Khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế do vị trí địa lý, trình độ nhận thức… Đặc biệt, công tác xóa đói giảm nghèo càng khó khăn hơn khi đối tượng
Trang 1M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN !
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn vấn đề can thiệp 1
2 Lịch sử vấn đề can thiệp 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ can thiệp 2
3.1 Mục tiêu can thiệp 2
3.2 Nhiệm vụ can thiệp 3
4 Đối tượng và phạm vi can thiệp 3
4.1 Đối tượng can thiệp 3
4.2 Phạm vi can thiệp 3
PHẦN II: NỘI DUNG 3
1 Cơ sở lý luận 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.1 Khái ni ệm công tác xã hội 3
1.1.2 Khái ni ệm công tác xã hội cá nhân 4
1.1.3 Khái ni ệm nghèo, đói nghèo và phụ nữ nghèo 4
1.1.4 Khái ni ệm phụ nữ nghèo đơn thân 5
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong can thiệp 5
1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 5
1.2.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái 6
1.2.3 Lý thuyết phân tầng của Karl Max Weber 7
1.3 Cơ sở pháp lý 11
1.3.1 Nh ững chủ trương, chính sách và Quy định của Đảng và Nhà nước v ề XĐGN 12
1.3.2 Luật pháp và chính sách của Nhà nước 14
1.4 Khái quát về cơ sở thực hành 16
Trang 21.4.1 Điều kiện tự nhiên 16
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 17
1.4.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã đến đói nghèo và xóa đói giảm nghèo 18
1.4.4 Cơ cấu lãnh đạo và sơ đồ tổ chức cơ sở 19
1.4.5 M ột số yếu tố khác 21
2 Hoạt động can thiệp 21
2.1 Kế hoạch thực hành 21
2.2 Đặc điểm đối tượng can thiệp 24
2.3 Tiến trình can thiệp 24
2.4 Đánh giá khả năng vận dụng kiến thức đã học vào quá trình thực hành 50
PHẦN III – KẾT LUẬN 51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC 54
Trang 3PH Ụ LỤC
Phụ lục 1: Biên bản quan sát
Phụ lục 2: Biên bản vấn đàm
Phụ lục 3: Nhật kí thực hành
Phụ lục 4: Bản tự đánh giá quá trình thực hành của sinh viên
Phụ lục 5: Đánh giá của cơ sở về quá trình thực hành của sinh viên
Trang 4
Thương binh và xã hội
Trang 5PH ẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn vấn đề can thiệp
Nghèo đói là một trong những vấn đề lớn của thế giới ngày nay, nghèo đói không chỉ là vấn đề của riêng quốc gia nào, mà nó mang tính chất toàn cầu,
bởi nghèo đói làm cản trở sự phát triển của con người và xã hội Ở Việt Nam
từ trước đến nay xóa đói giảm nghèo là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta là nhằm cải thiện vật chất, tinh thần cho người dân
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp xóa đói giảm nghèo nhưng tỷ lệ nghèo cả nước vẫn còn cao đến cuối năm 2019 bình quân khoảng dưới 4% ( giảm 1,3% so với cuối năm 2018), Bình quân tỷ lệ hộ nghèo
ở các xã đặc biệt khó khăn giảm khoảng 3 – 4% so với cuối năm 2018 Tuy nhiên, tình trạng giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ nghèo phát sinh còn cao (bằng 17,82% tổng số hộ thoát nghèo) chủ yếu do thiên tai, tách hộ Chênh lệch giàu – nghèo, tiếp cận các dịch vụ cơ bản, tiếp cận thị trường, việc làm giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên ( theo molisa.gov.vn) Một số chính sách mang tính chất hỗ trợ
ngắn hạn, thời vụ; trực tiếp, cho không, mang tính bình quân, cào bằng, thời gian đầu có tác dụng tốt, giải quyết được một số khó khăn trước mắt cho người dân, tuy nhiên đến nay không còn phù hợp, nhưng chậm sửa đổi, bổ sung
Một số Ban chỉ đạo ở địa phương hoạt động chưa hiệu quả, công tác phố
hợp giữa các ngành, các cấp chưa nhịp nhàng, đồng bộ Đội ngũ cán bộ cơ sở
xã, phường, thi trấn, nhất là cán bộ làm công tác lao động – thương binh và xã
hội, thông tin cơ sở và các hội, đoàn thể không ổn định, thường xuyên thay đổi
đã ảnh hưởng đến công tác chỉ đạo điều hành trong công tác giảm nghèo Khả năng tiếp cận chính sách hỗ trợ của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế do
vị trí địa lý, trình độ nhận thức…
Đặc biệt, công tác xóa đói giảm nghèo càng khó khăn hơn khi đối tượng
là những người phụ nữ nghèo đơn thân làm chủ gia đình, họ không chỉ là nạn nhân của đói nghèo mà họ còn gánh vác trọng trách nuôi sống cả gia đình, thiếu
thốn tình cảm, mặc cảm, tự ti, ít giao tiếp xã hội và chịu sự kỳ thị của cộng
Trang 6đồng… Bởi vậy hạn chế tình trạng nghèo đói là nhiệm vụ của các cấp, các ngành nói riêng và toàn thể cộng đồng nói chung Trong đó, NVCTXH được coi là những người có trọng trách nặng trong giúp đỡ họ tự vượt qua những khó khăn trong cuộc sống bằng những kiến thức, kỹ năng chuyên môn đặc thù
Từ thực tiễn của vấn đề trên, cho nên tôi đã chọn đề tài “ Công tác xã hội
cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại hộ chị: Bùi Thị Xim xóm Dớn xã Tân Minh huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ” nhằm làm rõ hơn về những tâm tư, nguyện vọng và nguyên nhân nghèo đói của hộ, từ đó có thể đóng góp một phần
việc vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của địa phương
2 L ịch sử vấn đề can thiệp
Trước thời gian tiếp nhận, chưa có báo cáo hoặc luận văn nào can thiệp,
hỗ trợ cho TC TC sống tại xóm Dớn xã Tân Minh huyện Thanh Sơn tỉnh phú
Thọ được chi hội Phụ nữ xóm Dớn và chính quyền địa phương quan tâm đã được tiếp cận với mốt số dịch vụ xã hội cơ bản như thẻ bảo hiểm y tế, trợ cấp
bảo trợ xã hội hàng tháng cho phụ nữ nghèo đơn thân…
Về hoạt động tình nguyện của các tổ chức cá nhân: Một số các câu lạc
bộ tổ chức tình nguyện đã đến thăm, tặng quà gồm: nhu yếu phẩm như mì tôm, bánh kẹo, đường sữa, quần áo, tiền mặt để hỗ trợ đối tượng trong sinh hoạt hàng ngày và phát triển kinh tế
3 M ục tiêu và nhiệm vụ can thiệp
3.1 M ục tiêu can thiệp
Mục tiêu chung: Giúp TC phát huy năng lực của bản thân, nâng cao vai trò và khả năng xử lý, giải quyết vấn đề, giúp thân chủ kết nối với các nguồn
lực để vươn lên trong cuộc sống
Mục tiêu cụ thể:
+ Thấu hiểu tâm tư, tình cảm của thân chủ
+ Xác định được vấn đề cần giải quyết
+ Cung cấp kiến thức, kỹ năng xử lý tình huống cho thân chủ
+ Thúc đẩy thân chủ tích cực tham gia các hoạt động
Trang 73.2 Nhi ệm vụ can thiệp
Tiến hành mô tả, phân tích và đánh giá thực trạng những mối quan hệ xã
hội nói chung và quan hệ tình cảm của thân chủ để tìm ra những khó khăn trong
cuộc sống của TC Ngoài ra còn phải tìm hiểu được các vấn đề khác mà TC đang gặp phải để trợ giúp họ ổn định tâm lý, vươn lên số phận thoát nghèo có
cuộc sống tốt đẹp hơn
