lực luôn là một lĩnh vực được các quốc gia quan tâm, chú trọng đầu tư và phát triển.Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia EVNNPT là một đơn vị trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam với c
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
• •
: THS TRẦN THỊ PHƯƠNG THÚY
: ĐẶNG MAI NGỌC : 1405QLVA027 : 2014 - 2018 : ĐH QLVA 14A
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ NỘI VỤTRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI
VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP CỦA TỔNG CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN QUỐC GIA
Khóa luận tốt nghiệp ngành : QUẢN LÝ VĂN HÓA Người hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Mã SV Khóa
Lớp
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn
và biết ơn sâu sắc nhất tới toàn thể các thầy, cô giảng
viên đã và đang giảng dạy tại trường Đạihọc Nội vụ Hà Nội Thông qua chươngtrình đào tạo cử nhân về chuyên ngànhQuản lý văn hoá tại trường Đại học Nội vụ
Hà Nội; các thầy, cô đã mang tới những
Trang 3kiến thức và kỹ năng chuyên ngành từ lý luận tới thực tiễn vô cùng quý giá và đóchính là động lực, là cơ sở giúp tôi thực hiện luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân tình nhất tới giảngviên - Ths Trần Thị Phương Thuý đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình thực hiện luận văn Những đóng góp và ý kiến quý báu nhất của cô từkhi bắt đầu tới lúc đạt được thành phẩm của khoá luận tốt nghiệp đã giúp tôi hoànthành luận văn một cách tốt nhất
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ, nhân viên của Tổng công tyTruyền tải điện Quốc gia đã nhiệt thành hợp tác trong quá trình tôi thu thập tài liệu
để hoàn thành luận văn
Cuối cùng, trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp, do kiến thức cònnhiều hạn chế cũng như không tránh khỏi sự thiếu sót hay ý kiến chủ quan Tôi rấtmong có thể nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy/cô giảng viên để luậnvăn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 04 năm 2018
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Văn hoá doanh nghiệp
11 _ o _ _J_ ' _ 1- _ _ 1 • _ _<_ 4- 2: 10- _ _9 •
_
Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia” là công trình nghiên cứu độc lập của riêng
cá nhân tôi và không sao chép từ các công trình nghiên cứu khác Tất cả những sốliệu trong luận văn là trung thực và chính xác đã được công bố theo quyết định củaBan lãnh đạo Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia
Các thông tin trích dẫn trong khoá luận đều được ghi rõ nguồn gốc
Nếu thông tin có gì sai sự thực tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 04 năm 2018
rp L - - • 2
Tác giả
Đặng Mai Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Giả thuyết nghiên cứu 4
7 Đóng góp mới của đề tài 5
8 Nội dung đề tài 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP VÀ KHÁI QUÁT VỀ TỔNG CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN QUỐC GIA 6
1.1 Cơ sở lý luận về văn hoá doanh nghiệp 6
1.1.1 Một số khái niệm 6
1.1.2 Những biểu hiện của văn hoá doanh nghiệp 9
1.2 Khái quát về Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia
18 1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
18 1.2.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ
20 1.2.3 Những thành tích đã đạt được 21
Tiểu kết
23 Chương 2 THỰC TRẠNG VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP TẠI TỔNG CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN QUỐC GIA
24 2.1 Những biểu hiện trực quan của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia 24 2.1.1 Về kiến trúc 24
2.1.2 Các nghi lễ
26 2.1.3 Logo 29
2.1.4 Khẩu hiệu
30 2.1.5 Ấn phẩm điển hình 31
2.2 Những biểu hiện phi trực quan của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia
33 2.2.1 Lý tưởng
33
Trang 62.2.2 Giá trị, niềm tin và thái độ
41 2.2.3 Lịch sử phát triển và truyền thống văn hoá
43 Tiểu kết
47 Chương 3 GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP TẠI TỔNG CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN QUỐC GIA 49
3.1 Đánh giá về thực trạng văn hoá doanh nghiệp tại Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia 49
3.1.1 Những kết quả đạt được 49
3.1.2 Hạn chế còn tồn tại 52
3.2 Một số giải pháp nâng cao xây dựng văn hoá doanh nghiệp 54
3.2.1 Xây dựng và thực hiện Văn hoá EVNNPT gắn liền với xây dựng hệ thống chính trị và quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị 54
3.2.2 Xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân viên EVNNPT phát triển toàn diện trong môi trường văn hoá lành mạnh 55
3.2.3 Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng và thực hiện Văn hoá EVNNPT 57
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bất cứ một giai đoạn phát triển nào của xã hội, doanh nghiệp cũng luôn đóngvai trò tiên quyết trong việc duy trì và phát triển đời sống về kinh tế và xã hội đối vớimỗi quốc gia thông qua các hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình trong việc tạo
ra của cải vật chất cũng như đóng góp vào nền kinh tế quốc dân của đất nước Có thểnói vai trò của doanh nghiệp đã không chỉ quyết định tới sự tăng trưởng và phát triểnbền vững của doanh nghiệp, với nền kinh tế của đất nước mà nó còn quyết định tới
sự sống còn, giúp duy trì và cải thiện, nâng cao các vấn đề về văn hoá và xã hội
Những năm qua, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ bởi các khối doanh nghiệptạo ra đang ngày càng trở nên phong phú và đa dạng hơn và chính những nhu cầutrong việc tạo ra của cải vật chất ngày càng cao, về cơ bản sẽ giúp giải quyết đượcmột khối lượng việc làm lớn cho người lao động, đem lại nguồn thu nhập ổn địnhcho họ để từ đó góp phần cải thiện, nâng cao đời sống cả về vật chất lẫn tinh thầncủa người dân cũng như cho sự phát triển và ổn định của đất nước Ngoài ra, doanhnghiệp được cho là bộ phận trọng yếu tạo ra nguồn thu đối với ngân sách của Nhànước và những nguồn thu này nếu như ngày càng được phát triển sẽ là một điều kiệnthuận lợi giúp Nhà nước có thể từ đó làm nền tảng đối với việc đầu tư và phát triển
cơ sở hạ tầng hay các hoạt động xã hội công về y tế, văn hoá, giáo dục hoặc nhữngvấn đề khác trong xã hội Có thể thấy vai trò của doanh nghiệp hiện nay đang ngàycàng được khẳng định thông qua những dự án, kế hoạch phát triển của quốc gia nhất
là trong nền kinh tế thị trường như ngày nay
Bên cạnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển của doanh nghiệpkhông thể không nhắc tới vai trò vô cùng quan trọng của ngành Điện lực Đây đượccho là nhân tố giúp duy trì cũng như thúc đẩy các hoạt động sản xuất hàng hoá đốivới doanh nghiệp để từ đó nâng cao về năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư chodoanh nghiệp Không chỉ mang lại những lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp mà vớitrọng trách cao cả hơn trong việc thể hiện sự phát triển của toàn xã hội, góp phầnthúc đẩy và phát triển các hoạt động kinh tế sản xuất cũng như các lĩnh vực về vănhoá - xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao dân trí do vậy ngành Điện
Trang 8lực luôn là một lĩnh vực được các quốc gia quan tâm, chú trọng đầu tư và phát triển.
Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) là một đơn vị trực thuộc
Tập đoàn Điện lực Việt Nam với chức năng, nhiệm vụ cao cả trong các hoạt độngtruyền tải điện nhằm phục vụ và cung ứng đủ điện năng để duy trì các hoạt động sảnxuất kinh tế cho doanh nghiệp cũng như quốc gia vì vậy Tổng công ty được đánh giá
là một đơn vị chủ chốt và vô cùng quan trọng, như một “trục xương sống” của ngànhĐiện lực Việt Nam Và để có thể khẳng định vai trò thiết thực của mình trong đờisống xã hội, đại diện cho một ngành nghề vô cùng cần thiết cho sự phát triển bềnvững của quốc gia do đó Tổng công ty đang ngày càng quan tâm tới việc xây dựnghình ảnh, thể hiện vị thế trọng yếu của mình mà ở đây chính là xây dựng và pháttriển văn hoá doanh nghiệp trong thời kỳ hiện đại hoá, toàn cầu hoá như ngày nay
Do đó, với những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Văn hoá doanh
nghiệp Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia” làm khoá luận tốt nghiệp của mình.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Văn hoá doanh nghiệp hiện nay được rất nhiều những nhà nghiên cứu quantâm, có thể kể tới một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đó là:
- Tác giả Đỗ Thị Phi Hoài đã trình bày tổng quan về cơ sở lý luận của vănhoá doanh nghiệp như các đặc điểm cũng như các biểu hiện của văn hoá doanh
nghiệp trong “Giáo trình văn hoá doanh nghiệp”, Nhà xuất bản Học viện Tài chính
năm 2011 Nội dung được tác giả đưa ra nhằm cung cấp những kiến thức tiền đề vàcăn bản về văn hoá doanh nghiệp, giúp chúng ta hiểu được nền tảng của văn hoádoanh nghiệp là như thế nào và nó có ý nghĩa và vai trò như thế nào đối với đời sống
xã hội
- Tác giả Nguyễn Mạnh Quân viết cuốn “Đạo đức kinh doanh và văn hóa
doanh nghiệp”, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2007, đã trình bày rõ
về khái niệm, biểu hiện, các dạng văn hóa doanh nghiệp và những nhân tố tạo lậpnên văn hóa doanh nghiệp Ngoài ra công trình cũng đề cập đến việc vận dụng vănhoá doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý nhằm xây dựng và phát triển văn hóa doanhnghiệp một cách tối ưu thông qua những giá trị đạo đức căn bản của xã hội để doanhnghiệp có thể định hướng và phát triển phù hợp với xu thế chung của toàn xã hội
- Tác giả Dương Thị Liễu viết trong cuốn “Văn hóa kinh doanh”, Nhà xuất
Trang 9bản Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2011 đã đề cập tới khái niệm, các cấp độ của vănhóa doanh nghiệp, tác động của văn hoá doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanhcũng như các nhân tố ảnh hưởng đến văn hóa doanh nghiệp; những giai đoạn hìnhthành và cơ cấu thay đổi của văn hoá doanh nghiệp cũng như các cấu trúc của vănhóa doanh nghiệp.
