa phương và đất nước
Xuất phát từ những lí do trên, Trường Đại học Hạ Long đăng kí thực
hiện nhiệm vụ khoa học: “Tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử các di tích Quốc
gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào giảng dạy các môn khoa học
xã hội và nhân văn tại trường Đại học Hạ Long” nhằm nghiên cứu các nội
dung, biện pháp khai thác có hiệu quả các giá trị văn hoá, lịch sử của các di tích Quốc gia tại Quảng Ninh tích hợp một cách khoa học vào chương trình đào tạo để khắc sâu cho sinh viên các giá trị văn hoá, tinh thần tự hào dân tộc
từ đó phát huy các giá trị tốt đẹp, đấu tranh với các biểu hiện không lành mạnh, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, đảm bảo "Di sản văn hóa là trục định vị của mỗi quốc gia trong đại dương của toàn cầu hóa" (Nguyễn Khoa Điềm - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Ðảng, Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương)
Trang 112 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tổng quan nghiên cứu về truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và giá trị của lịch sử, văn hóa dân tộc
Truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc và giá trị của lịch sử, văn hóa dân tộc là vấn đề có sức hút lớn với các học giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam Dù là với phương Tây hay phương Đông, những yếu tố đó đều được xác định là “di tồn văn hóa, xã hội” Dù nội hàm của các vấn đề nêu trên có thể khác nhau ít nhiều, nhưng hội tụ lại ở những nét nghĩa chính sau:
2.1.1 Truyền thống
Trong từ điển Hán Việt, "truyền thống" có nghĩa là: Sự "chuyển giao",
"trao cho" (truyền) từ "đời này sang đời khác" (thống) Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, từ này có chung hình thức chữ viết (tradition), có gốc từ tiếng Latinh (traditio), xuất phát từ động từ tradere có nghĩa là "trao cho", "truyền lại", "để lại" Hiểu một cách chung nhất, "truyền thống" là sự kế thừa di sản
xã hội có giá trị được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Theo GS Trần Văn Giàu, “truyền thống là những đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực”1 Với cách tiếp cận tổng quát, GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng: "Theo nghĩa tổng quát nhất, truyền thống - đó là những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền
từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài" Tiếp cận ở một góc độ khác, R Aileau cho rằng: Truyền thống không tự giới hạn ở sự bảo tồn cũng như ở sự truyền giao nguyên bản những cái đã hình thành trước đó Trên
dòng đi của lịch sử, truyền thống tích hợp các hiện thể mới (existants
nouveaux) bằng cách thích nghi chúng với các hiện thể cũ
"Truyền thống" tồn tại với tính hai mặt của nó Trong các di sản truyền thống, bên cạnh mặt tích cực cũng hàm chứa mặt hạn chế, những phản giá trị
GS Trần Văn Giàu đã khẳng định: “Truyền thống thì có cái tốt cái xấu; nhưng khi chúng ta nói "giá trị truyền thống" thì ở đây chỉ có cái tốt mà thôi,
1 Trần Văn Giàu (2011): Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, H, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự
thật, tr.91
Trang 12bởi vì chỉ có những cái tốt phổ biến, cơ bản, có nhiều tác dụng tích cực hướng dẫn sự nhận định và hướng dẫn hành động, thì mới mang danh là giá trị truyền thống”2
Như vậy, khi nói đến giá trị truyền thống là nói đến những giá trị đã được thừa nhận, đánh giá, thẩm định nghiêm ngặt của thời gian, nó được cộng đồng lựa chọn, thừa nhận và chuyển giao qua những giai đoạn lịch sử Sự thẩm định
đó không phải là ý kiến chủ quan một hay một vài cá nhân mà dựa trên sự đánh giá khách quan của cả cộng đồng Chính những giá trị này tạo nên bản sắc của từng dân tộc, nó được truyền lại cho thế hệ sau và sẽ được bảo vệ, duy trì, bổ sung và phát triển
2.1.2 Lịch sử
Hiểu một cách đơn giản và phổ quát nhất, "lịch sử" (tiếng Anh: history) là những sự kiện đã trải qua, đã thuộc về quá khứ và gắn liền với xã hội loài người
Đối với các nhà khoa học sử, có ba cách hiểu cơ bản về lịch sử:
- Lịch sử là việc đã diễn ra trong quá khứ: Những sự kiện (biến cố/ event) diễn ra trong quá khứ cho đến thời điểm hiện tại, không thể thay đổi được, cố định trong không gian và thời gian, mang tính chất tuyệt đối và khách quan
- Lịch sử là sự ghi lại những việc diễn ra trong quá khứ: Con người muốn nắm bắt quá khứ, diễn đạt sự kiện và giải thích ý nghĩa của sự kiện bằng những câu chuyện kể mang tính chất khách quan tương đối và có dấu ấn chủ quan của người ghi lại
- Lịch sử là sự tập hợp tài liệu của việc diễn ra trong quá khứ: Đây là quá trình tập hợp những tài liệu đã có về những sự kiện lịch sử, từ đó đưa ra, cung cấp những cứ liệu (có thể khác nhau, trái chiều nhau) xung quanh các sự kiện lịch sử và không kèm theo bất cứ quan điểm cá nhân nào
Những thông tin, sự kiện, câu chuyện của lịch sử dân tộc, dù thuộc loại nào trong ba dạng lịch sử nêu trên thì đều có khả năng mang lại ý nghĩa, giá trị nhận thức cho con người đương đại Ý nghĩa của lịch sử dân tộc có thể tóm gọn vào ba điểm chính sau: (1) Thứ nhất, với ý nghĩa lịch sử là chuyện quá khứ, việc biết, hiểu, nắm bắt được những chuyện trong quá khứ giúp con
2 Trần Văn Giàu (2011): Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, H, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự
thật, tr.93
Trang 13người có thể hiểu rõ và sâu hơn về đất nước và xã hội xung quanh, từ đó có thể giải thích được các biến động chính trị và xã hội đã, đang diễn ra, có thể
dự đoán con đường đi của lịch sử trong tương lai (2) Thứ hai, lịch sử dân tộc
có khả năng hun đúc đạo đức của con người Qua việc nghiên cứu lịch sử, ta nhận ra được quy luật cuộc sống, rút ra được những kinh nghiệm, bài học lịch
sử, phân biệt được cái tốt - cái xấu, cái đúng - cái sai, cái hay - cái dở, sự cao thượng - sự thấp hèn, từ đó, biết cư xử, hành động đúng Nói cách khác, lịch
sử có khả năng tạo nên những công dân tốt (3) Thứ ba, như là hệ quả tất yếu của ý nghĩa thứ hai, lịch sử dân tộc góp phần định hình bản sắc của cả dân tộc, đất nước Như vai trò của trái tim đối với cơ thể, lịch sử truyền cho con người dòng máu oai hùng của thế hệ cha anh cho thế hệ hôm nay, để ta biết yêu quý và tự hào về đất nước, để khi cần, sẵn sàng hy sinh cho đất nước
2.1.3 Văn hóa
Văn hóa là “tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người
đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua bao thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định
chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy thông qua hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định
Hồ Chí Minh đã từng viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những
hóa chính là biểu hiện của sự hiểu biết, tài năng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, tâm hồn, của con người và của mỗi cộng đồng dân tộc trong mối quan hệ với xã hội và tự nhiên Như vậy, văn hóa không đơn thuần chỉ là đời sống tinh thần của con người - xã hội mà từ trong bản chất của mình: Văn hóa chính là linh
3 Thành Lê (2001), Văn hóa và lối sống, Nxb.Thanh niên, H, tr.5
4 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia-Sự Thật, xuất bản lần thứ 3, H, tr 458
Trang 14hồn của một xã hội, là sức mạnh trường tồn của một dân tộc, là sức sống vươn lên của thời đại
2.1.4 Giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa
Giá trị là phạm trù riêng có của loài người, liên quan đến lợi ích vật chất cũng như tinh thần của con người Bản chất và ý nghĩa bao quát của giá trị là tính nhân văn Chức năng cơ bản nhất của giá trị là định hướng, đánh giá
và điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và cộng đồng Giá trị gắn liền với nhu cầu con người Những hành động của con người vì nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu trong quá trình tồn tại của mình ẩn chứa các giá trị văn hóa Trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát vọng nhân văn của con người biểu hiện trong hoạt động sống của cá nhân, cộng đồng, dân tộc (ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp xã hội, giáo dục, tập quán, tín ngưỡng, ) tạo nên nét đặc trưng của giá trị văn hóa Nói tới giá trị văn hóa là nói tới những thành tựu của một cá nhân hay một dân tộc đã đạt được trong quan hệ với thiên nhiên, với xã hội và trong sự phát triển bản thân mình, là nói tới thái độ, trách nhiệm và những quy tắc ứng
xử của mỗi người trong quan hệ của bản thân với gia đình, xã hội và thiên nhiên, cũng là nói tới những biểu tượng cho cái chân - thiện - mỹ Các giá trị văn hóa này có tính "di truyền xã hội", được lưu truyền trong xã hội qua các thời kỳ lịch sử và trở thành các giá trị truyền thống, chứa đựng những tư tưởng, biểu tượng, giá trị, chuẩn mực xã hội mà thế hệ đi trước mong muốn gìn giữ, truyền đạt để thế hệ sau noi theo
Nói đến giá trị văn hóa truyền thống là nói đến cái lâu dài, trải qua nhiều thời gian thử thách mà cốt lõi bản chất của nó luôn được giữ vững, có giá trị tương đối ổn định, tốt đẹp, tiêu biểu cho dân tộc, tạo nên bản sắc cho dân tộc đó Do vậy, mỗi dân tộc cần bảo vệ, duy trì và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, làm điểm tựa để sáng tạo các giá trị văn hóa mới và là
cơ sở để giao lưu văn hóa quốc tế Kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nền văn hóa nói chung và xây dựng lối sống nói riêng Tuy nhiên, đặt vấn đề kế thừa
và phát huy giá trị văn hóa truyền thống không phải để chép lại giản đơn những việc xưa mà bàn về vấn đề tác dụng của nó đối với hiện tại cũng như tương lai của một dân tộc
Trang 15Coi trọng vai trò của văn hóa trong toàn bộ đời sống xã hội, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà có bốn vấn đề chú
ý đến; cùng phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”5
Các giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam được thử thách qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, được hun đúc trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước Các giá trị đó chính là lòng yêu nước nồng nàn,
ý chí tự lực tự cường, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, hiếu học, cần cù, lạc quan Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, các giá trị này không chỉ có vai trò to lớn đối với sự tồn vong mà còn khẳng định sức sống mãnh liệt của dân tộc trong quá khứ, hiện tại và tương lai Ngày nay, các giá trị văn hóa truyền thống đóng một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo nên sức mạnh cho công cuộc phát triển đất nước và giảm bớt, loại trừ những tiêu cực phát sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường
2.2 Tổng quan nghiên cứu về giá trị văn hoá, lịch sử của các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Điều 29 Luật Di sản văn hoá (Luật số 28/2001/QH10): Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi là di tích) phân loại " Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia." Điều này được sửa đổi, làm rõ tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa (Luật số 32/2009/QH12):
“3 Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:
a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;
b) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam;
5
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, Tập 7, tr.246
Trang 16c) Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới;
d) Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý,
đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.”