Tìm hiểu, nhìn nhận đánh giá đúng về vai trò của nhân viên công tác xã hội
hỗ trợ giải quyết khó khăn cho TC, tìm ra thế mạnh và tiềm năng của TC bổ sung thêm các kĩ năng và sẵn sàng ứng phó với vấn đề có thể xảy ra
4 Đối tượng và phạm vi can thiệp
4.1 Đối tượng can thiệp
Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân
1.1 M ột số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái ni ệm công tác xã hội
CTXH là một ngành khoa học, một nghề chuyên môn vận dụng các kiến
thức và kĩ năng nghề để hỗ trợ cho các cá nhân, nhóm, gia đình và cộng đồng
có những thay đổi phát triển các chức năng xã hội bằng các hoạt động.Các hoạt động này tập trung vào các quan hệ xã hội của họ để tạo nên sự tương tác giữa con người và môi trường và kết quả của sự tương tác là tăng cường chức năng
xã hội cho cá nhân, nhóm, gia đình, cộng đồng, tạo nên sự phát triển bền vững cho con người
Trang 81.1.2 Khái ni ệm công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân là phương pháp của CTXH thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực
tự giải quyết vấn đề của mình
Trong tiến trình này, nhân viên xã hội cần biết vận dụng nền tảng kiến
thức khoa tâm lý học, xã hội học, và các khoa học xã hội liên quan khác, đồng
thời sử dụng kỹ năng, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, sát cánh cùng đối tượng,
hỗ trợ họ tự giải quyết của bản thân và có khả năng vượt qua những vấn đề khác
có thể xảy ra trong tương lai
1.1.3 Khái ni ệm nghèo, đói nghèo và phụ nữ nghèo
- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã
hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương ( theo Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Bang kok Thái Lan đã đưa ra định nghĩa)
- Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng”
- Phụ nữ nghèo: theo tổ chức Escap đưa ra tại hội nghị chống đói nghèo năm 1993 thì “ phụ nữ nghèo là những người chỉ có điều kiện thỏa mãn một
phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn mức
sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”
1.1.4 Khái ni ệm phụ nữ nghèo đơn thân
Phụ nữ nghèo đơn thân là đối tượng trong tình trạng ly thân, ly hôn
hoặc là những bà mẹ tự túc (có con nhưng chưa kết hôn), người nuôi con một mình, đời sống của họ gặp nhiều khó khăn cả về vật chất lẫn tinh thần Họ
Trang 9thường bị cản trở trong việc gia nhập thị trường lao động hay tìm kiếm việc làm vì phải chăm sóc con cái
(Theo tạp chí “Tiếp thị và gia đình”)
1.2 Lý thuy ết ứng dụng trong can thiệp
Quá trình tìm hiểu đã vận dụng một số lý thuyết có tác động đến can thiệp như:
1.2.1 Lý thuy ết nhu cầu
Tháp nhu c ầu cầu của A.Maslow
Theo A.Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành 5 bậc
với nhu cầu cơ bản nhất từ thấp đến cao.Trong thuyết này Maslow khẳng định
để tồn tại con người cần phải được đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho sự sống như: ăn, uống, mặc, ở….rồi sau đó mới đến các nhu cầu bậc cao hơn: nhu cầu được tôn trọng, phát triển bản thân
Trong những trường hợp cụ thể khác nhau thì cá nhân cần đạt được
những nhu cầu khác nhau, và nhu cầu ưu tiên đối với các cá nhân là không
giống nhau Trong nghiên cứu này, lý thuyết nhu cầu được sử dụng như một
Trang 10công cụ để tìm hiểu và xác định nhu cầu ưu tiên của người già cô đơn, không nơi nương tựa được nuôi dưỡng lâu dài tại trung tâm bảo trợ xã hội
1.2.2 Lý thuy ết hệ thống sinh thái
Lý thuyết này khẳng định con người luôn sống trong một môi trường
nhất định (bao gồm môi trường xã hội và môi trương tự nhiên), chịu sự ảnh hưởng sâu sắc tới môi trường đó
Mỗi người đều phải tham gia vào môi trường sống khác nhau, điều đó có thể hình thành những khả năng thích nghi riêng để phù hợp mới môi trường mới hoặc môi trường đó thay đổi để phù hợp với cá nhân có thể tồn tại
Lý thuyết hệ thống sinh thái được sử dụng để tìm hiểu và phân tích các
yếu tố trong môi trường sống của đối tượng được khảo sát, từ đó phát hiện
những khó khăn và rào cản trong việc đáp ứng nhu cầu quan hệ cho phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con Tìm hiểu về sự tác động ảnh hưởng của các mối quan
hệ, những hệ quả từ các mối quan hệ trong đời sống có liên quan tới đối tượng Trên cơ sở đó, giúp đối tượng thích nghi với môi trường sống tốt hơn hay đề ra
một số biện pháp cải thiện môi trường sống phù hợp hơn cho đối tượng này
Trang 11Các yếu tố môi trường ảnh hưởng như:
- Cấp độ vi mô: là các yếu tố thuộc về bản thân phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con: tâm lý, sự mặc cảm, nhận thức
- Cấp độ trung mô: Những mối quan hệ với đối tượng như bạn bè, công
việc, gia đình…
- Cấp độ vĩ mô: là những yếu tố từ cộng đồng, các yếu tố văn hóa, quan
niệm xã hội, các thiết chế, chính sách xã hội tại nơi đối tượng đang sinh sống…
1.2.3 Lý thuy ết phân tầng của Karl Max và Max Weber
Xã hội học hiện đại, kể cả xã hội học hiện đại phương Tây nói chung đều thừa nhận có hai ông tổ của lý thuyết phân tầng xã hội – đó là Karl Marx
và Max Weber Bởi lý thuyết của hai ông tổng hợp lại đã cung cấp cho người
ta những nhận thức rất cơ bản về tiền đề và điều kiện ( hay những nhân tố về kinh tế, chính trị, văn hóa) dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp và
tầng lớp khác nhau
a Lý thuyết phân tầng xã hội của Karl Marx (1818 – 1883)
Karl Marx là nhà triết học và kinh tế học Đức, nhà lý luận của phong trào công nhân thế giới, nhà sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa cộng sản khoa học
Theo tập thể các tác giả cuốn Nhập môn xã hội học (Tony Bilton và cộng sự) –
một cuốn sách giáo khoa tốt nhất, tổng hợp nhất và có giá trị nổi bật, thì “ Marx
đã cung cấp cho xã hội học và chính trị học hiện đại một trong những tiếp cận
lý thuyết phân tầng bao quát mạnh mẽ nhất Cũng lúc đó, cách giải thích về xã
hội của ông là một cách giải thích bị tranh luận gay gắt nhất trong mọi học thuyết xã hội, bởi vì nó không chỉ là lý thuyết xã hội học, mà cũng là một triết
lí về con người và một cương lĩnh cho sự thay đổi cách mạng trong xã hội… Các nhà xã hội học khác nhau đã chấp nhận những quan điểm khác nhau đó,
Trang 12những người khác thì ở lưng chừng, nhưng điều chắc chắn là bất cứ lý thuyết phân tầng nào đều vay mượn của Marx cách lý giải về giai cấp….Với Marx
mối quan hệ giai cấp là chìa khóa mọi mặt của xã hội” {43,56}
Marx cho rằng sản xuất của cải vật chất là hoạt động trước tiên của con người và nó phải đến trước mọi hoạt động khác Chừng nào mà xã hội có
