1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TIẾP CẬN TÀI CHÍNH CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

28 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 625,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 TIẾP CẬN TÀI CHÍNH CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM TÓM TẮT Mục tiêu của chương này nhằm đo lường chỉ số tài chính toàn diện của Việt Nam và so sánh với một số quốc gia ở châu Á và phân t

Trang 1

CHƯƠNG 1 TIẾP CẬN TÀI CHÍNH

CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

TÓM TẮT

Mục tiêu của chương này nhằm đo lường chỉ số tài chính toàn diện của Việt Nam và

so sánh với một số quốc gia ở châu Á và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tài chính cá nhân toàn diện tại Việt Nam qua bộ dữ liệu Global Findex của Ngân hàng Thế giới Kết quả phân tích cho thấy, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có chỉ số tài chính toàn diện ở mức trung bình Khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tài chính cá nhân toàn diện, nghiên cứu này cho thấy thu nhập ảnh hưởng đến việc sử dụng tài khoản chính thức và có tiết kiệm chính thức Học vấn có tương quan dương với việc sở hữu tài khoản chính thức và tiết kiệm chính thức nhưng lại tương quan âm với việc sử dụng tín dụng chính thức Độ tuổi có ảnh hưởng đến việc tiết kiệm chính thức và sử dụng tín dụng chính thức và mối quan hệ này là phi tuyến Giới tính không ảnh hưởng đến việc

sử dụng tài khoản chính thức và có tiết kiệm chính thức Tuy nhiên, phụ nữ có khuynh hướng sử dụng kênh tài chính chính thức nhiều hơn Lý do không sở hữu tài khoản chính thức của các cá nhân tại Việt Nam chủ yếu mang tính chủ quan (liên quan đến thu nhập của cá nhân) Phụ nữ, người lớn tuổi ít sử dụng nguồn tín dụng phi chính thức, còn người

có thu nhập thấp nhất lại có khuynh hướng sử dụng nguồn tín dụng phi chính thức Từ các kết quả nghiên cứu này, một số hàm ý chính sách được phác thảo nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam

1.1 GIỚI THIỆU

Trong những năm gần đây, phát triển một hệ thống tài chính toàn diện (Inclusive Financial System) – hệ thống tài chính phục vụ cho tất cả các thành viên trong xã hội trở thành một chính sách quan trọng của nhiều quốc gia, nhất là ở các nền kinh tế mới nổi Tiếp cận tài chính hay tài chính toàn diện (Financial Inclusion - FI) là việc cung cấp dịch

vụ tài chính phù hợp, thuận tiện cho cá nhân (hộ gia đình) và doanh nghiệp Nói cách khác, tài chính toàn diện là tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và cá nhân có thể tiếp cận được thị trường tài chính chính thức từ đó sẽ góp phần thúc đẩy việc phân bổ và sử dụng nguồn lực có hiệu quả, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo Tài chính toàn diện tạo điều kiện cho các cá nhân tích lũy cho tương lai và có thể tạo ổn định tài chính cho quốc gia, do tỷ lệ tiền gửi ngân hàng cao sẽ giúp cho hệ thống ngân hàng ổn định trong thời kỳ khó khăn (Han và Melecky, 2013)

Tại Việt Nam, kể từ năm 2016 Ngân hàng Nhà nước đã hợp tác cùng nhóm Ngân hàng Thế giới xây dựng một chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện Với dân số lớn và

tỷ lệ phổ cập tài chính thấp, Việt Nam nằm trong nhóm 25 nước ưu tiên tập trung các nỗ

Trang 2

lực về tài chính toàn diện trong sáng kiến Phổ cập tiếp cận tài chính (UFA) đến năm 2020 Mục tiêu của sáng kiến này là sẽ giúp cho những người hiện nay chưa sử dụng dịch vụ ngân hàng được tiếp cận với hệ thống tài chính chính thức Giúp người trưởng thành mở một tài khoản giao dịch là bước đầu tiến tới tài chính toàn diện Khi đó người dân có thể

sử dụng các dịch vụ mà họ cần như tiết kiệm, thanh toán, vay vốn và mua bảo hiểm Mang dịch vụ tài chính chính thức đến với hàng triệu người hiện chưa hoặc còn ít sử dụng dịch vụ tài chính sẽ giúp Việt Nam đạt được cả hai mục đích giảm nghèo và thúc đẩy tăng trưởng, giúp Việt Nam hoàn thành mục tiêu đã nêu trong Báo cáo Việt Nam 2035

Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng, chúng tôi sử dụng phương pháp của Samar (2015), trong đó chủ yếu khai thác thông tin về các chỉ tiêu vi mô liên quan đến tài chính cá nhân và các chỉ tiêu vĩ mô để đo lường chỉ số tài chính toàn diện của Việt Nam Tiếp theo, chúng tôi sử dụng bộ dữ liệu điều tra về tài chính toàn diện

