1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SÁNG KIẾN Một số biện pháp dạy học phát phát triển năng lực, phẩm chất học sinh trong môn toán lớp 4

40 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Dạy Học Phát Triển Năng Lực, Phẩm Chất Học Sinh Trong Môn Toán Lớp 4
Tác giả Bùi Đức Tuấn, Phạm Trường Sơn
Trường học Trường Tiểu học Tây Kỳ
Chuyên ngành Toán
Thể loại sáng kiến
Năm xuất bản 2020-2021
Thành phố Tứ Kỳ
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạyhọc giải toán ở tiểu học sẽ rèn luyện cho HS các kĩ năng thực hành, khả năng tưduy logic và sáng tạo; khả năng suy luận, vận dụng kiến thức toán học vào giảiquyết các vấn đề thực tiễn

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN

Một số biện pháp dạy học phát phát triển năng lực, phẩm chất

học sinh trong môn toán lớp 4

Bộ môn: Toán

Năm học 2020- 2021

Trang 2

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Một số biện pháp dạy học phát triển năng lực,

phẩm chất học sinh trong môn toán lớp 4

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Toán lớp 4 cho học sinh tiểu học

3 Đồng tác giả:

3.1 Bùi Đức Tuấn Nam (nữ): Nam

- Ngày, tháng, năm sinh: 15/08/1981

- Trình độ chuyên môn: Đại học Tiểu học

- Chức vụ, đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng Trường Tiểu học Chí Minh 1

- Điện thoại: 0983715881

3.2 Phạm Trường Sơn Nam (nữ): Nam

- Ngày, tháng, năm sinh: 27/01/1974

- Trình độ chuyên môn: Đại học Tiểu học

- Chức vụ, đơn vị công tác: Hiệu trưởng Trường Tiểu học Chí Minh 1

- Điện thoại: 0982797302

4 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Tây Kỳ

Điện thoại: 02203747509

Trang 3

5 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Cơ sở vật chất lớp học

và các phương tiện, thiết bị dạy học

6 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2019 - 2020

là thuộc tính cá nhân, được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có, thông quaquá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiếnthức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như: hứng thú, niềm tin, ý chí,

để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốntrong những điều kiện cụ thể (Bộ GD-ĐT, 2018)

Ở tiểu học, môn Toán có vai trò hình thành và phát triển cho học sinh

(HS) các NL thành tố của NL toán học như: NL tư duy và lập luận toán học;

NL mô hình hóa toán học; NL giải quyết vấn đề toán học; NL giao tiếp toán học; NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán (Đỗ Đức Thái, 2017) Năm

Trang 4

2020 là năm ngành Giáo dục tập trung triển khai chương trình giáo dục phổthông mới, bắt đầu từ lớp 1, theo đó việc dạy học theo định hướng phát triển

NL cho người học sẽ được triển khai sâu, rộng đến các trường phổ thông Dạyhọc giải toán ở tiểu học sẽ rèn luyện cho HS các kĩ năng thực hành, khả năng tưduy logic và sáng tạo; khả năng suy luận, vận dụng kiến thức toán học vào giảiquyết các vấn đề thực tiễn,…Nhận thấy được tầm quan trọng đó, bản thân

chúng tôi đã tìm hiểu nghiên cứu và tìm ra một số “Một số biện pháp dạy học

phát triển năng lực, phẩm chất học sinh trong môn toán lớp 4” để giúp giáo

viên tháo gỡ được những khó khăn trong công tác giảng dạy nói chung và việcdạy học Toán nói riêng

Với những biện pháp được đưa ra, chúng tôi chắc chắn rằng sáng kiến

có những điểm mới đáng được quan tâm Có thể kể đến những điểm mới củasáng kiến như:

- Đề ra các biện pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩmchất cho học sinh để khắc phục những hạn chế của một số biện pháp đã được

áp dụng trước đây và đã mang lại hiệu quả thiết thực

- Đề ra cách dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh theo trình độsao cho học sinh nào cũng được làm việc; phân hóa thực sự là phân hóa

- Vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực mang lại hiệu quả và hứng thú họctập cho học sinh trong việc dạy học Toán 4

- Khích lệ tinh thần học tập của mọi đối tượng học sinh trong lớp, rèntính bạo dạn, tự tin Đặc biệt hình thành phương pháp tự học, hiểu sâu, nhớlâu, phát triển tư duy toán học cho học sinh từng bước nâng cao chất lượnggiáo dục và nhân cách của trẻ

Với những điểm mới mang tính sáng tạo như trên, chúng tôi tin bảnthân chúng tôi cùng với sự giúp đỡ của đồng nghiệp phần nào tháo gỡ khókhăn trong việc tổ chức các hoạt động dạy và học phát triển năng lực phẩmchất phù hợp với sự tiếp thu của từng đối tượng học sinh Giáo viên biết lựachọn, phối hợp linh hoạt các phương pháp, hình thức, kĩ thuật dạy học tíchcực trong giờ học toán cũng như các giờ học khác nhằm phát huy tính tích

Trang 5

cực, chủ động sáng tạo của học sinh làm cho tiết học nhẹ nhàng, hiệu quả đápứng được mục tiêu giáo dục hiện nay Từ đó góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục mũi nhọn và chất lượng đại trà.

