1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM_SỨ MỆNH CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

24 56 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 185 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phương thức lao động và phương thức sản xuất : là những người trực tiếp và gián tiếp sử dụng các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa ngày càng cao Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa : giai cấp công nhân là những người lao động không có tư liệu sản xuất phải bán sức lao động cho tư bản và bị nhà tư bản bốc lột giá trị thặng dưĐịnh nghĩa giai cấp công nhân : là tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phất triển cùng với sự phát triển của công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội ngày càng cao, là lực lượng lao động cơ bản tiên tiến trong quy trình công nghệ , dịch vụ công nghiệp , trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất , tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội , đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiện tiến trong thời đại hiện nay

Trang 1

Chứng minh sứ mênh của giai cấp công nhân_Mối liên hệ giữa giai cấp công

nhân và Đảng Cộng Sảna) Khái niệm giai cấp công nhân

Sự hinh thành giai cấp công nhân :

Đại công nghiệp phát triển các giai cấp(như nông dân, thủ công nghiệp, ) đều

bị suy tàn và tiêu vong còn giai cấp công nhân(giai cấp vô sản) lại là sản phẩmcủa bản thân nền đại công nghiệp Cho nên:

Giai cấp công nhân hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của côngnghiệp hiện đại , nền công nghiệp hiện đại càng phát triển thì giai cấp côngnhân càng phát triển về số lượng và chất lượng

Hai thuộc tính cơ bản của giai cấp công nhân :

 Về phương thức lao động và phương thức sản xuất : là những người trực tiếp và gián tiếp sử dụng các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa ngày càng cao

 Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa : giai cấp công nhân

là những người lao động không có tư liệu sản xuất phải bán sức lao động cho tư bản và bị nhà tư bản bốc lột giá trị thặng dư

 Định nghĩa giai cấp công nhân : là tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phất triển cùng với sự phát triển của công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội ngày càng cao, là lực lượng lao động cơ bản tiên tiến trong quy trìnhcông nghệ , dịch vụ công nghiệp , trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất , tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội , đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiện tiến trong thời đại hiện nay

b) Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân : Khi phương thức sản xuất tư

bản chủ nghĩa đã tỏ ra lỗi thời, không thể khắc phục được những mâu thuẫn

cơ bản vốn có của nó, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ mọi chế độ áp bức bóc lột và xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

Việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân cần phải trải qua hai

bước:

Bước thứ nhất " giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị" và "Giai cấp

vô sán Chiếm lạy chinh quyền nhà nước"

Trang 2

Bước thứ hai: " giai cấp vô sản dùng sự thống trị của mình để từng bước đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào trong tay nhà nước"

c) Những điều kiện khách quan qui định sứ mệnh của giai cấp ông nhân i) Về địa vị kinh tế xã hội:

 Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, nó ra đời và phát triển cùng với sự hình thành phát triển của nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa, được nền sản xuất công nghiệp hiện đại rèn rũa

tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh Họ đại diện cho lực lượng

sản xuất tiên tiến nhất với trình độ xã hội hoá ngày càng cao=> là nhân tố quyết định thủ tiêu quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và đại diện cho xu hướng phát triễn xã hội loài người

 Do không có tư liệu sản xuất, giai cấp công nhân phải bán sức lao độnglàm thuê, bị nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư, là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản Từ sự đối kháng đó đã bùng lên những phong trào của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản để giải phóng mình và toàn nhân loại, trong cuộc đấu tranh đó họ không mất gì ngoài mất xiềng xích và được cã thế giới về mình

 Đại công nghiệp càng phát triển, tập trung làm phá sản những người sản xuất hàng hoá nhỏ, bổ xung lực lượng cho giai cấp công nhân Mặt khác, đại công nghiệp phát triển tiếp tục bổ xung lực lượng cho giai cấp công nhân, thu hút lực lượng lao động từ nhiều ngành, nhiều nghề khác nhau tạo nên tập đoàn hùng mạnh=> giai cấp công nhân có những lợi ích thống nhất với quần chúng nhân dân lao động nên họ có thế tập hợp lãnh đạo quần chúng nhân dân