ở góc độ cá nhân của Ngân hàng Thế giới năm 20141 để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tài chính toàn diện của cá nhân tại Việt Nam, nói cách khác đặc điểm cá nhân nào ảnh hưởng đến tài chính toàn diện của cá nhân tại Việt Nam Ngoài ra, chúng tôi cũng phân tích những rào cản tài chính, các nguồn vay mượn (tín dụng chính thức và phi chính thức) chịu ảnh hưởng bởi những đặc tính của các cá nhân như trình độ và mức thu nhập tại Việt Nam như thế nào Các kết quả phân tích này sẽ cung cấp thông tin đầy đủ về thực trạng tiếp cận tài chính toàn diện của cá nhân tại Việt Nam và đưa ra các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam

1.2 KHÁI NIỆM TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG

1.2.1 Khái niệm tài chính toàn diện

Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về tài chính toàn diện (Financial Inclusion), mà bản thân nó luôn có những điều chỉnh và cụ thể hóa nhất định, tùy từng góc

độ tiếp cận khác nhau mà nó được sử dụng Ngân hàng Thế giới (2008) nhấn mạnh tài chính toàn diện là loại bỏ các rào cản phí và chi phí trong việc sử dụng các dịch vụ tài chính Theo Hội đồng về tiếp cận tài chính toàn diện Ấn Độ thì tài chính toàn diện là quá trình đảm bảo tiếp cận các dịch vụ tài chính và các khoản tín dụng đủ và kịp thời cho các nhóm gặp khó khăn nhất, như nhóm có thu nhập thấp, và ở mức chi phí hợp lý (Kumar và Mishra, 2011)

Sarma (2015) định nghĩa tài chính toàn diện là quá trình đảm bảo sự dễ dàng, sẵn có

và sử dụng của hệ thống tài chính chính thức cho tất cả các thành viên trong xã hội Thực vậy, các dịch vụ ngân hàng được xem như tài sản công và được cho là nên để cho mọi người tiếp cận và không nên bị phân biệt đối xử (Mehrotra và ctg, 2014)

Đến năm 2017, Ngân hàng Thế giới một lần nữa đưa ra khái niệm tài chính toàn diện

phát sinh từ góc độ người dân và doanh nghiệp Đó là quá trình cung cấp có trách nhiệm

và bền vững các sản phẩm hay dịch vụ tài chính hữu ích, phù hợp khả năng cho mọi cá

1 http://www.worldbank.org/en/programs/globalfindex

Trang 3

nhân và doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của họ về giao dịch, thanh toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm2

Như vậy, có thể nói tài chính toàn diện là xu thế đưa các dịch vụ tài chính chính thức (tài khoản ngân hàng, tiết kiệm và tín dụng) đến cho mọi đối tượng, đặc biệt là các đối tượng khó khăn nhất do gặp phải các rào cản như thu nhập với chi phí hợp lý cho cả người dùng và đơn vị cung cấp dịch vụ (Hannig và Jansen 2010; Khan, 2011 và Sarma, 2015)

1.2.2 Đo lường tài chính toàn diện

Khái niệm tài chính toàn diện có nhiều khía cạnh, nên cũng có nhiều thước đo cho yếu tố này Honohan (2007) sử dụng tỷ lệ người trưởng thành sử dụng các trung gian tài chính (số tài khoản ngân hàng) cho hơn 160 quốc gia Sarma (2015) sử dụng một số chỉ số như số tài khoản, số chi nhánh và tổng mức tín dụng và tiền gửi trên GDP cho các quốc gia Mehrotra và Yetman (2014) sử dụng chỉ số cho tiếp cận tài chính sử dụng các thước đo như số văn phòng nông thôn, số tài khoản tiền gửi nông thôn tại 16 bang của Ấn Độ Ngân hàng Thế giới (2008) cung cấp thước đo tổng hợp về tiếp cận dịch vụ tài chính, đó là tỷ lệ của dân số là người lớn có tài khoản tại tổ chức tài chính trung gian cho 51 quốc gia

Nhìn chung, các nghiên cứu sử dụng các thước đo về độ sâu tài chính hơn là thực tế mức bao phủ (outreach) Nghĩa là, các nghiên cứu này chỉ cung cấp số liệu gộp về ngân hàng, các dữ liệu cho các dịch vụ cung cấp bởi ngân hàng và/hoặc các nhà cung cấp dịch

vụ, nói cách khác là chỉ nói chủ yếu về phía cung và có một số nhược điểm (Kumar và Mishra, 2011) Ví dụ, với các số liệu gộp như tổng số tài khoản ngân hàng, số lượng chính xác bao nhiêu người sở hữu tài khoản ngân hàng vẫn không được thể hiện Do đó, số liệu gộp có thể không đáng tin cậy, do các cá nhận hoặc hộ gia đình có thể có nhiều hơn một tài khoản Do các hạn chế này nên các nhà nghiên cứu thường công bố số người dùng thay