Cho đến trước tháng 12/20176, Quảng Ninh có 4 di tích cấp quốc gia đặc biệt, gồm: Khu di tích nhà Trần tại thị xã Đông Triều (được xếp hạng theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013), khu di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh thắng Yên Tử tại thành phố Uông Bí (được xếp hạng theo Quyết định số 1419/QĐ-TTg ngày 27/09/2012), khu di tích lịch sử Bạch Đằng tại thị xã Quảng Yên và thành phố Uông Bí (được xếp hạng theo Quyết định số 1419/QĐ-TTg) và Danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long tại thành phố
Hạ Long (được xếp hạng theo Quyết định số 1272/QĐ-TTg, ngày 12/8/2009) Đây thực sự là những bảo tàng văn hóa lịch sử sống động cần được khai thác
và bảo tồn cho thế hệ tương lai Các di tích này đã thu hút khá nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, và cả người dân quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu
Hiện nay, có nhiều tài liệu viết về các di tích trên, song tài liệu đầu tiên phải kể đến là các hồ sơ lí lịch di tích do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh (nay là Sở Văn hóa và Thể thao Quảng Ninh) và các Ban Quản lí
di tích lập để gửi Cục Di sản của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch và Thủ tướng chính phủ công nhận và xếp hạng di tích; cùng với đó Ban Quản lí di tích trọng điểm Quảng Ninh (nay là Ban Quản lí di tích và danh thắng Quảng Ninh thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh) đã nghiên cứu và phát hành các cuốn Di tích lịch sử - Văn hóa nhà Trần tại Đông Triều xuất bản năm 2010 Nội dung các tài liệu này đi sâu vào việc khảo tả, mô tả chi tiết hiện trạng của các di tích; tái hiện được nguồn gốc lịch sử và quá trình hình thành - phát triển của di tích thông qua các dấu vết nền móng, các đặc điểm kiến trúc, điêu khắc, các dấu tích tiền sử Qua đó người đọc có được cái nhìn
6 Ngày 25/12/2017,Chính phủ đã ra Quyết định số 2082/QĐ-TTg về việc xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt lần thứ 8 đối với đền Cửa Ông của tỉnh Quảng Ninh Như vậy, từ năm 2018, Quảng Ninh có 5 di tích quốc gia đặc biệt, gồm: Danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long (thành phố Hạ Long), khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử (thành phố Uông Bí), khu di tích nhà Trần (thị xã Đông Triều), khu di tích lịch sử Bạch Đằng
Trang 17chi tiết về các di tích, tuy nhiên lại nhưng khó cô đọng kiến thức và cũng chưa hiểu sâu được giá trị lịch sử, văn hóa của từng di tích
Đối với danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long, có vô vàn tài liệu viết về danh thắng này dưới nhiều thể loại, nhiều hình thức phát hành khác nhau,
song có lẽ tài liệu tiêu biểu và đầy đủ hơn cả là cuốn Vịnh Hạ Long di sản
thiên nhiên thế giới xuất bản năm 2009 của Ban Quản lí Vịnh Hạ Long Cuốn
sách giới thiệu về vịnh Hạ Long được viết theo hướng liệt kê các giá trị của vịnh Hạ Long (khẳng định 4 giá trị lớn của Vịnh Hạ Long, bao gồm giá trị thẩm mĩ, giá trị địa chất địa mạo, giá trị đa dạng sinh học và giá trị văn hóa lịch sử) Tuy nhiên lượng thông tin về giá trị văn hóa lịch sử tương đối khó hấp thụ do dấu tích minh chứng không đầy đủ và nguyên vẹn, còn thông tin
về các giá trị khác của vịnh Hạ Long rất đầy đủ, nhưng nhìn chung khó nhớ
Ngoài ra, có thể kể tên một số cuốn sách hấp dẫn khác như cuốn Hạ Long
những lời đánh giá và ngợi ca (2000) của Ban Quản lí Vịnh Hạ Long tổng
hợp những bài thơ, văn, câu hát, những lời nhận xét đánh giá, ngợi ca Vịnh
Hạ Long của các nhà thơ, nhà văn, những vị vua, những người nổi tiếng trong lịch sử và đương thời của Việt Nam và thế giới cũng là một kênh thông tin
đáng giá; cuốn Non nước Hạ Long (2003) của Thi Sảnh giới thiệu về các giá trị của vịnh Hạ Long, tiêu biểu là giá trị thẩm mĩ và địa chất địa mạo; cuốn Di
sản văn hóa làng chài Vịnh Hạ Long (2010) giới thiệu về các làng chài trên
vịnh (tiêu biểu là làng chài Cửa Vạn, Vông Viêng) với các hoạt động văn hóa của cư dân làng chài như tổ chức đời sống, văn hóa ở, văn nghệ (hát đúm), tổ chức cưới hỏi, tang ma,
Đối với Yên Tử, cội nguồn của Phật giáo Việt Nam, cũng có rất nhiều
sách, nổi bật là các cuốn Danh sơn Yên Tử (1996) của tác giả Phan Kế, giới
thiệu về các giá trị của di tích Yên Tử, chủ yếu là giá trị thẩm mĩ và văn hóa
lịch sử; cuốn Danh thắng Yên Tử: Lịch sử và truyền thuyết (1996) của
Nguyễn Sĩ Trung nghiêng nhiều về vấn đề tâm linh, một niềm tin bất diệt vào
sự hiển linh của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông, người anh hùng dân tộc và
Đệ Nhất Tổ Thiền Trúc Lâm Yên Tử,…; cuốn Yên Tử truyền thuyết di tích và
lịch sử các chùa (1997) của Nguyễn Thi, đúng như tên của cuốn sách, giới
thiệu về các di tích chủ yếu là dưới dạng truyền thuyết và có gắn bó với quá
trình tu hành của Trần Nhân Tông; cuốn Cõi thiền Trúc Lâm Yên Tử sơn
Trang 18(1998) của Trần Trương - Trưởng Ban quản lý Yên Tử (1992-2003) thực hiện
những lát cắt ngang theo từng thời kỳ lịch sử; cuốn Cõi thiêng Yên Tử (2002)
của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh (nay là Sở Văn hóa và Thể thao Quảng Ninh), giới thiệu chủ yếu về thiền phái Trúc Lâm; Chùa Yên Tử:
Hay Cõi thiền Trúc Lâm thắng cảnh Yên Sơn (2005) của Trần Trương giới
thiệu tổng thể di tích (gần giống tài liệu lí lịch di tích) bao gồm lịch sử núi Yên Tử, quá trình tu hành của Trần Nhân Tông, lịch sử tên gọi và các di tích đền chùa ở Yên Tử Năm 2011, Hội Khoa học Xã hội Việt Nam cho xuất bản
cuốn Di tích lịch sử danh thắng Yên Tử, trong đó có giới thiệu được khá bao
quát các di tích Yên Tử Cũng trong năm 2011, tác giả Uông Triều cho xuất
bản cuốn Những pho tượng đá ở Yên Tử với những bài viết đáng chú ý như:
Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm - đệ nhất An Nam tứ đại khí, Đệ nhị tổ Trúc Lâm Pháp Loa… có ý nghĩa như là "những lát cắt" lịch sử, là một nguồn tư liệu tham khảo dành cho bạn bè xa gần yêu mến vùng đất Quảng Ninh
Về di tích Bạch Đằng cũng đã có khá nhiều cuốn sách được phát hành
Năm 1979, Phan Đại Doãn có cuốn Đại thắng Bạch Đằng giới thiệu về 3 trận thắng giặc phương Bắc trên sông Bạch Đằng Cuốn Chiến thắng Bạch
Đằng do Sở Văn hóa – Thông tin Quảng Ninh phát hành năm 1988, nghiêng
về việc miêu tả lịch sử các trận chiến trên sông Bạch Đằng (có bao gồm chiến thắng Bạch Đằng thời nhà Ngô và Tiền Lê nhưng chủ yếu là của thời
kì Trần Hưng Đạo năm 1288); Năm 1998, Sở Văn hóa – Thông tin Quảng
Ninh cho ra mắt cuốn Lí lịch di tích bãi cọc Bạch Đằng 1288 Đúng như tên
gọi, cuốn sách nêu lịch sử di tích cùng gắn với những sự kiện trong đại của dân tộc, tập trung vào sự kiện năm 1288 Nhà nghiên cứu Lê Đồng Sơn –
