1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án phát triển các khu đô thị mới tại thành phố hồ chí minh theo hướng bền vững

163 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 10,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hinh 3.5 Sơ đồ đề xuất phát triển KĐTM kết hợp với hệ thống trung tâm dịch vụ đô thị theo cấu trúc đa tâm của đô thị Tp.HCM Hinh 3.6 Sơ đồ minh họa đề xuất phát triển các KĐTM kết hợp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ XÂY DỰNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP.HCM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS.KTS NGUYỄN TRỌNG HÒA

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác, trừ những chỗ đã ghi chú trích dẫn, tham khảo

Tác giả luận án

Phạm Ngọc Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn quý báu của Thầy giáo hướng dẫn: Phó giáo sư, tiến sĩ, kiến trúc sư Nguyễn Trọng Hòa Thầy đã tận tâm dẫn dắt tôi trên con đường học tập nâng cao chuyên môn

và nghiên cứu khoa học

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của Phòng sau đại học và hợp tác quốc

tế, Ban giám hiệu trường Đại học kiến trúc Tp.HCM, BCN Khoa quy hoạch, cũng như các Khoa, Phòng, Ban khác trong trường Tôi xin cảm ơn các thầy

cô giáo, các nhà khoa học ở trong và ngoài trường đã đóng góp ý kiến quý báu trong quá trình tôi nghiên cứu và thực hiện luận án

Cuối cùng, tôi rất biết ơn sự động viên giúp đỡ, sát cánh và luôn tạo điều kiện của gia đình để tôi hoàn thành luận án này

Tp.HCM, ngày 16 tháng 9 năm 2014

Phạm Ngọc Tuấn

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA …

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU 1

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 3

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG VÀ 6

PHÁT TRIỂN CÁC KHU ĐÔ THỊ MỚI TẠI TP.HCM 6

1.1 Khái niệm về phát triển bền vững và tầm quan trọng của PTBV 6

1.1.1 Sự xuất hiện của mô hình phát triển bền vững 6

1.1.2 Mô hình PTBV của Brundtland 6

1.1.3 Quan điểm về phát triển bền vững của các tổ chức thế giới 7

1.2 Khái niệm về đô thị bền vững và hệ thống tiêu chí phát triển ĐTBV 10

1.2.1 Khái niệm về đô thị bền vững (ĐTBV) 10

1.2.2 Quan niệm về phát triển đô thị bền vững trên thế giới và Việt Nam 11

1.2.3 Hệ thống tiêu chí PTĐTBV 13

1.2.4 Tổng hợp quan điểm chung về PTĐTBV và hệ thống tiêu chí PTĐTBV 16

1.3 Tổng quan về phát triển các KĐTM trên thế giới theo hướng bền vững 17

1.4 Tổng quan về phát triển các KĐTM ở Việt Nam theo hướng bền vững 20

Trang 6

1.4.1 Khái niệm về KĐTM và các quy định liên quan 20

1.4.2 Thực tiễn phát triển các KĐTM tại Việt Nam 22

1.5 Thực tiễn phát triển các KĐTM tại Tp.HCM 24

1.5.1 Đánh giá thực tiễn phát triển trong các KĐTM 25

1.5.2 Thực trạng đầu tư và xây dựng trong các dự án KĐTM 30

1.5.3 Về nội dung lập quy hoạch và Quản lý KĐTM 30

1.5.4 Đánh giá về vị trí phát triển các KĐTM trong cấu trúc tổng thể đô thị Tp.HCM 32

1.5.5 Nhận xét về phát triển các KĐTM tại Tp.HCM 36

1.6 Các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài 38

1.6.1 Các luận án Tiến sĩ 38

1.6.2 Các luận văn thạc sĩ 39

1.7 Các vấn đề nghiên cứu tại TP Hồ Chí Minh 40

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ XÂY DỰNG CÁC KĐTM PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 43

2.1 Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu 43

2.1.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp thông tin 43

2.1.2 Phương pháp Quan sát - Khảo sát thực tế 43

2.1.3 Phương pháp điều tra xã hội học 44

2.1.4 Phương pháp so sánh, quy nạp 44

2.1.5 Phương pháp đánh giá đa tiêu chí 44

2.2 Xây dựng nội dung và phương pháp cho các bước nghiên cứu 45

2.2.1 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu thực hiện cho bước 1 47

2.2.2 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu thực hiện cho bước 2 48

Trang 7

2.2.3 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu thực hiện cho bước 3 59

2.2.4 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu thực hiện cho bước 4 70

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 72

3.1 Hệ thống hóa hệ thống tiêu chí PTĐTBV và đề xuất định hướng phát triển các KĐTM trong cấu trúc đô thị tổng thể Tp.HCM 72

3.1.1 Nội dung trọng tâm của PTĐTBV 72

3.1.2 Hệ thống tiêu chí PTĐTBV 75

3.1.3 Định hướng phát triển KĐTM trong cấu trúc tổng thể đô thị Tp.HCM 78

3.2 Xây dựng các nguyên tắc và giải pháp QH các KĐTM theo hướng BV 84

3.2.1 Những nội dung trọng tâm của KĐTM 84

3.2.2 Phát triển KĐTM theo hướng bền vững 86

3.2.3 Các nguyên tắc quy hoạch KĐTM theo hướng bền vững 95

3.2.4 Đề xuất các giải pháp QH cho các KĐTM phù hợp với cấu trúc tổng thể đô thị Tp.HCM 99

3.3 Xây dựng khung đánh giá mức độ bền vững của KĐTM 102

3.3.1 Mục tiêu xây dựng khung đánh giá mức độ bền vững của KĐTM 102

3.3.2 Phương pháp đánh giá mức độ bền vững của KĐTM 103

3.3.3 Mô tả các nhóm tiêu chí 104

CHƯƠNG IV BÀN LUẬN 120

4.1 Bàn luận về sự quan tâm của PTĐTBV trong QHĐT trên cơ sở áp dụng hệ thống tiêu chí PTĐTBV 120

4.1.1 Áp dụng hệ thống tiêu chí PTĐTBV trong QHĐT 120

Trang 8

4.2 Bàn luận về các giải pháp cơ bản thúc đẩy phát triển bền vững các khu đô thị mới, hướng đến xây dựng những “Tiêu chuẩn quy hoạch cho KĐTM bền

vững” 134

4.2.1 Tiêu chuẩn quy hoạch đảm bảo tính bền vững về kinh tế 135

4.2.2 Tiêu chuẩn quy hoạch đảm bảo tính bền vững về xã hội 135

4.2.3 Tiêu chuẩn quy hoạch đảm bảo tính bền vững về môi trường 136

4.3 Bàn luận về khả năng áp dụng khung tiêu chí đánh giá mức độ bền vững KĐTM cho các KĐT đã đang hình thành tại Tp.HCM 142

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 146

Kết luận 146

Kiến nghị 148

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2-1 Dự báo dân số và mật độ dân số theo khu vực (2025) 54

Bảng 2-2 Tổng hợp những nội dung về phát triển đô thị, khu đô thị theo hướng bền vững 62

Bảng 3-1 Nhóm tiêu chí đô thị lành mạnh 76

Bảng 3-2 Nhóm tiêu chí đô thị hấp dẫn 76

Bảng 3-3 Nhóm tiêu chí đô thị an toàn 77

Bảng 3-4 Nhóm tiêu chí về chính sách, quản lý 78

Bảng 3-5 Phát triển các trung tâm cấp khu vực 81

Bảng 3-6 Vị trí đề xuất cho các trung tâm đô thị mới 82

Bảng 3-7 Bảng chỉ tiêu mật độ xây dựng trong KĐTM 88

Bảng 3-8 Tổng hợp những yếu tố của KĐTM phát triển theo hướng bền vững 94

Bảng 3-9 Tổng hợp những yếu tố liên quan đến quy hoạch KĐTM theo huớng bền vững 96

Bảng 3-10 Mẫu 01 – Vị trí 104

Bảng 3-11 Mẫu 03 – Sử dụng đất 105

Bảng 3-12 Mẫu 03 – Giao thông 106

Bảng 3-13 Mẫu 04 – Năng lượng 107

Bảng 3-14 Mẫu 05 – Hạ tầng kỹ thuật cấp thoát nước 108

Bảng 3-15 Mẫu 06 – Vệ sinh môi trường 109

Bảng 3-16 Mẫu 07 – Nhà ở 109

Bảng 3-17 Mẫu 8 – Hệ thống dịch vụ đô thị 111

Bảng 3-18 Mẫu 09 – Tính hấp dẫn của khu vực, giá trị nơi chốn 112

Bảng 3-19 Mẫu 10– Tính tổn thương của KĐT 113

Bảng 3-20 Mẫu 11 – An toàn đô thị 114

Trang 11

Bảng 3-21 Mẫu 12 – Quản lý QHXD 115

Bảng 3-22 Mẫu 13 – Quản lý, khai thác sử dụng KĐTM 116

Bảng 3-23 Mẫu 14 – Sự hài lòng của cộng đồng và các hoạt động phát triển cộng đồng 117

Bảng 3-24 Mẫu 15 – Tính cạnh tranh của KĐTM 118

Bảng 4-1 Tổng hợp những tiêu chuẩn quy hoạch hướng đến PTBV 139

Bảng 4-2 Bảng chỉ tiêu diện tích không gian xanh đô thị bình quân đầu người 140

Bảng 4-3 Bảng chỉ tiêu diện tích đất trong đơn vị ở 140

Bảng 4-4 Bảng chỉ tiêu diện tích đất trong đơn vị ở tham khảo trên thế giới 140

Bảng 4-5 Quy định tối thiểu đối với các công trình dịch vụ đô thị cơ bản 140

Bảng 4-6 Bảng tổng hợp điểm đánh giá 143

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hinh 1.1 Sự hình thành các KĐTM trong quá trình phát triển đô thị

Hinh 1.2 Sơ đồ thể hiện các dự án QH 1/500 được cập nhật năm 2009

trên địa bàn các Quận Huyện tại Tp HCM

Hinh 1.3 Quy hoạch sử dụng đất trong các KĐTM

Hinh 1.4 Tình trạng ngập lụt thường xuyên xảy ra tại khu vực xung

quanh khu ĐTM Phú Mỹ Hưng, Huyện Nhà Bè, Q7, Q8, …

Hinh 1.5 Tổ chức không gian trong các KĐTM

Hinh 1.6 Chất lượng không gian trong các KĐTM

Hinh 1 Tổ chức không gian nhà ở trong các KĐTM

Hinh 1.8 Tình trạng đầu tư xây dựng trong các KĐTM

Hinh 1.9 Các KĐTM phát triển trong khu vực nội thành

Hinh 1.10 Các KĐTM phát triển trong các quận nội thành phát triển

và ngoại thành + Phát triển khu ĐTM theo hướng Nam Tp Hinh 1.11 Các KĐTM tại phía Đông và đông bắc:Q.2,Q.Thủ Đức, Q.9 Hinh 1.12 Các Khu ĐTM phát triển theo hướng Tây, Tây Bắc (Q 12,