Đặc biệt hơn, đối với học sinh, những biện pháp được đề cập trongsáng kiến sẽ giúp các em hình thành phương pháp "tự học", “tự khám phá vàchiếm lĩnh kiến thức”; bước đầu hình thành nề nếp học tập tương tác; gópphần làm tăng thêm khả năng phát triển tư duy toán học cho các em học sinhnăng khiếu Với những kết quả đó, chúng tôi rất mong nhà trường tạo điềukiện để sáng kiến được vận dụng không chỉ trong khối 4 mà còn được mở

rộng hơn nữa ở các khối lớp khác góp phần nâng cao chất lượng môn Toán

nói riêng, chất lượng giáo dục nói chung

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1 Cơ sở lý luận:

1.1 Xuất phát từ vị trí, vai trò của môn Toán ở Tiểu học.

Trong nhà trường Phổ thông nói chung và trong trường Tiểu học nóiriêng, môn Toán có một vị trí, vai trò rất lớn Nếu như coi môn Tiếng Việt làmôn học dạy cho học sinh biết sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp thì môn Toánlại dạy cho học sinh kĩ năng tính toán để đem kiến thức khoa học áp dụng vàothực tiễn cuộc sống Nói cụ thể hơn:

- Môn Toán là môn khoa học cơ bản, rèn luyện tư duy khoa học lôgicgiúp các em nhận biết thế giới hiện thực, phát triển trí thông minh, cách suynghĩ độc lập, linh hoạt, tác phong khoa học,

- Kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học ứng dụng thiết thựctrong cuộc sống hàng ngày của các em

- Môn Toán Tiểu học là tiền đề, là cơ sở vững chắc giúp các em học tốtmôn Toán ở các cấp học trên Chính vì vậy, việc cung cấp các kiến thức toánhọc cho học sinh là hết sức cần thiết

Trang 6

1.2 Xuất phát từ yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học nói chung và dạy học Toán 4 nói riêng.

Quá trình dạy học giải toán cho HS lớp 4 theo định hướng phát triển năng lựccho HS cần dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:

- HS cần được học thông qua việc quan sát các sự vật, hiện tượng xảy ra hằngngày, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận đối với các em

- HS được trải qua quá trình tìm hiểu, suy nghĩ và lập luận; đưa ra những ý kiếncủa mình trước lớp, từ đó tự điều chỉnh nhận thức và lĩnh hội tri thức mới

- Dạy học giải Toán theo định hướng phát triển năng lực cần thể hiện được mốiquan hệ giữa GV với HS, giữa HS với HS, tiến hành thông qua việc tổ chứchọc tập cho HS, kết hợp học tập cá nhân với học tập hợp tác, làm việc theonhóm Qua đó, giúp HS phát hiện và phát huy năng lực của bản thân GV cầntriển khai các nội dung dạy học sao cho đảm bảo tất cả các em đều có thể tiếpthu được kiến thức, phát triển năng lực phù hợp Bên cạnh đó, quá trình dạyhọc cần đảm bảo tính vừa sức để HS có thể chiếm lĩnh được tri thức mới, rènluyện các kĩ năng học tập, phát triển ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Vậy mà, việc đổi mới phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học vẫn cònhạn chế khiến kết quả học tập của học sinh chưa cao Các thầy cô giáo ở Tiểuhọc cũng đã đề ra nhiều cách đổi mới dạy học nhưng chưa có cách dạy thực

sự thuyết phục

Từ thực tế, khả năng tư duy, mức độ hiểu biết và sự nhận thức ở họcsinh với cùng một vấn đề là khác nhau Để học sinh nào cũng được học, họcsinh nào cũng có kiến thức toán học, được phát triển và bộc lộ hết khả năngthì mỗi người giáo viên cần quan tâm đến việc đổi mới phương pháp: “Dạyhọc phát huy năng lực, phẩm chất cho học sinh”

Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ trọng tâmtrong nhiều năm nay của ngành Giáo dục nói chung, Giáo dục Tiểu học nóiriêng Trong những năm học gần đây, trường Tiểu học nơi tôi công tác đã ápdụng phương pháp dạy học này ở tất cả các tiết học, môn học Từ việc gợi ý

Trang 7

hướng dẫn của giáo viên, học sinh đã tích cực hoạt động tự chiếm lĩnh kiếnthức song chất lượng giáo dục vẫn chưa cao cụ thể:

- Tỉ lệ học sinh đạt điểm 9 - 10 trường chúng tôi những năm trước cònthấp Kết quả học sinh giỏi lớp 5 qua các đợt thi tỉnh chưa cao

- Khả năng ghi nhớ tái hiện kiến thức đã học chưa tốt

- Học sinh chậm – chưa hoàn thành nội dung các môn học vẫn còn tồn tại.Qua trao đổi với đồng nghiệp, nhiều ý kiến đưa ra thắc mắc: “Khônghiểu sao trong tiết dạy học sinh tiếp thu bài rất tốt, gần như 100% các em vậndụng kiến thức vào giải các bài tập nhưng chỉ ít ngày sau nhiều em đã quênhết, các em thường nhầm lẫn giữa các mảng kiến thức hay giữa các dạngtoán.”