người được mệnh danh là “nhà Quảng Yên học”, trong các công trình Văn
hóa Yên Hưng, lịch sử hình thành và phát triển (2008), Văn hóa Yên Hưng,
di tích, văn bia, câu đối, đại tự (2008) và đặc biệt trong cuốn Chiến thắng Bạch Đằng 1288, di tích và huyền thoại (2009) đã cung cấp những thông tin
bao quát về các trận đánh giặc trên sông Bạch Đằng, những thông tin chi tiết
về những địa danh cụ thể gắn thuộc khu di tích quốc gia đặc biệt Bạch Đằng Năm 2011, Ban Quản lí các di tích trọng điểm Quảng Ninh cho ra đời cuốn Khu di tích lịch sử chiến Bạch Đằng năm 1288 giới thiệu về tổng thể di tích (có giá trị như tài liệu lí lịch di tích), giới thiệu lịch sử tên gọi, truyền thuyết
Trang 19của các di tích Bạch Đằng Năm 1982, tại Hải Phòng đã tổ chức hội thảo khoa học về chiến thắng Bạch Đằng năm 938 Còn tại Quảng Ninh, từ năm
1988 đến nay, tỉnh Quảng Ninh, thị xã Quảng Yên đã phối hợp các nhà khoa học trong và ngoài nước tổ chức được ba cuộc hổi thảo khoa học nghiên cứu
về chiến thắng Bạch Đằng quy mô cấp quốc gia và quốc tế (lần 1, năm 1988; lần 2, năm 2013; lần 3, năm 2018), tập trung nghiên cứu sâu về chiến thắng Bạch Đằng 1288 – chiến thắng được đánh giá là cột mốc đánh dấu sự hoàn thiện chiến thắng Bạch Đằng, là đỉnh cao nghệ thuật quân sự, nghệ thuật thủy chiến của dân tộc Việt Nam với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa
học đầu ngành về lịch sử ở Việt Nam Các Kỷ yếu hội thảo liên quan đến Bạch Đằng đã tập trung khẳng định tài năng quân sự của Trần Hưng Đạo,
nghệ thuật quân sự trong trận chiến Bạch Đằng, và đặt ra những vấn đề trong bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các điểm di tích
Đối với khu di tích Nhà Trần ở Đông Triều, trong so sánh với số lượng tài liệu viết về các di tích Quốc gia khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, số lượng tài liệu còn chưa nhiều Năm 1992, UBND huyện Đông Triều cho ra mắt cuốn Trung tâm Phật giáo Quỳnh Lâm: Kỉ yếu hội thảo Năm 2010, Ban Quản lí các di tích trọng điểm Quảng Ninh đã cho xuất bản cuốn Di tích lịch
sử - Văn hóa nhà Trần tại Đông Triều, Quảng Ninh giới thiệu về tổng thể di tích (có ý nghĩa như tài liệu lí lịch di tích) bao gồm lịch sử nhà Trần, các đời vua Trần, lịch sử tên gọi và các di tích đền chùa thuộc khu di tích nhà Trần ở Đông Triều
2.3 Tổng quan nghiên cứu về dạy học tích hợp
Lý thuyết tích hợp được ứng dụng vào giáo dục trở thành một quan điểm (một trào lưu tư tưởng) lý luận dạy học phổ biến trên thế giới hiện nay
Xu hướng tích hợp còn được gọi là xu hướng liên hội đang được thực hiện trên nhiều bình diện, cấp độ trong quá trình phát triển các chương trình giáo dục Chương trình được xây dựng theo quan điểm tích hợp, trước hết dựa trên quan điểm giáo dục nhằm phát triển năng lực người học
Trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nghiên cứu về quan điểm tích hợp trong đó có Xavier Roegiers (1996), với công trình nghiên cứu
“Khoa sư phạm tích hợp hay cần làm thế nào để phát triển năng lực ở các trường học” Tại công trình nghiên cứu của mình, Roegiers đã nhấn mạnh
Trang 20rằng cần đặt toàn bộ quá trình học tập vào một tình huống có ý nghĩa đối với sinh viên Ông nhấn mạnh rằng đồng thời với việc phát triển những mục tiêu đơn lẻ, cần tích hợp các quá trình học tập này trong một tình huống có ý nghĩa với sinh viên Những tình huống có ý nghĩa phải là những tình huống có vấn
đề, có nội dung liên môn, liên quan đến thực tiễn, và khi sinh viên tham gia giải quyết vấn đề đó sẽ hình thành cho mình những kỹ năng, năng lực thực tiễn hay là cơ sở cho quá trình học tập tiếp theo Vì thế tình huống có vấn đề phải là tình huống tích hợp có ý nghĩa với sinh viên, chứ không phải cái cớ để tích hợp Việc tích hợp này nhằm mục đích làm cho quá trình học tập mang lại cho học sinh/sinh viên những kỹ năng, năng lực thực tiễn nhưng các quá trình này được tiến hành ngay trên lớp học
Hội thảo quốc tế đón chào thế kỷ 21 có tên “Kết nối hệ thống tri thức
trong một thế giới học tập” với sự tham gia của gần 400 nhà giáo dục thuộc
18 quốc gia được tổ chức từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 12 năm 2000 tại Manila (Philippines) Một trong những nội dung chính được bàn luận sôi nổi tại hội thảo này là những con đường và cách thức kết nối hệ thống tri thức hướng vào người học trong thời đại thông tin Muốn đáp ứng được nhu cầu kết nối hệ thống tri thức trong một thế giới học tập, đòi hỏi tư duy liên hội được thiết kế ngay trong nội dung, phương tiện nghiên cứu và phương pháp giảng dạy Như thế, khi đứng trước nhu cầu giải quyết mâu thuẫn kiến thức của tình huống học tập, người học không chỉ giải quyết theo hướng trực tuyến hay nội suy mà
có thể còn giải quyết bằng cách ứng dụng một cách linh hoạt khả năng liên hội kiến thức
Mục đích chung của việc học là hiểu sự liên kết của mọi hiện tượng, sự
vật Tích hợp là cách tư duy trong đó các mối liên kết được tìm kiếm, do vậy,
tích hợp làm cho việc học chân chính xảy ra (Clark, 2002) Như thế, với định
nghĩa học tập là cách tìm kiếm các mối liên hệ và kết nối các kiến thức, Clark
đã khẳng định quy luật tích hợp tất yếu của tiến trình học tập chân chính Cụ thể, sự thâm nhập có tính chất tìm tòi khám phá của học sinh vào quá trình kiến tạo kiến thức, học tập có ý nghĩa (meaningful learning), học sâu sắc và ứng dụng (deep learning) được xem là chủ yếu đối với việc dạy và học hiệu quả Và cách tiếp cận tìm tòi-khám phá này khuyến khích học sinh thông qua
quá trình tìm kiếm tích cực, sẽ kết hợp hơn là mở rộng các kiến thức rời rạc
Trang 21(Hamston & Murdoch, 1996) Nhiều nghiên cứu ứng dụng tâm lý học nhận thức vào giáo dục đã khẳng định: mối liên hệ giữa các khái niệm đã học được thiết lập nhằm bảo đảm cho mỗi học sinh có thể huy động một cách hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết tình huống, và có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp Nhờ đó, sinh viên có điều kiện phát triển những kỹ năng xuyên môn, những khả năng có thể di chuyển
Theo Drake and Burns (2004), việc định nghĩa chương trình tích hợp đã
là đề tài bàn bạc từ khi thế kỷ 20 bắt đầu Hơn một trăm năm qua, các nhà lý thuyết đã đưa ra ba loại cơ bản về hoạt động tích hợp Các loại tích hợp này được xác lập giống nhau mặc dù tên gọi của chúng thường khác nhau Tích hợp có vẻ như là vấn đề của phương pháp và mức độ Từ nhìn nhận này, Drake and Burns (2004), đề xuất các định nghĩa của mình về các định hướng tích hợp mà theo họ, chúng tương thích với các định nghĩa đã được các nhà giáo dục đề ra qua nhiều thập kỷ vừa rồi Ba loại này cung cấp điểm khởi đầu
cho việc hiểu các cách tiếp cận tích hợp khác nhau: (1) Tích hợp đa