thể sản xuất nhiều hơn nhu cầu tối thiểu để sinh sống thì giai cấp mới có thể
xuất hiện Bất cứ xã hội có giai cấp nào đều xây dựng trên mối quan hệ giữa
những người bóc lột – kẻ bị bóc lột
Lịch sử xã hội “ văn minh” theo Marx là lịch sử của những hình thức khác nhau về sự bóc lột và thống trị giai cấp Theo ông: “ Mọi xã hội đều bao hàm sự bóc lột giai cấp trên cơ sở những quan hệ sản xuất, chính cái này mà Marx gọi là phương thức sản xuất Chìa khóa để tìm hiểu một xã hội nhất định
là khám phá ra trong đó phương thức sản xuất nào chiếm ưu thế Tiếp đó chúng
ta biết được mô hình cơ bản của những mối quan hệ xã hội và chính trị và có
thể đánh ra xung đột và những tiềm năng thay đổi nào đã được gắn bó với xã
hội” {43,57}
Thật ra, Marx không đưa ra một chỉ dẫn riêng về các nhân tố dẫn đến phân tầng xã hội, nhưng qua tác phẩm tiêu biểu của ông – từ Bản thảo kinh tế
- triết học 1844 đến Tuyên ngôn Cộng sản, từ phê phán khoa học chính trị kinh
tế đến bộ Tư bản đồ sộ, ta có thể thấy trong quan niệm của Marx, sự phân chia
cốt yếu giữa các giai cấp trong một xã hội nhất định đều bắt nguồn từ quyền sở
hữu tài sản đối với các phương tiện sản xuất
Trong xã hội phong kiến, lãnh chúa có quyền thu lấy toàn bộ tài sản
thặng dư do nông dân sản xuất ra trên mảnh đất thuộc quyền sở hữu của lãnh chúa Trong xã hội tư bản, nhà tư bản có quyền chỉ huy lao động và chiếm hữu
phần thặng dư do công nhân tạo ra Theo Marx, nhà tư bản có quyền đó “ Không
phải nhờ những phẩm chất cá nhân hay những phẩm chất con người của hắn,
Trang 13mà chỉ có được với tư cách là người sở hữu tư bản [14,89]
Như vậy, nêu bật nhân tố hàng đầu của phân tầng xã hội là quyền sở
hữu tài sản Marx (và cả F Engel) còn lưu ý đến yếu tố phân công lao động xã
hội mà bản thân nhân tố này lại có mối quan hệ tác động qua lại với lực lượng
sản xuất xã hội và do đó với quyền sở hữu tài sản
Điều đó giải thích tại sao trong khi phân tích hai giai cấp chủ yếu trong
xã hội là tư sản, vô sản vào thời đại của mình, ông không hề bỏ qua các giai
tầng xã hội khác như: giai cấp nông dân, giai cấp địa chủ, những người sản xuất
nhỏ, tầng lớp tăng lữ, tầng lớp trí thức xuất thân từ các giai cấp khác nhau; tầng
lớp công nhân “ quý tộc”, tầng lớp vô sản “lưu manh” trong bản thân giai cấp công nhân…[ 43,108]
b Lý thuyết phân tầng xã hội của Marx Weber (1864 – 1992)
Marx Weber là nhà kinh tế học, nhà sử học đặc biệt ông còn được tôn vinh là một nhà xã hội học bách khoa toàn thư
Marx Weber cũng là một người Đức nhưng thuộc thế hệ hậu sinh của Marx, ông đã đưa ra lý thuyết phân tầng của mình, trong đó vừa có điểm “ vay mượn” của Marx vừa có điểm phát triển thêm
Ý kiến của Weber khác với Marx theo nhiều cách Ông bác bỏ mục đích và chính sách của các nhà xã hội chủ nghĩa Đức vì coi chủ nghĩa cộng sản
là một Utopia không thể đạt tới Bao quát hơn, ông bác bỏ ý kiến cho rằng các nhà xã hội học có thể khái quát hóa các cấu trúc xã hội bằng cách sử dụng sự phân tích các phương thức sản xuất Với Weber, mỗi xã hội về mặt lịch sử đều độc nhất và phức tạp
Mặc dù không tán thành mục tiêu chính trị của Marx, hơn nữa ông còn phê phán, bác bỏ quan niệm của Marx cho rằng những quan hệ kinh tế luôn luôn là yếu tố giải thích cấu trúc xã hội và động lực đầu tiên của sự thay đổi xã
hội Ông tin rằng những tư tưởng tôn giáo có một ảnh hưởng độc về mặt lịch
Trang 14sử và rằng lĩnh vực chính trị thường là lực lượng kiểm soát cốt yếu trong những thay đổi xã hội song khi bàn đến cơ cấu xã hội dưới chủ nghĩa tư bản, Weber cũng phải thừa nhận rằng chính những quan hệ kinh tế đã tạo nên cơ sở của sự
bất bình đẳng, tức là tạo điều kiện và điều kiện cho sự phân chia xã hội thành các giai cấp khác nhau Chỉ có điều “ Weber nhấn mạnh tầm quan trọng của thị trường như là cơ sở kinh tế cho giai cấp hơn là tài sản Với ông nguyên nhân đầu tiên của bất bình đẳng trong chủ nghĩa tư bản là khả năng thị trường – đấy
là những kỹ năng mà người làm thuê mang ra thị trường lao động Những khác
biệt trong phần thưởng giữa các nghề nghiệp kết quả từ kỹ năng hiếm hoi mà nhóm nghề nghiệp cần giữ Nếu kỹ năng được quá cầu thì tiền thưởng sẽ cao” [43,65] Và người có điều kiện để thuê những kỹ năng ấy không ai khác ngoài
những người nắm giữ, sở hữu tài sản trong tay
Weber còn đưa ra khái niệm “ cơ may đời sống”, thuật ngữ này dùng
để chỉ tất cả các phần thưởng và lợi thế nào do khả năng thị trường đem đến
Những cơ may đời sống bao gồm thu nhập, bảo hiểm, phụ cấp,… Bởi vậy, chúng ta có thể phân biệt những nhóm có khả năng thị trường tương tự và những nhóm này có thể gọi là giai cấp
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng Weber đồng ý với Marx là những nét kinh tế cốt yếu của chủ nghĩa tư bản là quyền sở hữu các phương tiện sản
xuất và những thị trường cho hàng hóa và lao động Sự khác biệt cốt yếu là Marx nhấn mạnh yếu tố kinh tế còn Weber nhấn mạnh yếu tố phi kinh tế
Nếu có những điểm mới trong lý thuyết phân tầng của Weber thì
những điểm đó được thể hiện chủ yếu trong tiểu luận “ Giai cấp, địa vị và đảng”
Ở tác phẩm này, Weber cho rằng sự bất bình đẳng trong xã hội có thể không
dựa trên cơ sở những mối quan hệ kinh tế, nhưng lại dựa trên uy tín hay quyền
lực chính trị được huy động thông qua một đảng Ngoài ra theo Weber, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giai cấp lao động có thể phân chia thành
Trang 15từng tầng lớp: có kỹ năng, bán kỹ năng và không có kỹ năng, mà các kỹ năng này thực chất là trình độ học vấn và tay nghề - lại đưa đến sự khác biệt về cơ may đời sống thể hiện ở mức thu nhập, phụ cấp, tiền thưởng…
Tuy nhiên, khi đánh giá học thuyết của Weber thì có một vấn đề trong
sự giải thích của ông: không thể có tiêu chuẩn để phân chia lực lượng – lao động thành giai cấp và phân tầng Nói một cách khác, sự phân tích của Weber
về khả năng thị trường sẽ đặt mỗi cá nhân vào một giai cấp riêng rẽ Một cách quan trọng hơn, những tiếp cận của Weber có xu hướng tập trung vào công
việc, coi nhẹ của cải như một yếu tố cốt yếu trong cấu trúc giai cấp
Từ các lý thuyết phân tầng của Marx và Weber, xã hội học hiện đại đã rút ra ba nhân tố cơ bản dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp và tầng
lớp là: sở hữu tài sản, trí tuệ; quyền lực
Như vậy, cả Marx và Weber đều coi xã hội phương Tây là xã hội tư