Vậy làm thế nào để khắc phục tình trạng trên? Làm thế nào để tất cảhọc sinh đều được học và học được môn toán góp phần thực nâng cao chấtlượng giáo dục? Là giáo viên, chúng tôi đã từng trực tiếp giảng dạy cũng nhưhướng dẫn chuyên môn, chúng tôi thực sự băn khoăn, trăn trở về vấn đề này

Chính vì vậy năm học 2020 - 2021, chúng tôi nghiên cứu và áp dụng "Một số

biện pháp dạy học phát phát triển năng lực, phẩm chất học sinh trong môn toán lớp 4" có áp dụng kĩ thuật dạy học bằng bản đồ tư duy ở tất cả các môn

học đặc biệt là môn Toán lớp 4 bước đầu đem lại hiệu quả thiết thực

2 Thực trạng của vấn đề:

2.1 Điều tra thực trạng:

Trước khi thực hiện "Một số biện pháp dạy học phát phát triển năng

lực, phẩm chất học sinh trong môn toán lớp 4", ngay từ đầu năm học, chúngtôi tiến hành khảo sát chất lượng học sinh các lớp trong khối 4 với một số nộidung kiến thức đã học ở các lớp dưới Mục đích để nắm được chất lượng củatừng lớp Mặt khác, để đối chiếu kết quả trước và sau khi áp dụng phươngpháp “Dạy học phát huy tính tích cực học tập của các đối tượng học sinh”

Đề bài kiểm tra (thời gian làm bài 30 phút)

Bài 1 Đặt tính rồi tính (2 điểm)

Trang 8

b, 28763 – 23539 d, 65040 : 5

Bài 2 Tìm X (3 điểm)

X – 150 = 480 ; 1372 – X = 982 ; 120 : X = 5

Bài 3 (3 điểm) Một nhà máy trong 4 ngày sản xuất được 680 chiếc ti vi Hỏi

trong 7 ngày nhà máy đó sản xuất được bao nhiêu chiếc ti vi? (Biết rằng số ti

vi sản xuất được trong mỗi ngày là như nhau)

Bài 4 Tìm một số biết rằng số đó thêm vào 127 đơn vị rồi gấp lên 3 lần thì

2.2 Phân tích kết quả, tìm nguyên nhân:

Với kết quả trên chúng tôi nhận thấy học sinh đạt điểm 9 - 10 còn ít Đặcbiệt ở bài toán 4 chỉ có hai em làm đúng Mặc dù không phải là khó, đây làbài toán phát triển nâng cao ở dạng tìm thành phần chưa biết (X + 127) x 3 =

612 Điều đó khẳng định rằng khả năng phát triển tư duy của đối tượng họcsinh năng khiếu chưa cao mặc dù các em đã được học 2 buổi/ ngày Đối vớinhững học sinh đạt điểm 5- 6, nguyên nhân chính là do các em thực hiện với

4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia chưa thạo, còn nhầm lẫn giữa các dạng toántìm thành phần chưa biết của phép tính

Qua kiểm tra, dự giờ thăm lớp, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp, tìm hiểuhoàn cảnh gia đình, cá tính của học sinh, chúng tôi thấy chất lượng học sinhchưa cao vì một số nguyên nhân sau:

* Từ phía giáo viên:

- Do giáo viên chưa dành nhiều thời gian vào việc nghiên cứu nội dungbài dạy để lựa chọn phương pháp; hình thức tổ chức phù hợp, chưa xác định

cụ thể nội dung kiến thức dành cho từng đối tượng học sinh

Trang 9

- Chưa mạnh dạn phối kết hợp các biện pháp, kĩ thuật dạy học theohướng tích cực (kĩ thuật sử dụng bản đồ tư duy để hệ thống hoá khắc sâu kiếnthức sau một bài, một chương, một nội dung học tập.)

- Chưa nâng cao chất lượng dạy học ở buổi thứ hai của ngày, còn bị ảnhhưởng của việc dạy học "chạy đua với thành tích" và lệ thuộc quá nhiều vàochương trình và SGK Trong tiết học, giáo viên chỉ tập trung gọi các đốitượng học sinh năng khiếu tham gia xây dựng bài còn học sinh có nguy cơchưa hoàn thành môn học thường bị "bỏ quên"

- Chưa mạnh dạn thay đổi lời bài toán sao cho phù hợp với thực tiễn cuộcsống Mặt khác chưa dám mở rộng kiến thức để phát triển tư duy toán học cho họcsinh năng khiếu Còn dạy học mang tính cào bằng, tập trung tất cả các đối tượng…

* Từ phía học sinh:

- Học sinh chưa nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc học tập, các

em còn mải chơi, chưa có ý thức "tự học", tự giúp đỡ nhau trong học tập

- Do đặc điểm của học sinh tiểu học mau nhớ, chóng quên

- Học sinh chưa hoàn thành hoặc hoàn thành kiến thức bài học, môn họcthường tự ti, mặc cảm không dám thể hiện mình trước thầy cô, bạn bè