Tân Phú, Bình Tân, Huyện Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi…)

Hinh 1.13 Sơ đồ tổng hợp các dự án phát triển KĐTM trong định

hướng QH Tp HCM

Hinh 2.1 Sơ đồ định hướng phát triển đô thị trong mối quan hệ vùng

xung quanh theo điều chỉnh QH chung xây dựng Tp.HCM

Hinh 2.2 Mô hình phát triển vùng Tp.HCM theo hình thức tập trung -

đa cực với vùng trung tâm bán kính 30km và 5 cực phát triển

Hinh 2.3 Sơ đồ phân tích các hướng phát triển của thành phố.:

Hướng Đông và Nam hướng ra biển, Phía Bắc và Tây Bắc, phía Tây và Tây Nam tạo sự gắn kết trong QHC Tp.HCM

Hinh 2.4 Hệ thống các cụm, khu công nghiệp tập trung, dự kiến điều

chỉnh QHC đền 2025 bố trí quỹ đất cho khoảng 50 khu CN, khu chế xuất, khu công nghệ cao và cụm công nghiệp

Hinh 2.5 Hệ thống trung tâm dịch vụ thành phố theo cấu trúc phát

triển đa tâm Tp.HCM

Hinh 2.6 Phân tích mối tương quan giữa đô thị hóa và điều kiện đất

đai Tp.HCM

Hinh 3.1 Sơ đồ định hướng phát triển các KĐTM dọc tuyến Metro dự

kiến phát triển trong cấu trúc đô thị Tp.HCM

Hinh 3.2 Phân tích cấu trúc Khu đô thị phát triển dọc Tuyến tàu điện

ngầm trong cấu trúc KĐTM Thủ Thiêm

Hinh 3.3 Sơ đồ phân tích hành lang phát triến theo định hướng QHC

của Tp.HCM làm cơ sở phân tích hình thành các KĐTM

Trang 13

trong cấu trúc đô thị

Hinh 3.4 Sơ đồ phân tích hành lang phát triến theo định hướng QHC

của Tp.HCM làm cơ sở phân tích hình thành các KĐTM trong cấu trúc đô thị

Hinh 3.5 Sơ đồ đề xuất phát triển KĐTM kết hợp với hệ thống trung

tâm dịch vụ đô thị theo cấu trúc đa tâm của đô thị Tp.HCM

Hinh 3.6 Sơ đồ minh họa đề xuất phát triển các KĐTM kết hợp với hệ

thống các cụm, khu công nghiệp tập trung theo định hướng QHC xây dựng Tp.HCM đến năm 2025

Hình 3.7 Dự án phát triển KĐTM Thủ Thiêm, Q.2, Tp.HCM – khu

trung tâm mở rộng của Tp

Hình 3.8 Phân tích đánh giá thực trạng đất đai tại Tp.HCM

Hinh 3.9 Giải pháp QH phát triển các KĐTM trong khu vực đất xấu

Hinh 3.9 Minh họa một hình ảnh quy hoạch mẫu khu phát triển theo

cụm ở Khu vực Huyện Nhà Bè

Hinh 3.9 Giải pháp QH phát triển các KĐTM theo mô hình cụm

Hinh 3.9 Giải pháp tổ chức mạng lưới giao thông theo mô hình cụm

Hinh 3.9 Giải pháp nâng cao chất lượng môi trường sống:

Hinh 3.10 Giải pháp QH phát triển các KĐTM trong khu vực đất tốt -

Mô hình phát triển đô thị theo mạng lưới Vành đai Sinh thái Hinh 3.10 Đề xuất phân tích mẫu cho một khu vực trên địa bàn Huyện

Củ Chi

Hinh 3.10 Cấu trúc đô thị: Phối hợp giữa hai loại “Vành đai sinh thái” Hinh 3.10 Chiến lược Quy hoạch mạng lưới giao thông công cộng

Hinh 4.1 Đánh giá vị trí và QHSDĐ KĐTM An Phú An Khánh

Hình 4.2 Đánh giá về giao thông và sử dụng năng lượng

Hình 4.3 Đánh giá về cấp thoát nước và vệ sinh môi trường

Hình 4.4 Đánh giá tình hình ô nhiễm trong khu vực

Hình 4.5 Đánh giá chất lượng môi trường

Hình 4.6 Đánh giá về khả năng tự cung tự cấp và nhà ở

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất nước về quy mô cũng như tiềm lực kinh tế với vai trò trung tâm hạt nhân, động lực phát triển kinh tế - xã hội trong vùng kinh tế phía Nam và Nam bộ, với vị trí chính trị quan trọng của cả nước; đầu mối giao lưu quốc tế; một trung tâm công nghiệp, dịch vụ đa lĩnh vực, khoa học công nghệ của khu vực Đông Nam Á Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế, sản lượng công nghiệp, nguồn thu ngân sách, vốn đầu tư nước ngoài luôn cao của thành phố đã góp phần tích cực vào thành tựu chung của nền kinh tế đất nước Điều này khẳng định vị trí vai trò đầu tàu của thành phố nhưng đồng thời cũng xuất hiện nguy cơ dẫn tới tốc độ đô thị hóa quá nhanh, tình trạng tập trung dân

cư quá mức đã nảy sinh một số hậu quả như: quá tải về cơ sở hạ tầng đô thị, thiếu công ăn việc làm, tạo nên một sức ép không nhỏ lên các hoạt động trong đời sống

đô thị, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái ngày càng tăng,…

Trong phần phát biểu tại Hội thảo về QH thành phố bền vững (2010), Chủ tịch

UBND TPHCM Lê Hoàng Quân đã đề cập khá thẳng thắn về căn bệnh đô thị của TPHCM Đó là, cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng bộ với tốc độ phát triển kinh tế -

xã hội, nạn ngập nước, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, quản lý bất cập không theo kịp thực tế, thiếu nhà ở, chất lượng cuộc sống của người dân không cao, Đây là những biểu hiện của việc phát triển đô thị chưa mang tính bền vững

Nếu xét theo định nghĩa phát triển bền vững hoàn chỉnh nhất hiện nay là “thoả mãn các yêu cầu hiện tại, nhưng không làm phương hại đến việc thoả mãn các nhu cầu trong tương lai” [69], thì những thành phố lớn của Việt Nam nói chung, và

TPHCM nói riêng đang phát triển nhưng sẽ để lại những di hại to lớn cho tương lai

Đó là nạn ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, ngập nước, nạn phát triển tràn lan, thiếu quy hoạch hoặc không được quy hoạch một cách có chất lượng, đe doạ đến quỹ đất dự trữ cho phát triển của các thế hệ sau

Thành phố Hồ Chí Minh, trong những năm qua, nhiều khu đô thị mới (KĐTM) đã và đang hình thành làm thay đổi diện mạo của Thành phố, góp phần

Trang 15

tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, chuyển đổi cơ cấu lao động, tạo lập môi trường đô thị hiện đại, giảm áp lực cho khu vực nội đô… Mô hình khu đô thị mới, phần nào đã góp phần tích cực vào kết quả phát triển nhà ở của thành phố mỗi năm, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ đô thị, đảm bảo đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội Tuy nhiên, nhìn chung các KĐTM vẫn chỉ là đáp án tức thời cho bài toán tăng quỹ đất nhà ở, còn việc tạo một “môi trường sống thực sự” theo đúng nghĩa thì hoàn toàn chưa thể đáp ứng nổi, thậm chí một số KĐTM còn là một bước thụt lùi về tiêu chuẩn ở đặc biệt là chất lượng hạ tầng và dịch vụ đô thị Thực trạng phát triển các khu đô thị tại những khu vực trũng thấp thiếu sự quan tâm đến môi trường tự nhiên, san lấp lấn chiếm kênh rạch trái phép, san nền cục bộ từng khu vực,… Dẫn đến tình trạng ngập lụt cục bộ và diện rộng trong đô thị, khó kết nối về

hạ tầng kỹ thuật đô thị, không đồng bộ hạ tầng Bộ mặt đô thị tại các khu vực đô thị hóa, nhất là tại các vùng ven không có gì đặc sắc, đặc trưng cho từng vùng mà chỉ là hình thức nhà cửa lan tỏa từ nội thành ra

Thành phố Hồ Chí Minh liên tục phát triển nhanh chóng và dự báo trở thành một siêu đô thị với dân số khoảng 10 triệu người trong tương lai [6] Tuy nhiên, phần lớn đất đai của thành phố là những vùng trũng thấp (hơn 50% diện tích đất của thành phố có cao trình thấp hơn 2m so với mực nước biển) và dự báo diện tích các khu vực trũng thấp sẽ tăng lên do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Sự phát triển nhanh chóng, liên tục của thành phố đã tác động đáng kể đến các mô hình phát triển

đô thị và tình hình phát triển các KĐTM, thành phố đang phải đối mặt với nhiều thách thức gay gắt, tiềm ẩn nguy cơ phát triển không bền vững

Xuất phát từ thực trạng nêu trên và đòi hỏi của tiến trình phát triển đô thị

hướng đến bền vững trong tương lai, đề tài “ Phát triển các Khu đô thị mới tại thành phố Hồ Chí Minh theo hướng bền vững” được NCS chọn làm luận án tiến

sĩ chuyên ngành quy hoạch vùng và đô thị

2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Hệ thống hóa các tiêu chí phát triển đô thị bền vững, phân tích định hướng

phát triển đô thị Tp.HCM dựa trên hệ thống các tiêu chí phát triển đô thị bền vững

và đề xuất cấu trúc phát triển KĐTM;

Trang 16

- Xây dựng các nguyên tắc, giải pháp quy hoạch KĐTM theo hướng bền vững;

- Đề xuất khung tiêu chí đánh giá mức độ bền vững KĐTM nhằm góp phần cải

thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống trong các KĐTM hướng đến bền vững, đồng thời cùng góp phần vào sự phát triển đô thị Tp.HCM hướng đến bền vững

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung:

- Các KĐTM tại Tp HCM;