môn (Multidisciplinary Integration); (2) Tích hợp liên môn: Interdisciplinary
Integration; (3) Tích hợp xuyên môn (Transdisciplinary Integration)
Đào tạo năng lực nghề theo diện rộng của chương trình được thể hiện qua quan điểm nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển trong mỗi giáo sinh một triết lý nghề nghiệp (professional philosophy), một bản sắc nghề nghiệp cá nhân (pedagogical identity) bao gồm nhận thức, niềm tin, quan điểm về dạy và học, về người học cùng với tập hợp các năng lực chung như giải quyết vấn đề, sáng tạo, hợp tác, thu thập-xử lý thông tin để áp dụng triết
lý dạy học vào thực tiễn lớp học Nói khác đi, chương trình tập trung vào việc giúp cho giáo sinh trở thành những nhà chuyên môn sư phạm thông qua tiến trình kết hợp chặt chẽ và sâu sắc giữa lĩnh hội lý thuyết và trải nghiệm thực tế, ứng dụng lý thuyết dạy học và giáo dục chung vào những lĩnh vực giảng dạy
cụ thể khác nhau, kết nối hệ thống tri thức liên ngành vào thế giới học tập Do vậy mặc dù chương trình thiên về đào tạo nghiệp vụ sư phạm nhưng là lối đào tạo nghiệp vụ theo diện rộng, tạo điều kiện cho người học hình thành và phát triển nhận thức và những năng lực tổng hợp và hiểu biết tổng quát làm nền tảng cho sự phát triển nghiệp vụ chuyên môn về lâu dài
Trang 22Về mặt cấu trúc tổ chức của môn học, mỗi học phần lý luận dạy học, đặc biệt những môn học liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu giáo dục, tâm lý học thường hình thành “một tuyến phát triển chung tạo nên cơ sở để từ đó ngữ cảnh hoá cho việc đưa ra những nguyên tắc, những vấn đề và những tiến trình xoay quanh việc xây dựng chương trình giáo dục đại học” Thông qua các hoạt động học tập nhóm và cá nhân có hướng dẫn của trợ giảng, các bài tập thực hành, các tiểu luận và các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, những học phần về lý luận và phuơng pháp dạy học mang tính tổng quát này tạo điều kiện cho người học áp dụng vào những lĩnh vực môn học cụ thể ở trường đại học
Theo nhận xét của GS Nguyễn Minh Thuyết: Định hướng dạy học tích hợp có vẻ như chưa chạm vào cửa ngõ của các chương trình đào tạo bậc đại học Sở dĩ như vậy là vì chúng ta đã trải qua ba lần cải cách giáo dục, nhưng
cả ba lần đều không động đến giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp
Trong báo cáo kết quả khảo sát so sánh giữa giáo dục đại học cấp cử nhân (Bachelor of Arts hay gọi tắt là BA) ở Mỹ và ở Việt Nam hiện nay (bao gồm chương trình học kinh tế ở Việt Nam và chương trình học khoa học cơ bản, xã hội hoặc nhân văn (liberal arts trong đó có kinh tế, toán, vật lý, hoá học, văn chương, tâm lý học,… Vũ Quang Việt (2005) đã đưa ra vài kết luận
về đặc điểm của chương trình đào tạo ở bậc đại học Theo Vũ Quang Việt, thời gian học 4 năm ở lớp tại Việt Nam là 2183 giờ so với 1380 giờ ở Mỹ Như vậy chương trình ở Việt Nam dài hơn gần 60% Với thời gian ngồi lớp như vậy, sinh viên sẽ còn ít thì giờ để tự học, nghiên cứu Ở các trường đại học Việt Nam tất cả các môn có tính bắt buộc, học sinh không có quyền tự chọn, ngược lại ở Mỹ học sinh có quyền tự chọn đến 1/3 thời gian học dù học bất cứ ngành chính nào (như toán, vật lý, hoá học, kinh tế, tâm lý, văn chương, ) Đặc biệt, tác giả Quang Việt phân tích giá trị của đường lối đào tạo tích hợp qua hệ thống học phần tự chọn và hướng đào tạo tự học ở Mỹ Các học phần tự chọn rất quan trọng trong việc tạo điều kiện cho sinh viên
mở mang kiến thức về nhiều ngành học khác nhau có liên quan Việc hiểu biết liên ngành này cho phép sinh viên hợp tác nghiên cứu liên ngành, phân tích và nhìn vấn đề không bị cục diện, bó hẹp vào chuyên môn của mình Sinh viên đại học với quyền tự chọn có thể chọn hai ngành chuyên môn, hoặc một
Trang 23ngành chính và một ngành phụ liên quan Sau khi ra trường, họ có thể làm việc ở nhiều chuyên môn khác nhau chứ không bị bó vào ngành chuyên môn duy nhất mà mình học ở trường, kể cả thay đổi hoàn toàn để theo một ngành khác Triết lý giáo dục ở Mỹ cho phép và trang bị cho sinh viên thực hiện việc đổi ngành mà không bị hụt hẫng
Trong lúc đó, xu hướng đa môn truyền thống là nét đặc trưng trong các chương trình đào tạo đại học nói chung ở Việt Nam Thực tế thực hiện đào tạo giáo viên theo hướng đa môn với hàng loạt học phần liên quan đến kiến thức môn học ở tiểu học như thế làm cho khối lượng đào tạo phình to, đòi hỏi thời lượng học tập trên lớp lớn, kiểm tra thi cử nhiều Như vậy thời gian cho cho việc tự học, tự nghiên cứu của giáo sinh bị hạn chế Hơn nữa, các môn học ở đại học cũng là các ngành nghiên cứu vốn thuờng có liên quan với nhau Việc học tập các môn học này một cách riêng lẻ với những giảng viên từ nhiều khoa trường khác nhau không có dịp trao đổi bàn bạc về chuyên môn, về tính liên thông giữa các môn học, không tạo ra được những bài tập/ hoạt động giúp người học vận dụng nối kết các kiến thức liên quan Điều này làm cho người dạy không giúp người học nhận ra mối liên hệ có ý nghĩa giữa các ngành kiến thức trong tương quan với môn học vốn mang tính tích hợp cao ở bậc tiểu học
Mặt khác, cách tổ chức học tập nội dung môn học theo hướng cá thể hoá và phát huy cao độ khả năng tự học của sinh viên được hỗ trợ mạnh mẽ bởi tính chất tích hợp của môn học Tên gọi bộ môn nhìn chung không chính thống, cố định (ví dụ như Tâm lý học, Lý luận dạy học, Giáo dục học…) mà được tạo lập thành như những chủ đề/và những vấn đề liên quan trực tiếp đến
thực tiễn và lý luận dạy học môn học ấy (ví dụ như Học tập, giảng dạy và
sáng tạo; Chuẩn bị giảng dạy”; “Giáo viên với tư cách là một nhà nghiên cứu”; Công việc chuyên môn của người giáo viên; Ủng hộ các nhu cầu học tập; Khả năng đọc viết và ngôn ngữ;… Nội dung môn học thể hiện tính chất
tích hợp, liên môn của nhiều loại kiến thức liên quan và tính chất thực tiễn nghiệp vụ cao Điều này tạo một môi trường cho người học có thể tìm kiếm nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đồng thời cho phép họ nhận ra vài lĩnh vực mà mình quan tâm hoặc có khả năng
Thực tế, triết lý đào tạo năng lực nghề theo định hướng giảng dạy tích hợp đã được đưa lên bàn nghị sự của giáo dục nghề ở Việt Nam từ năm 2006
Trang 24Theo Phó Cục Trường Cục dạy nghề, “để có thể thực hiện có hiệu quả triết lý
đào tạo theo năng lực thực hiện thì việc trước tiên các chương trình khung đào tạo nghề cần phải được tổ chức xây dựng (đối với chương trình mới) và điều chỉnh (đối với chương trình cũ) theo đúng hướng tiếp cận theo năng lực thực hiện mà bản chất là dạy nghề gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, giữa học với hành, giữa giáo dục đào tạo gắn liền với sản xuất.”