- Do hoàn cảnh công việc, đa số bố mẹ các em làm công ty nên phó mặcviệc học tập và dạy dỗ cho thầy cô giáo mà thiếu đi sự quan tâm, sát sao tớiviệc học tập của con em mình

* Chú ý: Khi kết hợp các phương pháp dạy học có phân hóa học sinh,

cụm từ HS năng khiếu (hoàn thành tốt), hoàn thành, chưa hoàn thành đượcnói dưới đây ta nên hiểu là chỉ có trong ý đồ của GV

3 Các giải pháp, biện pháp thực hiện.

3.1 Tạo cơ hội cho học sinh phát triển năng lực toán học, củng cố và phát triển ngôn ngữ nói và viết

Thực tiễn dạy học cho thấy, trong dạy học giải toán nói chung và dạyhọc giải toán cho HS lớp 4 nói riêng, GV còn nặng về truyền thụ kiến thức vàhướng dẫn HS làm theo mẫu,… mà chưa chú trọng đến việc hướng dẫn HSkhám phá, tìm ra cách giải Đặc biệt, nhiều GV chưa chú trọng phát triển

Trang 10

Số lớn:

10Sốbé:

ngôn ngữ toán học cho HS Do HS lớp 4 còn gặp khó khăn về ngôn ngữ vàhạn chế về tư duy nên khi đọc đề toán, nhiều HS sẽ không hiểu nghĩa của từ,không phân tích được các tình huống dạy học, dẫn đến giải bài toán một cáchmáy móc Để khắc phục tình trạng này, với mỗi nội dung dạy học, GV cần xácđịnh nội dung đó có những cơ hội nào có thể phát triển NL cho HS Từ đó,

GV chọn lựa những biện pháp sư phạm phù hợp để phát triển cho HS các NLtoán học cần thiết, đặc biệt là NL ngôn ngữ

Ví dụ 1: Khi HS giải bài toán: “Tổng của hai số là 70 Hiệu của hai số là 10.

Tìm hai số đó” (Đỗ Đình Hoan, 2015), HS cần nêu được vấn đề (tìm hai số khi biết

tổng và hiệu của hai số đó) và tóm tắt được bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau:

Dựa vào sơ đồ, GV tổ chức cho HS phân tích bài toán và nêu được cách

giải quyết vấn đề như sau: Bớt đi ở số lớn 10 đơn vị (khi đó tổng giảm đi 10),

hoặc thêm vào số bé 10 đơn vị (khi đó, tổng tăng thêm 10 đơn vị) để độ dài củahai đoạn thẳng minh họa hai số dài bằng nhau Lấy tổng mới chia cho 2 sẽ tìm

được một trong hai số Khi biết một số, sẽ có hai cách tìm số còn lại Từ đó,

HS trình bày được lời giải bài toán theo một trong hai cách sau:

Trang 11

Số bé là:

40 – 10 = 30

Đáp số: số lớn: 40; số bé: 10

Dựa vào lời giải của bài toán mẫu, HS tiến hành hoạt động phân tích, tổng

hợp, khái quát hóa và nêu được 02 cách giải bài toán tìm hai số khi biết tổng và

hiệu Cách 1: Số bé = (tổng – hiệu) : 2; Cách 2: Số lớn = (tổng + hiệu) : 2 Nhưvậy, thông qua hoạt động giải bài toán, HS có cơ hội phát triển các NL: NL sửdụng công cụ và phương tiện học Toán; NL mô hình hóa toán học; NL tư duy

và lập luận toán học; NL giao tiếp toán học; NL giải quyết vấn đề

3.2 Vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học giải toán cho học sinh lớp 4

Lí thuyết kiến tạo được nhà tâm lí học và triết học người Thụy Sĩ JeanPiaget đề xuất vào đầu thế kỉ XX, được ứng dụng vào nhiều ngành khoa họckhác nhau, đặc biệt là trong giáo dục Đó là lí thuyết dạy học dựa trên việcnghiên cứu quá trình học của con người, từ đó hình thành quan điểm dạy họcphù hợp Theo đó, HS cần tích cực tích lũy kiến thức cho bản thân dựa trênnhững kinh nghiệm đã có GV đóng vai trò là người tổ chức, cố vấn, hỗ trợ khicần thiết Trong quá trình này, HS vận dụng những kiến thức đã biết để giảiquyết tình huống mới và sắp xếp kiến thức mới nhận được thành hệ thống (JeanPiaget, 1981) Nội dung dạy học giải toán lớp 4 có nhiều hoạt động cho HSđược trải nghiệm, thực hành, có thể vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học,tạo cơ hội phát triển các NL toán học cho các em

Để GV có thể sử dụng được dễ dàng và hiệu quả lí thuyết kiến tạo vào quátrình dạy học, chúng tôi đề xuất quy trình dạy học giải toán gồm các giai đoạn

và các bước cụ thể sau:

3.2.1 Giai đoạn 1 Giai đoạn chuẩn bị.

a, Bước 1: Xác định mục tiêu bài học Trong dạy học, bước đầu tiên là GV

cần xác định mục tiêu bài học, các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ của