vì chỉ công bố số liệu gộp

Các nghiên cứu cũng đánh giá mức độ tiếp cận toàn diện ở khía cạnh khó khăn tiếp cận do các trở ngại về mặt địa lý hay chi phí sử dụng Các trở ngại chính bao gồm khó khăn tiếp cận ngân hàng do thiếu giấy tờ cần thiết (như giấy phép lái xe), do chi phí

mở tài khoản hoặc các yêu cầu về số dư tối thiểu Trong trường hợp về khó khăn do tiếp cận về mặt địa lý, các nghiên cứu đánh giá mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính có thể được đo bằng khoảng cách đến chi nhánh ngân hàng gần nhất hoặc máy ATM gần nhất, hoặc có thể đo bằng độ dày đặc của các chi nhánh ngân hàng trong mỗi km

vuông hoặc trên 10.000 dân số

2 “ Financial inclusion means that individuals and businesses have access to useful and affordable financial products and services that meet their needs – transactions, payments, savings, credit and insurance – delivered in a responsible and sustainable way” (Nguồn: http://www.worldbank.org/en/topic/financialinclusion/overview)

Trang 4

1.2.3 Chỉ số tài chính toàn diện

Theo Sarma (2015), chỉ số tài chính toàn diện (Index of Financial Inclusion - IFI) là một thước đo thể hiện tất cả các khía cạnh khác nhau của hệ thống tài chính một quốc gia:

sự thâm nhập (penetration); sự thuận tiện (availability) và mức độ sử dụng (usage) Việc

sử dụng kết hợp các chỉ tiêu vi mô liên quan đến tài chính cá nhân và các chỉ tiêu vĩ mô để

đo lường chỉ số tài chính toàn diện sẽ phản ánh đầy đủ các khía cạnh khác nhau của tài chính toàn diện Giá trị IFI càng cao thì việc tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức của dân chúng càng cao

Theo Sarma (2015), chỉ số tài chính toàn diện – IFI được tính như sau:

Công thức (1) cần đảm bảo điều kiện

Giá trị IFI được tính như sau:

Các thành phần tính chỉ số tài chính toàn diện - IFI

Thành phần 1: Sự thâm nhập của hệ thống ngân hàng (Banking penetration): cho

biết mức độ sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức của người dân, số lượng người sử dụng các dịch vụ ngân hàng càng nhiều thì khả năng tiếp cận tài chính càng cao Chỉ tiêu được sử dụng để đo lường thành phần 1 là số lượng tài khoản ngân hàng trên 1.000 dân Thành phần 1 này sẽ có trọng số là 1

Thành phần 2: Sự thuận tiện của các dịch vụ ngân hàng (Availability of banking services): cho biết mức độ sẵn có của các dịch vụ ngân hàng Chỉ tiêu được sử dụng để đo

lường thành phần 2 bao gồm: số lượng máy ATM và số lượng chi nhánh ngân hàng trên 100.000 dân Chỉ số thành phần 2 này được tính từ 2 chỉ tiêu trên, trong đó tỷ trọng của chi nhánh ngân hàng là 2/3 và tỷ trọng của số lượng ATM là 1/3 Thành phần 2 này sẽ có trọng số là 0,5

Thành phần 3: Mức độ sử dụng (Usage): đo lường sự hữu dụng của hệ thống ngân

hàng Chỉ tiêu được sử dụng để đo lường thành phần 3 là tổng của tỷ lệ tiền gửi và cho vay của hệ thống ngân hàng trên GDP Thành phần 3 này sẽ có trọng số là 0,5

Trang 5

Từ các thành phần tạo thành chỉ số tài chính toàn diện trình bày trên, IFIk cho quốc gia

k được tính theo công thức sau:

Trong đó (pk, ak, uk) là các chỉ số thành phần 1, 2 và 3 của quốc gia k được tính từ công thức số (1)

1.3 ĐO LƯỜNG CHỈ SỐ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN TẠI VIỆT NAM TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC

Sử dụng phương pháp tương tự với Sarma (2015), chúng tôi tính chỉ số tài chính toàn diện cho Việt Nam trong giai đoạn 2004-2016 và so sánh với một số quốc gia châu Á khác (gồm 9 nước Đông Nam Á, Ấn Độ và Trung Quốc) được thu thập từ IMF3 Trong đó năm chỉ tiêu được sử dụng để đo lường chỉ số tài chính toàn diện gồm: số lượng tài khoản ngân hàng trên 1.000 dân, số lượng máy ATM và số lượng chi nhánh ngân hàng trên 100.000 dân, cuối cùng là tỷ lệ tiền gửi và cho vay của hệ thống ngân hàng trên GDP4

Bảng 1.1 Các chỉ tiêu đo lường tài chính toàn diện năm 2016

Số lượng tài khoản

tiền gửi tại ngân

hàng thương mại

trên 1.000 người

trưởng thành

Số lượng máy ATM trên 100.000 người trưởng thành

Số lượng chi nhánh ngân hàng trên 100.000 người trưởng thành

Tỷ lệ tiền gửi tại ngân hàng thương mại (% GDP)