Theo PGS TS Đặng Thành Hưng - Một số vấn đề quản lý giáo dục và
lý luận dạy học đại học: trong học trình tổng thể, trừ những phần bắt buộc
phải tổ chức theo cấu trúc bộ môn, bài bản có tính ổn định cao, những học vấn còn lại được tổ chức thành những học trình tích hợp liên môn và xuyên môn Vai trò của tính tích hợp trong các chương trình đào tạo là giảm tải, rút gọn tài liệu, tiết kiệm thời gian học tập, tạo thuận lợi cho việc học, đảm bảo để học có chất lượng hơn Có nhiều kiểu tích hợp, ví dụ: tích hợp liên môn, xuyên môn, tích hợp ngang, tích hợp dọc trong các chương trình Cũng như các chương trình giáo dục khác, đặc điểm cơ bản của các chương trình đào tạo nghề hiện nay thể hiện ở sự tích hợp các lĩnh vực mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ, tích hợp nội dung các môn học, tích hợp giữa lý thuyết với thực hành (Theo Cao Văn Sâm, 2006) Tuy nhiên, cho đến nay, định hướng này vẫn chưa được triển khai vào thực tiễn phát triển chương đào tạo của các ngành nghề bậc đại học ở Việt Nam
Định hướng tích hợp đã được giới thiệu vào các chương trình đào tạo nghề bậc trung cấp và cao đẳng song có vẻ như chưa được chuyển động thành thực tiễn thực hiện rộng lớn Còn chương trình và tài liệu học tập ở bậc đại học nhìn chung vẫn chưa đi vào quỹ đạo định hướng tích hợp Mặc dù từ năm
2014 trở đi, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, một trong những trường đại học thuộc top đầu của cả nước về đào tạo giáo viên đã đặt ra và có nhiều nghiên cứu về vấn đề dạy học tích hợp, nhưng con đường này lại được nghiên cứu nhằm “khai sơn vỡ thạch” cho sinh viên sư phạm, những giáo viên tương lai Năm 2014, Đại học Sư phạm Hà Nội đã tổ chức Hội thảo quốc gia về Nâng cao năng lực đào tạo giáo viên dạy tích hợp môn khoa học tự nhiên Tại đây, các nhà khoa học đã từng bước khai mở tư duy, phương pháp về dạy học
tích hợp Các báo cáo Thực trạng và giải pháp dạy học tích hợp các môn khoa
học tự nhiên ở các cấp trung học cơ sở hiện nay của tác giả Trương Thị
Trang 25Thanh Mai, Lê Thanh Huy; Tích hợp khoa học cơ bản và phương pháp dạy
học bộ môn trong đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm của các nhà sư
phạm Đinh Quang Báo, Hà Thị Lan Hương nhận được sự quan tâm lớn của các nhà giáo dục Giáo sư, tiến sĩ Đinh Quang Báo là người đã dành nhiều thời gian theo đuổi vấn đề dạy học tích hợp Cũng năm 2014, ông đã có bài
viết Xây dựng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
(Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Số 59) Trong bài viết này, dạy học tích hợp được xác định là con đường tạo sự đổi mới căn bản, toàn diện cho giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng Năm 2015,
Nhà xuất bản Đại học Sư phạm đã giới thiệu cuốn Cộng đồng học tập - Mô
hình đổi mới toàn diện nhà trường của Manabu Sato, Masaaki Sato (người
dịch Khổng Thị Diễm Hằng) Nghiên cứu bài học vì cộng đồng học tập của nhóm tác giả Eisuke Saito, Masatsugu Murase, Atsushi Tsukui, John Yeo (người dịch Khổng Thị Diễm Hằng) Các nghiên cứu về dạy học tích hợp với các nội dung khác nhau, cho các môn học khác nhau, đối tượng người học khác nhau, tuy nhiên cùng thống nhất ở quan điểm: Dạy học tích hợp là hình thức dạy học có hiệu quả tích cực trong việc phát triển toàn diện năng lực của người học nếu được tổ chức dạy học một cách khoa học Từ những nỗ lực của các nhà khoa học, các nhà sư phạm, tới thời điểm hiện tại, việc dạy học tích hợp đã được thực hiện ở tất cả các cấp học, tuy nhiên được thực hiện nhiều hơn ở các cấp học tiểu học, trung học cơ sở, ít được chú trọng ở bậc giáo dục đại học
Ở giáo dục đại học hiện nay, số lượng các môn học lớn với thời gian lên lớp nhiều nuốt gần hết năng lượng học tập của người học, không tạo điều kiện cho họ tự học, tự nghiên cứu để mở rộng phạm vi áp dụng kiến thức liên ngành và phát triển các năng lực cá nhân Các môn học của chương trình tồn tại và được triển khai một cách độc lập với nhau Giảng viên mỗi môn học, nhìn chung, chưa vượt khỏi tầm nhìn bộ môn để nhận ra mối liên quan về nội dung kiến thức và năng lực giữa môn học mình đảm trách với những môn học khác trong chương trình Tập quán hoạt động chuyên môn riêng rẽ trong ốc đảo của mỗi bộ môn, mỗi ngành tồn tại không chỉ về mặt quản lý- tổ chức chuyên môn mà cả về phương diện cá nhân: niềm tin, thái độ, quan điểm, thói quen và hành vi của người dạy và người học
Trang 26Tình hình nghiên cứu về dạy học tích hợp ở Việt Nam như vài nét sơ lược như trên cũng phần nào hé lộ cho thấy, việc áp dụng giảng dạy tích hợp các giá trị văn hoá, lịch sử dân tộc trong dạy học nói chung, dạy học đại học ở Việt Nam còn nhiều hạn chế
2.4 Tổng quan tình nghiên cứu về dạy học tích hợp giáo dục giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam
Như một hệ quả tất yếu, do giáo dục đại học Việt Nam chưa tiếp cận nhiều với dạy học tích hợp (mà tình hình nghiên cứu về vấn đề này đã được trình bày ở phần tổng quan phía trên) nên việc triển khai thực hiện và nghiên cứu về vấn đề dạy học tích hợp ở một nội dung, chủ đề cụ thể là giáo dục giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc cũng chưa có những đường nét rõ rệt Khảo sát, tìm kiếm các nghiên cứu về dạy học tích hợp giáo dục giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc ở các trường đại học trong 5 năm trở lại đây, nhóm nghiên cứu không thu được kết quả nào đáng chú ý, dù rằng, công tác giáo dục về giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc vẫn luôn được các trường quan tâm triển khai, thông qua các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt chuyên đề
Tại Quảng Ninh, dạy học tích hợp được thực hiện chủ yếu trong các trường phổ thông (từ bậc Tiểu học tới THCS, THPT) Việc tích hợp này được thực hiện trên cơ sở chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, được Sở Giáo dục
và Đào tạo Quảng Ninh hướng dẫn, triển khai, hoặc theo Dự án, hoặc hưởng ứng phong trào nào đó có ý nghĩa chính trị, xã hội… Mỗi năm học, các trường phổ thông đều thực hiện dạy học tích hợp ở ít nhất một chủ đề, tuy nhiên việc
tổ chức nghiên cứu chuyên sâu nhằm phân tích nội hàm, bản chất, nguyên tắc, phương pháp, kĩ thuật và những vấn đề liên quan đến dạy học tích hợp giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc tại Quảng Ninh nhìn chung cũng chưa được thực hiện trên diện rộng
Năm học 2015 – 2016, Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh đã chỉ đạo, vận động các trường hưởng ứng tinh thần đổi mới phương pháp dạy học bằng hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo phù hợp nội dung bài học nhằm phát huy năng lực học sinh Mỗi phòng Giáo dục vận dụng chủ đề/chủ điểm linh hoạt phù hợp với thực tế địa phương, ví như Phòng Giáo dục và Đào tạo (viết tắt là PGD&ĐT) Uông Bí chú trọng tích hợp giảng dạy danh thắng Yên Tử vào hai môn Ngữ Văn và Lịch sử cho học sinh THCS bằng
Trang 27hoạt động trải nghiệm sáng tạo Chủ đề này hoàn toàn phù hợp với học sinh địa phương Uông Bí và PGD&ĐT Uông Bí bước đầu đã xây dựng được mô hình dạy học tích hợp di tích lịch sử vào trong chương trình giảng dạy các môn khoa học xã hội PGD&ĐT Quảng Yên triển khai cho học sinh tìm hiểu
về các di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn thị xã khi dạy học các môn Lịch sử, Ngữ Văn, Giáo dục công dân
Qua tìm hiểu thực tế, nhóm nghiên cứu đánh giá có khá nhiều tiết dạy thành công, thể hiện sự đầu tư công phu của các giáo viên và học sinh Tuy nhiên, việc tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử trong dạy học này cũng mới chỉ dừng lại ở những sản phẩm có tính “làm mẫu”, chưa mang tính thường xuyên
và chưa thành hệ thống Điều này có nhiều lí do, nhưng chủ yếu do đa số giáo viên đều ngại phải dạy tích hợp, ngại phải đầu tư tìm tòi sáng tạo kế hoạch dạy học mới, giáo án mới, phương pháp dạy học mới, ngại mất thời gian chuẩn bị, sợ lan man sa đà không đúng trọng tâm ảnh hưởng chất lượng Ngoài ra, còn phải nói thêm, khi lựa chọn địa chỉ tích hợp, đa phần giáo viên phổ thông mới chỉ quan tâm lựa chọn các bài học có nội dung liên quan đến các giá trị truyền thống của dân tộc, nhiều nhất là các bài có nội dung đề cập trực tiếp đến các di tích lịch sử tồn tại trên địa bàn tỉnh như: Văn Hóa Hạ Long, chiến thắng Bạch Đằng năm 938, 981, 1288, các bài lịch sử đề cập đến nhà Trần, đến truyền thống văn hóa Đại Việt và sự phát của Phật giáo Việt Nam… Đặc biệt, vùng địa chỉ mà giáo viên phổ thông hiện nay thường lựa chọn để tích hợp giáo dục văn hóa, lịch sử là phần Lịch sử địa phương
Đánh giá một cách tổng quát, việc tích hợp giáo dục các giá trị văn hóa, lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong các trường Tiểu học, THCS và THPT của Tỉnh từ sau năm 2015 đã dần được quan tâm triển khai nhưng nội dung tích hợp chưa có tính nối kết trong mạng lưới các môn học Hệ thống địa chỉ được chọn để thực hiện tích hợp giáo dục văn hóa, lịch sử dân tộc tại bậc học phổ thông vẫn chưa phong phú, đa dạng Cũng cần phải nói thêm, việc tích hợp này cũng chưa phổ biến tại các trường miền núi, vùng sâu, vùng xa của tỉnh