- Ngoài ra có một số công trình nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp cụ thể ở
một số DN có thể kể đến như: “Phát trỉến văn hóa doanh nghiệp tại Công ty Điện
lực Vĩnh Phúc” luận văn thạc sỹ của tác giả Vũ Duy Thanh; “Phát trỉển văn hóa doanh nghiệp tại Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội” luận văn thạc sỹ của tác
giả Tạ Thị Thu Hằng Các tác giả đã nghiên cứu thực trạng văn hóa doanh nghiệp ởcác đơn vị này và đề xuất một số giải pháp nhằm duy trì và xây dựng phát triển tốthơn
Iiện nay chưa có một công trình nghiên cứu nào về văn hoá doanh nghiệp củaTổng công ty Truyền tải điện Quốc gia, nhưng những công trình nêu trên sẽ là nguồn
tư liệu quý mà tác giả có thể kế thừa, tham khảo khi nghiên cứu đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại
Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia;
- Đề xuất một số đề xuất giải pháp nhằm xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại
Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia
- Iệ thống hóa lý luận về văn hoá doanh nghiệp;
- Khảo sát thực trạng và đánh giá về văn hoá doanh nghiệp tại Tổng công tyTruyền tải điện Quốc gia;
- Đề xuất một số giải pháp xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại Tổng công tyTruyền tải điện Quốc gia
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Văn hoá doanh nghiệp tại Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia - Số 18 Trần Nguyên
Hãn, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
- Thời gian: khảo sát kết quả từ 2015 - 2017 do đây là giai đoạn Tổng công
ty Truyền tải điện Quốc gia chính thức ban hành Bộ Tài liệu văn hoá doanh nghiệp
và thực sự quán triệt việc triển khai thực hiện xây dựng văn hoá doanh nghiệp
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra khoa học được sử dụng nhằm có thể thu thập, khảo
sát việc thực hiện xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại Tổng công ty Truyền tải điệnQuốc gia một cách chính xác, khách quan đúng với thực tiễn;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp nhằm nghiên cứu các thông tin, tài
liệu có liên quan tới các nội dung về việc xây dựng và thực hiện văn hoá doanhnghiệp tại Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia từ đó tổng hợp và chọn lọc nhữngthông tin cơ bản và cần thiết để hoàn thành khoá luận;
- Phương pháp liên ngành được sử dụng với các góc độ tiếp cận đối với
ngành Quản trị nhân lực, Văn hoá học và Marketing văn hoá nhằm nhìn nhận những
giá trị văn hoá được EVNNPT áp dụng vào việc xây dựng và hoàn thiện trong hoạt
động kinh doanh của công ty một cách đa chiều với nhiều lĩnh vực chuyên ngànhkhác nhau có liên quan Ngoài ra trong khi phân tích, đánh giá những điểm mạnh vàđiểm yếu trong công tác xây dựng và thực thi văn hoá doanh nghiệp sẽ tránh đượcnhững yếu tố chủ quan và có cái nhìn tổng thể, thực tế hơn
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Những biểu hiện về văn hoá doanh nghiệp tại EVNNPT còn có nhiều điểm
bất cập và chưa thực sự phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội cũng như chưa thực sự
đi sâu vào trong tâm tư của toàn thể cán bộ, công nhân viên của công ty;
- Việc thực hiện công tác xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại EVNNPT mới
chỉ mang tính lý thuyết trên “sách vở”
7 Đóng góp mới của đề tài
- Xác định được những điểm mạnh và điểm yếu trong biểu hiện của văn hoá
doanh nghiệp tại EVNNPT;
- Kết quả khoá luận có thể sử dụng như một tài liệu tham khảo giúp Ban lãnh
Trang 11đạo có cơ sở để tham chiếu, đánh giá, xem xét việc thực hiện xây dựng văn hoádoanh nghiệp tại Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia từ đó có những hướng đimới phù hợp với thực tiễn xã hội, thấm nhuần vào trong toàn thể đội ngũ cán bộ,công nhân viên của quý công ty.
8 Nội dung đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hoá doanh nghiệp và khái quát về Tổng
_ A _ J rp _A J 2 • ->• A Z"A A _ _ • _
công ty Truyền tải điện Quốc gia
Chương 2: Thực trạng văn hoá doanh nghiệp tại Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia
Chương 3: Giải pháp xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại Tổng công ty
Truyền tải điện Quốc gia
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP VÀ KHÁI QUÁT
VỀ TỔNG CÔNG TY TRUYỀN TẢI ĐIỆN QUỐC GIA
1.1 Cơ sở lý luận về văn hoá doanh nghiệp
1.1.1.1 Văn hoá
Văn hoá là một khái niệm có nội hàm rất rộng liên quan tới mọi mặt đời sốngcủa con người do đó hiện nay khái niệm về văn hoá chưa có sự nhất quán chung haymột khái niệm đồng nhất được sử dụng phổ biến, cố định khi nói về văn hoá Mỗimột cách tiếp cận văn hoá lại đem lại những cách hiểu và đánh giá về văn hoá khácnhau với những quan điểm và cách nhìn đa chiều đối với văn hoá Song, giữa cácđịnh nghĩa này vẫn có những điểm tương đồng, khía cạnh chung khi nhắc tới kháiniệm của văn hoá
Theo Edward Burnett Tylor trong cuốn “Văn hoá nguyên thuỷ - Primitive
culture” được xuất bản vào năm 1871, ông định nghĩa văn hoá là “một tổng thể phức tạp gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả năng, thói quen, tập quán mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội” [3, tr.10]
Còn đối với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc
(UNESCO) vào năm 2002 lại định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề
cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [6]
Trong cuốn “Giáo trình văn hoá doanh nghiệp” của PGS.TS Đỗ Thị Phi Hoài,
tác giả cũng đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá đơn giản như sau: “Văn hoá là
toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [2, tr.8]
Còn đối với Việt Nam hiện nay, khái niệm về văn hoá được sử dụng phổ biếnnhất là của PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hoá Việt
Trang 13Nam” Ông định nghĩa về văn hoá là “một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình ” [5, tr.25]
Dựa trên những cơ sở nghiên cứu về văn hoá, có thể hiểu đơn giản văn hoáchính là sản phẩm của loài người sáng tạo nên, được tạo ra và phát triển trong mốiquan hệ qua lại giữa con người với xã hội và ngược lại Văn hóa còn là sự thể hiệntrình độ phát triển của con người và xã hội thông qua các kiểu và hình thức tổ chứcđời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần màcon người sáng tạo ra
1.1.1.2 Doanh nghiệp
Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội ở bất kì giai đoạn nào,doanh nghiệp cũng luôn đóng vai trò như một chủ thể tất yếu của xã hội thông quacác hoạt động sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất Song với quá trình phát triểnngày càng mạnh mẽ bởi sự biến đổi tất yếu của xã hội đại diện là sự tiến bộ về khoahọc kỹ thuật hay công nghệ thông tin đã khiến cho các hình thức tổ chức doanhnghiệp cũng như các loại hình sở hữu ngày càng đa dạng và phong phú hơn Do đó,định nghĩa về doanh nghiệp cũng đã được nhìn nhận trên nhiều góc độ tiếp cận khácnhau Và dựa trên những kinh nghiệm nghiên cứu trước đó ở trong và ngoài nướccũng như sự tiếp cận từ nhiều góc độ của kinh tế mà ở Việt Nam hiện nay, khái niệm
về doanh nghiệp được sử dụng phổ biến nhất là: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [17; Mục 1,
Điều 4, Chương 1]
Từ đó có thể hiểu doanh nghiệp chính là một đơn vị sản xuất kinh doanh được
tổ chức và hình thành với mục đích tạo ra sản phẩm và dịch vụ hàng hoá nhằm đápứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, từ đó tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọngluật pháp của nhà nước sở tại cũng như quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng
1.1.1.3 Văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp là một khái niệm chưa từng được xuất hiện trong từđiển bách khoa toàn thư, đây là một lĩnh vực nghiên cứu còn mới mẻ, mới chỉ thực
sự được tìm hiểu trong vài thập kỷ trở lại đây do đó các định nghĩa về văn hoá doanh
Trang 14nghiệp còn chưa có sự đồng nhất hay một định nghĩa chuẩn nào được chính thứcchấp nhận Thuật ngữ này trong thời gian gần đây thường được sử dụng rộng rãitrong các DN và các nhà quản lý kinh tế Đây được cho là một khái niệm tương đốikhó trong lĩnh vực quản trị kinh doanh.
Vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX, văn hoá doanh nghiệp được coi là mộttrong những nhân tố quan trọng góp phần vào sự thành công vang dội của các công
ty Nhật trên khắp thế giới vào giai đoạn đó Sau sự thành công của các công ty Nhật,các công ty Mỹ đã chính thức bắt tay vào việc nghiên cứu và quan tâm tới văn hoádoanh nghiệp [3; tr.232-233]
Với những cơ sở tiền đề đó, vào những năm đầu của thế kỷ 90, người ta cũng
đã bắt đầu đi sâu vào việc nghiên cứu cũng như tìm hiểu về những nhân tố cấu thành,những tác động to lớn của văn hoá đối với sự phát triển của một doanh nghiệp Cũngchính từ đó mà đã xuất hiện rất nhiều khái niệm về văn hoá doanh nghiệp được tiếpcận từ nhiều góc độ khác nhau của các nhà nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế cũng nhưvăn hoá thời kỳ đó, song cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào thực sự đượcchính thức công nhận
Theo Georges de Saite Marie, chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và
nhỏ đã đưa ra định nghĩa về văn hoá doanh nghiệp như sau: “Văn hoá doanh nghiệp
là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp” [2,
tr.17]
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn
lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng
xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” [3, tr.233]
Và một định nghĩa được phổ biến và công nhận cũng như được nhắc tới trongthời gian gần đây nhất là định nghĩa của Edgar Schein - một chuyên gia nghiên cứu
các tổ chức: “Văn hoá công ty là tổng hợp các quan niệm chung mà các thành viên
trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý với các môi trường xung quanh” [3, tr.233]
Dựa trên những cơ sở này mà ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu cũng đãđưa ra được những khái niệm về VHDN được tích luỹ dựa trên những nền tảng đã
Trang 15được nghiên cứu trước đó Có thể kể tới định nghĩa của:
- PSG.TS Dương Thị Liễu: “ Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống các giá
trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi của doanh nghiệp, chi phối hoạt động của mọi thành viên trong doanh nghiệp và tạo nên bản sắc kinh doanh riêng của doanh nghiệp” [3, tr.234]
- PGS.TS Đỗ Thị Phi Hoài: “Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống các ý
nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó” [2; tr.17-18]
- TS Đỗ Hữu Hải: “Văn hoá doanh nghiệp bao gồm một hệ thống các ý
nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng chia sẻ và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên.” [1, tr.20]
Với những khái niệm được nêu trên, có thể hiểu văn hoá doanh nghiệp là toàn
bộ các giá trị văn hoá được xây dựng và tạo nên trong suốt quá trình hình thành vàphát triển của doanh nghiệp, từ đó tạo thành các giá trị, quan niệm và tập quán ăn sâuvào hoạt động của doanh nghiệp cũng như các thành viên Nó chi phối suy nghĩ vàhành vi của mọi thành viên và tạo ra một phong cách, bản sắc riêng cho doanhnghiệp đó
Những biểu hiện của văn hoá doanh nghiệp hay còn có thể gọi là những yếu
tố cấu thành nên VHDN đã được nhiều nhà nghiên cứu xác định theo mỗi một quanđiểm khác nhau ví dụ như cấu trúc về văn hoá doanh nghiệp phổ biến nhất trên thếgiới hiện nay của Edgar H Schein Theo đó văn hoá doanh nghiệp được tác giả nhìnnhận dựa trên quan điểm mô hình tảng băng và được chia thành 3 cấp độ khác nhau
từ bề nổi (hữu hình) tới phần chìm (vô hình) trong đó cấp độ thứ nhất tới thứ ba lầnlượt được xác định như sau: Những quá trình và cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp,những giá trị được chấp nhận, những quan niệm chung Có thể nói đây là cách tiếpcận đi từ hiện tượng đến bản chất của một nền văn hoá, giúp cho chúng ta hiểu đượcnhững bộ phận cấu thành nên nền văn hoá đó một cách tổng quan nhất
Trang 16Và đối với Việt Nam, dựa trên những thành tựu nghiên cứu đi trước ở trong