đi theo mình để làm cách mạng

ii) Về đặc điểm chính trị, xã hội:

 Giai cấp công nhân là giai cấp tiên phong trong cách mạng : Giai cấp công nhân là đại diện cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa– phương thức sản xuất tiên tiến nhất và là lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hoá cao Do đó giai cấp công nhân càng có đủ điều kiện, khả năng trở thành lực lượng tổ chức lãnh đạo các giai cấp và tầng lớp lao động khác trong công cuộc xoá bỏ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

 Giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất thời đại hiện nay : Về kinh tế, lợi ích của giai cấp công nhân đối lập với lợi ích củagiai cấp tư sản, họ là những người không có tư liệu sản xuất, làm thuê cho cácnhà tư bản và bị áp bức bóc lột nặng nề Điều kiện sông, lao động trong chế

độ tư bản chủ nghĩa đã chỉ cho họ thấy : họ chỉ có thể giải phóng bằng cách giải phóng toàn bộ xã hội khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa

 Giai cấp công nhân là giai cấp có ý thức tổ chức kỉ luật cao : Điều kiện sản xuất tập trung và trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, cơ cấu tổ chức sản

Trang 3

xuất chặt chẽ đã tôi luyện cho giai cấp công nhân hiện đại tính tổ chức và kỷ luật cao, tác phong công nghiệp; trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản thống trị, giai cấp công nhân phải đoàn kết lại, tổ chức chặt chẽ và có tính cách mạng cao vì cách mạng đòi hỏi đúng thời điểm, thời cơ thuận lợi mới có thể thành công

 Giai cấp công nhân có bản chất quốc tế : : Gắn với nền công nghiệp hiện đại, chẳng những giai cấp công nhân có trình độ xã hội hoá ngày càng cao ở mỗi nước mà còn có mối quan hệ quốc tế ngày càng tăng Giai cấp côngnhân ở các nước tư bản nói chung đều có địa vị kinh tế xã hội giống nhau Mặt khác, giai cấp tư sản cũng là một lực lượng quốc tế và để duy trì địa vị thống trị của mình, giai cấp tư sản luôn thực hiện sự liên minh trên phạm vi quốc tế để chống lại cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và các dân tộc bị

áp bức Do đó muốn hoàn thành sự nghiệp giải phóng, giai cấp công nhân phải đoàn kết lại, đấu tranh trên phạm vi toàn quốc tế

Tại sao phải có đảng cộng sản thì giai cấp công nhân mới thực hiện được

sứ mệnh đó ?

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp này quy định, nhưng để biến khả năng khách quan đó thành hiện thựcthì phải thông qua nhân tố chủ quan của giai cấp công nhân Trong những nhân tố chủ quan đó thì việc thành lập đảng cộng sản, một đảng trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc, vững mạnh về chính trị, tư tuởng và tổ chức là nhân tố giữ vai trò quyết định nhất bảo đảm cho giai cấp công nhân hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình

a) Tính tất yếu của việc hình thành và phát triển chính đảng của giai cấp công nhân

 Đảng Cộng sản là sự kết hợp của chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân Phong trào công nhân chỉ thắng lợi khi nào giai cấp công nhân đạt đến trình độ tự giác bằng cách tiếp thu lý luận khoa học cách mạng (phong trào mang tính chất chính trị)

 Đảng cộng sản ra đời , thông qua sự lãnh đạo của Đãng, giai cấp côngnhân nhận thức được vai trò, vị trí của minh trong xã hội hiểu được conđường, biện pháp đấu tranh cách mạng, từ đó tập hợp được đông đảo quầnchúng nhân dân lao động, thực hiện việc lật đổ chủ nghĩa tư bản, giải phónggiai cấp mình, giải phóng toàn xã hội và tổ chức xây dựng xã hội mới về mọimặt

 Đảng cộng sản muốn hoàn thành vai trò lãnh đạo cách mạng thì trướchết phả luôn luôn chăm lo xây dựng về tư tưởng và tổ chức, phải luôn luônlàm cho đảng vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao về trí tuệ, gắn

bó với quần chúng nhân dân, có năng lực lãnh đạo và hoạt động thực tiễn

b) Mối quan hệ giữa đãng cộng sản và giai cấp công nhân:

Trang 4

Giữa Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân, cũng như với nhân dân lao động luôn luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ Mối quan hệ đó được phân tích ở hai điểm chính sau đây:

Thứ nhất, Đảng Cộng sản là tổ chức chính trị cao nhất; đại biểu cho lợi ích và trí tuệ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đảng lãnh đạo giaicấp công nhân và nhân dân lao động

Thứ hai, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là cơ sở giai cấp, cơ

sở xã hội của Đảng Cộng sản; là nguồn bổ sung lực lượng phong phú cho Đảng; là sức sống và sức mạnh của Đảng

Vì vậy, Đãng cộng sản chân chính thì sự lãnh đạo của đãng cũng chính

là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự nghiệp của Đảng củng chính là sự nghiệp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; lợi ích và trí tuệ của Đảng cũng chính là lợi ích và trí tuệ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

Việt Nam một đảng hay đa đảng thì phù hợp hơn vai trò vai trò của Đảng cộng sản trong giai đoạn đổi mới ở nước hiện nay như thế nào?

Đa đảng là gì?

Hệ thống đa đảng là hệ thống mà ở đó có nhiều đảng chính trị có khả năng giành quyền điều hành chính phủ một cách độc lập hay liên minh với nhau Trong các quốc gia có thể chế chính trị đa đảng, một đảng nào đó chiếmđược đa số (sau thắng lợi bầu cử), nhưng chưa đạt đến mức độ tuyệt đối thì phải liên minh với một số đảng khác, tạo thành một liên minh cầm quyền Khi

đó giữa các đảng có sự dàn xếp với nhau, điều hòa về các vị trí chủ chốt trongnội các, điều hòa về chính sách và quyền lực Đảng nào chiếm số lượng cử tri đông nhất thì đảng đó có nhiều đại biểu trong quốc hội, có nhiều ghế trong chính phủ, chiếm nhiều vị trí chủ chốt trong chính quyền nhà nước Trong cácnước thực hiện chế độ một đảng, tính chất quyết định và sự nắm quyền, cũng như sự chi phối của đảng đối với đời sống xã hội, thể hiện rõ và tuyệt đối hơn trên toàn bộ các yếu tố cấu thành nội dung của đảng cầm quyền Đảng đó là lực lượng duy nhất nắm chính quyền nhà nước, không chia sẻ bất kỳ cho ai, cho bất kỳ một lực lượng xã hội nào Hai trường hợp cơ bản này đã và đang diễn ra trong đời sống chính trị thế giới hiện đại Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng đa đảng và một đảng đã và đang diễn ra rất quyết liệt, thực chất đó là biểu hiện của cuộc đấu tranh giai cấp, phản ánh tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay Có đúng là

“nhiều đảng cạnh tranh nhau thì dân chủ hơn”? Có ý kiến cho rằng, thực hiện

đa đảng, có nhiều đảng cạnh tranh nhau thì sẽ dân chủ hơn, sẽ tốt hơn một đảng! Có đúng như vậy không? Câu trả lời ở đây là không phải như vậy Hãy xem chính người Mỹ nói về nước Mỹ, một nước thực hiện chế độ đa đảng, thực chất là thế nào Họ nói rằng, nước Mỹ là một nước “tự do” người dân tự

do biểu tình, chửi bới, báo chí tự do phanh phui những chuyện nhạy cảm,

Trang 5

xuyên tạc, bôi xấu lẫn nhau vì sự cạnh tranh của các đảng phái này, nhằm hạ

uy tín của đảng phái kia Nhưng điều đó không phải là bản chất thực sự của dân chủ Giáo sư trường Đại học bang Indiana, Paul Mishler cho thấy rõ thực chất vấn đề: “Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra”; “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thựcchất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ”(1) Có thể rút ra một số vấn đề sau:

thứ nhất, chế độ đa đảng của nước Mỹ “thực chất chỉ là một đảng”, là

sự cầm quyền của đảng tư sản;

thứ hai, dân chủ ở nước Mỹ là dân chủ tư sản, không phải là dân chủ của đa số, không thực hiện quyền lực thực sự thuộc về nhân dân;