Tỷ lệ tín dụng của ngân hàng thương mại (% GDP)

3 http://www.fas.imf.org./ Nguồn dữ liệu này được thu thập tại thời điểm 31/8/2017

4 Sarma (2015) sử dụng hai chỉ tiêu tương tự chúng tôi đó là: tỷ lệ tín dụng và tiền gửi nội địa/GDP

Trang 6

Bảng 1.1 thể hiện một số chỉ tiêu đo lường tài chính toàn diện của một số quốc gia trong năm 2016 Theo đó, xét theo khía cạnh sự thâm nhập của hệ thống ngân hàng qua số lượng tài khoản tiền gửi tại NHTM trên 1.000 người trưởng thành thì Malaysia có số lượng lớn nhất là hơn 2.317 tài khoản và thấp nhất là Trung Quốc với 34 tài khoản, Việt Nam có 974 tài khoản cao thứ 7 Theo khía cạnh sự thuận tiện của của dịch vụ ngân hàng qua hai chỉ tiêu: số lượng máy ATM và số lượng chi nhánh ngân hàng trên 100.000 người trưởng thành Thái Lan có số lượng máy ATM nhiều nhất là hơn 114, thấp nhất là Myanmar với 2,6 máy, còn Việt Nam đứng hàng thứ 8 với 24,8 máy Theo số lượng chi nhánh ngân hàng thì Brunei có nhiều nhất với hơn 19 và thấp nhất là Lào với 3,1 và Việt Nam xếp thứ 10 với 3,9 chi nhánh trên 100.000 người trưởng thành Đối với khía cạnh mức độ sử dụng, Singapore là quốc gia có tổng tỷ lệ tiền gửi và tín dụng từ NHTM (% GDP) cao nhất là 301,6%, thấp nhất là Myanmar với tỷ lệ 53,2%, Việt Nam đứng ở mức thứ 3 trong các quốc gia so sánh với tỷ lệ 275,2%

Bảng 1.2 trình bày các giá trị tính toán IFI cho Việt Nam và 11 quốc gia châu Á Trong năm 2016, IFI biến động từ mức thấp nhất 0,169 của Myanmar và cao nhất là 0,824 của Malaysia Chúng tôi phân loại 12 quốc gia này theo 3 nhóm – Nhóm các nước có IFI cao (IFI từ 0,6-1), Nhóm các nước có IFI trung bình (IFI từ 0,3-0,6), và Nhóm các nước

có IFI thấp (IFI dưới 0,3)

Nhóm các nước có IFI cao: là các quốc gia có giá trị IFI tương ứng từ 0,6-1 trong 4 năm liên tiếp bao gồm: Brunei, Malaysia, Singapore và Thái Lan Đây cũng là nhóm các nước có mức thu nhập cao trong mẫu nghiên cứu

Nhóm các nước có IFI trung bình: là các quốc gia có giá trị IFI tương ứng từ 0,3-0,6 trong 4 năm liên tiếp bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam Đây là nhóm nước có mức thu nhập trung bình thấp (ngoại trừ Trung Quốc) Cambodia, Lào và Philippines chuyển dịch sang nhóm IFI trung bình kể từ năm 2015 Cuối cùng, quốc gia duy nhất có IFI thấp liên tiếp trong 4 năm là Myanmar Kết quả phân loại này nhìn chung cho thấy việc sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức (tài chính toàn diện) và mức thu nhập có quan hệ mật thiết với nhau

Mối quan hệ giữa IFI với đặc điểm của hệ thống ngân hàng

Bảng 1.3 trình bày mối quan hệ giữa một số biến thể hiện đặc điểm của hệ thống ngân hàng với mức độ tài chính toàn diện theo xếp hạng IFI của các quốc gia Biến thứ nhất là thể hiện thị phần của ngân hàng nước ngoài, được đo lường bằng tỷ lệ giá trị tài sản của các ngân hàng nước ngoài trên tổng giá trị tài sản của hệ thống ngân hàng, đây là chỉ tiêu cho biết hệ thống ngân hàng của một quốc gia là hướng ngoại hay hướng nội Hai chỉ tiêu khác thể hiện sự ổn định và sức khỏe của hệ thống ngân hàng đó là tỷ lệ vốn chủ sở hữu (VCSH) trên tổng tài sản và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ

Bảng 1.3 cho thấy, Cambodia là một trong những nước có giá trị IFI thấp nhất trong mẫu nghiên cứu thì thị phần của các ngân hàng nước ngoài cao nhất, chiếm 60% giá trị

Trang 7

tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Trong nhóm các nước có giá trị IFI cao thì thị phần của các ngân hàng nước ngoài tại Malaysia có quy mô lớn nhất chiếm 17% giá trị tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Đối với nhóm các nước có giá trị IFI trung bình thì thị phần của ngân hàng nước ngoài tại Indonesia cao nhất, chiếm 27% giá trị tài sản Đối với Việt Nam, giá trị tài sản của các ngân hàng nước ngoài chỉ chiếm 5% tổng giá trị tài sản của hệ thống ngân hàng

Tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản phản ánh mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng tại các quốc gia, tỷ lệ vốn càng cao thì ngân hàng càng an toàn Đối với các nước có giá trị IFI cao, Ấn Độ là nước có tỷ lệ VCSH thấp nhất (7,16%) và cao nhất là Brunei (13.32%) Trong nhóm các nước có giá trị IFI trung bình thì Trung Quốc có tỷ lệ VCSH thấp nhất (8,44%), tiếp theo là Việt Nam (8,74%) Cambodia mặc dù vừa chuyển từ nhóm có IFI thấp sang nhóm có IFI trung bình nhưng lại có tỷ lệ VCSH cao nhất (14,23%) Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là một chỉ tiêu đo lường sức khỏe của hệ thống ngân hàng, trong nhóm nước có giá trị IFI cao thì Ấn Độ có tỷ lệ nợ xấu cao nhất (9,19%) và thấp nhất là Singapore (1,22%) Đối với các nước có giá trị IFI trung bình thì Việt Nam có tỷ lệ nợ xấu cao nhất (3,44%)

Bảng 1.2 Chỉ số tài chính toàn diện Việt Nam và một số nước châu Á (2004-2016)

2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016

Brunei 0.712 0.729 0.721 0.714 0.809 0.830 0.737 0.743 0.757 Cambodia 0.121 0.144 0.162 0.184 0.216 0.226 0.272 0.302 NA Trung Quốc 0.376 0.360 0.358 0.405 0.409 0.402 0.421 0.430 0.437 0.474 0.495

Ấn Độ 0.303 0.315 0.334 0.365 0.391 0.405 0.434 0.459 0.498 0.551 0.607 NA Indonesia 0.253 0.256 0.241 0.245 0.247 0.253 0.270 0.303 0.350 0.404 0.423 0.434 0.481

Malaysia 0.723 0.764 0.772 0.781 0.791 0.798 0.807 0.816 0.829 0.850 0.848 0.824 0.824

Philippines 0.198 0.197 0.203 0.200 0.220 0.229 0.245 0.262 0.253 0.278 0.287 0.303 0.335 Singapore 0.782 0.781 0.784 0.790 0.790 0.791 0.804 0.804 0.803 0.803 0.806 0.809 0.808 Thái Lan 0.518 0.546 0.574 0.593 0.620 0.627 0.640 0.642 0.676 0.696 0.712 0.721 0.733

Xếp hạng theo IFI (III)

% giá trị tài sản NH nước ngoài trên tổng TS NH

(IV)

Tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản (%) (V)

Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (%) (VI)

Malaysia 0.824 1 17 11.00 1.61 Singapore 0.808 2 6 b 9.23 1.22 Brunei 0.757 3 NA 13.32 4.63

Trang 8

Nguồn: tính toán của tác giả từ

http://databank.worldbank.org/data/reports.aspx?source=world-development-indicators Nguồn dữ liệu này được thu thập tại thời điểm 31/8/2017 Ghi chú: Dữ liệu cột (II): a – số liệu năm 2015 Dữ liệu cột (IV) là số liệu năm 2013; b - dữ liệu 2012; Dữ liệu cột (V) và (VI) là số liệu năm 2016; c và d – Số liệu 2015

1.4 PHÂN TÍCH TIẾP CẬN TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN CỦA CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM

1.4.1 Mô tả dữ liệu

Dữ liệu sử dụng trong phân tích này được thu thập từ World Bank’s Global Findex, gồm các dữ liệu về tiếp cận tài chính toàn diện của cá nhân tại các quốc gia được công bố trong năm 2015 của Ngân hàng Thế giới5 Dữ liệu tiếp cận tài chính toàn diện của cá nhân tại Việt Nam là kết quả điều tra 1.000 người bao gồm các câu hỏi liên quan đến việc sử dụng các dịch vụ tài chính, mục đích sử dụng các dịch vụ này, các nguồn tài chính phi chính thức… Ngoài ra, dữ liệu còn bao gồm các đặc điểm của cá nhân như: thu thập, học vấn, tuổi và giới tính

Để đánh giá tiếp cận tài chính toàn diện của cá nhân tại Việt Nam, chúng tôi tập trung vào ba chỉ tiêu chính được đề cập bởi Demirgüc-Kunt và Klapper (2013) Thứ nhất, chỉ tiêu về sở hữu tài khoản tại một định chế tài chính chính thức (tài khoản chính thức - Formal account) Chỉ tiêu này được xác định dựa vào câu hỏi khảo sát: “Hiện tại ông/bà

có sở hữu tài khoản chính thức tại một định chế tài chính nào không?” Tiếp cận tài chính

cá nhân toàn diện có nhiều phương thức, trong đó việc sở hữu tài khoản tại một định chế tài chính chính thức là rất quan trọng Sở hữu tài khoản chính thức đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp cận các dịch vụ ngân hàng vì từ việc sở hữu tài khoản chính thức này cá nhân có thể mở tài khoản tiết kiệm và vay tiền từ các định chế tài chính