Đối với các trường chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong đó có Trường Đại học Hạ Long, việc tích hợp các vấn đề nêu trên vào giảng dạy cũng chưa nhiều, dù rằng, Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Ninh – tiền thân của
Trang 28Trường Đại học Hạ Long vẫn được Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá là một trong những trường có nhiều tiết dạy học tích hợp thành công hơn cả trong khu vực các trường đào tạo sư phạm vùng núi phía Bắc Từ những năm 2000, qua tham gia các dự án phát triển giáo viên, đổi mới phương pháp giảng dạy, trường Đại học Hạ Long đã triển khai được những đề tài có giá trị, trong đó
đáng kể là đề tài Tích hợp nội dung phòng chống ma tuy và các chất gây
nghiện vào dạy học bậc Tiểu học và THCS trên địa bàn tỉnh (2009), đề tài Tích hợp giáo dục môi trường biển đảo vào dạy học bậc Tiểu học và THCS
(2013) Tuy nhiên, do thời lượng chương trình hạn chế và để có được tiết dạy tích hợp thành công phải mất nhiều tâm sức, nhiều thời gian để tổng hợp tài liệu nên việc dạy học tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử trong các môn khoa học
xã hội và nhân văn tại trường Đại học Hạ Long cho đến thời điểm hiện tại chưa nhiều, chủ yếu dừng lại ở những nghiên cứu, ứng dụng mang tính vi mô, cấp độ nhỏ, lẻ Trong quá trình giảng dạy, mỗi giáo viên vận dụng theo những cách khác nhau và phụ thuộc nhiều vào quan niệm, PPDH, đối tượng dạy và học…, do đó, chất lượng tích hợp chưa đồng đều Vì vậy, tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử các di tích Quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong các môn khoa học xã hội và nhân văn là việc làm cần thiết Lựa chọn các nhóm bộ môn như Ngữ văn, Lịch sử, các môn thuộc lĩnh vực văn hóa, du lịch, sao cho địa chỉ tích hợp được cụ thể, thiết thực, phù hợp chương/bài/nội dung, đảm bảo đúng mục tiêu giáo dục, phương pháp giảng dạy mà vẫn tự nhiên, nhẹ nhàng, uyển chuyển, không khiên cưỡng, gò bó, áp đặt Các bài/nội dung tích hợp cần chú trọng các phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm, tạo cơ hội dân chủ để người học được bày tỏ quan điểm, trải nghiệm sáng tạo, phát huy năng lực, giáo viên đóng vai trò định hướng gợi mở Những nội dung được tích hợp phải góp phần khơi gợi, hình thành được ở sinh viên niềm tự hào, yêu thích khám phá tìm hiểu tinh hoa văn hóa dân tộc, làm cho sinh viên thấy rõ tiềm năng giá trị kinh tế và du lịch của
di sản và có ý thức giữ gìn, bảo tồn các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh địa phương Kết quả của nhiệm vụ nghiên cứu này, như vậy, sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Hạ Long, cũng chính là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho tỉnh Quảng Ninh và khu vực: sinh viên sau khi tốt nghiệp vừa có chuyên môn, nghiệp vụ vừa có ý thức, trách
Trang 29nhiệm trong việc bảo tồn, gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa lịch sử truyền thống của dân tộc
3 Mục tiêu của đề tài
3.1 Mục tiêu chung
Tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử các di tích Quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào giảng dạy một số môn khoa học xã hội và nhân văn tại Trường Đại học Hạ Long
– Thiết kế bộ tài liệu điện tử: Hướng dẫn dạy học tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử của các di tích Quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào giảng dạy một số môn thuộc ngành khoa học xã hội và nhân văn trường Đại học Hạ Long;
– Xây dựng bộ phim tư liệu giới thiệu bốn di tích Quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh;
– Chỉnh sửa chương trình môn học và giáo trình: Địa chí Quảng Ninh, Văn hoá địa phương, Lịch sử địa phương;
– Viết mới chương trình môn học và giáo trình môn Đọc hiểu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
- Các giá trị văn hóa, lịch sử nổi bật của các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Dạy học tích hợp; dạy học giáo dục giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc; dạy học tích hợp giá trị văn hóa lịch sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong các môn khoa học xã hội và nhân văn tại Trường Đại học Hạ Long
Trang 304.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu các di tích quốc gia đặc
biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp được xác định từ năm
2016-2017, số liệu sơ cấp được thu thập năm 2016
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Đề tài triển khai nghiên cứu các giá
trị văn hoá, lịch sử của bốn di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng
ở Đông Triều, di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử, di tích lịch sử Bạch Đằng) và cách thức tích hợp các giá trị trên vào dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn tại Trường Đại học Hạ Long
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài việc kết hợp sử dụng các thao tác chung của loại hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực văn hóa – giáo dục, như phân tích, tổng hợp, phân loại, so sánh …, chúng tôi chú ý sử dụng các phương pháp: Phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp chuyên gia, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích SWOT, phương pháp nghiên cứu liên ngành
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
* Nguồn dữ liệu: Gồm dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu sơ cấp: Nhóm nhiên cứu tiến hành điều tra khảo sát thực tế tại
4 di tích Quốc gia đặc biệt tại Quảng Ninh
7 Ngày 25/12/2017, Chính phủ đã ra Quyết định số 2082/QĐ-TTg ngày 25/12/2017 về việc xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (đợt 8) trong đó có di tích đền Cửa Ông của tỉnh Quảng Ninh Như vậy, hiện nay (năm
vụ khoa học công nghệ cấp Tỉnh là tháng 12/2016 nên phạm vi nghiên cứu với các nhiệm vụ cụ thể được xác định trong Hợp đồng giới hạn ở 4 di tích quốc gia đặc biệt, gồm danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long, di tích nhà Trần ở Đông Triều, di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử, di tích lịch sử Bạch Đằng Trên cơ sở kế hoạch
đã được xác định trong Hợp đồng, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực địa các di tích, điều tra trước tác động dạy học tích hợp trong thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 3/2017, thực hiện biên soạn tài liệu Tổng hợp giá trị các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh từ tháng 7 đến tháng 12/2016, làm cơ sở cho thực hiện những nội dung, nhiệm vụ nghiên cứu tiếp theo Việc bổ sung di tích quốc gia đặc biệt Đền Cửa Ông vào các tài liệu phục vụ cho dạy học tích hợp giáo dục giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc cần có thêm thời gian tìm hiểu Vì vậy, nhóm nghiên cứu thống nhất sẽ tiếp tục chủ động nghiên cứu, bổ sung thông tin về giá trị văn hóa, lịch sử di tích quốc gia đặc biệt này sau khi đề tài được nghiệm thu Đây là việc làm không
Trang 31Dữ liệu thứ cấp: Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ sách, báo, tạp
chí, các báo cáo của tỉnh, huyện đã công bố, công trình nghiên cứu liên quan đến giá trị văn hoá, lịch sử của 4 di tích Quốc gia đặc biệt tại Quảng Ninh
5.2 Phương pháp chuyên gia
Phỏng vấn các chuyên gia, tổ chức hội thảo để lấy ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý, các giảng viên và nhà nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị văn hoá, lịch sử của các di tích lịch sử quốc gia đặc biệt; thực trạng dạy học tích hợp tại Quảng Ninh
5.3 Phương pháp thống kê
- Phương pháp thống kê mô tả: Được sử dụng để mô tả, sắp xếp các số liệu sơ cấp, liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày số liệu để nhóm nghiên cứu và những người quan tâm có những nhận định, dự đoán ban đầu về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thống kê suy diễn: Được dùng để so sánh đánh giá các chỉ số thu được để kiểm định các nhận định, đánh giá được đưa ra trong quá trình nghiên cứu, xác định phạm vi, mức độ ảnh hưởng của đề tài và đưa ra các dự đoán về vấn đề nghiên cứu Phương pháp này cũng giúp đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu của vấn đề nghiên cứu
5.4 Phương pháp phân tích SWOT
- Phân tích ma trận SWOT: Được sử dụng nhằm mục đích phân tích, tổng hợp các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tích cực, tiêu cực (thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức) của đề tài nghiên cứu Phân tích SWOT được nhóm nghiên cứu vận dụng để phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo việc tích hợp giá trị văn hóa, lịch
sử các di tích quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn tại Trường Đại học Hạ Long chất lượng, hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra
Bảng 1 Mô hình phân tích ma trận SWOT
Điểm mạnh
(S)
SO: Giải pháp công kích (tận
dụng điểm mạnh để đeo đuổi
cơ hội)
ST: Giải pháp thích ứng (tận