HS Thay vì trình bày các kết quả cần đạt về kiến thức, kĩ năng và thái độ, GVnêu các hoạt động dưới dạng chỉ số hành vi của HS

Trang 12

Ví dụ 2: Trong dạy học bài: “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu” (Đỗ Đình

Hoan, 2015), GV có thể đưa ra mục tiêu như sau: HS cần nắm được dạng vàcách giải của bài toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu; rèn kĩ năng giải bài toántìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó; rèn tính cẩn thận, trình bày khoahọc, bồi dưỡng lòng yêu thích môn Toán cho các em,… GV cần cho HS nêuđặc điểm của bài toán và hướng dẫn các em cách giải dạng toán tìm hai số khibiết tổng và hiệu; qua đó rèn tính cẩn thận, trình bày khoa học, bồi dưỡng lòngsay mê học tập môn Toán cho các em

b, Bước 2: Chuẩn bị: Chuẩn bị các câu hỏi, bài tập phù hợp GV có thể dự

đoán những khó khăn HS có thể gặp phải, chuẩn bị phương tiện dạy học và dựkiến các phương pháp dạy học có thể áp dụng trong giờ học, chuẩn bị các cơ sởvật chất, đồ dùng dạy học để giờ học trở nên sinh động, tạo hứng thú học tậpcho HS

c, Bước 3: Lập kế hoạch dạy học vận dụng lí thuyết kiến tạo Từ mục tiêu,

nội dung dạy học, GV tiến hành lập kế hoạch dạy học Kế hoạch dạy họcđược thể hiện thông qua việc thiết kế kế hoạch bài học Khi lập kế hoạch dạyhọc, GV cần phân bố thời gian hợp lí cho từng hoạt động Dạy học vận dụng

lí thuyết kiến tạo đòi hỏi HS cần hoạt động tích cực để tự khám phá kiến thứcmới

3.2.2 Giai đoạn 2 : Tổ chức cho HS học tập theo lí thuyết kiến tạo

Để vận dụng lí thuyết kiến tạo vào dạy học giải toán cho HS lớp 4, GVcần thực hiện theo các bước sau:

a, Bước 1: Ôn tập, củng cố, tái hiện, hệ thống lại kiến thức cũ có liên quan đến bài học mới Trong dạy học, GV có thể ôn tập, hệ thống lại những kiến

thức đã học cho HS thông qua các hoạt động như: kiểm tra bài cũ, kiểm tramiệng, tổ chức một số trò chơi,

b, Bước 2: Tổ chức các hoạt động giải toán cho HS GV đưa ra một bài toán

cụ thể mà HS chưa biết cách giải, sau đó khơi gợi, kích thích trí tò mò, tạohứng thú học tập cho HS

Trang 13

c, Bước 3: Phân tích, khám phá, tìm ra cách giải toán Thông qua các hoạt

động tìm tòi, khám phá, HS tìm ra lời giải cho bài toán GV giúp HS nhận xét,phân tích, tổng hợp, khái quát hóa thành thuật toán cho từng dạng toán Cuốicùng, GV chốt lại kiến thức trọng tâm của bài học

d, Bước 4: Thực hành - luyện tập GV tổ chức cho HS vận dụng thuật toán

vừa xây dựng được vào giải các bài tập tương tự GV cần sử dụng phong phú,linh hoạt các hình thức dạy học giải bài tập, tránh sự nhàm chán cho HS

e, Bước 5: Vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn Để HS củng cố, khắc

sâu và nhớ lâu kiến thức, GV có thể tổ chức các trò chơi học tập phù hợp vớimục tiêu và lứa tuổi HS lớp 4, cho các em vận dụng kiến thức vào thực tiễn,đưa ra các yêu cầu cho HS thực hiện theo cá nhân hoặc theo nhóm

3.3 Vận dụng kĩ thuật đánh giá thường xuyên theo hướng phát triển năng

lực

học tập của học sinh trong quá trình dạy học giải toán

Trong quá trình dạy học giải toán, GV cần sử dụng kĩ thuật đánh giáthường xuyên nhằm động viên, khuyến khích và khắc phục những khó khăn, sailầm thường gặp của HS; nhận xét, đánh giá những ưu điểm nổi bật cũng nhưhạn chế của mỗi HS để có biện pháp khắc phục kịp thời; giúp các em có khảnăng tự nhận xét, tham gia nhận xét; tự học, tự điều chỉnh phương pháp họctập; nâng cao khả năng giao tiếp, hợp tác trong học tập; giúp phụ huynh HStích cực hợp tác với nhà trường trong hoạt động giáo dục HS (Đỗ Đức Thái vàcộng sự, 2019)

Để thực hiện kĩ thuật đánh giá thường xuyên trong quá trình dạy học mônToán, GV cần căn cứ vào mục tiêu và nội dung của mỗi bài học, có thể linhhoạt vận dụng các kĩ thuật đánh giá dưới đây:

- Trong giờ học, GV cần quan sát, phân tích các hoạt động học tập của HS;phỏng vấn, kiểm tra nhanh kết quả học tập, đánh giá kết quả học tập để kịp thời

tư vấn, hướng dẫn, động viên HS GV có thể phân tích, nhận xét, tư vấn, hướngdẫn, quan sát, theo dõi hoạt động của HS trong giờ học Các thông tin quan sát

là cơ sở để GV đưa ra sự động viên, giúp đỡ kịp thời cho HS GV cần đánh giá

Trang 14

mức độ hoàn thành bài tập của HS (hoàn thành hay chưa hoàn thành, hoànthành ở mức nào) để đưa ra kế hoạch hướng dẫn, giúp đỡ cụ thể.