Chỉ tiêu thứ hai liên quan đến việc gửi tiết kiệm tại một định chế tài chính chính thức (tiết kiệm chính thức - Formal saving) Chỉ tiêu này được xác định dựa trên câu hỏi khảo

Trang 9

sát: “Ông/bà có gửi tiền tại ngân hàng, hợp tác xã tín dụng hoặc một tổ chức tài chính vi

mô nào trong vòng 12 tháng vừa qua không? Chỉ tiêu này cung cấp thông tin về mức độ sẵn sàng gửi tiền tiết kiệm tại một định chế tài chính chính thức so với các hình thức tiết kiệm khác của người gửi tiền

Chỉ tiêu thứ ba liên quan đến việc sử dụng nguồn vốn của các định chế tài chính chính thức (tín dụng chính thức - Formal credit) Chỉ tiêu này được xác định dựa trên câu hỏi khảo sát: “Ông/bà có vay tiền tại ngân hàng, hợp tác xã tín dụng hoặc một tổ chức tài chính vi mô nào trong vòng 12 tháng vừa qua không?

Các rào cản đối với tiếp cận tài chính toàn diện của cá nhân được xác định qua câu hỏi: “Ông/bà hãy cho biết các lý do vì sao ông/bà không mở tài khoản tại ngân hàng hay tại một tổ chức tài chính nào khác?” Các câu trả lời “có” sẽ có giá trị là một và có giá trị không nếu câu trả lời là “không”

Đối với mục đích của việc tiết kiệm, ba mục đích được đưa ra: (a) Tiết kiệm cho kinh doanh (to start, operate, or grow a business or farm); (b) tiết kiệm cho tuổi già (for old age); tiết kiệm cho học tập (for education or school fees) Các câu trả lời “có” sẽ có giá trị

là một và có giá trị không nếu câu trả lời là “không” Ngoài ra để xác định thói quen tiết kiệm của người dân tại Việt Nam, câu hỏi: “Trong 12 tháng vừa qua, ông/bà có tiết kiệm tiền bằng cách (a) Sử dụng tài khoản tại ngân hàng hay tổ chức tài chính khác, (b) Sử dụng câu lạc bộ tiết kiệm không chính thức hoặc với người khác ngoài gia đình” Biến tiết kiệm phi chính thức (Informal saving) được xác định có giá trị bằng một nếu câu trả lời chọn b

Câu hỏi xác định mục đích vay tiền: “Trong 12 tháng vừa qua, ông/bà có vay tiền để dùng cho những lý do nào sau đây?” Các lựa chọn bao gồm: (a) “cho học tập - for education”; “cho y tế/sức khỏe - for medical purposes”; (c) “cho kinh doanh - for farm or business”; (d) “mua bất động sản – for home or apartment” Đối với nguồn tài chính phi chính thức được xác định gồm có: mua hàng trả góp; vay tiền từ gia đình hoặc bạn bè; vay tiền ngoài xã hội (vay nặng lãi, hụi,…)

1.4.2 Một số chỉ tiêu tiếp cận tài chính toàn diện của cá nhân tại Việt Nam

Bảng 1.4 cho thấy tỷ lệ cá nhân sở hữu tài khoản chính thức tại Việt Nam là 30,9% thấp hơn so với nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp (TNTBT) (41,8%) và thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình toàn thế giới (60,7%) So với một số nước châu Á khác, tỷ lệ cá nhân có tài khoản chính thức của Việt Nam chỉ cao hơn các nước Philippines, Lào, Myanmar và Cambodia

Sự khác biệt về việc sở hữu tài khoản chính thức giữa các quốc gia có thể giải thích bởi mức độ phát triển kinh tế của mỗi nước Demirgüc- Kunt và Klapper (2013) chỉ ra rằng GDP bình quân/người đóng vai trò quan trọng việc giải thích sự khác biệt về sở hữu tài khoản chính thức giữa các quốc gia, theo đó có sự chênh lệch lớn trong việc sử dụng tài khoản chính thức giữa các nước thu nhập cao và các nước thu nhập thấp Kết quả phân

Trang 10

tích của chúng tôi giống với nhận định này: các quốc gia có thu nhập cao hơn thì tỷ lệ số người sử dụng tài khoản chính thức từ các định chế tài chính cao hơn các quốc gia có thu nhập thấp (biểu đồ 1.1) Tuy nhiên cũng có một số trường hợp ngoại lệ đó là: Trung Quốc

và Thái lan, Thái Lan mặc dù có thu nhập thấp hơn so với Trung quốc nhưng số lượng tài khoản chính thức tương đương (78,1% so với 78,9%)

Bảng 1.4 Các chỉ tiêu chính của tiếp cận tài chính cá nhân toàn diện Việt Nam và một số quốc gia (%)