bản và cả hai đều thống nhất là những nét phân biệt cốt yếu của điều đó là sự
sở hữu tư nhân về các tài sản sản xuất và một thị trường lao động Chính vì lẽ
đó mà tập thể tác giả cuốn nhập môn xã hội học đã đưa ra kết luận rằng những
tư tưởng của Marx và Weber có thể phối hợp một phần để tạo nên mô hình ba giai cấp chính trong xã hội tư bản hiện đại Tầng lớp trên ít ỏi gồm những ai
nắm được tư liệu sản xuất Giai cấp này trùng với giai cấp tư sản của Marx Tuy nhiên, những người không sở hữu các tài sản sản xuất không thể được mô
tả tất thảy như là vô sản Người nghèo theo lý thuyết phân tầng không chỉ bị rơi
xuống tầng đáy của thang bậc phân tầng xã hội mà gần như ở ngoài lề của hệ
thống thứ bậc đó Lớp nghèo bị coi là giai cấp dưới trong hệ thống phân tầng,
có địa vị xã hội thấp kém, không có quyền lực, uy tín, không sở hữu của cải và
ở bên lề thị trường lao động
Trong phạm vi nghiên cứu này sẽ vận dụng lý thuyết phân tầng của K.Marx và M.Weber về quyền sở hữu tài sản, phân công lao động, khả năng
Trang 16thị trường lao động, cơ may đời sống, uy tín xã hội…để phân tích và thấy rõ
những đặc trưng của người nghèo từ đó đưa ra các giải pháp tích cực để xây
dựng mô hình giảm nghèo hiệu quả, nhanh chóng, rút ngắn ranh giới của sự giàu – nghèo trong xã hội, hạn chế sự bất bình đẳng trong xã hội bởi mỗi người trong xã hội đều có những vai trò, những vị thế nhất định
ta dành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi dân được ăn no
mặc đủ…” Tư tưởng của Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về XĐGN nhất là trong thời kỳ
mới
Trong nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng: “Vấn đề lương thực phải được giải quyết một cách căn bản” Đây là chủ trương quan trọng liên quan đến
an ninh lương thực và tấn công vào đói nghèo “ về lương thực thực phẩm” khá
nổi tiếng ở nước ta trong những năm đầu đổi mới
Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng chỉ rõ: “ Đảm bảo vững chắc nhu cầu lương thực, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên và nạn đói giáp hạt ở một số vùng” Tức là tập trung vào giải quyết cơ bản đói nghèo tuyệt đối và đói nghèo “ về lương thực thực phẩm”
Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã xác định rõ đói nghèo là một trong
những chương trình phát triển kinh tế xã hội vừa cấp bách trước mắt vừa cơ bản lâu dài và nhấn mạnh “ phải thực hiện tốt chương trình XĐGN nhất là đối
với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc Xây dựng và phát triển
quỹ XĐGN bằng nhiều nguồn vốn trong nước và nước ngoài…” đồng thời lần đầu tiên đưa ra chỉ tiêu XĐGN đến năm 2000 và các năm tới: “ Giảm tỷ lệ nghèo đói xuống còn khoảng 10% đến năm 2000, bình quân giảm 300.000
Trang 17hộ/năm Trong 2 – 3 năm đầu của kế hoạch 5 năm, tập trung xóa cơ bản hộ đói kinh niên”
Đại hội IX của Đảng đã nhận thức sâu sắc về XĐGN, đặt XĐGN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001 – 2010 nhấn mạnh làm tốt công tác XĐGN sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, góp phần ổn định từng bước phát triển đất nước và hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa Như vậy, đến Đại hội này, Đảng và Nhà nước đã chủ trương XĐGN một cách bền vững và gắn liền với phát triển Mục tiêu chiến lược XĐGN thời kỳ 2001 – 2010 mà Đại hội IX đề ra là: “ Cơ bản xóa đói, giảm nghèo số hộ nghèo, cơ bản phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo Thường xuyên củng cố thành quả XĐGN”
Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tập trung đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ cấp về điều kiện sản xuất, nâng cao
kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và
cải thiện mức sống một cách bền vững; kết hợp chính sách nhà nước với sự giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo nhất là đối với vùng đặc biệt khó khăn Ngăn chặn tình
trạng tái nghèo”
Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng cơ bản: “ Nâng cao thu
nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội Thực
hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm chênh
lệch về mức sống giữa nông thôn với đô thị”
Đại hội lần thứ XII (2016) của Đảng, đã tiếp tục nhấn mạnh: “ Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp
đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận các
dịch vụ xã hội cơ bản”
Như vậy, có thể nói rằng chủ trương quan điểm của nhà nước ta về XĐGN thể hiện rất rõ quan điểm có ý nghĩa chiến lược, xuyên suốt và nhất quán của Đảng ta là tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến độ và công
Trang 18bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển nhằm hướng tới phát triển bền
vững, góp phần thực hiện mục tiêu: “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”
1.3.2 Lu ật pháp và chính sách của Nhà nước
1.3.2.1 Lu ật pháp liên quan đến xóa đói giảm nghèo
Quan điểm trên của Đảng và Bác Hồ được thể hiện trong Hiến pháp năm
2013, khoản 1, Điều 14 quy định: “Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp
luật” Trên tinh thần đó, Nhà nước đã và đang triển khai hàng loạt chương trình phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh, công bằng xã hội trên
cả nước, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đông đồng bào dân
tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo.Trọng tâm là phát triển hạ tầng và dịch vụ thiết yếu, thúc đẩy sản xuất, nâng cao thu nhập cho các huyện nghèo, hộ nghèo, người nghèo Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với tinh thần “ vì người nghèo” mang đậm chất nhân văn đã lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội bằng
những nội dung, hình thức thiết thực
1.3.2.2 Chính sách của Nhà nước Việt Nam về xóa đói giảm nghèo
- Quyết định 275/QĐ – TTg năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh sách các huyện nghèo và huyện thoát nghèo giai đoạn 2018 - 2020
- Quyết định số 1722/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020
- Quyết định số 59/2015/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020
- Nghị định 136/2013/ NĐ – CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối
với đối tượng bảo trợ xã hội ( Điều 5, Điều 6 quy định về người đơn thân nuôi con và mức trợ cấp xã hội hàng tháng)
Trang 19- Chính sách đối với hộ nghèo thiếu hụt đa chiều theo chỉ đạo của Chính
phủ tại Nghị quyết số 71/NQ – CP ngày 31/05/2018:
1 Chính sách hỗ trợ về bảo hiểm y tế, thực hiện theo Nghị quyết số 40/NQ – CP ngày 10 tháng 05 năm 2017 của Chính phủ về phiên họp Chính
phủ thường kỳ tháng 4 năm 2017
2 Chính sách hỗ trợ về giáo dục – đào tạo
a) Đối với thành viên hộ nghèo đa chiều thiếu hụt ít nhất 01 chỉ số về giáo dục (trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em) được
thực hiện chính sách hỗ trợ về giáo dục, đào tạo như đối với thành viên hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập
b) Đối với thành viên hộ nghèo đa chiều thiếu hụt các chỉ số dịch vụ xã
hội cơ bản khác được thực hiện chính sách hỗ trợ về giáo dục, đào tạo như đối
với thành viên hộ cận nghèo
3 Chính sách hỗ trợ về nhà ở
Giao Bộ xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và
xã hội, các bộ, ngành liên quan và các địa phương rà soát báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định việc thực hiện Quyết định số 33/2015/QĐ – TTg ngày
10 tháng 8 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhà ở đối
với hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020 bảo đảm phù hợp với
khả năng cân đối của ngân sách nhà nước
4 Chính sách hỗ trợ về nước sinh hoạt
Đối với hộ nghèo đa chiều thiếu hụt chỉ số về nguồn nước sinh hoạt thì được hưởng chính sách hỗ trợ nước sinh hoạt theo quy định tại Quyết định số 2085/QĐ – TTg ngày 31 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 – 2020
Trang 20c) Đối với chính sách hỗ trợ về phát triển sản suất, đa dạng hóa sinh kế
và nhân rộng mô hình giảm nghèo: thực hiện theo Quyết định số 1722/ QĐ – TTg ngày 02 tháng 09 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ
1.4 Khái quát v ề cơ sở thực hành xã Tân Minh huyện Thanh Sơn tỉnh Phú
Th ọ
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Tân Minh là xã miền núi đặc biệt khó khăn, thuộc vùng chương trình 229 của huyện Thanh Sơn, nằm cách trung tâm huyện 30 km về phía Tây Nam
+ Phía Bắc giáp xã Văn Miếu, xã Cự Đồng
+ Phía Nam giáp xã Tân Lập
+ Phía Tây giáp xã Văn Miếu
+ Phía Đông giáp xã Hương Cần
Có tổng diện tích tự nhiên là: 2.374,26 ha trong đó đất nông nghiệp là 2.237,98
ha chiếm 94,18%, đất phi nông nghiệp là 131,66 ha chiếm 5,53% , đất quốc phòng là 122 ha Tổng có 8 khu hành chính với 1.115 hộ gồm 4307 khẩu , có
10 dân tộc anh em cùng sinh sống đó là Kinh, Mường,Tày, Nùng, Dao, Hơ rê, Thái, Kháng, H’ Mông, Khơ Mú trong đó dân tộc Mường chiếm đại đa số 92,62% Có 18 hộ theo đạo thiên chúa bằng 82 khẩu ( theo báo cáo thống kê xã năm 2019) Có trục đường tỉnh lộ 316 L chạy qua là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội giao thương trao đổi hàng hóa giữa các vùng miền
Trang 21- Khí hậu: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm trung bình từ 85 – 87%, nhiệt độ trung bình từ 22,5 – 23,5 0C , mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng
10
- Đất đai thích hợp trồng các loại cây như chè, sơn, sắn, lạc ,ngô, rừng nguyên
liệu giấy và chăn nuôi trâu, bò
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Với cơ cấu kinh tế được xác định phát triển nông lâm nghiệp là chủ yếu Thu nhập bình quân đầu người năm 2019 của xã là 26,8 triệu/ người/ năm
- Dân số toàn xã năm 2019 là 4.307 nhân khẩu với 1.115 hộ, mật độ dân số bình quân 181,5 người/km2, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,2%
- Về số hộ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản: 1.020 hộ, chiếm 91,5 % tổng số hộ
- Năm 2019 tổng số hộ nghèo 151 hộ chiếm 13,54%, số hộ cận nghèo là 440
hộ chiếm 39,46%, số gia đình có phụ nữ đơn thân làm chủ hộ là 14 hộ ( kể cả gia đình chồng mất) chiếm 1,3%
- Tổng số người trong độ tuổi lao động là 2.600 người trong đó lao động làm
việc trong nông lâm nghiệp thủy sản là 1.528 người chiếm 58,8%; lao động làm
việc trong công nghiệp - xây dựng là 837 người chiếm 32,2 %; lao động làm
việc trong các ngành dịch vụ còn lại là 235 người chiếm 9,4%; tổng số lao động
do xã quản lý đã qua đào tạo ( có chứng chỉ hoặc bằng tốt nghiệp từ sơ cấp trở lên) là 233 người Nhìn chung những năm qua mức độ chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, lao động sống bằng nghề nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ lệ cao
Là địa phương có số lao động tương đối dồi dào, song do địa bàn của xã địa hình đi lại khó khăn nhất mùa mưa lũ, sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều của thời tiết, dịch bệnh… ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế địa phương
- Các hoạt động văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất, tinh thần
của nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo hàng năm đều giảm, an ninh –
Trang 22quốc phòng được giữ vững, hệ thống chính trị thường xuyên được củng cố và
hoạt động có hiệu quả; tỷ lệ gia đình văn hóa 71,4% đạt 95,2 % kế hoạch, số khu dân cư đạt văn hóa 8/8 khu đạt 100% kế hoạch, câu lạc bộ văn hóa dân tộc Mường vẫn được duy trì và hoạt động thường xuyên ở các 8 khu dân cư
- Công tác giáo dục – đào tạo: Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục; Chỉ thị 05 – CT/TW về việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh;
Cuộc vận động “ Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương tự học, sáng tạo”, phong trào “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Tiếp tục duy trì và
giữ vững các tiêu chuẩn phổ cập giáo dục mầm non, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và xóa mù chữ Kết quả năm học 2018 – 2019: học sinh hoàn thành chương trình mầm non 108/108 trẻ, đạt 100%; Tiểu học 89/89 học sinh, đạt 100%; THCS 35/37 học sinh đạt 94,6% Tuy nhiên, công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS đi học nghề hoặc Trung học phổ thông còn gặp nhiều khó khăn
- Công tác y tế: luôn được quan tâm chú trọng, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chăm sóc sức khỏe nhân dân đã được tổ chức thực hiện
tốt Công tác phòng chống bệnh dịch, giám sát, phát hiện sớm dịch bệnh được tăng cường nhất là các bệnh nguy hiểm Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm được thực hiện thường xuyên, do vậy năm 2019 trên địa bàn không có vụ ngộ độc nào xảy ra…
1.4.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã đến đói nghèo và xóa đói giảm nghèo
- Thuận lợi:
+ Được sự quan tâm lãnh chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện, sự hỗ trợ
của các phòng, ban ngành của huyện và sự nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống
Trang 23chính trị xã nên kinh tế của xã tiếp tục tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế phát triển theo đúng định hướng
+ Nguồn nhân lực dồi dào, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao tạo điều kiện phát triển các ngành nghề, dịch vụ, xuất khẩu lao động
+ Tài nguyên môi trường ( đất, nước, khoáng sản) thuận lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
+ Nhân dân đoàn kết, có truyền thống cần cù, chăm chỉ trong lao động
- Khó khăn:
+ Địa hình đi lại gặp khó khăn, thời tiết diễn biến phức tạp, khó lường
do ảnh hưởng hoàn lưu các cơn bão gây thiệt hại cho lúa và hoa màu
+ Xây dựng kết cấu hạ tầng chủ yếu dựa vào nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn huy động xã hội hóa trong xây dựng nông thôn mới
gặp khó khăn
+ Sản xuất của người dân quy mô nhỏ lẻ, sức cạnh tranh thấp chưa liên
kết được các doanh nghiệp nên chưa tiếp cận được thị trường
+ Ý thức của một bộ phận nhân dân trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường,
thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, tham gia đóng góp xây dựng địa phương còn hạn chế
1.4.4 Cơ cấu lãnh đạo và sơ đồ tổ chức cơ sở
UBND xã Tân Minh được thành lập ngày 21/06/1954, tổng số cán bộ , công chức xã hiện nay là 21 đồng chí trong đó trình độ chuyên môn đại học là
18 đồng chí , trung cấp là 2 đồng chí, cao đẳng 1 đồng chí ; trình độ trung cấp
lý luận chính trị trở lên là 20 đồng chí
Sơ đồ tổ chức bộ máy chính quyền xã:
Trang 241.4.5 M ột số yếu tố khác
- Cơ cấu tổ chức được hoàn thiện, đội ngũ cán bộ, công chức được đào
tạo đúng chuyên môn, nghiệp vụ, đảm bảo thực hiện tốt các công việc được giao
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
25 Đại biểu
Ch ủ tịch HĐND
P.CT HĐND Các Ban HĐND
ỦY BAN NHÂN DÂN
s ố
KH hóa
GĐ
BCĐ
ph ổ cập
GD, Trung tâm
h ọc
t ập CĐ
Tư pháp – Hộ
t ịch
Tài chính – Kế toán
Địa chính
XD &
MT
NN, GTTL,
XD nông thôn
m ới
Ban lâm nghi ệp-
B ảo vệ
r ừng, PCCC
r ừng
Văn phòng –
Th ống kê
Ban Công an
Ban ch ỉ huy Quân
s ự
Ban nhân dân 8 thôn
Trang 25- Bầu không khí, môi trường hoạt động, công tác rất thuận lợi, cơ sở vật
chất đầy đủ, đáp ứng yêu cầu công việc cấp trên giao
- Các cán bộ, công chức luôn đoàn kết, chia sẻ và giúp đỡ nhau trong công
việc cũng như cuộc sống góp phần xây dựng địa phương ngày một phát triển hơn
nhận thực hành tại địa phương nhận
biết các ban, các
bộ phận làm quen chào hỏi cán bộ, công chức
Sinh viên, Lãnh đạo chính quyền, kiểm
nữ nghèo đơn thân
- Nhận xét chung về cơ sở thực tập
Được chị Đinh Thị Kim Linh công
chức văn hóa – xã
hội xã phụ trách, hướng dẫn trong
suốt quá trình thực
tập cung cấp thông tin về cơ sở thực tập, hồ sơ các đối tượng bảo trợ xã
SV, lãnh đạo UBND, cán bộ , công chức văn hóa – xã
hội, kiểm huấn viên
Trang 26- Viết phần I: Tổng quan cơ sở
và gửi cho Kiểm huấn viên
hội được xã quản
mối quan hệ tốt và giao tiếp hiệu
quả…
SV, TC, HPN
xã, trưởng thôn
Dớn, chi HPN thôn Dớn
Trang 27giúp TC chủ động giải quyết các khó khăn của mình
- Hỗ trợ giúp TC giải quyết vấn đề của mình
- Kiểm chứng thông tin, thu thập thêm thông tin cần thiết cho bài báo cáo…
SV, TC,
kiểm huấn viên,
Thứ 4
11/12/2020
- Thực hiện kế hoạch hỗ trợ TC
- Hỗ trợ giúp TC giải quyết vấn đề của mình
SV, TC, cán
bộ y tế
Trang 282.2 Đặc điểm đối tượng can thiệp
Họ và tên : Bùi Thị Xim
Tuổi: 35 Giới tính: Nữ
Về tâm lý: mặc cảm, tự ti, sống khép kín với mọi người xung quanh, lo
âu, gặp khó khăn về kinh tế, trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con gái bị tim
bẩm sinh không thể can thiệp bằng phẫu thuật
Về vấn đề sức khỏe: có sức khỏe tốt
2.3 Ti ến trình can thiệp
2.3.1 Ti ếp cận đối tượng
Tiếp xúc với phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con nhỏ có hoàn cảnh khó khăn
là một vấn đề không đơn giản bởi họ luôn có những mặc cảm, tự ti, sống khép kín, ít giao tiếp với mọi người xung quanh,… Vì vậy, ngay từ đầu NVCTXH
cần phải thật linh hoạt, chân thành để tạo sự tin tưởng với thân chủ
Được sự giới thiệu của công chức văn hóa – xã hội và Chủ tịch hội Phụ
nữ xã Tân Minh, NVCTXH đã tìm đến gặp gỡ trao đổi với trưởng thôn, chi hội trưởng hội phụ nữ thôn Dớn, xã Tân Minh
Mục tiêu của buổi làm việc là nhằm thiết lập mối quan hệ với cán bộ cơ
sở qua đó tìm hiểu một số thông tin về tình hình phụ nữ nghèo đói trên địa bàn
Trang 29thôn thông qua việc trao đổi trực tiếp với công chức văn hóa – xã hội, cán bộ
phụ nữ xã, thôn và hồ sơ hộ nghèo lưu trữ tại nhà văn hóa thôn
Sau khi có được danh sách và một số thông tin về những hộ nghèo do
phụ nữ làm chủ hộ, NVCTXH đặc biệt quan tâm đến chị Bùi Thị Xim bởi chị không chỉ thiếu thốn về vật chất mà thiếu hụt về tình cảm, hơn nữa chị lại mặc
cảm với mọi người xung quanh và mang nỗi lo âu khi đứa con gái duy nhất của
chị là cháu Bùi Phương Linh sinh năm 2012 bị bệnh tim bẩm sinh
2.3.2 Thu th ập thông tin
Từ hồ sơ hộ nghèo tôi thu thập được một số thông tin về thân chủ như sau:
Trang 30“ Gia cảnh tôi thì nghèo, con cái thì sức khỏe yếu nay ốm mai đau đi
viện suốt, giờ có làm gì đi nữa thì cùng nghèo Tôi cũng chẳng muốn mọi người soi mói về mình”
“ Chị đừng ngại Em thực sự đánh giá rất cao nghị lực của chị, có gì
buồn chị cứ tâm sự với em, việc giữ bí mật cho thân chủ là một trong những nguyên tắc quan trọng của NVCTXH, những gì chị chia sẻ với em, em sẽ giữ
bí mật và không nói cho ai, nếu thực sự cần nói em sẽ xin ý kiến của chị ạ”
Trong buổi gặp gỡ trao đổi và làm việc với thân chủ, NVCTXH đã
giới thiệu về bản thân, trình xuất giấy giới thiệu, trình bày với thân chủ về mục đích, nguyên tắc của NVCTXH,… nhằm xây dựng niềm tin với thân chủ, giúp thân chủ hiểu hơn về CTXH đồng thời giúp thân chủ cởi mở hơn trong việc giao tiếp và làm việc với NVCTXH Qua buổi tiếp xúc, trò chuyện đầu tiên này, NVCTXH cũng nhận thấy thân chủ có phần bi quan trong cuộc sống nên
đã sử dụng kỹ năng khích lệ, đồng cảm nhằm giúp cho thân chủ bớt bi quan trong cuộc sống và tự tin trong giao tiếp
Trong buổi trò chuyện này, NVCTXH cũng tranh thủ thu thập một số thông tin để xác định vấn đề ban đầu thông qua thân chủ
“ Chị sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuần nông, nghèo ở xóm
Gò Vố xã Tân Minh, bố mẹ chết sớm Năm 2009 chị lấy chồng tại xóm Dớn xã Tân Minh huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, bố mẹ chồng cũng chết cả; chị gái
chồng lấy xa tận trong Bình Dương Chồng chị làm phụ xây ở Hà Nội khoảng