dụng điểm mạnh để hạn chế những đe dọa có thể xảy ra)
Trang 32Điểm yếu
(W)
WO: Giải pháp điều chỉnh
(tận dụng cơ hội để khắc phục điểm yếu)
WT: Giải pháp phòng thủ (khắc
phục điểm yếu và hạn chế những rủi ro có thể xảy ra)
5.5 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Để giải quyết toàn diện các vấn đề khoa học đặt ra của đề tài, nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp liên ngành, gồm phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử, khoa học địa lý, khảo cổ học, kinh tế, xã hội học, dân tộc học, văn hóa học…, tổng hợp kết quả của các chuyên ngành khác nhau về một đối tượng để nhận thức tổng hợp, khách quan về đối tượng đó Bên cạnh liên ngành về kiến thức là liên ngành về kĩ năng và các nhóm phương pháp nghiên cứu, từ đó đưa ra những đánh giá định tính và bán định lượng
6 Kết cấu của báo cáo
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung báo cáo được kết cấu gồm 4 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử các di
tích Quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn tại Trường Đại học Hạ Long
Chương 2: Thực trạng dạy học tích hợp giáo dục giá trị lịch sử, văn hóa
truyền thống của địa phương, dân tộc tại Trường Đại học Hạ Long
Chương 3: Giải pháp tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử các di tích Quốc
gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn tại Trường Đại học Hạ Long
Chương 4: Tổ chức thực hiện tích hợp giá trị văn hóa, lịch sử các di
tích Quốc gia đặc biệt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vào dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn tại Trường Đại học Hạ Long
Trang 33Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁ TRỊ VĂN HÓA, LỊCH SỬ CÁC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH VÀO DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG
1.1 Dạy học tích hợp
1.1.1 Khái niệm dạy học tích hợp
Tích hợp là một khái niệm rộng, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học kĩ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học điện tử, công nghệ thông tin Như vậy, khái niệm này không chỉ được dùng trong lĩnh vực dạy học
Thuật ngữ “tích hợp” bắt nguồn từ một từ gốc Latin “integer” có nghĩa
là “whole” (“toàn bộ, toàn thể”), “Integratio” có nghĩa là sự xích lại gần nhau, quyện chặt vào nhau và thống nhất hữu cơ với nhau như một chỉnh thế Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy
Theo từ điển Tiếng Việt: "Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng, một thể thống nhất không chia cắt, một cái gì đó toàn vẹn Tích hợp không chỉ là sự liên kết mà
là sự xâm nhập, đan xen, kết hợp các đối tượng hay bộ phận vào nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất Như vậy tích hợp không phải là phép cộng đơn thuần của các phần cạnh nhau, mà là sự đan kết
Trong lĩnh vực khoa học giáo dục, khái niệm "tích hợp" xuất hiện từ thời
kì khai sáng, xuất phát từ cách nhìn nhận thế giới tự nhiên, xã hội và con người như một thể thống nhất Như vậy, dạy học tích hợp gắn với quan niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học Tích hợp còn có nghĩa
là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có Thuật ngữ "tích hợp" đã được đề cập khá nhiều
Trang 34trong các công trình nghiên cứu, đặc biệt là việc thiết kế các chương trình giáo dục đào tạo
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”
Việc đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là cần thiết vì nó mang lại nhiều lợi ích, do đó, đây là một xu hướng của lí luận dạy học, một xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông, trong xây dựng chương trình môn học và được nhiều nước trên thế giới thực hiện Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo dục và dạy học giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với học sinh so với việc các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Nhiều nước trong khu vực Châu Á
và trên thế giới đã thực hiện quan điểm tích hợp trong dạy học và cho rằng quan điểm này đã đem lại hiệu quả nhất định
Ở nước ta, dạy học tích hợp đã được triển khai trong nhiều năm Đến nay, dạy học tích hợp đã không còn là việc xa lạ trong các trường học Những vấn đề được chọn lựa chọn để dạy học tích hợp chủ yếu là những nội dung mang tính thời sự của đời sống hoặc những vấn đề cấp thiết đối với xã hội, đất nước như: môi trường, dân số, phòng chống ma túy - HIV/AIDS, an toàn giáo thông, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu, Nhiều môn học đã biết khai thác những lợi thế, cơ hội
để dạy học tích hợp Từ đó, hàng loạt các nội dung giáo dục đã được tích hợp trong chương trình dạy học: Giáo dục phòng chống ma túy và các chất gây nghiện, giáo dục môi trường, biển đảo, giáo dục kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu, giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, giáo dục văn hóa, lịch
sử, giáo dục hòa nhập người khuyết tật, giáo dục sức khỏe, giới tính hoặc an toàn giao thông, …
Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền
Trang 35thống từ trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học Tùy thuộc và phạm vi tri thức được vận dụng và vấn đề cần giải quyết trong các tình huống khác nhau, người ta có nhiều cách phân loại dạy học tích hợp như tích hợp đơn môn (tích hợp các nội dung trong một môn học) hay tích hợp đa môn/liên môn, xuyên môn,
Đối tượng của dạy học tích hợp hiện này được thực hiện chủ yếu với đối tượng là học sinh các bậc Tiểu học, THCS, THPT Việc tích hợp các nội dung trên trong giáo dục chuyên nghiệp tuy đã có và bước đầu thu được những kết quả khả quan (trung cấp, cao đẳng, đại học) nhìn chung chưa được quan tâm thỏa đáng (chủ yếu mới dừng lại ở các sinh hoạt chuyên đề hưởng ứng các chương trình hành động của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên và các
dự án)
1.1.2 Sự cần thiết phải tích hợp trong dạy học
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật đòi hỏi cần đưa vào nhà trường những kiến thức mới, vấn để mới, cập nhật thông tin từ thực tế là yêu cầu cấp bách Vì vậy, cần phải đưa vào nhà trường nhiều nội dung giáo dục như: bảo vệ môi trường, giáo dục sức khỏe, an toàn giao thông, giáo dục giá trị văn hóa, lịch sử, , nhưng quỹ thời gian có hạn, không thể tăng số môn học Tích hợp nội dung một số môn học là giải pháp cần thiết và có thể thực hiện được nhiệm vụ giáo dục nhiều mặt cho học sinh mà không gây nên tình trạng quá tải
Dạy học tích hợp không gây xáo trộn về sổ lượng và cơ cấu giáo viên, không nhất thiết phải đào tạo lại mà chỉ cần bồi dưỡng một số chuyên đề dạy học tích hợp, không đòi hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật hất và thiết bị dạy học Dạy học tích hợp còn tạo động lực để học sinh tích cực học tập, giúp người học học tập thông minh, vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng một cách toàn diện, hài hoà và hợp lí để giải quyết các tình huống mới mẻ, đa dạng trong cuộc sống hiện đại Các bài dạy theo hướng tích hợp góp phần làm cho hoạt động dạy học trong nhà trường gắn liền với thực tiễn cuộc sống, làm cho người học có nhu cầu học tập để giải đáp được những thắc mắc, phục
vụ cho cuộc sống của bản thân và cộng đổng
Trang 36Tích hợp trong dạy học góp phần đào tạo những người học có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Dạy học tích hợp cũng góp phần đào tạo giáo viên biết cách xử lí các tình huống giáo dục một cách linh hoạt và hiệu quả
Dạy học tích hợp có những ưu điểm chính sau đây:
Mục tiêu học tập được người học xác định rõ ràng ngay tại thời điểm học làm cho người học cảm thấy quá trình học tập có ý nghĩa vì nó giải quyết được một tình huống, một vấn đề trong thực tiễn cuộc sống từ đó có điều kiện hình thành và phát triển kiến thức, kĩ năng liên quan
Tránh những kiến thức, kĩ năng trùng lặp; phân biệt được nội dung trọng tâm và nội dung ít quan trọng; các kiến thức hình thành trong bài học gắn liển với kinh nghiệm sống của người học
Phương pháp dạy học: Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống; Thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học, làm cho người học cảm thấy việc học thú vị vì hoạt động học nhẹ nhàng, nội dung học gần gũi với kinh nghiệm sổng của bản thân
Bảng 2 So sánh giữa dạy học từng môn học đơn lẻ với dạy học tích hợp
Mục tiêu
Hướng đến mục tiêu chung của một số nội dung thuộc nhiều môn học khác nhau
Phạm vi rộng, ưu tiên các mục tiêu chung của nhiều môn học
Hướng đến mục tiêu riêng của mỗi môn học
Phạm vi hẹp, thường tập trung vào việc hình thành các kiến thức và kĩ năng, thái độ đặc thù của môn học
Kế hoạch
dạy học
Kết nối những tình huống có liên quan thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau với lợi ích và sự quan tâm của học sinh, của cộng đồng
Xuất phát từ một tình huống có liên quan tới nội dung của một môn học
Tổ chức
dạy học
Hoạt động học xuất phát từ vấn đế cần giải quyết hoặc một
dự án cẩn thực hiện, việc tự chủ giải quyết vấn đê' cẩn dựa trên