- Tổ chức cho HS tự nhận xét và tham gia nhận xét, góp ý cho bạn và nhómbạn Khi HS phát biểu một vấn đề, GV có thể đề nghị các bạn khác nhận xét,khuyến khích HS đưa ra ý kiến phản biện hoặc bảo vệ quan điểm của mình Khichữa một bài tập, GV có thể yêu cầu HS đổi vở cho nhau để kiểm tra cách làm

và kết quả làm bài của bạn bên cạnh Sau khi chữa một bài tập, GV khuyếnkhích HS và các nhóm tự đánh giá mức độ hoàn thành bài tập của mình, củabạn, nhóm bạn và đề xuất những nội dung cần được giải thích

3.4 Tăng cường sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học giải toán cho học sinh lớp 4

Quá trình nhận thức của HS tiểu học cần gắn với những hình ảnh trựcquan hay hoạt động cụ thể, do vậy, GV cần sử dụng các phương tiện trực quan

rõ nét, đẹp mắt, được hiển thị dưới nhiều hình thức khác nhau, gắn liền vớithực tiễn sẽ giúp HS dễ dàng tiếp thu được kiến thức Do vậy, công nghệ thôngtin là một công cụ đắc lực, phục vụ cho quá trình dạy học môn Toán nói chung

và dạy học giải toán nói riêng Đặc biệt, để đáp ứng yêu cầu “thực hiện đổi mớichương trình, sách giáo khoa theo định hướng phát triển NL HS, vừa đảm bảotính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù mỗi địa phương” thìmột trong những giải pháp quan trọng là: tăng cường xây dựng học liệu điện tử

để phát huy mạnh lợi thế dạy và học qua mạng; khuyến khích việc biên soạn,thử nghiệm và sử dụng sách giáo khoa điện tử theo chương trình mới (Đỗ ĐứcThái và cộng sự, 2019) Để việc sử dụng công nghệ thông tin vào dạy họcToán ở tiểu học đạt được hiệu quả cao, các trường tiểu học cần:

- Đảm bảo mục tiêu dạy học phù hợp với chương trình sách giáo khoa và đặcđiểm tâm lí lứa tuổi của HS; - Đảm bảo tính khoa học của nội dung tri thức,khái niệm trong nội dung chương trình dạy học;

- Đảm bảo sự phối hợp một cách hợp lí giữa việc sử dụng công nghệ thông tin

hỗ trợ với các phương tiện, thiết bị dạy học;

- Thực hiện được sự phân hóa cao trong quá trình dạy học

Trang 15

3.5 Áp dụng phương pháp, hình thức, kỹ thuật dạy học theo phát triển năng lực, phẩm chất của các đối tượng học sinh với từng dạng bài cụ thể 3.

5 1 Dạng bài cung cấp kiến thức mới: Dạy theo hướng HS tự khám phá:

Đây là cách dạy mà giáo viên là người nêu tình huống có vấn đề; họcsinh tự giải quyết vấn đề để tìm ra bài học Cách dạy học này giúp cho tất cảhọc sinh cùng tham gia học tập tích cực

+ Học sinh hoàn thành tốt tự khám phá kiến thức mới, trình bày và giảithích rõ cách làm trước lớp, đối với dạng bài xây dựng từ kiến thức cũ (kiếnthức đã học) Tham gia trả lời các câu hỏi khó (câu hỏi khái quát, câu hỏimang tính tổng hợp kiến thức, xây dựng quy tắc công thức, chốt kiến thứctrọng tâm, hệ thống hoá kiến thức bằng cách tự lập bản đồ tư duy )

+ Học sinh hoàn thành – chưa hoàn thành KTKN chiếm lĩnh kiến thứcdựa vào câu hỏi gợi mở, hướng dẫn của giáo viên (hoặc của học sinh năngkhiếu) Được trả lời các câu hỏi dễ, câu hỏi chẻ nhỏ hoặc đọc lại ghi nhớ,công thức sau khi các học sinh đã hoàn thành

+ Giáo viên lựa chọn câu hỏi, bài tập phù hợp với từng đối tượng họcsinh Để tiết dạy thành công giáo viên tuyệt đối không làm thay, làm hộ họcsinh mà chỉ đóng vai trò là người chỉ đạo, tổ chức các hoạt động điều khiển,gợi mở, còn học sinh là người trực tiếp thực hiện các hoạt động bằng cách tựtìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh kiến thức mới

+ Giáo viên có thể thay đổi lời bài toán hoặc thay đổi dữ liệu của bàitoán mẫu trong SGK bằng một bài toán khác phù hợp với thực tế đời sống(đảm bảo giữ nguyên bản chất của dạng toán)