và ngoài nước của nhiều nhà nghiên cứu, PGS.TS Đỗ Thị Phi Hoài cũng đã đúc kếtnhững kinh nghiệm trước đó và và đưa ra cho mình một cấu trúc VHDN bám sát vớithực tiễn của Việt Nam song vẫn dựa trên những nền tảng cơ bản về văn hoá doanhnghiệp Những quan điểm của tác giả Đỗ Thị Phi Hoài với sự đơn giản, dễ hiểu cũngnhư dễ tiếp cận hơn do đó nội dung của khoá luận sẽ đi theo hướng nghiên cứu vềcấu trúc của văn hoá doanh nghiệp theo quan điểm này
1.1.2.1 Biểu hiện trực quan của văn hóa doanh nghiệp
* Kiến trúc
Những kiến trúc đặc trưng của một tổ chức hay DN sẽ bao gồm kiến trúcngoại thất là những yếu tố về cảnh quan bên ngoài và thiết kế nội thất công sở lànhững yếu tố về kiến trúc bên trong của doanh nghiệp như nơi họ làm việc, nhàxưởng, văn phòng làm việc,
Hiện nay những đặc trưng về kiến trúc đang được các doanh nghiệp quan tâmtới bởi những lý do sau:
- Ảnh hưởng đến hành vi con người về phương diện cách thức giao tiếp, phảnứng và thực hiện đối với công việc;
- Những kiến trúc này có thể được coi như là một “linh vật” biểu thị một ýnghĩa, ẩn ý hay giá trị nào đó của doanh nghiệp muốn thể hiện thông qua những côngtrình kiến trúc của mình;
- Kiểu dáng kết cấu có thể được coi như biểu tượng cho phương châm vàchiến lược của doanh nghiệp Mỗi một công trình kiến trúc đều mang trong nó
Trang 17Những nghi lễ này được xác định dựa trên 4 loại hình: Chuyển giao (VD: Lễ
ra mắt thành viên mới, chức vụ mới; Khai mạc; ); Củng cố (VD: Lễ phát phần
những thông điệp mà doanh nghiệp muốn truyền tải ra bên ngoài xã hội, công trìnhnào càng được đầu tư và xây dựng công phu, tỉ mỉ, càng thể hiện cho sự phát triểnhưng thịnh của doanh nghiệp đó;
- Trở thành một bộ phận hữu cơ trong các sản phẩm của doanh nghiệp;
- Chứa đựng những giá trị lịch sử gắn liền với sự hình thành và phát triển của
DN cũng như đối với các thế hệ nhân viên [2; tr.40-41]
Có thể nói những nghi lễ được sử dụng như một hình thức đầy ý nghĩa vàquan trọng trong việc doanh nghiệp có thể giới thiệu về những giá trị cốt lõi màdoanh nghiệp quan tâm và chú trọng cũng như là dịp đặt biệt để có thể nhấn mạnhnhững bản sắc văn hoá riêng của doanh nghiệp, tạo một môi trường gắn bó, đoàn kếtđối với mọi thành viên để có thể cùng chia sẻ cũng như nêu ra quan điểm, ý kiến củamình trong các vấn đề có liên quan tới doanh nghiệp Bên cạnh đó những sự kiệntrọng đại, tiêu biểu của doanh nghiệp còn có thể nhằm tuyên dương những gươngđiển hình mẫu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó tạo thêm niềmtin, động lực cho các thành viên từ đó thể hiện những hệ thống giá trị căn bản mà bảnthân doanh nghiệp cũng như cán bộ công nhân viên chức, người lao động cần phảitôn trọng và thực hiện
thường, vinh danh, ); Nhắc nhở (VD: Sinh hoạt văn hoá, chuyên môn, ); Liên kết(VD: Lễ hội, liên hoan,.) [2, tr.41]
* Giai thoại
Trang 18Nhắc đến giai thoại đồng nghĩa gắn với những sự kiện lịch sử có thật củadoanh nghiệp trong các thời kỳ từ lúc sơ khai khi mới được thành lập cho tới lúc pháttriển Đây là những câu chuyện về một nhân vật tiêu biểu của doanh nghiệp như mộthình mẫu lý tưởng về hệ thống các giá trị và chuẩn mực mà doanh nghiệp đã và đangtheo đuổi cũng như định hướng Theo thời gian, có nhiều giai thoại có thể trở thànhhuyền thoại của doanh nghiệp mà ở trong nó chứa đựng hệ thống những giá trị cũngnhư về niềm tin của doanh nghiệp và đôi khi nó không được minh chứng bằng cácvật chứng thực tế Song những câu chuyện này dù là giai thoại hay huyền thoại cũngđều có một mục đích cao cả nhất đó là truyền tải một thông điệp đối với các thànhviên của doanh nghiệp đó là tôn trọng và phát huy những giá trị lịch sử truyền thốngcủa doanh nghiệp mình, từ đó trở thành nền tảng bền vững về những quan niệmchung đối với hệ giá trị và chuẩn mực của doanh nghiệp khi phát triển Từ đó tạothành một sức mạnh gắn kết giữa các thế hệ thành viên của doanh nghiệp thông quanhững giá trị tiền đề ban đầu và giúp họ có thể có thêm niềm tin và động lực tiếp tụcphát huy những giá trị cao cả và sâu sắc của thế hệ trước trong việc phát triển doanhnghiệp ngày càng hưng thịnh và bền vững hơn.