Hoạt động học diễn ra theo tiến trình đã dự kiến Người thiết kế kế hoạch hoạt động thường là giáo
Trang 37Với những điểm mạnh, ưu trội trong so sánh với dạy học từng môn đơn
lẻ, dạy học tích hợp tạo điều kiện để hình thành và phát triển năng lực người học một cách hài hoà ở nhiều lĩnh vực khác nhau
1.1.3 Phân biệt dạy học tích hợp và dạy học lồng ghép
Nhiều giáo viên vẫn quan niệm tích hợp là lồng ghép; dạy học tích hợp
là ghép thêm vào bài học một nội dung nào đó Quan niệm coi dạy học tích hợp
là ghép thêm nội dung nào đó vào bài học dẫn tới những tình huống sau: Nội dung bài học quá tải và nặng nề hơn; thời gian học tập kéo dài thêm, người dạy vất vả hơn, người học căng thẳng và mệt mỏi hơn, Dạy học lồng ghép là thêm vào bài học một nội dung kiến thức nào đó (ghép cái này với cái kia), cách làm mang tính chất cơ học Tích hợp cũng là sự kết hợp của hai hay nhiều thành phần, yếu tố lại với nhau nhưng sự kết hợp đó đã đạt đến độ nhuần nhuyễn, tinh
vi, quyện vào nhau một cách tự nhiên giống như là một
Có thể hiểu tích hợp là sự kết hợp một cách có hệ thống, kết hợp một cách tốt nhất các kiến thức của nhiều môn học trong một môn học Tích hợp không phải là sự lồng ghép mà đạt đến mức độ cao hơn, các kiến thức được hòa quyện vào nhau thành một chỉnh thể thống nhất chứ không phải là những mảng kiến thức ghép lại Mặc dù tích hợp và lồng ghép có nét tương đồng nhưng rõ ràng chúng khác nhau ở trình độ kĩ thuật
các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau Học sinh có thể cùng giáo viên thiết kế kế hoạch hoạt động
và thái độ của người học
Đặc biệt nhắm tới việc làm chủ mục tiêu ngắn hạn như kiến thức, kĩ năng đặc thù của môn học
Kết quả của
việc học
Hình thành, phát triển kiến thức và kĩ năng, thái độ gắn với một chủ đề có liên quan đến nội dung của nhiều môn học, nhiễu lĩnh vực xã hội khác nhau
Hình thành, phát triển kiến thức và kĩ năng, thái độ gắn với nội dung bài học cụ thể
Trang 38Trong dạy học, có thể xem lồng ghép là mức độ thấp của tích hợp Nếu người dạy có kinh nghiệm và kĩ năng tổ chức thì dạy học tích hợp sẽ không làm cho bài học nặng nề thêm, cũng không kéo dài thêm thời gian giờ học mà ngược lại, hoàn toàn có thể tạo ra những giờ học vô cùng bổ ích và lý thú, hấp dẫn, người học vừa đạt mục tiêu kiến thức, kỹ năng đã có của môn học, vừa đạt mục tiêu giáo dục ứng với nội dung tích hợp Dạy học tích hợp cho phép người dạy có thể sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, tổ chức các hoạt động dạy học đa dạng, hấp dẫn để gây hứng thú và phát huy tính chủ động và năng lực sáng tạo của người học Như vậy, dạy học tích hợp không làm giảm mà còn nâng cao hiệu quả dạy học
1.1.4 Các dạng dạy học tích hợp
Hiện nay, trên thế giới và ở nước ta đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về dạy học tích hợp
Từ góc độ chương trình giáo dục, tích hợp được phân thành 3 dạng:
- Tích hợp đa môn (Multidisciplinary Integration)
- Tích hợp liên môn: Interdisciplinary Integration
- Tích hợp xuyên môn (Transdisciplinary Integration)
1.1.4.1 Tích hợp đa môn (The Multidisciplinary Integration)
Các cách tiếp cận tích hợp đa môn tập trung trước hết vào các môn học Các môn liên quan với nhau có chung một định hướng về nội dung và PPDH nhưng mỗi môn lại có một chương trình riêng Có nhiều phương án khác nhau
để tạo nên một chương trình tích hợp đa môn và chúng khác nhau về mức độ
nỗ lực tích hợp Một trong dạng này là tích hợp trong nội bộ môn học
Tích hợp trong nội bộ môn học (Intradisciplinary Approach): Theo
phương án này, các môn, các phần vẫn được học riêng rẽ, nhưng trong quá
trình giảng dạy, tùy thuộc vào cơ hội thuận lợi của bài học, các nội dung giáo dục khác sẽ được tích hợp vào Ví dụ: tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong các bài giáo dục công dân; giáo dục dân số trong môn địa lý, môn sinh học, Tích hợp trong nội bộ môn học được hiểu là tổng hợp nhiều mảng kiến thức, kĩ năng liên quan đến nhau trong một đơn vị học, thậm chí trong 1 tiết học hay trong một bài tập nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian cho người học Có thể tích hợp theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc
Trang 39a) Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp các mảng kiến thức, kĩ năng trong môn học theo nguyên tắc đồng quy: Tích hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc mạch, phân môn này với mạch/ phân môn khác
b) Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp một đơn vị kiến thức, kĩ năng mới với những kiến thức, kĩ năng trước đó theo nguyên tắc đồng tâm Cụ thể là: Kiến thức của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức, kĩ năng của lớp dưới, cấp học dưới
Tích hợp trong nội bộ từng môn học là hình thức liên kết nội dung cần tích hợp với bài học, môn học căn cứ vào lợi thế (khả năng tích hợp của bài học, môn học) Khi đó, việc lựa chọn nội dung tích hợp phải đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ giữa các nội dung có liên quan trong một môn học vừa đòi hỏi người học phải suy nghĩ, tìm tòi, khám phá Tùy theo đặc điểm chương trình và nội dung kiến thức, mỗi môn học lại có khả năng tích hợp khác nhau đối với việc tích hợp Thực tế cho thấy có một số môn học có lợi thế hơn trong việc tích hợp nội dung này nhưng lại không có nhiều lợi thế để tích hợp nội dung khác Có những môn có thể tích hợp được nhiều nội dung
Ví dụ: môn Địa lý có thể tích hợp Giáo dục dân số, hay Giáo dục môi trường hay tích hợp Phòng chống ma túy chất gây nghiện, Giáo dục giới tính, Giáo dục thích ứng với biến đổi khí hậu, nhưng đối với các nội dung giáo dục nêu trên có thể môn học khác lại ít có cơ hội tích hợp hơn Ngay trong mỗi môn học, tùy vào nội dung của từng bài học, cơ hội tích hợp các nội dung giáo dục cũng khác nhau Có bài có khả năng tích hợp nhiều nội dung, nhiều vấn đề khác nhau nhưng cũng có bài rất ít hoặc thậm chí không có khả năng tích hợp bất cứ nội dung nào Vấn đề lưu ý trong dạy học tích hợp là chúng ta cần phân tích kĩ từng bài học để phát hiện khả năng hay cơ hội tính hợp của môn học, tránh tình trạng đưa nội dung nào đó tích hợp vào bài học một cách khiên cưỡng, gượng ép và cũng không nên bỏ qua những cơ hội thuận lợi cho việc tích hợp
1.1.4.2 Tích hợp liên môn (Interdisciplinary Integration)
Tư tưởng “tích hợp liên môn” trong giáo dục được thể hiện ở việc xây dựng chương trình dạy học và được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức trong một số nội dung hoặc chủ đề của nhiều môn học và kết hợp chúng lại thành một nội dung thống nhất Trên thế giới, tư tưởng tích
Trang 40hợp giáo dục xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ XX và đã được áp dụng rộng rãi
Tích hợp liên môn cũng có thể được hiểu như là phương án trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới với một hệ thống những chủ đề nhất định xuyên suốt qua nhiều cấp lớp Thí dụ Địa lý, Lịch sử, Sinh học, Xã hội, Công dân giáo dục, Hoá, Lý được tích hợp thành môn
“Nghiên cứu xã hội và môi trường” ở chương trình giáo dục bậc tiểu học tại Anh, Úc, Singapore, Thailand Ở Việt Nam, từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn tự nhiên - xã hội theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện
và đã được thiết kế đưa vào dạy học từ lớp 1 đến lớp 5 Chương trình ở cấp trung học chủ yếu thực hiện tích hợp ở mức thấp, chưa đặt nặng vấn đề dạy học tích hợp ở trung học Một trong những nguyên nhân chủ yếu là việc dạy học tích hợp liên quan đến nhiều yếu tố đòi hỏi phải có quá trình chuẩn bị như: chương trình, sách giáo khoa, tổ chức dạy học, phương pháp dạy và học, đánh giá, kiểm tra, thi
Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học và phải xử lí các nội dung kiến thức trong mối liên quan với nhau, bảo đảm cho học sinh vận dụng được tổng hợp các kiến thức đó một cách hợp lí để giải quyết các vấn đề trong học tập, trong cuộc sống Không nên hiểu tích hợp liên môn chỉ là ghép các kiến thức của môn học này cạnh môn học khác, nhất là chỉ trong 1 tiết học Thực tế là khi dạy một chủ đề thì các kiến thức không bị lặp lại mà chúng được đưa ra để hỗ trợ, soi sáng lẫn nhau; giáo viên giỏi thì biết sắp xếp các kiến thức theo một lôgic hợp lý nhất Thông qua tổ chức cho học sinh hoạt động học giải quyết tình huống/vấn đề đặt ra, người học vừa chiếm lĩnh được kiến thức, vừa được luyện vận dụng được kiến thức đó vào những vấn đề tương tự trong thực tiễn, đạt được mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh Ở mức độ vừa, các môn gần nhau được ghép trong một môn chung nhưng vẫn giữ vị trí độc lập và chỉ tích hợp ở các phần trùng nhau
Trong những năm gần đây, với sự phát triển như vũ bão của khoa học - công nghệ cùng với sự bùng nổ thông tin, lượng tri thức của nhân loại phát minh ngày càng nhiều, kiến thức giữa các lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau Đồng thời, do yêu cầu của xã hội, do nhu cầu thực tế đang đòi hỏi con