- Các luận điểm, tiêu chí về PTĐTBV; Các nguyên tắc, giải pháp QH theo hướng bền vững; Công cụ đánh giá tính bền vững của đô thị, các tiêu chí, chỉ số đánh giá

Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian địa bàn: Luận án nghiên cứu tập trung vào các KĐTM trên

địa bàn Tp.HCM, xét trên phạm vi tổng thể của đô thị Tp.HCM

- Về thời gian: đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050

4 Về nội dung nghiên cứu: Bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

- Đối với nội dung về phát triển đô thị bền vững:

• Tập trung phân tích các luận điểm, lý luận, mô hình và những xu hướng trên thế giới hướng đến phát triển đô thị bền vững, tổng hợp và hệ thống hóa hệ thống tiêu chí phát triển ĐTBV nhằm hỗ trợ cho quy hoạch đô thị hướng đến phát triển bền vững

- Đối với nội dung đề xuất cấu trúc KĐTM trong QH tổng thể Tp.HCM

• Dựa trên định hướng QH chung Tp.HCM và QH vùng Tp.HCM

• Đánh giá thực trạng sự hình thành và phát triển các KĐTM trong cấu trúc tổng thể đô thị Tp.HCM

• Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển đô thị, sự hình thành các KĐTM trong cấu trúc đô thị

• Đề xuất hình thành phát triển các KĐTM trong cấu trúc đô thị Tp.HCM theo hệ thống tiêu chí PTĐTBV

Trang 17

- Đối với vấn đề phát triển các KĐTM:

• Làm rõ thực trạng những hạn chế trong quá trình phát triển các KĐTM tại Tp.HCM

• Phân tích các cơ sở khoa học và thực tiễn về cơ sở hình thành, các yếu tố tác động đến việc hình thành KĐTM, nhận định rõ chức năng, vai trò, quy mô, và đặc biệt là mối quan hệ giữa các KĐTM với cấu trúc phát triển chung đô thị Tp

- Đối với nội dung phát triển KĐTM theo hướng bền vững,

• Phân tích các yếu tố liên quan của KĐTM hướng đến tính bền vững

• Phân tích và tổng hợp các lý luận, mô hình phát triển đô thị, KĐT và kinh nghiệm thực tiễn về quy hoạch theo hướng bền vững

• Đề xuất các nguyên tắc, giải pháp QH KĐTM theo hướng bền vững

- Đối với nội dung xây dựng khung đánh giá mức độ bền vững của KĐTM

• Tổng hợp những yếu tố liên quan đến KĐTM theo hướng bền vững

• Đề xuất xây dựng khung tiêu chí đánh giá mức độ bền vững cho KĐTM

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa về mặt khoa học: Bổ sung, hoàn thiện các lý luận về phát triển đô thị

bền vững; Hệ thống hóa hệ thống tiêu chí phát triển đô thị bền vững góp phần vào nghiên cứu phát triển đô thị

- Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Tài liệu tham khảo cho các cấp chính chính quyền,

nhà quy hoạch, các bên liên quan trong quá trình lập, xét duyệt, thực thi, phát triển các KĐTM; Tài liệu hỗ trợ cho công tác nghiên cứu, đào tạo lĩnh vực QHĐT

6 Những đóng góp mới của luận án

• Hệ thống hóa hệ thống tiêu chí PTĐTBV, làm cơ sở, công cụ hỗ trợ quy hoạch

đô thị hướng đến PTBV

• Đánh giá làm rõ thực trạng phát triển các KĐTM tại Tp.HCM Nhìn nhận KĐTM với vai trò, tính chất, chức năng, và mối tương quan trong cấu trúc đô thị Tp.HCM

Trang 18

• Tổng hợp những lý luận, mô hình, nguyên tắc,… phát triển đô thị hướng đến phát triển đô thị bền vững

• Đề xuất phát triển các KĐTM trong cấu trúc tổng thể đô thị Tp.HCM dựa trên định hướng phát triển

• Xây dựng các nguyên tắc, giải pháp quy hoạch KĐTM hướng đến phát triển bền vững trong tương lai

• Đề xuất xây dựng khung tiêu chí đánh giá mức độ bền vững KĐTM

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm có 4 chương chính sau:

Chương 1: Tổng quan về phát triển đô thị bền vững và phát triển các KĐTM

tại Tp.HCM Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và những cơ sở khoa học

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Bàn luận

Trang 19

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU ĐÔ THỊ MỚI TẠI TP.HCM

1.1 Khái niệm về phát triển bền vững (PTBV) và tầm quan trọng của PTBV

1.1.1 Sự xuất hiện của mô hình phát triển bền vững

Mô hình PTBV đặc trưng cho một hướng tiếp cận mới của các nhà hoạt động môi trường, tìm cách hàn gắn những giá trị sinh thái, xã hội và kinh tế của sự phát triển, ở hiện tại và cả trong tương lai với tầm nhìn toàn cầu PTBV ủng hộ hình thức phát triển trong giới hạn của trái đất, mang tính công bằng xã hội và toàn diện về mặt kinh tế Nó không chỉ tập trung vào sự phát triển của cá nhân mà còn tập trung vào việc bảo vệ tương lai chung của nhân loại Nhiều mô hình mới về “sự phát triển” xuất hiện, thúc đẩy sự thay đổi xã hội với mục tiêu đáp ứng nhu cầu vật chất

và phi vật chất của con người, thúc đẩy công bằng xã hội, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức và nâng cao năng lực và công nghệ nhằm hướng đến sự bền vững [36] Mục tiêu của sự bền vững là bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên mà những thế hệ tương lai đang phải phụ thuộc

Mô hình PTBV không chỉ hướng đến việc bảo vệ môi trường mà còn tạo ra xã hội sinh thái, sống hòa hợp với thiên nhiên Điều này đồng nghĩa với việc đem những hoạt động kinh tế, tiến trình xã hội và bảo vệ môi trường xích lại gần nhau hơn Trong mô hình này con người không hủy diệt thiên nhiên để phát triển và theo hướng tiếp cận này, PTBV là một mục tiêu đáng ao ước và rất khó để phủ nhận ý tưởng này [69]

Tuy nhiên, có nhiều mô hình PTBV khác nhau và không phải tất cả chúng đều tương thích với nhau Điều này do sự khác biệt trong việc diễn giải khái niệm PTBV và những yếu tố tạo thành một tương lai bền vững (Redclift và Woodgate, 1997)[36]

1.1.2 Mô hình PTBV của Brundtland

Khái niệm PTBV bắt đầu chiếm ưu thế trong các cuộc thảo luận về chính sách môi trường từ những năm thập niên 80 trở lại đây, khi mà phong trào bảo vệ môi

Trang 20

trường thế giới mới bắt đầu được khởi xướng Các định nghĩa rộng rãi nhất được biết đến phát triển bền vững xuất phát từ Ủy ban Brundtland, năm 1987, trong báo

cáo “Tương lai của chúng ta”, trong đó xác định phát triển bền vững là “phát triển đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng nhu cầu riêng của họ.” [37]

Theo sau vai trò chủ đạo trong báo cáo Brundtland, khái niệm PTBV xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều trong các nghiên cứu chuyên ngành và các báo cáo của Chính phủ các nước Mô hình PTBV của Brundtland đã chính thức đưa các vấn đề môi trường vào khái niệm phát triển Hiện nay, nó đã có đủ tư cách pháp lý và trở thành nguyên tắc định hướng cho sự phát triển kinh tế và xã hội

1.1.3 Quan điểm về phát triển bền vững của các tổ chức thế giới

Hiện nay, con số tổ chức quốc tế quan tâm đến PTBV đang ngày càng gia tăng, bao gồm: Cao ủy Châu Âu (European Union), Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) và Ngân hàng thế giới (World Bank) (Lafferty và Meadowcroft, 2000) Chính quyền quốc gia, cơ quan chính phủ các cấp và nhiều nhóm hoạt động trong lĩnh vực dân sự cũng như kinh tế đã có những cam kết thực hiện đối với các mục tiêu này Báo cáo Brundtland đã xác nhận việc thúc đẩy PTBV là một nhiệm

vụ đa ngành, xuyên suốt nhiều lĩnh vực chính sách như phát triển kinh tế, thương mại, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch đô thị, bảo vệ môi trường, chính sách năng lượng, nông nghiệp và công nghiệp

Cao ủy Liên hiệp quốc đóng vai trò chủ đạo trong việc kết nối với mô hình PTBV và đã tổ chức nhiều Hội nghị Thế giới như Hội nghị 1992 ở Rio de Jainero (thường được biết với tên gọi Rio Earth Summit), và gần đây là Hội nghị Thế giới

về PTBV tổ chức năm 2002 tại Johannesburg (WSSD) Bản tuyên cáo Rio đã thiết lập các thể chế, nguyên tắc và đề xuất các biện pháp giải quyết các vấn đề liên quan đến đạo đức như công bằng giới, công bằng xã hội và công bằng giữa các thế hệ

Nó cũng chi tiết hóa những nguyên tắc quản trị cần thiết cho việc thực hiện PTBV ở quy mô toàn xã hội, quy mô cơ quan và thể chế chính trị,… chính điều này đã làm

rõ nghĩa của PTBV Những hội nghị này dẫn đến sự hình thành các hiệp ước môi trường như: Khung Hiệp định về Thay đổi khí hậu toàn cầu của LHQ; Nghị định

Trang 21

thư Kyoto và Hiệp ước về Tính Đa dạng sinh học và các tổ chức như Tổ chức Môi trường và Phát triển của Phụ nữ, Hội đồng Thương mại Quốc tế về PTBV,…