Tài khoản chính thức Tiết kiệm chính thức Tín dụng chính thức

Biểu đồ 1.1 Tài khoản chính thức và mức độ phát triển kinh tế một số quốc gia

Nguồn: http://databank.worldbank.org/data/reports.aspx?source=1228#

Trang 11

Đối với chỉ tiêu cá nhân có tài khoản tiết kiệm chính thức, tỷ lệ này của Việt Nam là 14,6% thấp hơn so với các nước có mức thu nhập trung bình thấp (14,8%) và mức trung bình toàn thế giới (27,4%) Tỷ lệ cá nhân có tài khoản tiết kiệm chính thức của Việt Nam chỉ lớn hơn Ấn Độ, Myanmar và Cambodia Kết quả phân tích của chúng tôi cũng cho thấy các quốc gia có thu nhập cao hơn thì số người có tài khoản tiết kiệm chính thức từ các định chế tài chính cao hơn các quốc gia có thu nhập thấp (Biểu đồ 1.2) Tuy nhiên cũng có một số trường hợp ngoại lệ đó là: Trung Quốc, Thái lan và Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc mặc dù có thu nhập thấp hơn lại có tỷ lệ tiết kiệm chính thức cao hơn Malaysia

Biểu đồ 1.2 Tiết kiệm chính thức và mức độ phát triển kinh tế một số quốc gia

sử dụng tín dụng chính thức nhiều hơn các nước có thu nhập cao hơn như Singapore, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia

Trang 12

Biểu đồ 1.3 Tín dụng chính thức và mức độ phát triển kinh tế một số quốc gia

Nguồn: http://databank.worldbank.org/data/reports.aspx?source=1228#

Điều này cho thấy có các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc sử dụng tín dụng chính thức tại các quốc gia này Đối với trường hợp của Trung Quốc chẳng hạn, có hai yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng tín dụng chính thức đó là: tín dụng chính thức thường tập trung cho các DN thuộc sở hữu nhà nước và do vậy hạn chế việc tiếp cận tín dụng của các nhân

và việc sử dụng các hình thức tín dụng phi chính thức khác (Fungáčová và Weill, 2014) Đối với trường hợp Singapore, tỷ lệ sử dụng tín dụng chính thức thấp tại Singapore có thể được lý giải do người dân nước này có tỷ lệ sử dụng thẻ tín dụng cao hơn so với các quốc gia khác ở châu Á Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ sử dụng thẻ tín dụng tại quốc gia này cao nhất trong nhóm nước so sánh (31,3%) Ngoài ra, theo Demirgüc-Kunt và Klapper (2013) phát triển tài chính (tín dụng nói chung) có tương quan thuận với việc sử dụng tín dụng chính thức Kết quả này phù hợp với số liệu ở Bảng 1.1 khi cho thấy tỷ lệ tín dụng từ ngân hàng thương mại trên GDP của Việt Nam (128,5%) ở trong nhóm cao nhất so với các nước trong mẫu so sánh Nếu xét mức độ phát triển tài chính theo chỉ tiêu tỷ lệ tín dụng/GDP thì Việt Nam có mức độ phát triển tài chính tương đương với nhóm các nước có thu nhập cao (Fungáčová và Weill, 2014) Tuy nhiên, nhận định của Demirgüc-Kunt và Klapper (2013) lại không đúng đối với trường hợp của Singapore, Trung Quốc và Malaysia

1.4.3 Nguyên nhân không sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức tại Việt Nam

Để tìm hiểu nguyên nhân không sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức (financial exclusion), chúng tôi phân tích các lý do mà các cá nhân (trong dữ liệu điều tra) không sử dụng tài khoản chính thức Các lý do được xem xét ở đây bao gồm: địa điểm xa – xa các định chế tài chính (too far away), chi phí dịch vụ cao (too expensive), thiếu thông tin cá nhân (lack of documentation), thiếu tin tưởng (lack of trust), không có đủ tiền (lack of money), các lý do tôn giáo (religious reasons), thành viên gia đình đã có tài khoản (family

Trang 13

member has one)

Allen và ctg (2012) đã chỉ ra rằng đối với các câu trả lời như: không có đủ tiền (lack

of money), các lý do tôn giáo (religious reasons), thành viên gia đình đã có tài khoản (family member has one) mang tính chủ quan (phụ thuộc đặc tính cá nhân) Trong khi đó đối với các câu trả lời: địa điểm xa (too far away), chi phí dịch vụ cao (too expensive), thiếu thông tin cá nhân (lack of documentation), thiếu tin tưởng (lack of trust) thì mang tính khách quan (phụ thuộc vào hệ thống tài chính) Việc phân biệt các nguyên nhân chủ quan và khách quan này có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định chính sách Bằng một chính sách phù hợp có thể giảm các rào cản của tiếp cận tài chính toàn diện do nguyên nhân khách quan gây ra