thứ ba, thực chất đa đảng đối lập trong xã hội tư bản chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là bảo đảm quyền lực cho giai cấp tư sản Bất cứ một nền dân chủ nào, cũng đều nhằm đảm bảo sự thống trị của giai cấp thống trị, cầm quyền Dân chủ không phụ thuộc vào cơ chế độc đảng hay đa đảng, mà nó phụthuộc vào bản chất của chế độ cầm quyền phục vụ cho giai cấp nào Bản thân nền dân chủ tư sản, dù có được tô vẽ như thế nào chăng nữa, thì nền dân chủ

đó vẫn là nền dân chủ của giai cấp tư sản, nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với xã hội và lao động

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã có và cũng đã phủ định đa đảng Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiên phong, lãnh

tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Qua sự “sàng lọc” dữ dội của lịch sử những thập niên đầu thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người dẫn dắt mình đi đến tương lai hạnh phúc Tháng 8/1945, Đảng ta lãnh đạo toàn dân tộc đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa Trong những ngày đầu giữ chính quyền và nền độc lập dân tộc, Đảng ta đã tự tuyên bố giải tán và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã mở rộng thành phần cho mọi tổ chức, chính đảng cùng tham gia lãnh đạo đất nước Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã cócác đảng như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, Quốc dân đảng tham gia Sau này còn Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản, đến năm 1988, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội tuyên bố tự giải tán Toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam và hoạt động của nhà nước Việt Nam mới là do Đảng Cộng sản ViệtNam lãnh đạo, nền chính trị của nước ta vẫn là nền chính trị nhất nguyên Chế

độ chính trị đó là do nhân dân ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong quá trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược

và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp cách mạng nước ta đã đem lại

Ở nước ta, thực hiện một đảng duy nhất lãnh đạo, mọi người dân đều

có thể trực tiếp hay gián tiếp (thông qua người đại diện của mình) đề đạt

Trang 6

nguyện vọng và đóng góp ý kiến cho các cơ quan công quyền Các kênh bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và hoạt động có hiệu quả “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong các tổ chức chính trị - xã hội, trong các hoạt động của xã hội; là phương châm hành động của người dân trong xây dựng hệthống chính trị; là yêu cầu ứng xử của cán bộ trong tiếp xúc, quan hệ với dân

và chăm lo đến dân Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lực; quyền lợi

và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Thực tế vừa nêu chưa phải là đầy đủ, nhưng đã cho thấy tính ưu việt của chế độ một đảng ở Việt Nam; không thể vì những khó khăn, phức tạp nào đó mà xuyên tạc bản chất chế độ dân chủ của nước ta, đòi thực hiện đa đảng, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Chế độ dân chủ ở nước ta là chế độ dân chủ tốt đẹp và ưu việt Bản chất tốt đẹp và tính ưuviệt của nó không phải tự nhiên mà có, mà là kết quả của biết bao mồ hôi công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam chúng ta Bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ này có được giữ gìn, nâng cao và phát huy hay không, điều đó phụ thuộc vào chính chúng ta, vào sự quyết tâm và nỗlực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Vấn đề đặt

ra hiện nay đối với chúng ta không phải là lựa chọn một đảng hay đa đảng,

mà là phải thực hiện tốt hơn nữa quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội Đồng thời thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ then chốt

là xây dựng Đảng, “Phải dành nhiều công sức tạo được sự chuyển biến rõ rệt

về xây dựng Đảng, phát huy truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng; xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ đảngviên đủ phẩm chất và năng lực”, xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu

nhiệm vụ cách mạng

Vai trò của Đảng Cộng Sản trong quá trình đổi mới

Về tư tưởng chính trị: Trong bối cảnh phức tạp của tình hình trong

nước và sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông

Âu, Đảng vẫn xác định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X cụ thể hóa: “Đổi mới không phải là xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng, và kim chỉ nam cho hành động cách mạng” Nhờ xác định được hệ tư tưởng và đường lối đúng đắn, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng đã dẫn dắt đất nước và dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử

Trang 7

Về kinh tế: Trong thời kỳ đổi mới, Đảng không ngừng đổi mới nhận

thức và tư duy lý luận về kinh tế Từ tư duy kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Quan niệm về môhình kinh tế tổng quát trong suốt thời ký quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước đột phá lý luận cơ bản và sáng tạo của Đảng, là thành quả lý luận quan trọng qua 20 nămthực hiện Cương lĩnh năm 1991, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu

có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới

Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là: Các thành phần kinh tế, hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Quan hệ phân phối đảm bảo công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn của các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.Kết quả bước đầu về phát triển kinh tế thị trường đã tạo nên những thành quả quan trọng: Kinh tế Nhà nước từng bước phát huy vai trò chủ đạo, hệ thống doanh nghiệp Nhà nước bước đầu được tổ chức lại và cổ phần hóa Kinh tế tập thể bước đầu được đổi mới, các hình thức hợp tác kiểu mới hình thành Kinh tế tư nhân tăng nhanh về số lượng, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm, đóng góp ngày càng lớn vào GDP Kinh

tế nước ngoài được khuyến khích phát triển, góp phần quan trong vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Các loại thị trường đang hình thành và ngày càng phát triển Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, quy mô xuất, nhập khẩu đạt hơn 300 tỷ USD năm 2014 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Tỷ trọng ngành công nghiệp – dịch vụ chiếm gần 85% năm 2014 Sựnghiệp CNH, HĐH được đẩy mạnh với việc hình thành hàng trăm khu công nghiệp, khu chế xuất và các vùng kinh tế trọng điểm Kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại CNH, HĐH nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh Tổng thu nhập nền kinh tế quốc dân đạt khoảng 205 tỷ USD năm 2014.Thu nhập bình quân đầu người tăng từ hơn 200 USD những năm đầu đổi mới lên hơn 2.000 USD năm 2014

Về văn hóa – xã hội: Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng trong

thời kỳ đổi mới là: gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển Bên cạnh đó, Đảng xác định phát triển văn hóa đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội; xây dựng văn hóa và con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo

Trang 8

dục – đào tạo và khoa học – công nghệ là đầu tư cho phát triển Xây dựng nềnvăn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Thực hiện tốt các quan điểm chỉ đạo đó, sau gần 30 năm đổi mới, lĩnh vực văn hóa – xã hội có sự chuyển biến tích cực Các giá trị văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc được phát huy Các di sản văn hóa được bảo tồn, thiết chế văn hóa cơ sở được đầu tư xây dựng Những nhân tố và giá trị mới của văn hóa và con người Việt Nam từng bước được định hình trong đời sống

xã hội Phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” và các phong trào xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa trở thành nét đẹp trong đời sống xã hội Giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa ngày càng mở rộng, góp phần quảng

bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra toàn thế giới Nước ta trở thành điểm sáng về giáo dục toàn dân và xóa đói giảm nghèo Năm 2007, ViệtNam được Liên hợp quốc tặng thưởng bằng khen về thành tích xóa đói, giảm nghèo Năm 2010, phổ cập giáo dục trên quy mô toàn quốc Đến nay, nước ta

cơ bản hoàn thành mục tiêu thiên niên kỷ Tỷ lệ nghèo đói còn dưới 7% theo tiêu chuẩn quốc tế

Về đối ngoại: Sự chuyển biến tư duy quan trọng trong lĩnh vực đối

ngoại là quan điểm “thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế” Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế, Đảng chủ trương “chủ động hội nhập kinh

tế quốc tế”, “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế đồng thời mở rộnghợp tác trên các lĩnh vực khác” theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường Thông điệp ngoại giao là “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế”, tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển

Thành tựu nổi bật trong hoạt động đối ngoại là: Phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa ,

đa dạng hóa Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế Hiện nay, Việt Nam đã

ký Hiệp ước đối tác chiến lược hoặc đối tác toàn diện với hầu hết các nước lớn như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Ấn Độ, Ý, Hàn

Quốc… Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực: văn hóa – xã hội, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo và các lĩnh vực khác Giải quyết hòa bìnhcác vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển, đảo và các nước liên quan như Trung Quốc và các nước ASEAN Xúc tiến quan hệ thương mại, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học – công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển; khai thác hiệu quả các khuôn khổ đã ký kết, đặc biệt là khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương.Tranh thủ ODA, thu hút FDI, mở rộng thị trường ngoài nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đến nay, Việt Nam đã thu hút hàng chục tỷ USD vốn ODA, khoảng 250 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài Tiến một bước dài

Trang 9

trong hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc gia nhập các diễn đàn kinh tế AFTA, APEC, WTO.