PTBV là một khái niệm động với ba cực: kinh tế, xã hội và sinh thái (Ekins 2000) PTBV không phải là trạng thái cuối cùng, cũng không phải là sự thiết lập một cấu trúc tĩnh hay xác định những giá trị cố định của đời sống kinh tế, xã hội và chính trị [36] Do đó, việc sử dụng cụm từ “thúc đẩy PTBV” thay vì “đạt được PTBV” Việc thúc đẩy PTBV là một tiến trình liên tục, trong đó, mục tiêu sẽ thay đổi theo thời gian, không gian, địa điểm và trong những bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội khác nhau Hiểu PTBV theo cách động này có thể giúp chúng ta nhận ra những viễn cảnh mới cho xã hội Sự thúc đẩy PTBV là dự đoán những phương án tương lai và thông qua việc thay đổi hệ giá trị và thái độ, cải tiến chính sách, chuyển hóa xã hội, tái cấu trúc nền kinh tế để đảm bảo một tương lai bền vững Dĩ nhiên, các mục tiêu này sẽ rất khác nhau trong những xã hội khác nhau (theo thời gian và không gian) nhưng chúng cùng chia sẻ một số điểm chung Một trong số đó là hệ sinh thái khỏe mạnh Nó cũng bao gồm việc gắn chặt với các nguyên tắc quy chuẩn và sự chấp nhận những hướng dẫn về những điều tạo nên các

ví dụ thực thi quản lý tốt

Ngoài ra, PTBV còn được định nghĩa bởi các tổ chức quốc tế như: Chương

trình môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP) “PTBV là quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân loại trong phạm vi đáp ứng được của các hệ sinh thái”; Ngân hàng thế giới (World Bank) “PTBV chính là sự duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người về mặt xã hội, kinh tế, môi trường trong giới hạn khả năng chịu tải của các hệ sinh thái dịch vụ và cơ sở tài nguyên của môi trường, nghĩa là vẫn đảm bảo tính bền vững của môi trường”; Viện nghiên cứu về môi

trường và phát triển (International Institute for environmental and development –

IIED) “Phát triển bền vững là một quá trình dàn xếp, thoả hiệp giữa các hệ thống kinh tế, tự nhiên và xã hội”, tức là PTBV phải đảm bảo 3 mục tiêu kinh tế, xã hội và

môi trường hài hòa với nhau…

Từ những khái niệm trên có thể thấy rằng, về bản chất PTBV là một quá trình biến đổi mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường nhằm tạo ra sự

Trang 22

tối ưu nhất trong tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người mà không làm tổn hại đến hệ các sinh thái và môi trường trong hiện tại cũng như trong tương lai Tổng quát hơn, phát triển bền vững chính là một quá trình liên tục cân bằng và hoà nhập các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Nó đảm bảo sự trường tồn của nhân loại Chính vì vậy, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến lược cho toàn cầu, cho từng quốc gia, từng khu vực cũng như cho từng đô thị Các quốc gia có hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội khác nhau sẽ sử dụng các chỉ số khác nhau để thể hiện các yêu cầu PTBV của mình

Tuy nhiên, yêu cầu xuyên suốt trong xây dựng chỉ số PTBV là tìm đến các tiêu chí, tiêu chuẩn tạo sự phát triển cân bằng giữa con người và vật thể gồm con người và tạo hóa, con người và con người, con người và môi trường

- Chương trình nghị sự quốc gia về PTBV và đường lối chỉ đạo xây dựng chỉ tiêu PTBV của Việt Nam

Luật Bảo Vệ Môi Trường 2005 của nước ta nhìn nhận: “Phát triển bền vững

là phát triển đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Bên cạnh đó, Việt Nam hưởng ứng chiến lược phát triển bền vững bằng

hàng loạt các sự kiện lớn, thể hiện rõ trong chương trình nghị sự quốc gia về định

hướng, thể hiện bằng hàng loạt hệ thống các quan điểm cụ thể: “Bảo vệ môi trường

là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng để đảm bảo phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và

“Phát triển KTXH gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”

Trong khuôn khổ dự án hỗ trợ xây dựng Agenda 21 của Việt Nam triển khai tại Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư trong giai đoạn 2005-2007, bộ chỉ tiêu PTBV đã được xây dựng Về nguyên tắc xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV của Việt nam là sự kết hợp

Trang 23

của ba bộ chỉ tiêu: (i) Bộ 58 chỉ tiêu do Liên Hợp Quốc khuyến nghị; (ii) Bộ chỉ tiêu

trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010; (iii) Bộ chỉ tiêu trong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo[24] Bộ chỉ tiêu tập trung 4

nhóm chỉ số thuộc 4 lĩnh vực: (i) Lĩnh vực kinh tế: gồm 14 chỉ tiêu; (ii) Lĩnh vực xã hội: gồm 23 chỉ tiêu; (iii) Lĩnh vực tài nguyên – môi trường: gồm 13 chỉ tiêu; (iv) Lĩnh vực thể chế (thực hiện PTBV): gồm 5 chỉ tiêu

1.2 Khái niệm về đô thị bền vững và hệ thống tiêu chí phát triển ĐTBV

1.2.1 Khái niệm về đô thị bền vững (ĐTBV)

Cho đến này, chưa có một khái niệm thống nhất về đô thị bền vững và cũng rất khó để đưa ra được một định nghĩa hay hệ khái niệm được coi là thống nhất về phát triển đô thị bền vững vì bản chất đa dạng và đa chiều của đối tượng nghiên cứu

Theo từ điển Wikipedia, một thành phố bền vững hay thành phố sinh thái là một

thành phố được thiết kế có xem xét tác động môi trường, nơi sinh sống của người dân

để giảm thiểu các yếu tố đầu vào yêu cầu về năng lượng, nước và thực phẩm, và sản lượng chất thải nhiệt, không khí ô nhiễm – CO2, khí mê-tan, và nước thải…

Richard là người đầu tiên đặt ra những thuật ngữ “ecocity” trong cuốn sách

Ecocity Berkeley(1987) của ông: “ Tp xây dựng cho một tương lai lành mạnh”

Theo Paul F Downton - Kiến trúc sư, Nhà lý luận về đô thị bền vững với thiết

kế điển hình khu Christie Walk ở Adelaide, Australia (đạt giải thưởng môi trường

sống thế giới 2005) nhìn nhận “Một thành phố bền vững có thể nuôi sống mình với

sự phụ thuộc tối thiểu về các vùng nông thôn xung quanh, và quyền lực chính nó với các nguồn năng lượng tái tạo” Điểm mấu chốt của việc này là để tạo ra nhỏ nhất

có thể có dấu chân sinh thái, và mức ô nhiễm gây ra là thấp nhất, hiệu quả sử dụng đất tốt nhất; vật liệu được sử dụng tái chế hay chuyển đổi chất thải thành năng lượng, và do đó tác động của toàn thành phố đến thay đổi khí hậu sẽ được tối thiểu

Wheeler(1998), xác định “phát triển ĐTBV là cải thiện y tế và sinh thái xã hội dài hạn của thành phố.” Với phác họa tính năng của một thành phố bền vững: sử

dụng đất nhỏ gọn hiệu quả, ít sử dụng ô tô, nhưng vẫn tiếp cận tốt hơn, sử dụng hiệu

Trang 24

quả tài nguyên, ô nhiễm và chất thải ít hơn; sự phục hồi của hệ thống tự nhiên; nhà

ở và môi trường sống tốt; một xã hội lành mạnh sinh thái; một nền kinh tế bền vững; sự tham gia của cộng đồng và bảo tồn văn hóa địa phương.[40]

1.2.2 Quan niệm về phát triển đô thị bền vững trên thế giới và Việt Nam

Quan niệm về phát triển đô thị bền vững (PTĐTBV) cũng đang là vấn đề tranh luận trên nhiều diễn đàn hội nghị của các tổ chức quốc tế và các trung tâm nghiên cứu về đô thị trên thế giới, cụ thể:

- Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) – năm 1990: Đô thị

là những hệ sinh thái nhân tạo không khép kín, môi trường và cuộc sống của các đô thị có quan hệ mật thiết với vùng ngoại vi và các vùng phụ cận để trao đổi nguồn năng lượng, các dạng vật chất và thông tin Bản thân các ĐT tiêu thụ nhiều tài nguyên hơn so với trữ lượng hiện có trong phạm vi lãnh thổ của chúng, tiêu thụ nhiều lương thực – thực phẩm hơn so với sản lượng mà chúng có thể sản xuất và tạo

ra nhiều chất thải hơn khả năng hấp thụ của vùng Tuy nhiên, các đô thị có thể góp

phần quan trọng trong việc tạo ra một thế giới bền vững, nếu các hành động của chúng

có tính đến các chi phí môi trường và chiến lược phát triển bền vững về tiêu thụ năng lượng, rác thải, phát triển giao thông, mối quan hệ của chúng tới các vùng

- Trung tâm về định cư con người của Liên Hợp Quốc (The UN Centre for

Human Settlements): Trong chương trình nghiên cứu về các thành phố bền vững, đã nhận xét: “Một thành phố bền vững khi nó đã đạt được sự thiết lập khuôn khổ về phát triển các khía cạnh tự nhiên, kinh tế và xã hội Khuôn khổ đó phù hợp với những nguồn tài nguyên thiên nhiên mà chúng phát triển bị phụ thuộc và khuôn khổ này cũng bảo vệ, tránh những rủi ro từ môi trường có thể đe dọa đến những mục đích phát sinh Việc qui hoạch và quản lí phát triển thành phố bền vững đòi hỏi sự thỏa thuận và hợp tác hành động của mọi thành phần xã hội: nhà nước, tư nhân và cộng đồng, mọi cấp độ: địa phương, thành phố và quốc gia”

- Hội nghị đô thị 21 (tại Berlin, tháng 7/2000): Hội nghị toàn cầu về tương

lai Đô thị 21 đã đưa ra quan niệm đô thị bền vững như sau:“Nâng cao chất lượng cuộc sống ở thành phố, bao gồm các điều kiện về sinh thái, văn hóa, chính trị, tôn

Trang 25

giáo, kinh tế và xã hội, nhưng không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của thế hệ tương lai Như là làm giảm nguồn vốn tự nhiên và mang lại nợ nần Nhiệm vụ của chúng ta là phải đưa ra các nguyên tắc, cơ sở trong sự thống nhất về sử dụng các nguồn tài chính, vật chất và năng lượng mang tính quyết định trong tương lai đối với những vùng đô thị” Cụ thể đề xuất 7 vấn đề chính hướng đô thị phát triển bền vững: (i) Một nền kinh tế đô thị phát triển bền vững; (ii) Một xã hội đô thị phát triển bền vững; (iii) Nhà ở đô thị phát triển bền vững; (iv) Môi trường đô thị phát triển bền vững; (v) Tiếp cận đô thị phát triển bền vững; (vi) Cuộc sống đô thị phát triển bền vững; (vii) Nền dân chủ đô thị phát triền bền vững

- Hội thảo thành phố bền vững tại Nam Phi Đánh giá: “Không có thành

phố nào có thể tự bền vững chỉ với những nguồn tài nguyên có trong ranh giới của

nó Sự phát triển bền vững của thành phố và những khu vực nông thôn là do sự đáp ứng các nhu cầu phát triển của dân cư phù hợp, không làm tổn hại tới sự bền vững của những nguồn tài nguyên thiên nhiên và các hệ thống của địa phương và của toàn cầu”