Bằng sự gợi mở, hướng dẫn của giáo viên, học sinh được trực tiếp làm

ví dụ, tiếp cận bài toán, thực hành trên mô hình vật thật sau đó phân tích tổnghợp, so sánh đối chiếu để tự rút ra kết luận nội dung chính của bài Có nhưvậy mới phát huy được tính tích cực cùng làm việc của các đối tượng họcsinh Từ đó giúp các em tự giác học tập không ỉ lại, trông chờ vào giáo viên

và gây được hứng thú trong giờ học giúp học sinh tự chiếm lĩnh tri thức mớimột cách dễ dàng

Trang 16

Ví dụ: Dạy bài "Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó"/Toán trang 47.

4-*HĐ1: Phân tích đề toán (GV cung cấp đề toán trên bảng phụ,…).

Bài toán: Tổng của hai số là 24 Hiệu của hai số là 4 Tìm hai số đó.

- Học sinh đọc kĩ đề (các đối tượng)

- Học sinh phân tích theo nhóm đôi (1 em nêu câu hỏi, 1 em trả lời) hoặc

cá nhân tự phân tích Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ?

* HĐ2: Xây dựng các cách giải bài toán.

- GV yêu cầu HS tự tóm tắt bài bằng sơ đồ đoạn thẳng vào vở nháp; 1 HS tóm tắt trên bảng lớp sau đó tự nêu lại cách tóm tắt (HSHTT)

* Gợi mở: Có hai cách: Tìm số bé trước hoặc tìm số lớn trước:

+ GV che phần dài hơn của số lớn trên sơ đồ lại và nói: Các em quan sát kĩ sơ

đồ tóm tắt, tìm 2 lần số bé trước rồi sẽ tìm ra từng số

24 4

Trang 17

+ GV hỏi: Nếu thêm vào số bé một số đơn vị sao cho số bé bằng số lớn thì ta

có tìm được 2 lần số lớn không ?

Cho HS làm bài theo nhóm Nhóm nào xong trước lên bảng chữa bài Khihọc sinh làm bài trên bảng xong, yêu cầu học sinh đó giải thích lại cách làmtheo 1 trong 2 cách đó:

Cách 1: (Tìm số lớn trước) HS giải thích lại cách làm theo hướng:

+ Nếu thêm vào số bé 4 đơn vị thì số bé sẽ bằng số lớn Khi đó

+ HS so sánh kết quả của 2 cách giải

+ GV gợi mở để HS giải bài toán bằng cách ngắn gọn

Trang 18

? Số 24 trong bài được gọi là gì ? ( tổng của 2 số)

? Số 10 trong bài được gọi là gì ? ( hiệu của 2 số)

? Muốn tìm số bé ta làm thế nào? Khi đó làm thế nào để tìm số lớn ?

? Bài toán yêu cầu tìm mấy số ? ( hai số )

? Bài toán đã cho biết gì về hai số ? ( tổng, hiệu)

Vậy đây là dạng toán gì? (tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó) ? Muốn giải được loại toán này ta phải biết gì ? (tổng, hiệu)

? Nếu thiếu một trong hai dữ kiện trên ta phải làm gì? (Đi tìm) => GV chốt:

“Để giải được bài toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó thì

nhất thiết phải biết tổng và hiệu của hai số đó Nếu thiếu một trong hai dữkiện đó ta phải đi tìm”

- HS lấy ví dụ minh hoạ ( HS năng khiếu)

HĐ 4: Luyện tập.

- Trong phần luyện tập ở tiết này có 4 bài tập; bài tập số 2, 3 có dạng giống như bài

số 1 và là những bài tập tương đối dễ Đối với học sinh hoàn thành – chưa hoàn thànhKTKN (kiến thức, kĩ năng) thì yêu cầu các em làm lần lượt từ bài 1 và làm theo khảnăng của các em (đạt chuẩn) Đối với học sinh hoàn thành tốt bài tập số 3, 4 có thể chohọc sinh nhẩm ngay kết quả Thời gian còn lại GV đưa thêm 1 bài tập khác cùng loạitoán song ở mức độ cao hơn Với dữ kiện của bài toán không tường minh

VD: Tổng của hai số tự nhiên lẻ liên tiếp là 46 Tìm hai số đó.

* Chữa bài

- Học sinh chậm chữa bài tập 1, 2 trong SGK và tự nêu lại cách làm trướclớp Sau đó yêu cầu học sinh xác định yêu cầu cần tìm, xác định đâu là tổng,đâu là hiệu của hai số

12

Trang 19

- Học sinh năng khiếu chữa bài và nêu lại cách làm bài tập 4, bài tập nângcao.(Đối với bài tập nâng cao yêu cầu học sinh xác định rõ hiệu và giải thích).

* Củng cố

Tổ chức hoạt động nhóm vẽ bản đồ tư duy với từ trung tâm “ Tìm hai sốkhi biết tổng và hiệu” thể hiện hai cách giải đối với loại toán này HS chậm –chưa hoàn thành trình bày, so sánh sự khác nhau giữa hai cách giải

3.