* Biểu tượng
Biểu tượng là một dạng biểu thị bằng hình ảnh hoặc ký tự đại diện cho một ýtưởng hay thực thể vật chất nhằm truyền tải những ý nghĩa ẩn chứa trong nó mộtcách nhanh chóng, dễ dàng, ngắn gọn và đơn giản và biểu tượng mà các doanhnghiệp hiện nay thường gọi và sử dụng phổ biến là Logo
Logo hay được gọi là một tác phẩm sáng tạo nghệ thuật được thiết kế dựa trênnhững ý tưởng của người tạo ra nó cũng như những ẩn ý mà doanh nghiệp muốn gửivào đó nhằm diễn tả những giá trị chủ đạo mà doanh nghiệp muốn hướng tới ngườinhìn, người xem một cách cô đọng nhất nhưng vẫn đầy tính nghệ thuật Ngoài ranhững chi tiết hay điểm nhấn của logo đều mang những ý nghĩa nhất định của nótrong việc thể hiện hình tượng cũng như tên gọi của doanh nghiệp Logo không chỉtạo ra những dấu ấn riêng biệt hay sự sáng tạo nghệ thuật mà ý nghĩa sâu xa của nócòn mang lại cảm giác ấn tượng và đặc biệt đối với người thấy từ đó doanh nghiệpmới có thể truyền tải về hình tượng của mình một cách tốt nhất và nhanh nhất, giúpngười nhìn thấy có thể dễ dàng ghi nhớ và lưu giữ lại được hình tượng về doanh
Trang 19* Ngôn ngữ, khẩu ngữ
Tương tự như biểu tượng, ngôn ngữ và khẩu ngữ cũng được các doanh nghiệp
sử dụng như một biểu trưng hữu hình nhằm truyền tải thông điệp hay một ý nghĩanào đó của doanh nghiệp đối với tập thể cán bộ công nhân viên chức của mình cũngnhư đối với các mối quan hệ bên ngoài doanh nghiệp Nói đơn giản ngôn ngữ, khẩungữ mà các doanh nghiệp thường sử dụng phổ biến nhất gọi là khẩu hiệu hay Sloganđược tạo thành bằng những câu chữ đặc biệt, ngắn gọn, đơn giản, xúc tích và dễ nhớ.Những câu khẩu hiệu này chính là cách diễn đạt cô đọng nhất cũng như chứa đựngđầy ẩn ý về những triết lý kinh doanh của doanh nghiệp do đó mỗi câu khẩu hiệu đều
ẩn chứa những nội dung có liên quan mật thiết tới bản tuyên bố sứ mệnh của doanhnghiệp đối với bên ngoài xã hội
* Ấn phẩm điển hình
Những ấn phẩm điển hình hay còn được hiểu như là những sản phẩm văn hoámang tính quảng bá, quảng cáo về thương hiệu và hình ảnh của doanh nghiệp, đây lànhững tư liệu chính thức được phổ biến rộng rãi ở cả trong và ngoài doanh nghiệpnhằm cung cấp cho họ những nội dung cần thiết và tổng quan về doanh nghiệp đó.Những ấn phẩm điển hình được xác định như là: bản tuyên bố sứ mệnh, báo cáothường niên, tài liệu giới thiệu về doanh nghiệp/tổ chức, sổ vàng truyền thông, các ấnphẩm như các số tạp chí hay tập san doanh nghiệp được phát hành định kỳ haynhững số đặc biệt, tài liệu quảng cáo giới thiệu về mẫu mã sản phẩm, mặt hàng kinhdoanh của doanh nghiệp cũng như về bản thân doanh nghiệp, [2; tr.43]
Đối với những đối tượng bên ngoài đây chính là những cơ sở nhằm xác địnhnhững biểu hiện về các giá trị văn hoá vô hình và hữu hình của doanh nghiệp còn vớinội bộ bên trong đây là những nền tảng về hệ tư tưởng và giá trị giúp các thành viên
có thể nhận biết và hiểu được mình cần phải làm gì để có thể xây dựng được mộtVHDN vững mạnh và phát triển cho doanh nghiệp mà họ đang làm việc
1.1.2.2 Biểu hiện phi trực quan của văn hóa doanh nghiệp
* Lý tưởng
Lý tưởng ở đây được hiểu như là một sự vận dụng những lý thuyết cơ sở vàotrong thực tiễn đời sống xã hội Lý tưởng được tạo ra từ trong tư duy, những niềm
Trang 20tin, giá trị và tâm tư, cảm xúc của con người trước khi họ có thể nhận thức, ý thứcđược, do đó lý tưởng được hình thành nên một cách tự nhiên và khó có thể giải thích
rõ ràng Vì vậy có thể hiểu nôm na lý tưởng đối với VHDN chính là những động lựccăn bản, những giá trị cao cả và sâu sắc giúp cho cán bộ công nhân viên chức có thểnhận thức được, cảm nhận được để từ đó giúp họ thấu hiểu và thực hiện theo nónhằm hoàn thành được một đích đến nào đó mà doanh nghiệp mình đang hướng tới.Những lý tưởng này còn được xem như là một sứ mệnh để doanh nghiệp hướng tới
và thực hiện nó nhằm sinh tồn và phát triển trong xã hội cũng như trong môi trườngkinh doanh
Đây là những giá trị và nhận thức chung mà doanh nghiệp tin vào việc nhờ có
nó thì doanh nghiệp mới có thể phát triển một cách tốt nhất và những lý tưởng nàykhông phải chỉ dành riêng cho bản thân người đứng đầu doanh nghiệp mà nó cầnphải được phổ biến cho toàn thể cán bộ công nhân viên chức - là những người trựctiếp thực thi và xây dựng nên văn hoá cho doanh nghiệp Lý tưởng như một “kim chỉnam” cho doanh nghiệp để từ đó xác định những mục tiêu chiến lược, những quanđiểm với vai trò là nòng cốt cần phải tôn trọng, cần phải thực hiện để có thể hoànthành được sứ mệnh cũng như mục đích chung của toàn thể doanh nghiệp đã được đề
- Bản chất mối quan hệ con người
* Giá trị, niềm tin và thái độ
Đây là những giá trị chung về niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm cótính vô thức và mặc nhiên được công nhận trong doanh nghiệp Chúng được hìnhthành và tích luỹ sau một thời gian dài doanh nghiệp đi vào hoạt động và có sự vachạm, xử lý trong công việc Hệ thống giá trị này khi ăn sâu vào tâm thức của hầuhết các thành viên trong doanh nghiệp đó và trở thành những quan niệm chung và