- Theo Viện Môi Trường Stockholm của Thụy Điển: Một thành phố bền

vững có thể được định nghĩa là "một thành phố tại đó tiến hành các hành động được

đề ra bởi các chính sách kế hoạch nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên sẵn có và thực hiện tái sử dụng, ổn định xã hội, phát triển các nguồn vốn chủ sở hữu, đảm bảo phát triển kinh tế cho các thế hệ tương lai"

- Quan điểm về PTĐTBV tại Việt Nam:

+ Theo Viện Quy Hoạch Đô Thị - Nông Thôn - Bộ Xây Dựng (Dự án VIE), nhìn nhận PTĐTBV tập trung giải quyết các vần đề sau: Phát triển kinh tế đô thị ổn định, tạo công ăn việc làm cho dân cư đô thị, đặc biệt cho người có thu nhập thấp, người nghèo đô thị; Đảm bảo đời sống vật chất văn hóa tinh thần, giữ gìn bản sắc truyền thống dân tộc, đảm bảo công bằng xã hội; Tôn tạo, giữ gìn và bảo vệ môi trường đô thị luôn xanh, sạch, đẹp với đầy đủ ý nghĩa vật thể và phi vật thể đô thị + Theo Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam (Ashui), định nghĩa về

PTĐTBV: Đó là“Mối quan hệ hữu cơ, mật thiết giữa: A) Kinh tế đô thị; B) Văn hóa xã

Trang 26

hội đô thị; C) Môi trường-Sinh thái đô thị; D) Cơ sở hạ tầng đô thị và E) Quản lý đô thị”

+ Bên cạnh đó, một số chuyên gia trong lĩnh vực đô thị nhìn nhận về PTĐTBV như: Theo PGS – TS Tôn Nữ Quỳnh Trân thì “PTĐTBV là một tiến trình qua đó các thành viên của đô thị làm tăng được khả năng của cá nhân và của các thiết chế của mình như cơ cấu, luật lệ, tập quán và giá trị hình thành thái độ và mối quan hệ của con người trong xã hội, để huy động và quản lý các nguồn lực tạo ra những thành quả bền vững và được phân phối công bằng nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với cuộc sống của họ”; PGS – TS Nguyễn Minh Hòa, “Một đô thị được coi là phát triển bền vững thì mọi người phải được bình đẳng trong khi tiếp cận các cơ hội như giáo dục, chăm sóc sức khỏe, tìm kiếm việc làm, cải thiện đời sống, cư trú Những người thuộc nhóm yếu thế hay “dễ tổn thương” như người già cô đơn, trẻ em mồ côi, phụ nữ đơn thân, đông con, người tật nguyền phải được quan tâm đúng mức Mọi người trong xã hội phải được bảo đảm bằng các loại quỹ phúc lợi xã hội để không bao giờ bị rơi xuống đáy xã hội trở thành tội phạm hay tự tử”; Theo Giáo sư - Tiến sĩ (GS-TS) Nguyễn Lân, Tổng thư ký Hiệp hội Các đô thị Việt Nam cho rằng, một đô thị phát triển bền vững phải đảm bảo có 3 yếu tố bền vững: kinh tế, xã hội

và môi trường Ông viện dẫn 4 tiêu chí của một TP phát triển bền vững trong cơ chế

thị trường do Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra là cạnh tranh tốt, cuộc sống tốt, tài chính lành mạnh và quản lý tốt để phân tích cho nhận định của mình Trong đó cạnh

tranh tốt, yếu tố rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường; tài chính lành mạnh có

ý nghĩa quyết định đến sự phát triển ổn định và bền vững; quản lý tốt là hoạt động điều hành đô thị hiệu quả với đội ngũ cán bộ “có tâm và có tầm”…

1.2.3 Hệ thống tiêu chí PTĐTBV

- Tính bền vững đô thị

Khái niệm về tính bền vững xuất phát từ lĩnh vực môi trường, sinh thái được đưa vào lĩnh vực kinh tế và đã được áp dụng cho phát triển đô thị Tính bền vững của đô thị được xem như là một trạng thái mong muốn của các đô thị, thường được đặc trưng bởi các vấn đề như vốn chủ sở hữu liên thế hệ, vốn chủ sở hữu trong các

Trang 27

thế hệ, bảo vệ môi trường tự nhiên, sử dụng tối thiểu nguồn tài nguyên không tái tạo, sức sống kinh tế và sự đa dạng, cộng đồng tự chủ, hạnh phúc cá nhân và sự hài lòng của con người về các nhu cầu cơ bản,… [36]

Tính bền vững của đô thị có thể được hiểu như là năng lực của một thành phố

để tạo ra và duy trì điều kiện môi trường sống lành mạnh, hấp dẫn, an toàn, hài hòa,

và có chất lượng cao, tôn trọng môi trường sinh thái tự nhiên và hệ thống hỗ trợ nó Hay đó là “Sự thiết lập khuôn khổ về phát triển các khía cạnh tự nhiên, kinh tế và xã hội Khuôn khổ đó phù hợp với những nguồn tài nguyên thiên nhiên ” Tính bền vững của đô thị cũng sẽ mất khi sự phát triển nội tại của nó vượt quá “Tải trọng” cho phép hoặc mất các quan hệ bền vững với các vùng ngoài đô thị mà nó chịu ảnh hưởng.[36]

PTĐTBV và tính bền vững của đô thị ngày nay ảnh hưởng rất nhiều đến các nhà hoạch định chính sách Sự phát triển của các đô thị và tính bền vững của nó có mối quan hệ hữu cơ tương ứng với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của các vùng, địa phương

Nhóm tiêu chí của Ngân hàng Thế giới ( World Bank): bao gồm 04 tiêu chí

như: Cạnh tranh tốt; Cuộc sống tốt; Tài chính lành mạnh; Quản trị tốt

Nhóm tiêu chí Thành phố bền vững về môi trường của các nước ASEAN: tập

trung xây dựng chương trình, kế hoạch bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, thông qua các chỉ số: không khí sạch, nước sạch, đất sạch

Nhóm tiêu chí của mạng khảo sát chất lượng cuộc sống Mercer: đánh giá hàng

năm tại 420 thành phố hàng đầu thế giới, dựa trên 39 chỉ tiêu đánh giá, chia thành 10 nhóm chính: Môi trường chính trị - xã hội; Môi trường kinh tế; Môi

Trang 28

trường văn hóa - xã hội; Y tế và sức khỏe; Giáo dục và trường học; Dịch vụ công và vận chuyển; Giải trí; Sản phẩm tiêu dùng; Nhà ở; Môi trường tự nhiên

Bộ tiêu chí đánh giá thành phố sống tốt (alivible city): Nhóm yếu tố về cơ sở

hạ tầng và môi trường đô thị; Nhóm yếu tố về môi trường sống đô thị; Nhóm yếu tố phát triển bản thân con người; Nhóm yếu tố quản lý

Bộ tiêu chí phát triển ĐTBV thuộc chương trình “Thiên niên kỷ 21”: Trong chuyên đề nghiên cứu về “Phân tích chính sách đô thị hoá trong quá trình đô thị hoá tác động đến phát triển bền vững ở Việt Nam”, do chương trình hỗ trợ

phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) tài trợ, đã đề xuất mười nhóm tiêu chí bền vững trong quá trình đô thị hóa

Bộ tiêu chí kiến nghị của Hội đồng Phát triển bền vững của Liên hợp quốc (UN CSD): Mục tiêu chính của UN CSD là xây dựng các chỉ tiêu phát triển

bền vững phục vụ việc hoạch định chính sách tầm quốc gia Các chỉ tiêu này bao gồm 15 chủ đề và 38 chủ đề nhánh được xây dựng nhằm cung cấp thông tin cho các quốc gia trong việc hướng tới PTBV

Bộ tiêu chí ở Anh: Đề án phát triển bền vững địa phương (Local Agenda 21)

được chính phủ Anh khởi xướng và dẫn dắt năm 1997, dựa trên nguyên tắc của PTBV do Brundtland, gồm 4 nguyên tắc chính: (1) Tiến bộ xã hội trong

đó thừa nhận nhu cầu của tất cả mọi người; (2) Bảo vệ môi trường một cách hiệu quả; (3) Sử dụng các nguồn lực tự nhiên một cách thận trọng; (4) Duy trì tăng trưởng kinh tế và việc làm ở mức cao và ổn định

Bộ tiêu chí ở Mỹ: Một mô hình đáng chú ý là của thành phố Minneapolis, tiểu

bang Minnesota Năm 2003, chính quyền thành phố này thông qua nghị quyết 2003R-133 về kế hoạch phát triển thành phố bền vững và sử dụng các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển bền vững của thành phố Các tiêu chí này được chia thành 3 nhóm chính: (1) Sức khỏe cuộc sống; (2) Tác động môi trường; (3) Sinh tồn của cộng đồng

Bộ tiêu chí Tp.HCM Xã hội chủ nghĩa, văn minh, hiện đại do Viện nghiên cứu

phát triển thành phố xây dựng, gồm những nhóm tiêu chí về các lĩnh vực như:

Trang 29

Môi trường chính trị và quản lý nhà nước (6 tiêu chí), môi trường kinh doanh (5 tiêu chí), môi trường văn hóa xã hội (4 tiêu chí), môi trường y tế và giáo dục (2 tiêu chí), môi trường đô thị (2 tiêu chí), môi trường tự nhiên (2 tiêu chí)

Bộ tiêu chí PTĐTBV thuộc chương trình “Thiên niên kỷ 21” do chương trình

hỗ trợ phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) tài trợ, đã đề xuất mười nhóm tiêu chí bền vững trong quá trình ĐTH tại Việt Nam: (1) Phân bố và quy hoạch đô thị phù hợp với các vùng địa lý và điều kiện sinh thái tự nhiên, bảo

vệ môi trường; (2) Nền kinh tế đô thị phát triển ổn định và bền vững nhằm tạo nhiều việc làm đô thị ổn định, bền vững cho mọi thành phần kinh tế và mọi người dân đô thị; (3) Trình độ dân trí đô thị và nguồn lực phát triển đủ mạnh; (4) Trình độ quản lý phát triển đô thị đủ mạnh và bền vững; (5) Dịch vụ đô thị đáp ứng yêu cầu cuộc sống đô thị ngày càng cao; (6) Cơ sở hạ tầng xã hội đô thị đầy đủ, ổn định và phát triển bền vững; (7) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đầy đủ, ổn định và phát triển bền vững; (8) Lồng ghép quy hoạch môi trường trong quy hoạch đô thị; (9) Huy động sự tham gia của cộng đồng người dân đô thị trong công tác quy hoạch, phát triển và quản lý đô thị; (10) Hợp tác, phối hợp điều hành Vùng hợp lý, hiệu quả, cùng có lợi và cùng phát triển