Trong thời kì đổi mới vai tro rất quan trọng, nó quyết định sự phát triển và vận mệnh của một quốc gia Trong quá trình lãnh đạo, Đảng đã khẳng định được vai trò lãnh đạo đối với đất nước và dân tộc Vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở những điểm sau:

Về an ninh – quốc phòng: Trong bối cảnh mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vẫn được Đảng xác định là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, khái niệm và nội hàm “bảo vệ Tổ quốc” được xác định đầy

đủ hơn: Bảo vệ tổ quốc không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn là bảo vệ chế độ xã gội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân; bảo vệ kinh tế, văn hóa dân tộc, bảo vệ sự nghiệp đổi mới…; khẳng định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân với nền tảng là “thế trận lòng dân”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Thành tựu cơ bản, bao trùm về an ninh – quốc phòng là giữ vững độc lập, chủquyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn

xã hội Thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ củng cố an ninh quốc phòng với chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; vô hiệu hóa hoạt động của các đối tượng phản động trong và ngoài nước lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để gây mất ổn định Quan tâm xây dựng, phát triển tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước; xây dựng lực lượng vũ trang, đặc biệt là quân đội và công an theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại Xây dựng được thế trận quốc phòng toàn quốc gắn với thế trận an ninh nhân dân

VIỆC GIÀN KHOAN CHỨNG MINH ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG

QUAN TRỌNG NHỮ THẾ NÀO

1 Những hành động của Trung Quốc

2 Đường lối của đảng

Phóng viên của đài NHK (Nhật Bản) đặt câu hỏi: Hiện nay giàn khoan thăm

dò đã khoan vào đáy biển của Việt Nam hay chưa và nếu Trung Quốc không chịu rút giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam thì Việt Nam sẽ có nhữnghành động gì tiếp theo?

Trả lời câu hỏi của phóng viên, ông Trần Duy Hải - Phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia – Bộ Ngoại giao, nói: “Tôi khẳng định chủ quyền là vấn

đề rất thiêng liêng Việt Nam sẽ sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết để bảo

vệ các quyền và lợi ích của Việt Nam Chính sách nhất quán của Việt Nam, Việt Nam kiên trì theo đuổi các biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp Hiện nay và sắp tới Việt Nam sẽ tích cực kiên trì trao đổi với Trung Quốc về

xử lý các vấn đề tại Biển Đông Tôi cũng một lần nữa khẳng định với các bạn

Trang 10

rằng, để bảo về quyền và lợi ích trên Biển Đông, Việt Nam sẽ sử dụng tất cả các biện pháp hòa bình được quy định bởi luật pháp quốc tế”.

Đảng Cộng Sản tập hợp những ai và ai có thể tham gia ?

Đảng cộng sản gồm : đại hội đảng sẽ bầu Hội đồng Trung ương (Ban Chấp hành Trung ương, Ủy ban Trung ương) thực thi nghị quyết của đảng giữa các Đại hội đảng theo nhiệm kỳ Ban chấp hành Trung ương sẽ bầu một