Trang 21mặc nhiên được chấp nhận và được các thành viên thực hiện theo một cách vô thứchoặc có ý thức Chúng định hướng cho cảm nhận, suy nghĩ và hành vi của các thànhviên trong các mối quan hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Về bản chất, giá trị là khái niệm liên quan đến chuẩn mực đạo đức và cho biết
họ cần phải làm gì Niềm tin là khái niệm đề cập đến việc mọi người cho rằng thếnào là đúng, thế nào là sai Trong thực tế khó có thể tách rời được khái niệm này bởitrong niềm tin luôn chứa đựng những giá trị Giá trị còn được coi là những niềm tinvững chắc về một cách thức hành động hoặc trạng thái nhất định Niềm tin của ngườilãnh đạo dần được chuyển hóa thành niềm tin của tập thể thông qua những giá trị, tuynhiên, có thể sẽ xuất hiện những khó khăn do trở ngại về việc truyền đạt thông tin.[2, tr.47]
Thái độ là chất gắn kết niềm tin với giá trị thông qua tình cảm Thái độ đượcđịnh nghĩa là một thói quen tư duy theo kinh nghiệm để phản ứng theo một cách thứcnhất quán mong muốn hoặc không mong muốn đối với sự vật, hiện tượng Như vậy,thái độ luôn cần đến những phán xét dựa trên cảm giác, tình cảm Thái độ được hìnhthành theo thời gian từ những phán xét và những khuôn mẫu điển hình thay vì những
sự kiện cụ thể, thái độ con người là tương đối ổn định và có những ảnh hưởng lâu dàiđến động cơ của người lao động [2, tr.48]
Có thể nhận thấy niềm tin và thái độ là các giá trị tinh thần của doanh nghiệp,
là một hệ thống các giá trị, nguyên tắc được chia sẻ, truyền bá trong cán bộ côngnhân viên chức Các giá trị này được hình thành từ tính cách, mong muốn của ngườilãnh đạo đóng góp của toàn thể nhân viên trong quá trình kinh doanh, luôn được tíchlũy, gọt giũa, điều chỉnh theo thời gian với sự hình thành và phát triển của doanhnghiệp
* Lịch sử phát triển và truyền thống văn hoá
Lịch sử phát triển và truyền thống văn hoá của một doanh nghiệp là nhữngbiểu trưng về các giá trị hay triết lý đã được chắt lọc, chọn lựa thông qua quá trìnhhoạt động và phát triển đã được các thế hệ đi trước của doanh nghiệp tôn trọng và gìngiữ Những biểu trưng này được doanh nghiệp sử dụng nhằm thể hiện những giá trịchủ đạo và phương châm hành động cần phải được duy trì và kiên trì theo đuổi củadoanh nghiệp Mặc dù, không thể coi lịch sử phát triển và truyền thống là một nhân
Trang 22tố cấu thành của văn hoá doanh nghiệp, bởi lẽ chúng có trước và tồn tại bất chấpmong muốn và quan điểm thiết kế của người quản lý song cũng không thể phủ nhậnvai trò quan trọng và ảnh hưởng của chúng đến việc xây dựng, điều chỉnh và pháttriển những đặc trưng văn hoá doanh nghiệp mới của một doanh nghiệp hay công ty.Vai trò của lịch sử phát triển và truyền thống văn hoá đối với việc xây dựng các đặctrưng văn hoá mới cho doanh nghiệp thể hiện ở việc cho chúng ta hiểu được đầy đủquá trình vận động và thay đổi của các đặc trưng văn hoá, những nguyên nhân và ảnhhưởng của chúng đến quá trình vận động và thay đổi về văn hoá trong một doanhnghiệp/công ty.
Trên thực tế, mỗi một doanh nghiệp đều phải trải qua quá trình lịch sử từ khihình thành cho tới lúc phát triển Với một doanh nghiệp có nền văn hóa truyền thốngmang những bản sắc riêng đã được hình thành và tạo dựng trong tâm tư của mỗithành viên thì văn hoá doanh nghiệp sẽ có thêm khả năng và cơ hội phát triển caohơn đối với những doanh nghiệp không có lịch sử truyền thống riêng của mình Đơn
cử về những truyền thuyết hay câu chuyện về sự phát triển của doanh nghiệp, củathành viên tiêu biểu, sẽ tiếp thêm sức mạnh, lòng tin, sự gắn bó vô hình có tính camkết giữa các thành viên với doanh nghiệp cũng như khích lệ lòng tự hào trong mỗithành viên, giúp họ cố gắng, tạo động lực làm việc, xây dựng doanh nghiệp ngàycàng phát triển và vững mạnh hơn tiếp nối những lịch sử truyền thống phát triển tiêubiểu của doanh nghiệp Bản thân những giá trị lịch sử phát triển và truyền thống vănhoá sẽ tác động và ảnh hưởng trực tiếp tới việc tổ chức cũng như định hướng pháttriển về hệ thống các giá trị văn hoá của doanh nghiệp
1.1.2.3 Vai trò văn hoá doanh nghiệp với phát triển đời sống kinh tế - xã hội
Đối với sự phát triển cũng như hình thành của doanh nghiệp, việc tạo dựng,xây dựng được văn hoá doanh nghiệp của riêng mình sẽ đem lại những lợi ích thiếtthực trong quá trình doanh nghiệp đi vào hoạt động:
Thứ nhất, văn hoá doanh nghiệp khi được hình thành và xây dựng sẽ ăn sâu
vào hành vi, tâm lý, tâm thức của mỗi thành viên làm việc trong doanh nghiệp hay tổchức đó Chính vì lẽ đó việc áp dụng văn hoá doanh nghiệp vào hoạt động của doanhnghiệp sẽ như một công cụ, phương thức quản lý chung đối với các thành viên củadoanh nghiệp Khi VHDN được xây dựng thành công sẽ như một công cụ, phương