1.2.4 Tổng hợp quan điểm chung về PTĐTBV và hệ thống tiêu chí PTĐTBV

Nhìn tổng quan, PTĐTBV luôn đồng hành với PTBV, theo ý nghĩa này PTĐTBV không bó hẹp là nhiệm vụ của các nhà quy hoạch mà cần mở rộng hơn đối với nhiều lĩnh vực PTĐTBV cần sự phối hợp phát triển đa nghành, đa cấp và của cộng đồng dân cư PTĐTBV thể hiện một cách thức suy nghĩ và một hướng giải quyết về quá trình phát triển đô thị mà trong đó việc xây dựng các đô thị sẽ được diễn giải trên cơ sở duy trì những hiểu biết về phát triển kinh tế, văn hóa và bảo vệ môi trường Dù xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng tất cả đều có cùng một

quan điểm về mục tiêu con người, là phát triển vì chất lượng sống của con người,

để cho con người sống xứng đáng với cuộc sống vô cùng quý báu của chính họ và cũng để bảo đảm cho chất lượng sống của các thế hệ tương lai

Trang 30

Trên cơ sở tổng hợp các nhóm tiêu chí phát triển bền vững của đô thị Có thể nhận thấy, việc xây dựng các tiêu chí này gắn liền với nhu cầu và tình hình thực tế của địa phương, mỗi quốc gia, trải qua quá trình tham vấn, khảo sát kĩ lưỡng, Nội dung nghiên cứu của luận án trên cơ sở tổng hợp các nhóm tiêu chí PTĐTBV kết hợp với tính bền vững của đô thị sẽ phân tích và hệ thống hóa các tiêu chí thành những nhóm rõ ràng theo những nhận định, khái niệm về PTĐTBV và tính bền vững của đô thị, cụ thể: (1) nhóm thuộc tính về đô thị lành mạnh, (2) nhóm thuộc tính về đô thị hấp dẫn, (3) nhóm thuộc tính về đô thị an toàn, và (4) nhóm thuộc tính về đô thị hiệu quả, công bằng

+ Nhóm thuộc tính về đô thị lành mạnh: kết hợp các tiêu chí liên quan đến chất

lượng môi trường đô thị, cấu trúc đô thị, sự cung cấp cơ sở hạ tầng trong đô thị, và khả năng tự cung tự cấp của hệ thống đô thị ở cấp địa phương

+ Nhóm thuộc tính về đô thị hấp dẫn: xem xét môi trường sống và chất lượng

không gian đô thị thông qua các tiêu chí như khả năng tiếp cận với các dịch

vụ, chất lượng của không gian công cộng, tính hấp dẫn của thành phố và cảnh quan đô thị

+ Nhóm thuộc tính về đô thị an toàn: xem xét mức độ an toàn trong bối cảnh

thành phố và phân tích an toàn của con người như quyền sử dụng đất, an ninh,

việc làm, tình trạng nghèo đô thị và những rủi ro trong tương lai

+ Nhóm thuộc tính về đô thị hiệu quả, công bằng: liên quan đến năng lực thể

chế, các chỉ số phản ánh sự tồn tại và hiệu quả của các công cụ về chính sách, kinh tế, tài chính, văn hóa xã hội để quản lý và quản trị nguồn lực

1.3 Tổng quan về phát triển các KĐTM trên thế giới theo hướng bền vững

+ Tại Singapore, các nhà quản lý đô thị Singapore quan niệm "đô thị hóa là

quá trình tất yếu, chúng ta không nên lảng tránh mà phải xem đó là những thách thức cho các doanh nghiệp tạo dựng nên hình ảnh đô thị thịnh vượng, sống tốt nhưng vẫn phải đảm bảo yếu tố bền vững với thời gian”[30] Do đó, quy hoạch sáng tạo, thiết kế thông minh và phát triển bền vững là bài học thực tiễn quý giá của

Trang 31

Singapore trong phát triển đô thị cũng như hình thành các KĐTM Do tập trung

phát triển ngành công nghiệp sạch và các dịch vụ đô thị nên Singapore xây dựng các KĐTM xung quanh các khu công nghiệp, kết hợp các khu dịch vụ đô thị,… theo phương châm “sống - làm việc - vui chơi” Mục đích là để giảm chi phí đi

lại, tiết kiệm trong sinh hoạt và giải quyết lao động tại chỗ

QH các KĐTM khuyến khích sự đa dạng, phát triển toàn diện - tạo nên sự khác biệt và phong phú của KĐTM, làm nên cá tính của đô thị và làm cho mọi người sống gần gũi và tương tác lẫn nhau; Đưa thiên nhiên gần gũi với con người, tôn trọng thiên nhiên, hòa quyện thiên nhiên vào đô thị để giúp đô thị được “mềm hóa” các khía cạnh “thô cứng” của một khung cảnh đô thị đầy dẫy hàng loạt các cao ốc; Tối ưu hóa không gian công cộng, phát huy triệt để tiềm năng của không gian công cộng bằng cách kết hợp hiệu quả giữa các hoạt động thương mại và giải trí để mang lại sự hài lòng cho người dân; Ứng dụng giao thông xanh và kiến trúc xanh, ứng dụng chiến lược năng lượng thấp trong các tòa nhà, đồng thời phát triển hệ thống giao thông công cộng hiệu quả; Tạo cảm giác an toàn, ứng dụng thiết kế đô thị tiện lợi, dễ dàng tiếp cận và an ninh đô thị để người dân có cảm giác bình an và không phải lo lắng ngay cả khi “đi sớm về hôm”; Tạo nên khu dân cư có mức sống giá cả phải chăng để người dân có thể có niềm tin về một cuộc sống của thành phố sống tốt Các khu dân cư trong KĐTM của Singapore luôn có sự kết hợp của phát triển công cộng và tư nhân với đầy đủ các cơ sở vật chất giá cả phải chăng; Kết hợp chặt chẽ giữa các đối tác, tất cả các bên liên quan cần phải hợp lực cùng nhau để tìm

ra giải pháp sao cho không có những hậu quả đáng tiếc làm giảm chất lượng cuộc

sống của các bên liên quan Tại Singapore, hàng loạt KĐTM được xây dựng rất

đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật từ những năm 1980, nhiều hệ thống được xây dựng trước theo định hướng phát triển đáp ứng nhu cầu của tương lai Chính sách của Chính phủ Singapore nhằm cung cấp nhà ở cho mọi gia đình, tạo điều kiện cho họ làm chủ sở hữu căn nhà đó, thông qua Cơ quan phát triển nhà ở

+ Tại Hàn Quốc, trong những năm 1980, chính phủ ban hành “Luật đẩy mạnh

phát triển đất đai phục vụ cho nhà ở” để cung cấp đất đai cho mục đích nhà ở nhanh chóng trên quy mô rộng Nhiều dự án phát triển KĐTM được thực hiện theo Luật

Trang 32

này Tại đô thị Seoul, các KĐTM bao gồm Bundang, Ilsan và Sanbon được xây

dựng từ cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990 và các KĐTM Dongtan, Seongnam Pangyo, Suwon Y-eui, Osan, Asan đã được xây dựng liên tiếp trong những năm 2000 Năm 2005, Bộ xây dựng và giao thông Hàn Quốc đã tiến hành

một bước quyết định để giải quyết các vấn đề còn tồn tại bằng “Tiêu chuẩn quy

hoạch cho KĐTM bền vững” Tiêu chuẩn này bao gồm các tiêu chuẩn quy hoạch

đảm bảo tính bền vững về kinh tế; tính bền vững về mặt văn hóa, xã hội; tính bền vững về môi trường; quản lý và tạo dựng cảnh quan; phòng chống tội phạm và thảm họa.[12]

+ Tại Brazil, Chính sách của Thành phố Curitiba về phát triển các KĐTM: Ưu

tiên phát triển giao thông công cộng và bộ hành, coi đường xe đạp và khu đi bộ là

bộ phận cấu thành hữu cơ của mạng lưới đường sá và hệ thống giao thông công cộng trong các KĐTM Với chiến lược sử dụng đất phức hợp kết hợp với giao thông công cộng, tầm nhìn dài hạn là xây dựng hệ thống giao thông công cộng tích hợp

+ Tại Trung Quốc, các KĐTM phát triển nhanh chóng do nền kinh tế phát

triển mạnh mẽ và nhu cầu về nhà ở của nhân dân tăng cao Cùng với chủ trương phát triển, Trung quốc thực hiện ba phương thức cung cấp nhà ở: Nhà ở có tiêu chuẩn cao và khá cao được xây dựng phục vụ mục đích kinh doanh, bán cho các đối tượng có thu nhập cao; Nhà ở thích hợp xây dựng phù hợp với điều kiện kinh tế của các gia đình có thu nhập vừa và thấp; Nhà cho thuê với giá rẻ, xây dựng phục vụ cho các đối tượng nghèo với mức tiêu chuẩn khá thấp do Nhà nước quản lý Ngoài

ra, Nhà nước còn mở rộng, phát triển và cải thiện công tác lưu thông tiền vốn nhà ở, kéo dài thời hạn cho vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi giúp người dân vay vốn mua nhà ở, đồng thời quản lý tốt giá cả, thúc đẩy, cải cách giá cho thuê nhà Hầu hết nhà

ở được xây dựng dưới dạng Chung cư cao từ 4 đến 30 tầng

+ Tại Nhật Bản, Tổng Công ty phát triển nhà và đô thị thực hiện khắc phục

tình trạng thiếu nhà ở tại các trung tâm đồng thời xúc tiến quá trình đổi mới đô thị nhằm tạo ra môi trường đô thị tốt với hình thức đa dạng Nhà nước Nhật Bản chủ trương đẩy mạnh xây dựng các KĐTM với nhà ở nhiều loại hình với sự phối hợp giữa chính quyền trung ương, địa phương và cộng đồng dân cư trên cơ sở những chương trình dài hạn và toàn diện, tạo cơ hội cho mọi người lựa chọn nhà ở phù hợp