Bảng 1.5 trình bày các rào cản ảnh hưởng đến việc sở hữu tài khoản chính thức của cá nhân từ dữ liệu khảo sát, theo đó không có đủ tiền là nguyên nhân chính cho việc không

sử dụng tài khoản ngân hàng tại các nước trong mẫu nghiên cứu Tại Việt Nam, có hơn 50% cá nhân không có tài khoản chính thức vì lý do không có đủ tiền Nghiên cứu của Allen và ctg (2012) trên phạm vi toàn thế giới cho thấy các cá nhân không có đủ tiền sẽ không được hưởng lợi ích nhiều hơn so với chi phí bỏ ra để sở hữu một tài khoản chính thức Trong trường hợp này, Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Lý do thứ hai của việc không có tài khoản cá nhân tại Việt Nam là thành viên gia đình đã có tài khoản với tỷ

lệ là 19,5% cá nhân Tiếp theo là nguyên nhân ở xa các định chế tài chính với tỷ lệ 12,6%

cá nhân Chi phí dịch vụ tài chính cao (5,8%), thiếu thông tin cá nhân (3,22%), thiếu tin tưởng (3,14%) Cuối cùng lý do tôn giáo có ảnh hưởng rất ít đến tiếp cận tài chính cá nhân toàn diện tại Việt Nam (khoảng 1%)

Khi so sánh các rào cản ảnh hưởng đến việc sở hữu tài khoản ngân hàng tại Việt Nam với các quốc gia trong mẫu nghiên cứu cho thấy những điểm nổi bật thể hiện cách nhìn nhận của các cá nhân đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam Các lý do liên quan đến chi phí của việc sở hữu tài khoản, thông tin cá nhân và niềm tin vào hệ thống ngân hàng không phải là nguyên nhân chủ yếu làm giảm việc sở hữu tài khoản chính thức tại Việt Nam so với các trong mẫu nghiên cứu Chỉ có 5,8% cá nhân người Việt cho rằng chi phí dịch vụ tài chính cao so với nước có tỷ lệ cao nhất là Philippines (55,1%) và nước thấp nhất là Myanmar (4,6%) Đối với nguyên nhân thiếu thông tin cá nhân, có 56,9% cá nhân tại Cambodia không có tài khoản chính thức vì nguyên nhân này, tiếp theo là Philippines

và Malaysia (tỷ lệ này ở Việt Nam là 3,22%) Đối với niềm tin vào hệ thống ngân hàng, tỷ

lệ này cũng khá cao tại Cambodia, Philippines và Malaysia (tỷ lệ của Việt Nam là 3,14%)

Từ những phân tích trên cho thấy nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến việc sở hữu tài khoản ngân hàng tại Việt Nam là những nguyên nhân chủ quan: không có đủ tiền hoặc các thành viên gia đình đã có tài khoản ngân hàng và nguyên nhân khách quan là ở xa các định chế tài chính Các nguyên nhân chi phí dịch vụ tài chính cao và thiếu niềm tin vào hệ thống ngân hàng chỉ chiếm một tỷ lệ thấp ảnh hưởng đến việc sở hữu tài khoản ngân hàng của các cá nhân tại Việt Nam, đây là một điểm tích cực đối với tiếp cận tài chính cá nhân tại Việt Nam Các kết quả phân tích này cho thấy, các nhà hoạch định chính sách tại Việt

Trang 14

Nam cần chú trọng đến việc phát triển mạng lưới các trung gian tài chính

Bảng 1.5 Các rào cản tiếp cận tài chính toàn diện Nguyên nhân không có tài

khoản chính thức

Địa điểm

xa

Chi phí dịch vụ cao

Thiếu thông tin

cá nhân

Thiếu tin tưởng

Lý do tôn giáo

Không

có đủ tiền

Thành viên gia đình đã

có tài khoản

Nguồn: Tính toán của tác giả từ dữ liệu http://databank.worldbank.org/data/reports.aspx?source=1228#

1.4.4 Phân tích hoạt động vay mượn cá nhân tại Việt Nam

Một chính sách quan trọng của Việt Nam đó là tiếp cận tín dụng của người nghèo Nhiều cuộc khảo sát gần đây đã chỉ ra rằng tiếp cận tín dụng là một vấn đề khó khăn của các doanh nghiệp nhỏ, trong khi đó phần lớn nguồn vốn từ ngân hàng tài trợ cho các DNNN lớn, nguồn tín dụng cho hộ gia đình còn hạn chế (Ban Kinh tế Trung ương, 2017) Việc hạn chế tiếp cận nguồn tín dụng này có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo tại Việt Nam Số liệu thống kê ở Bảng 1.4 cho thấy chỉ có 18,4% các cá nhân tại Việt Nam vay tiền từ các định chế tài chính chính thức trong 12 tháng vừa qua so với

tỷ lệ các cá nhân có vay tiền trong vòng 12 tháng là 46,8% Số liệu này đặt ra câu hỏi có phải các cá nhân tại Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các nguồn tín dụng không chính thức

Ngày đăng: 24/07/2021, 16:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w