3 tháng mới về nhà một lần Năm 2010 trong một lần thi công nhà chung cư
quận Cầu Giấy – Hà Nội anh bị ngã dàn giáo chết Trong khi đó chị đang mang thai đứa con được 5 tháng Rồi cũng đến ngày sinh được bà con hàng xóm giúp
đỡ đưa đi viện, bé mới chào đời đã được bác sĩ chuẩn đoán bị tim bẩm sinh Thương con bé mắc bệnh, nhiều lúc chị chỉ muốn ôm con chết theo chồng cho
bớt khổ”
Trang 31Sau những buổi đến thăm và trò chuyện với thân chủ NVCTXH nhận
thấy thân chủ và gia đình đã dành cho mình sự tin cậy và quý mến nhất định, NVCTXH đã tiến hành thu thập thông tin
Công việc thu thập thông tin được tiến hành trong suốt quá trình can thiệp NVCTXH đã thông qua một số nguồn có thể tiếp cận như thân chủ, hàng xóm, những người thân, hội phụ nữ thôn Dớn để thu thập thông tin Để thu thập được những thông tin cần thiết NVCTXH đã sử dụng nhiều kỹ năng như: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng quan sát, kỹ năng khuyến khích làm rõ ý, kỹ năng
phỏng vấn sâu,… để khai thác và thu thập vấn đề của đối tượng
2.3.3 Xác định vấn đề
Như vậy bằng kỹ năng thấu cảm, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng cung cấp thông tin, kỹ năng quan sát,… đồng thời qua quá trình tiếp xúc và trò chuyện ban đầu NVCTXH nhận thấy thân chủ đang gặp phải một số vấn đề như sau:
+ Vấn đề thứ nhất: Thân chủ là người gặp khó khăn về kinh tế
+ Vấn đề thứ hai: Thân chủ mặc cảm, ít cởi mở
+ Vấn đề thứ ba: Thân chủ gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc cho con gái bị tim bẩm sinh
- Vấn đề của TC:
Trước tiên, NVCTXH lắng nghe thân chủ bộc lộ về hoàn cảnh gia đình, bản thân, những khó khăn mà TC đang gặp Qua đó, NVCTXH xác nhận
một số vấn đề mà TC đang gặp phải:
Thứ nhất: Thân chủ là người gặp khó khăn về kinh tế
Hiện tại TC rất chật vật, khó khăn về kinh tế TC ngoài làm thuê: cấy, gặt thuê theo thời vụ, trồng cây lâm nghiệp thuê không có việc làm ổn định và nuôi mấy con vịt để kiếm tiền thuốc thang cho con mỗi khi con phát bệnh, rau cháo qua ngày, phần lớn thời gian chị dành để chăm sóc , đưa đón con đi học
Trang 32“ Từ ngày chồng mất chị chẳng biết làm gì ra tiền Trước kia chị còn nuôi được con lợn móng cái nhưng từ khi có dịch tả lợn Châu Phi nên chết hết
chị cũng không có tiền mua lại mà nuôi nữa Chị chẳng có thu nhập gì ngoài
tiền trợ cấp phụ nữ nghèo đơn thân nuôi con 270.000 đồng/ tháng, giá cả thì ngày càng đắt đỏ, chị không biết xoay sở như thế nào nữa”
(PVS, Thân chủ)
Thứ hai, Thân chủ luôn có tâm lý mặc cảm, ít cởi mở
Qua thực tế quan sát tiếp xúc, trò chuyện NVCTXH nhận thấy TC luôn
mặc cảm với hiện tại Chính vì đói nghèo, mặc cảm đã khiến cho TC thành người ít nói, ít cởi mở và ít có các mối quan hệ xã hội
“ Phần vì lo kiếm cái ăn hàng ngày, phần vì chăm sóc con nên chị cũng không có thời gian đi tìm việc ổn định để làm kiếm thêm thu nhập Đi ra đường thì thấy nhà người ta ấm no, hạnh phúc còn gia đình mình thì mẹ góa, con ốm đau, nhiều lúc muốn buông xuôi tất cả”
(PVS, TC)
Thứ ba: TC gặp khó khăn trong việc chăm sóc con gái bị bệnh tim bẩm sinh Theo như lời kể của chị Xim và quan sát của NVCTXH nhận thấy, TC là người chăm sóc cuộc sống cho con gái từ việc ăn uống đến tắm rửa, vệ sinh,… tất cả
mọi việc một mình chị làm hết do con còn nhỏ, sức khỏe cháu đã yếu lại hay
mắc các bệnh viêm phổi nhất là lúc trái gió chở trời đi viện không có người trông thay hai mẹ con dựa vào nhau, chị lấy con làm động lực để cố gắng Ngoài thu thập thông tin qua TC, NVCTXH cũng chủ động thu thập thông tin
từ các nguồn khác như: hàng xóm, hội phụ nữ, trưởng thôn Dớn… để bổ sung cho các thông tin được hoàn chỉnh và chính xác hơn
Thông qua hàng xóm NVCTXH biết được hoàn cảnh của chị đặc biệt khó khăn
bắt đầu từ khi chồng chị chết “ cuộc đời chị ấy khổ lắm lấy nhau được hơn năm
Trang 33chồng chết do ngã dàn giáo khi đang làm xây dựng, một mình chị ấy sinh con không may cháu bị bệnh tim sức khỏe yếu đau ốm đi viện suốt Nhiều bữa tôi sang thấy hai mẹ con chỉ ăn cháo với rau”
( PVS, Chị Hà Thị Hồng, hàng xóm của TC) Thông qua hội phụ nữ thôn, NVCTXH cũng tìm hiểu được một số thông tin không chỉ về hoàn cảnh của TC mà còn có các hoạt động của hội phụ nữ đối
với TC như hoạt động thăm hỏi, tặng quà ngày lễ tết, ngày kỉ niệm của hội (8/3, 20/10…) hay ngày vì người nghèo…“ Chị Xim là một trong các trường hợp
phụ nữ nghèo đơn thân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Chị một thân một mình nuôi con bệnh tim bẩm sinh, vốn liếng lại không có… Chi hội cũng có những
biện pháp giúp đỡ như tặng quà ngày tết, ngày phụ nữ Việt Nam, ngày 8/3 và động viên tinh thần để chị tham gia sinh hoạt vào hội phụ nữ nhưng hình như
chị vẫn còn nhiều mặc cảm nên ít tham gia sinh hoạt”
(PVS, Chị Hà Thị Dung chủ tịch HPN xã) Như vậy, thông qua các hoạt động của Hội phụ nữ dành cho thân chủ NVCTXH
có thể định hướng cho TC trong việc lập ra kế hoạch can thiệp cụ thể cho TC,
ví dụ như NVCTXH có thể là cầu nối giúp cho TC vượt qua mặc cảm và cởi
mở hơn với mọi người trong việc tham gia sinh hoạt ở chi hội phụ nữ của khu Thông qua các buổi làm việc thu thập thông tin cùng với TC, với các đoàn thể, NVCTXH đã trao đổi và bàn bạc với TC về nguyên nhân của các vấn đề mà
TC đang gặp phải TC xác định mình vốn sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, tuy nhiên cuộc sống càng trở nên khó khăn hơn khi năm 2012 chồng
chết con sinh ra bị bệnh tim bẩm sinh, sức khỏe yếu ốm đau thường xuyên
Những vấn đề này xuất phát từ một số nguyên nhân sau đây:
- Thiếu điều kiện sản xuất, nguồn vốn
- Chịu nhiều định kiến xã hội: góa chồng, con bị bệnh tim bẩm sinh
Trang 34- Chi phí chăm sóc cho con lúc ốm đau: tiền thuốc thang, thời gian chăm sóc
- Những khía cạnh môi trường xung quanh ảnh hưởng đến TC: môi trường xung quanh tác động đến TC theo hai hướng:
+ Thứ nhất: Sự động viên, hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể, gia đình đã giúp TC có ý chí vươn lên trong cuộc sống
+ Thứ hai: Sự xa lánh, soi mói và ánh mắt thiếu cảm thông, chia sẻ
của mọi người xung quanh khiến cho TC bị cô lập, ít cởi mở , chính điều này
đã làm cho vấn đề của TC ngày càng nặng nề hơn
Trong thu thập thông tin, NVCTXH cần chú trọng tìm hiểu kỹ những khía cạnh này để từ đó có kế hoạch trị liệu cụ thể làm sao vừa có thể làm cho TC sư dụng
hiệu quả nguồn lực từ sự hỗ trợ của cộng đồng lại vừa có thể làm cho một bộ