Trang 33

với tình trạng và khả năng của mình, như: các khu đô thị có chất lượng tốt hoặc quy

mô lớn, có công năng sử dụng hợp lý, có môi trường sống theo tiêu chí phát triển bền vững; nhà ở cho thuê giá rẻ, nhà ở cho người ở xa gia đình, người già yếu, người khuyết tật Nhật Bản đã xây dựng những bộ luật và những quy ước hoạt động cho tất cả các thành viên trong khu ở cũng như các quy định cụ thể về trách nhiệm của từng đối tượng đối với phần tài sản trong nhà ở chung mà mình sở hữu, ban hành các biểu, bảng để kê khai, kiến nghị đề xuất tạo điều kiện thuận lợi cho người

sử dụng chung cư đề đạt các ý kiến của mình Tổ chức các Ban quản lý khu chung

cư trong đó các thành viên và cả Ban Giám đốc điều hành đều do hội nghị toàn thể các gia đình trong chung cư bầu ra, đồng thời quy định rõ về hoạt động và hạch toán của Ban này

1.4 Tổng quan về phát triển các KĐTM ở Việt Nam theo hướng bền vững

1.4.1 Khái niệm về KĐTM và các quy định liên quan

- Khái niệm:

+ Theo Luật Quy hoạch (06/2009): Khu đô thị mới là một khu vực trong đô thị, được đầu tư xây dựng mới đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở

+ Theo Nghị định của Chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị

số 42/2009/NĐ-CP ngày 05/10/2009 thay thế nghị định 72/2001/NĐ – CP ngày

05/10/2001: KĐTM là khu xây dựng mới có chức năng tổng hợp hoặc chuyên đề; được xây dựng tập trung theo dự án đầu tư phát triển hoàn chỉnh, đồng bộ kết cấu

hạ tầng kỹ thuật, nhà ở và các công trình khác để sử dụng vào mục đích kinh doanh hoặc không kinh doanh; được bố trí gắn với một đô thị hiện có hoặc với một đô thị mới đang hình thành, có ranh giới và chức năng xác định, phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

+ Theo Nghị định số 02/2006/NĐ – CP ngày 5 tháng 1 năm 2006 của Chính Phủ về việc ban hành quy chế KĐTM, và Thông tư 04/2006/TT – BXD Hướng dẫn thực hiện Quy chế khu đô thị mới ban hành theo Nghị định số 02/2006/NĐ – CP

ngày 05/01/2006 của Chính phủ: Dự án khu đô thị mới là dự án đầu tư xây dựng một đô thị đồng bộ có hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, khu

Trang 34

dân cư và các công trình dịch vụ khác được phát triển nối tiếp đô thị hiện có hoặc hình thành khu đô thị tách biệt, có ranh giới và chức năng được xác định phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, khu đô thị mới có địa giới hành chính thuộc một Tỉnh ( Phụ lục 1)

Ngoài ra đối với mỗi vùng và địa phương lại có những quy định bổ sung về nội dung, quy mô và tính chất, chức năng của khu đô thị mới để đảm bảo phục vụ cho phát triển chung của đô thị cũng như định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương đó Như nội dung về bảo tồn cải tạo, nội dung về phát triển nhà ở xã hội, nội dung về phát triển bền vững, nội dung về phát triển chiến lược

- Quy mô KĐTM

Thời gian qua, sự phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đồng nghĩa với sự hình thành rất đa dạng các khu dân cư đô thị khu đô thị mới Tuy nhiên, chính quyền chưa có mô hình nào, nguyên lý nào chuẩn mực cho phát triển khu đô thị mới ổn định và phù hợp với điều kiện xã hội Cho nên quy mô các dự án KĐTM cho phép đầu tư triển khai rất đa dạng, khái niệm KĐTM được sử dụng khá tuỳ tiện cho các dự án đầu tư, nhiều KĐTM chỉ có thể là một khu dân cư xây mới hoặc cụm nhà ở

+ Tại điều 04 chương 01 Nghị định 02/2006/NĐ – CP quy định, dự án KĐTM

được lập có quy mô chiếm đất từ 50 ha trở lên, trường hợp diện tích đất để dành cho

dự án nằm trong quy hoạch đất đô thị nhưng bị hạn chế bởi các dự án khác hoặc bởi khu đô thị đang tồn tại thì cho phép lập dự án KĐTM có quy mô dưới 50 ha nhưng không được nhỏ hơn 20 ha

+ Theo thông tư 10/2008/TT-BXD, hướng dẫn về việc đánh giá, công nhân

KĐTM kiểu mẫu: Diện tích KĐTM phải từ 50ha trở lên, nếu khu vực cải tạo đô thị hiện tại thì có thể nhỏ hơn nhưng không nhỏ hơn 20ha; quy mô dân số từ 5000 người hoặc tương đương 1000 căn hộ trở lên

- Trình tự hình thành, phát triển KĐTM

Trang 35

Tại điều 6 chương II Nghị định 02/2006/NĐ – CP quy định việc hình thành và phát triển dự án đầu tư KĐTM

+ Quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết xây dựng khu đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt là cơ sở hình thành và phát triển khu đô thị mới

+ Chủ đầu tư căn cứ vào quy hoạch xây dựng tại nơi dự kiến đầu tư để lập quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 và lập dự án khu đô thị mới, trình cơ quan có thẩm quyền để được quyết định đầu tư hoặc cho phép đầu tư

+ Chủ đầu tư căn cứ vào quyết định hoặc văn bản cho phép đầu tư để tiến hành các thủ tục giao nhận đất, thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất và giải phóng mặt bằng

+ Chủ đầu tư thực hiện dự án theo nội dung đã được phê duyệt

+ Chủ đầu tư tiến hành kinh doanh, chuyển giao công trình, chuyển giao quản

lý hành chính khi dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng, kinh doanh theo từng giai

đoạn hoàn thành và khi hoàn thành toàn bộ dự án

1.4.2 Thực tiễn phát triển các KĐTM tại Việt Nam

Theo số liệu của Bộ Xây dựng, cả nước hiện có: 689 đô thị (gồm đô thị đặc biệt, đô thị loại I-V, khu công nghiệp tập trung, khu kinh tế cửa khẩu, đô thị mới) Dân số đô thị từ 11,87 triệu người (năm 1986) nay là 20,86 triệu người; tỷ lệ đô thị hoá các địa phương tăng 25,8% Trong đó, hai địa phương phát triển nhanh là Hà Nội, TP.HCM Từ năm 2000 đến 2003, Hà Nội phát triển gần 3 triệu m2 nhà ở, con

số đó ở TP.HCM là gần 7 triệu Các khu đô thị (KÐT) phát triển cả về số luợng và qui mô từ hàng chục, hàng trăm ha, như: Linh Ðàm, Ðịnh Công, Trung Hoà, Nhân Chính, Mỹ Ðình, An Phú An Khánh, Bình Trưng Đông, An Lạc lên đến hàng nghìn ha, như: dự án KÐT Bắc sông Hồng - Hà Nội (gần 8.000 ha), KÐT Nam Sài Gòn (2.600 ha), KÐT Bắc Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (4.300 ha)

Theo nhận xét của nguyên bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân, cái được lớn nhất khi ra đời các KÐTM là cải thiện nơi ở cho người dân ở các đô thị phát triển lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Xoá bỏ "mặc cảm" ở chung cư cao tầng, từng bước "giãn" dân số nội đô đã quá tải; xây dựng được quy hoạch và

Trang 36

quản lý xây dựng theo QH dần vào nền nếp; xây dựng được các cơ chế chính sách trong việc quản lý đất đai, thanh tra xây dựng; công tác giải phóng mặt bằng thu hồi đất, quản lý đầu tư xây dựng; huy động được các nguồn lực trong xã hội, như: (đất đai, tài chính trong xã hội, các nhà đầu tư trong và ngoài nước ); hình thành thị trường bất động sản; kích thích ngành kiến trúc, xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, nội thất phát triển theo hướng hiện đại, chất lượng Các nhà quản lý ở trung ương cũng như địa phương thấy được tính cấp thiết việc xây dựng QH tổng thể, QH chi tiết ở địa phương cũng như giữa các địa phương với nhau để xây dựng QH vùng, định hướng phát triển kinh tế-xã hội trong 5, 10 năm và 20 năm tới

Bên cạnh những hiệu qủa của quá trình phát triển các KĐTM, các chuyên gia

về lĩnh vực đô thị cũng đã chỉ ra những tồn tại của các KÐTM như: chưa xác định địa điểm bảo đảm phát triển thuận lợi; cơ cấu sử dụng đất hoặc phân khu chức năng trong QH còn cứng nhắc; công tác quản lý quy hoạch - kiến trúc và thanh tra xây dựng chưa được quan tâm; thủ tục hành chính trong quản lý đầu tư xây dựng còn nhiều phiền hà, chưa kích thích các nhà đầu tư; chất lượng, môi trường cảnh quan còn thấp; phần lớn các KÐTM chưa có kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào, gây khó khăn cho nhà đầu tư giải quyết vấn đề giao thông, cấp thoát nước, điện ; Việc bàn giao, duy tu bảo dưỡng và khai thác các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình công cộng và nhà chung cư còn bất cấp; việc phân cấp quản lý giữa chủ đầu tư với cơ quản lý nhà nước ở địa phương về các dịch vụ công ích chưa rõ ràng; việc tổ chức quản lý các KÐTM còn mới, chưa có qui định thống nhất

Thực tế phát triển cho đến nay số lượng các KĐTM hình thành khá nhiều, tuy nhiên để trở thành một KĐTM kiểu mẫu, chuẩn mực cho sự phát triển của các KĐTM thật sự khiêm tốn Nhiều khu ĐTM hình thành tại các TP lớn vẫn chỉ là đáp

án tức thời cho bài toán tăng quỹ đất nhà ở, còn việc tạo một “môi trường sống thực sự” theo đúng nghĩa thì hoàn toàn chưa thể đáp ứng nổi, thậm chí một số KĐTM còn là một bước thụt lùi về tiêu chuẩn ở, đặc biệt là chất lượng hạ tầng và dịch vụ

đô thị [10] Theo GS.TSKH Đặng Hùng Võ, việc phát triển mạnh các dự án nhà ở, KĐTM là hệ quả tất yếu diễn ra của quá trình đô thị hoá Tuy nhiên, mạnh đến mức nào phải căn cứ vào mức độ tăng trưởng của nền kinh tế và mức tăng thu nhập của người dân Đầu tư dự án nhà ở theo kiểu phong trào chắc chắn sẽ dẫn đến những hệ

Trang 37

lụy khó lường Hậu quả trước mắt đã nhìn thấy là có rất nhiều dự án xây rồi bỏ không, không có người đến ở Hàng ngàn tỷ đồng đang bị chôn tại các dự án nhà ở, KĐTM mà không có cách gì rút ra được