Bộ Chính trị (hoặc Đoàn chủ tịch ủy ban trung ương, tùy theo điều lệ riêng của từng đảng) thay mặt Ban chấp hành Trung ương giải quyết công việc của đảng giữa hai kỳ họp của Ban chấp hành Trung ương Ban chấp hành Trung ương cũng trực tiếp bầu một Chủ tịch Đảng hoặc Tổng Bí thư Bộ Chính trị vàBan Bí thư là những cơ quan thường trực để tham mưu về chủ trương, đường lối chính trị, các chính sách và các hoạt động thường nhật của đảng Chủ tịch Đảng hoặc Tổng Bí thư là người đứng đầu các bộ máy nói trên Theo nguyên tắc tập trung dân chủ, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản

là cơ quan quyền lực cao nhất của đảng Ban chấp hành Trung ương được ủy quyền thực hiện chủ trương đường lối, chính sách của đảng giữa hai nhiệm kỳphải báo cáo công tác với Đại hội đại biểu toàn quốc của đảng và chịu trách nhiệm về việc điều hành các hoạt động đó Tổng Bí thư, các Ủy viên Bộ Chính trị và các thành viên Ban Bí thư chịu trách nhiệm trước Ban chấp hành Trung ương về các hoạt động của Đảng giữa hai kỳ họp của Ban chấp hành Trung ương Hiện nay, chỉ còn một số Đảng Cộng sản vẫn giữ nguyên tắc và cấu trúc này Một số khác đã từ bỏ cơ chế tập trung dân chủ cùng với việc từ

bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin và chuyển thành đảng xã hội dân chủ (theo quan điểm của Đệ Nhị Quốc tế) hoặc đảng theo chủ nghĩa xã hội dân chủ

Về việc vào Đảng không phải ai cũng được kết nạp vào Đảng cả mà

phải có sự lựa chọn sự đánh giá có tiêu chuẩn cụ thể và phải đáp ứng được điều kiện sau đây:

- Về độ tuổi : tất cả ai muốn vào Đảng phải đủ 18 tuổi trở lên đến đủ 60 tuổi được tính theo tháng Việc kết nạp Đảng cho những người trên 60 tuổi thìphải do các cấp ủy trực thuộc trung ương xem xét và quyết định

- Trình độ học vấn người muốn vào đảng phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc tương đương trở lên còn đối với việc học vấn của người đang sinh sống tại miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vùng có điều kiện kinh tế khó khăn và những trường hợp khác do yêu cầu phát triển của Đảng mà không đảm bảo được quy định chung thì phải thực hiện theo hướng dẫn của Ban bí thư

- Phải có người giới thiệu vào Đảng cũng phải là Đảng viên chính thức cùng cộng tác lao động học tập ít nhất 12 tháng với người giới thiệu vào Đảngcùng một đơn vị lãnh đạo của Đảng bộ Nếu Đảng viên giới thiệu người vào Đảng đến Đảng bộ, chi bộ cơ sở khác bị kỷ luật hoặc vì lý do nào đó không thể tiếp tục theo dõi giúp đỡ người khác vào Đảng thì sẽ có chi bộ phân công Đảng viên khác theo dõi Với những ai chưa có Đảng viên chưa có chi bộ thì

Trang 11

cấp ủy cấp trên trực tiếp tổ chức cơ sở Đảng giao cho chi bộ có điều kiện thuân lợi nhất để các Đảng viên tuyên truyền giúp đỡ người vào Đảng

- Lý lịch gia đình : đối với cha, mẹ, vợ, chồng , cha mẹ đẻ, người nuôi dưỡng và đối với chính bản thân sẽ không được kết nạp Đảng nếu như : vi phạm pháp luật có tiền án chống lại Đảng cộng sản , là người nước ngoài làm việc cho các trung tâm phá hoại tư tưởng yêu nước,

- Đối với đạo giáo: phải qua thực tiễn chứng tỏ người xin vào Đảng được

sự tín nhiệm người có đạo hoặc không, được cơ quan thẩm quyền kết luận người xin vào Đảng không vi phạm lịch sử chính trị và chính trị hiện nay

Đường lối và chủ trương của Đảng giải quyết các vấn đế xã hội?