5 2 Dạng bài luyện tập ôn tập tổng hợp kiến thức

Đây là hoạt động học sinh vận dụng kiến thức đã học để luyện tập hìnhthành kĩ năng nên giáo viên cần tăng cường hoạt động “tự học” và “học tậptương tác” trong nhóm

+ Đối với lớp có nhiều đối tượng học sinh chậm hoặc chưa hoàn thành kiến thức- kĩ năng môn Toán.

HĐ 1: Giáo viên nên áp dụng kĩ thuật dạy học bằng bản đồ tư duy giúp học

sinh ôn tập hệ thống hoá kiến thức bằng cách: Giáo viên đưa từ trung tâm sau

đó đặt câu hỏi gợi mở- học sinh trả lời để hoàn thành các nhánh cấp 1, cấp2… hoặc giáo viên đưa ra các nhánh của bản đồ tư duy yêu cầu học sinh tìm

và ghi từ trung tâm

Sau khi hệ thống hoá toàn bộ kiến thức trên bản đồ tư duy, yêu cầu học sinhchậm – chưa hoàn thành phân tích, so sánh khắc sâu kiến thức và thuyết minhlại toàn bộ kiến thức cần ôn tập

Bước 1

Bước 2

Xác định được tổng và hiệu của hai sô

Tìm cách giải

Trang 20

+ Đối với lớp có nhiều đối tượng học sinh năng khiếu với môn Toán

HĐ 1: Giáo viên đưa từ trung tâm, yêu cầu học sinh tái hiện kiến thức tự lập

bản đồ tư duy để củng cố khắc sâu kiến thức, sau đó tự trình bày trước lớp

HĐ2: Luyện giải các bài tập

+ Học sinh năng khiếu: Thực hành làm bài tập theo khả năng hoặc tìmcách giải khác (nếu có), có thể làm thêm bài tập mở rộng

+ Học sinh chậm – chưa hoàn thành : Làm bài tập theo khả năng của các

em (phải đạt chuẩn)

+ Giáo viên tiếp cận và giúp đỡ học sinh chậm – chưa hoàn thành giải đápvướng mắc trong khi học sinh làm bài

HĐ3: Tổ chức chữa bài (Học sinh tự trình bày bài làm của mình trước lớp)

* Đối với những bài tập rèn kĩ năng làm tính thường có nhiều phần, trongcùng một thời gian học sinh chậm- chưa hoàn thành làm được số phần tùythuộc vào khả năng của các em Học sinh năng khiếu làm đủ các phần

* Đối với những bài tập là những bài toán có lời văn Học sinh năng khiếu làmnhanh hơn thường làm xong trước đối tượng học sinh chận- chưa hoàn thành.Giáo viên yêu cầu các em làm các bài tập còn lại hoặc bài tập nâng cao

* Đối với những bài tập có dạng giống nhau học sinh năng khiếu có thể chỉlàm một bài, những bài khác nhẩm nhanh kết quả Thời gian còn lại giáo viêngiao thêm bài tập nâng cao (hoặc tự lập bài toán khác và tìm cách giải)

* Đối với bài tập có nhiều cách giải trong cùng thời gian, học sinh hoàn thành vàchưa hoàn thành có thể làm chậm hơn Trong lúc chờ đợi học sinh chậm giáo viênkhuyến khích học sinh năng khiếu tìm cách giải khác Giáo viên chấp nhận trongcùng một thời gian, có em làm được nhiều bài tập, có em làm được ít bài tập hơn.Trong một tiết học, học sinh nếu chưa hoàn thành lượng bài tập buổi sáng thì tiếptục hoàn thành vào tiết "Toán tăng” của buổi chiều

Ngoài ra, giáo viên cần giao cho học sinh hoàn thành tốt giúp đỡ, giảng giải kiếnthức toán cho học sinh chưa hoàn thành vào giờ truy bài

Khi dạy bài luyện tập giáo viên nên lựa chọn nhiều hình thức tổ chức dạy học Có

thể cho học sinh làm bài tập thông qua trò chơi toán học hoặc tổ chức học sinh

Ngày đăng: 24/07/2021, 16:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT) Khác
12. Xác định mục tiêu môn Toán học trong chương trình giáo dục phổ thông mới (Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 143, tr 4-7. Đỗ Đức Thái, Đỗ Tiến Đạt - 2017) Khác
13. Xác định năng lực toán học trong chương trình giáo dục phổ thông mới - Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 146, tr1-5 (Đỗ Đức Thái, Đỗ Tiến Đạt - 2017) Khác
14. Dạy học phát triển năng lực môn Toán tiểu học. NXB Đại học Sư phạm (Đỗ Đức Thái (chủ biên), Đỗ Tiến Đạt, Nguyễn Hoài Anh, Trần Ngọc Bích, Đỗ Đức Bình, Hoàng Mai Lê, Trần Thúy Ngà (2019). Jean Piaget (1981) Khác
16. Thiết kế bài soạn môn Toán phát triển năng lực học sinh tiểu học.NXB Đại học Sư phạm (Vũ Quốc Chung - 2018) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w