Với Nghị định 02/2006/NĐ – CP, quy định về quy chế khu đô thị mới, thông

tư 10/2008/TT – BXD về hướng dẫn đánh giá KĐTM kiểu mẫu, cùng với việc thu hút của thị trường bất động sản, nhiều nhà đầu tư có tiềm lực về tài chính, có kinh nghiệm phát triển dự án BĐS trong và ngoài nước, các hình thức tổ chức thi tuyển ý tưởng quy hoạch cùng theo đó là sự tham gia của những nhà tư vấn thiết kế quy hoạch nước ngoài… đã góp phần tạo nên những hành lang pháp lý trong hình thành

và phát triển KĐTM, sự đa dạng phong phú về quy mô; chức năng; cấu trúc đô thị,

tổ chức không gian, cảnh quan và mô hình quản lý… trong các dự án KĐTM Thành công của KĐTM Phú Mỹ Hưng ( KĐTM kiểu mẫu – năm 2008 ) là một kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình phát triển KĐTM về quy hoạch sử dụng đất tổ chức không gian, cấu trúc đô thị, thành phần chức năng, mô hình và hình thức đầu

tư, mô hình quản lý, năng lực tầm nhìn và vai trò của chủ đầu tư

1.5 Thực tiễn phát triển các KĐTM tại Tp.HCM

Sau giai đoạn đổi mới (năm 1986), cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo

xu hướng thị trường, sự bùng nổ các hoạt động thương mại, dịch vụ và phát triển các khu sản xuất đô thị góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển đô thị, thu hút lực lượng lao động tạo nên những nhu cầu mới về nhà ở đô thị Từ khi cụm từ “đô thị hóa” xuất hiện ở VN (khoảng 1992), khái niệm về KĐTM dần dần được xác định gắn liền với sự hình thành các KĐTM như Nam Sài Gòn (1995), An Phú An Khánh (1996)…và nhìn nhận việc phát triển các KĐTM theo quy hoạch được xem là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển đô thị, là quy luật của tiến trình đô thị

hóa đang diễn ra ở nước ta [Hình 1-1]

Trong giai đoạn từ 1995 đến nay, nhiều dự án đầu tư KĐTM, khu dân cư được lập và phê duyệt có quy mô, tính chất và hình thức đầu tư rất khác nhau với sự tham gia của rất nhiều nhà đầu tư Ngoài những thành công như đánh giá chung về phát triển KĐTM trên, thì rất nhiều dự án phát triển nhà ở, dự án đầu tư có quy mô nhỏ,

Trang 38

manh mún, phân lô bán nền Tình trạng phát triển mở rộng đô thị thiếu định hướng quy hoạch tổng thể ban đầu, thiếu sự tôn trọng đến môi trường tự nhiên, lấn chiếm hệ thống kênh rạch, tập trung khai thác tối đa quỹ đất xây dựng nhà ở để kinh doanh, thiếu quỹ đất dành cho không gian cây xanh, xây dựng các công trình phúc lợi công cộng… dẫn đến bức tranh tổng thể thành phố bị vỡ nát, rời rạc, khó kết nối về hạ tầng

kỹ thuật đô thị, thiếu các công trình công cộng phục vụ hoàn chỉnh, tình trạng ngập úng trong các khu vực hiện hữu và những khu vực lân cận dự án, áp lực về việc làm

và sự tập trung vào lõi trung tâm, tình trạng ùn tắt giao thông… Đồng thời, bộ mặt không gian đô thị tại các khu vực đô thị hóa ở những vùng nội thành phát triển như

Q 2, Bình Thạnh, Gò vấp, Tân Bình, Tân Phú, Thủ Đức… không có gì đặc sắc, đặc trưng cho từng khu vực

1.5.1 Đánh giá thực tiễn phát triển trong các KĐTM

Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát, cập nhật và đánh giá thực trạng các dự án đã đang và dự kiến đầu tư xây dựng KĐTM, khu dân cư, nội dung luận án tổng hợp một số vấn đề chính về tình hình phát triển các KĐTM tại Tp.HCM, cụ thể:

- Về quy mô:

Theo nghiên cứu, tổng hợp và thống kê, từ năm 1995 đến nay, các dự án phát triển

đô thị có quy mô nhỏ (20-50ha) được đầu tư nhanh, dàn trải Hiện nay, quy mô các khu ĐTM dao động lớn, từ vài trăm ha trở lên được lập dự án đầu tư khá nhiều (KĐTM Thủ Thiêm, KĐTM bán đảo Thanh Đa, KĐTM GS Metrocity Nhơn Đức, KĐTM Cảng Hiệp Phước, KĐTM Tây Bắc Củ Chi, KĐTM công nghệ cao – làng đại học quốc gia

Q 9)

Trên cơ sở phân tích tổng hợp các dự án phát triển khu dân cư và khu đô thị mới đã, đang và sẽ xây dựng tại thành phố HCM tính đến nay ( Phụ lục 2), theo quy

định của nghị định 02/2006 về quy mô: [Biểu đồ 1 – 1]

• KĐTM có quy mô từ 20 ha đến dưới 50 ha chiếm 54%

• KĐTM có quy mô từ 50 đến 100 ha chiếm 22%

• KĐTM loại lớn có quy mô từ 100 – 300 ha chiếm 13%

• KĐTM loại lớn có quy mô từ 300 – 500 ha chiếm 6 %

Trang 39

• KĐTM có quy mô rất lớn trên 500 ha chiếm 5%

Như vậy, việc phát triển nhiều KĐTM có quy mô diện tích nhỏ dưới 50 ha trong thời gian qua tại Tp.HCM đã đáp ứng phần nào nhu cầu nhà ở cho cộng đồng, tuy nhiên cũng đã gây không ít khó khăn trong việc triển khai các hạng mục đầu tư trong khu đô thị Nguyên nhân vẫn tồn tại nhiều KĐTM có diện tích nhỏ như vậy là do quỹ đất quy hoạch cho xây dựng đô thị còn hạn chế, đặc biệt là ở các khu vực gần trung

tâm thành phố [Hình 1-2]

- Về chức năng:

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội thì tính chất chức năng của các KĐTM cũng trở nên rất đa dạng và phong phú Nhiều KĐTM được thiết kế và đầu tư với một hệ thống kết cấu hạ tầng rất đồng bộ, hoàn thiện… đáp ứng nhu cầu nhiều đối tượng trong xã hội, cụ thể:

• KĐTM có chức năng chính là ở (khu dân cư, khu dân cư tái định cư, khu ở

sinh viên, công nhân ): có quy mô nhỏ

• KĐTM có chức năng tổng hợp: Bao gồm các thành phần chức năng giống

như các Khu ở, bên cạnh đó còn có những chức năng khác như: các khu chức năng thương mại dịch vụ, công trình công cộng cấp đô thị (trường đại học, bệnh viện, trung tâm tài chính, văn phòng),… Ngoài ra, các khu đất có chức năng sử dụng chuyên biệt như: Khu Đô thị Đại học, KĐT Công nghệ cao, KĐT Cảng…… các khu đô thị dạng này thường có qui mô lớn

- Về sử dụng đất trong các KĐTM:

QH sử dụng đất trong các KĐTM còn bị cứng nhắc về chức năng sử dụng đất, các khu đất đa phần bị đóng khung trong chức năng đơn lẻ, thiếu sự linh loạt và kết hợp các chức năng sử dụng Khái niệm về sử dụng đất hỗn hợp (mix use) ít được

ứng dụng trong các KĐTM tại TP

Hiện nay trong các dự án mới về phát triển Khu ĐTM, đặc biệt là những dự

án đầu tư tại những khu đất có vị trí tiếp cận khu vực trung tâm, nằm trên các trục giao thông chính kết nối trung tâm TP… loại hình tổ hợp đa chức năng này được

Trang 40

quan tâm đề xuất trong QH sử dụng đất Hoặc trong các QH điều chỉnh sử dụng đất tại những khu vực đã được lập QH chi tiết trước đây, chỉ tiêu diện tích đất dành cho

sử dụng hỗn hợp được đề xuất tăng thêm (điều chỉnh QH khu D – An Phú An

Khánh, các khu vực trong dự án Khu Nam Sài Gòn…)[Hình 1 – 3 ]

Sử dụng đất trong các KĐTM ít quan tâm đến yếu tố kênh rạch, đa phần những kênh rạch nhỏ đều bị san lắp Đặc biệt với việc phát triển các khu ĐTM tập trung vào khu vực phía Nam của Tp, đây là khu vực trũng của thành phố đã làm ảnh

hưởng đến thoát nước và gây ngập cho các khu vực lân cận [Hình 1 – 4 ]

- Tổ chức không gian trong khu đô thị:

Tổ chức không gian trong các KĐTM chủ yếu theo mạng ô cờ, các công trình nhà ở cao tầng được bố trí dọc các trục giao thông lớn, nhà ở thấp tầng bố trí ở phía trong Thực tế, nhiều KĐTM có mật độ xây dựng quá cao, bố cục không gian dàn trải với việc phân bố các nhà ở riêng lẻ, thiếu khoảng trống cho các không gian mở

và không gian sinh hoạt cho các hoạt động công cộng… Công trình công cộng được

bố trí ở những tuyến giao thông chính trong khu kết hợp với những khuôn viên cây xanh làm trung tâm trong khu vực Nhiều KĐTM có mật độ xây dựng quá cao, không còn khoảng trống cho các không gian mở và không gian sinh hoạt cho các hoạt động công cộng…

Tổ chức không gian các KĐTM thiếu sự định hướng từ quy hoạch tổng thể, các công trình trong khu đô thị chủ yếu theo dạng phân lô chia nhỏ và đầu tư khá riêng biệt tạo nên không gian manh mún không có sự liên kết các công trình và các không gian kiến trúc trong cùng một khu đô thị

Việc tập trung, tổ chức các chung cư cao tầng và nhà ở bám sát các tuyến giao thông huyết mạch, đường chính đô thị (Đường Nguyễn Hữu Thọ, Ngã 3 cầu vượt

Cát Lái-xa lộ Hà Nội,…) Xét góc độ về không gian đô thị, các công trình góp phần

tạo dựng hình ảnh hiện đại cho không gian đô thị Tuy nhiên, do mật độ xây dựng cao, khoảng lùi xây dựng công trình quá ít so với lộ giới, cùng với năng lực lưu thông cơ giới trên các tuyến đường qúa nhiều … làm ảnh hưởng xấu đến môi

trường sống (khói, bụi, tiếng ồn, an toàn…)[Hình 1 – 5]

Ngày đăng: 24/07/2021, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w