phận người dân hiểu và cảm thông cho hoàn cảnh của TC nhằm tạo cơ hội cho
TC giao tiếp và có nhiều hơn các mối quan hệ xã hội
- Tìm hiểu các nguồn lực:
NVCTXH cùng với TC bàn bạc, thảo luận về các nguồn lực có thể huy động để giải quyết vấn đề bao gồm: nội lực ( nguồn lực bên trong từ chính bản thân TC và gia đình); ngoại lực (nguồn lực bên ngoài từ sự hỗ trợ của anh em,
bạn bè, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng xã hội) Cụ thể như sau:
Về nội lực: nguồn lực để giải quyết vấn đề của TC hầu như là không
có nhất là về vật chất, về tinh thần TC hầu như cam chịu và chấp nhận hoàn
cảnh, không có ý chí phấn đấu vươn lên trong cuộc sống
“ Chị chỉ biết sống qua ngày chứ giờ có thể làm gì Thân đàn bà một mình nuôi con bị bệnh tim bẩm sinh chắc khổ đến chết chứ làm sao thoát nghèo được”
Trang 35Về ngoại lực: Anh em, họ hàng chị lớn lên trong một gia đình nghèo,
bố mẹ mất sớm chị cũng chẳng có anh chị em ruột mà nhờ cậy,, chị gái chồng
lấy chồng xa không về, anh em xa thì xa lánh không thông cảm… vì vậy chị không nhận được sự hỗ trợ tinh thần từ phía anh em, họ hàng
Hàng xóm láng giềng thì xa lánh nên chị thiếu các mối quan hệ và giao
tiếp hàng ngày, hai mẹ con sống khép kín thiếu sự chia sẻ, giúp đỡ của hàng xóm láng giềng
Các tổ chức đoàn thể đã có những chính sách hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần cho TC Tuy nhiên, sự giúp đỡ đó chỉ mang tính tức thời bởi nó giống như một hoạt động từ thiện, thiếu tính thực tế Chính vì vậy, chưa khơi dậy được tiềm năng của TC để họ vươn lên giải quyết vấn đề của chính bản thân mình
Như vậy, qua một số thông tin trên đây có thể thấy TC không chỉ gặp khó khăn về kinh tế mà còn tự ti về bản thân, mặc cảm về gia đình và hầu như
bị cô lập, lạc lõng trong xã hội Chính vì thế, TC cần sự cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ của cộng đồng Đây là vấn đề khó đặt ra cho NVCTXH, NVCTXH cần
phải đề ra một kế hoạch cụ thể trong tiến trình can thiệp với đối tượng
Trang 36cũng như gia đình Đây không phải là vấn đề khó khăn nhất nhưng đây là vấn
đề mà trong một thời gian nhất định cùng với những kỹ năng của mình NVCTXH có thể can thiệp được phần nào Hơn nữa đây cũng là vấn đề mà nếu
khắc phục được nó sẽ tạo thuận lợi hơn, tạo bàn đạp để NVCTXH giải quyết
vấn đề thứ ba là chăm sóc con cái sẽ thuận lợi Bởi khi có điều kiện về kinh tế, tâm lý thoải mái hơn TC sẽ có điều kiện chăm cho con hơn về ăn uống, thuốc thang
Sau khi xác định vấn đề ưu tiên, NVCTXH cùng với TC xác định lại nguyên nhân của vấn đề từ đó giúp TC nhìn rõ hơn vấn đề và những nguyên nhân gốc rễ để có những cơ sở xác thực nhằm chuẩn đoán bản chất vấn đề để lên kế hoạch trị liệu một cách hiệu quả nhất Từ cách đánh giá và nhìn nhận lại
vấn đề, các nguyên nhân gây nên vấn đề được xác định cụ thể như sau:
- TC không có nghề nghiệp ổn định
- Thu nhập không cao, thiếu điều kiện để sản xuất cơ bản: nguồn vốn
- Chịu nhiều định kiến xã hội: góa chồng con bị bệnh tim bẩm sinh nên TC luôn trong tâm lý mặc cảm, tự ti, ít cởi mở, sống khép kín…
- Chi phí trong chăm sóc con khi phát bệnh, ốm đau khi trái gió chở trời: tiền thuốc cho con, thời gian chăm sóc con
Sau khi chuẩn đoán và xác định được vấn đề ưu tiên, tính chất và nguyên nhân dẫn đến vấn đề, NVCTXH đã hướng dẫn và cùng TC vẽ sơ đồ
phả hệ Cụ thể như sau:
Sơ đồ phả hệ gia đình chị Xim:
Trang 37Chú thích: Nam Đã chết
Quan hệ thân thiết Không có quan hệ
Quan hệ hôn nhân
Nhận xét sơ đồ phả hệ gia đình TC:
Sau khi hoàn thành sơ đồ phả hệ của gia đình chị Xim, NVCTXH cùng với TC nhìn lại Nhìn vào sơ đồ phả hệ gia đình chị Xim có thể dễ dàng nhận thấy: Đây
là một gia đình hạt nhân khiếm khuyết người chồng, người cha trong gia đình
Do vậy mọi công việc trong gia đình đều do một mình chị Xim đảm nhận Hơn
nữa, TC lại không có anh em, họ hàng ruột thịt, bố mẹ đều đã mất nên không nhận được sự hỗ trợ nào cả về vật chất lẫn tinh thần Mối quan hệ gia đình duy
nhất mà TC có đó là cô con gái bị bệnh tim bẩm sinh
Như vậy, vấn đề của TC lại càng trầm trọng và khó khăn hơn khi thiếu đi chỗ
dựa tinh thần và sự hỗ trợ được coi là rất hiệu quả từ phía những người thân trong gia đình Sau khi xác định chính xác các mối quan hệ trong gia đình, NVCTXH cùng với TC vẽ biểu đồ sinh thái của đối tượng để hiểu rõ hơn về
những yếu tố kinh tế và những yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hoàn cảnh
sống của TC
L
Trang 38Biểu đồ sinh thái:
Nhận xét:
Gia đình hạt nhân khiếm khuyết của TC chỉ có một số nguồn lực tác động đó
là cơ quan đoàn thể như ban Văn hóa – xã hội, HPN xã, chi HPN thôn Dớn và NVCTXH Tuy nhiên, đây hầu hết là nguồn hỗ trợ một chiều Chính vì vậy, NVCTXH cần có kế hoạch cụ thể để tác động đến các mối quan hệ phải có sự tương tác qua lại với nhau Qua đó TC có thể huy động các nguồn lực để giải quyết vấn đề của mình
Sau khi vẽ và phân tích sơ đồ phả hệ và sơ đồ sinh thái thì NVCTXH cùng với TC phân tích những điểm mạnh và điểm yếu của TC như sau:
Điểm mạnh/ điểm yếu của TC:
Ban Văn hóa – xã
hội xã Tân Minh
Trang 39Thân chủ - Hiền lành, chất phác và thật
thà
- Có tình yêu thương con
- Có mong muốn vươn lên thoát nghèo
- Chịu thương, chịu khó, có nghị lực
- Mặc cảm, tự ti, bi quan trong
cuộc sống
- Sống khép kín, ít các mối quan
hệ xã hội
- Không có công việc ổn định
sinh hay ốm đau
Hội phụ
nữ
- Có những chính sách hỗ trợ phù hợp cả về vật chất và tinh
- Chưa có chính sách hỗ trợ phù
hợp với từng đối tượng
Hàng
xóm
bỉ, không thông cảm cho hoàn
cảnh của người khó khăn
Thiếu
sự hỗ trợ từ
M ặc
c ảm,
Bu ồn, chán
Không
có tinh thần
Kinh t ế gia đình
Trang 40Sau một tiến trình làm việc với TC, NVCTXH đã tạo được mối quan hệ thân thiết với TC Do vậy, trong giai đoạn này ngoài việc thu thập thông tin NVCTXH đã hướng dẫn và cùng với TC xác định, nhìn nhận rõ hơn về vấn đề
của mình Trong giai đoạn này NVCTXH đã sử dụng các kỹ năng như: lắng nghe, quan sát, khuyến khích, thấu cảm,….NVCTXH đã cùng với TC hoàn thành giai đoạn chuẩn đoán vấn đề để bước sang một giai đoạn mới bằng việc hoàn thành sơ đồ cây vấn đề trên
Cam ch ịu, thi ếu ý chí quan tâm
TC gặp nhiều khó khăn về kinh tế và mặc cảm, tự ti
Chi phí chăm sóc sức khỏe cho con
Định kiến của
xã h ội
Trình độ học vấn thấp
h ỗ trợ
Không
có tay nghề
Đi
vi ện khám nhiều lần
Chi phí thu ốc thang cho con
M ặc cảm,
ít ti ếp xúc
h ọc hỏi người xung quanh
Con gái
b ị tim
b ẩm sinh
Góa
ch ồng