Các vấn đề xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực như: giải quyết việc làm, thu nhập,bình đẳng xã hội, khuyến khích làm giàu, xoá đói giảm nghèo, chăm sóc sứckhoẻ, cung ứng dịch vụ công, an sinh xã hội, cứu trợ xã hội, chính sách dân số

và kế hoạch hoá gia đình, V.V

1 Thời kỳ trước đổi mới

a.) Chủ trương của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội

Giai đoạn 1945 - 1954: Sau Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến

chống Pháp, chính sách xã hội của Đảng được thực hiện theo tinh thần:

Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân

có học hành Và với chủ trương: làm cho người nghèo thì đủ ăn, ngươi đủ ănthì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm Chủ trương này đã nhanh chóng đivào cuộc sống và đạt được những hiệu quả thiết thực

Các vấn đề xã hội trong giai đoạn này giải quyết trong điều kiện xây dựngNhà nước dân chủ nhân dân Chính phủ có chủ trương và hướng dẫn để cáctầng lớp nhân dân chủ động và tự tổ chức giải quyết các vấn đề xã hội củachính mình; chính sách tăng gia sản xuất (tự túc, tự cấp), chủ trương tiết kiệm,khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân, mọi thành phần xã hội phát triển kinh tế.Thực hiện chính sách điều hoà lợi ích giữa chủ và thợ

- Giai đoạn 1954 - 1975: Các vấn đề xã hội được giải quyết theo mô hình

xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối cũ, trong hoàn cảnh đất nước cóchiến tranh Chế độ phân phối về thực chất là theo chủ nghĩa bình quân Nhànước và tập thể đáp ứng nhu cầu thiết yếu của xã hội, bằng chế độ bao cấp vàdựa vào viện trợ của nước ngoài

- Giai đoạn 1975 - 1985: Các vấn đề xã hội được giải quyết theo cơ chế kế

hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, trong hoàn cảnh đất nước lâm vàokhủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng, nguồn viện trợ giảm dần, đấtnước bị bao vây, cô lập và cấm vận

Trang 12

a) Đánh giá việc thực hiện đường lối

Chính sách xã hội trong 9 năm "kháng chiến, kiến quốc", tiếp đó là thời kỳ

thực hiện cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp (1954 - 1985), tuy có nhiều hạn chế nhưng đã bao hàm được sự ổn định của xã hội, đồng thời đạt được thành tựu phát triển đáng tự hào trên một số lĩnh vực: Văn hóa, giáo dục, y tế, lối sống, đạo đức kỷ cương và an ninh xã hội, hoàn thành nghĩa vu hậu phương lớn đổi mới tiền tuyến lớn Những thành tựu đó nói lên bản chất tốt đẹp của chế độ mới – chế độ xã hội chủ n sự lãnh (lạo đụng đan của Đảng, giải •luyôt I H V n i!ồ xã hội trong điều kiện chiến tranh kéo dài, kinh tế chậm phát triển.

b) Hạn chế và nguyên nhân

Trong xã hội đã hình thành tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể trong cách giải quyết, các vấn đề xã hội; chế độ phân phối trên thực

tế là bình quân - cào bằng, không khuyên khích được những đơn vị

và cá nhân làm tốt, làm giỏi: đã hình thành nên một xã hội đóng, ổn định nhưng kém năng động chậm phát triển về mọi mặt.

Nguyên nhân cơ bản của hạn chế trển là do chúng ta đặt chưa đúng tầm chính

sách xã hội trong quan hệ với các chính sách thuộc các lĩnh vực khác, đồngthời lại áp dụng và duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tậptrung quan lieu bao cấp

2.Trong thời kỳ đổi mới

a) Quá trình đổi mới nhận thức về giải quyết các vấn đề xã hội

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986), lần đầu tiên Đảng ta

nâng các vấn đế xã hội lên tầm chính sách xã hội Giải quyết tốt mối quan

hệ giữa chính sách xã hội với chính sách kinh tế và chính sách ở các lĩnh vựckhác Đại hội VI cho rằng, trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất đểthực hiện chính sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích củacầc hoạt động kinh tế Do đó, cẩn có chính sách xã hội cơ bản, lâu dài phùhợp với yêu cầu, khả năng trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ.Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế làđều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người Phát triển kinh tế là cơ

sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, đồng thời thực hiện tốt cácchính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế

Đại hội VllI của Đảng (tháng 6-1996) nêu rõ hệ thống chính sách xã hội phảiđược hoạch định theo những quan điểm sau:

- Tăng trưởng kinh tế phải gấn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngaytrong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thểhiện cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả

Ngày đăng: 24/07/2021, 16:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w