Trang 23thức của nhà quản lý để sử dụng được hiệu quả nguồn nhân lực của doanh nghiệp từ
đó xây dựng được thương hiệu cho doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn [1, tr.20]
Thứ hai, những giá trị cốt lõi cũng như mục tiêu, định hướng của doanh
nghiệp khi được xác định rõ trong VHDN sẽ tạo thành một nhiệm vụ chung cho toàn
bộ doanh nghiệp khi muốn đi vào hoạt động và phát triển một cách hiệu quả Khinhững giá trị này trở thành cái chung của toàn bộ cán bộ công nhân viên chức sẽ giúp
họ làm việc và nỗ lực hết mình một cách hiệu quả nhằm đạt được cái đích chung chodoanh nghiệp, tạo lực hướng tâm chung cho toàn doanh nghiệp [3, tr.244]
Thứ ba, văn hoá doanh nghiệp khi được hình thành hiệu quả và thành công sẽ
tạo nên một bản sắc riêng cho bản thân doanh nghiệp, từ đó tạo ra sự khác biệt, tăngthêm năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thường trường Đối với khách hàng,
họ luôn muốn đổi mới và lựa chọn những sản phẩm của doanh nghiệp không có sựchung đụng hay giống nhau với các doanh nghiệp/công ty khác Vì vậy “xây dựng vàphát triển văn hoá doanh nghiệp hiện nay có tác dụng rất quan trọng trong việc nângcao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp theo yêu cầu phát triển kinh tế đấtnước và hội nhập kinh tế quốc tế” [1, tr.22]
Thứ tư, để có thể xây dựng được văn hoá doanh nghiệp không phải chỉ có sự
cố gắng của bản thân ban lãnh đạo mà trên hết chính là sự nỗ lực của toàn bộ thànhviên doanh nghiệp Văn hoá doanh nghiệp lúc này sẽ đóng vai trò như một sợi dâygắn kết giữa nhân viên với DN, từ đó tạo động lực làm việc cho các thành viên Chỉkhi các thành viên có thể nhậc thức rõ ràng về vai trò của bản thân mình trong toàn
bộ tổng thể của DN thì khi đó họ mới có thể gắn bó và làm việc tận tâm vì mục tiêu
và mục đích chung cho doanh nghiệp [3, tr.244]
Thứ năm, văn hoá doanh nghiệp khích lệ quá trình đổi mới và sáng tạo Khi
các cá nhân được khuyến khích đưa ra các sáng kiến của mình ở trong doanh nghiệp,đây sẽ như một sự khích lệ giúp nhân viên có thể phát huy và phát triển được nhữngkhả năng vốn có của bản thân, giúp họ năng động và sáng tạo hơn trong công việc vàcũng từ đó trở thành những cơ sở cho quá trình nghiên cứu và phát triển tiếp củadoanh nghiệp [3, tr.245]
1
.2 Khái quát về Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia
Trang 24Tên gọi: Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT)
Địa chỉ: Số 18 Trần Nguyên Hãn, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm,
Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) dựa trên cơ sở tái tổ chức lại các
công ty con của EVN là Công ty Truyền tải điện 1, 2, 3 và 4 cùng các Ban Quản lý
dự án các công trình điện khu vực phía Bắc - Trung - Nam Đây được cho là sự kiệnđánh dấu bước chuyển mình sâu sắc trong công tác tổ chức quản lý cũng như nângcao hiệu quả trong việc chủ động sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực truyền tải
điện của Quốc gia (Ảnh 1, Phụ lục).
Sau một thời gian dài chuẩn bị và thực hiện theo Quyết định số 223/QĐ- EVNcủa Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia đã chínhthức đi vào hoạt động kể từ ngày 01/07/2008 theo mô hình công ty TNHHMTV doTập đoàn điện lực Việt Nam là chủ sở hữu với mức vốn điều lệ là 7.200 tỷ đồng
Theo đó, EVNNPT giữ vai trò độc quyền Nhà nước về lĩnh vực truyền tải điện với
chức năng và nhiệm vụ chính là quản lý vận hành và đầu tư phát triển về lưới điệntruyền tải có cấp điện áp từ 220kV trở lên trên phạm vi toàn quốc Và với mục tiêuchung của EVN cũng như của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia, các địnhhướng xây dựng và phát triển của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia sẽ đượctừng bước thực hiện liên kết với lưới điện truyền tải của các nước trong khu vựcĐông Nam Á nói riêng cũng như Châu Á và trên thế giới nói chung
Hơn 6 năm dần đi vào ổn định và phát triển, tính đến ngày 31/12/2014, vốn
điều lệ của EVNNPT đã tăng lên hơn 3 lần so với thời gian đầu mới thành lập là
22.260 tỷ đồng với giá trị tổng tài sản tính tới thời điểm đó là 71.453 tỷ đồng Hệthống lưới truyền tải điện Quốc gia đã có bước phát triển vượt bậc với quy mô19.123,8 km đường dây điện trong đó bao gồm 6.755 km đường dây 500kV, 12.326
km đường dây 220kV và 42,8 km đường dây 110kV; tăng trên 67% so với ngày
Trang 25Tổng công ty Truyền tải điện chính thức đi vào hoạt động Với số lượng 106 trạmbiến áp mới được xây dựng và đưa vào hoạt động; bao gồm 23 trạm biến áp 500kV,
82 trạm biến áp 220kV và 1 trạm biến áp 110kV với tổng dung lượng máy biến áp là
55.801 MVA; tăng gần 120% so với thời điểm đầu (Ảnh 2, Phụ lục) [12; tr.4-5]
Với mục tiêu vươn lên hàng đầu Châu Á về dịch vụ truyền tải điện, EVNNPT
đã và đang ngày càng tiếp tục tập trung thực hiện đầu tư phát triển lưới điện truyềntải hiện đại, đồng thời cải tiến nhiều công nghệ truyền tải điện tiên tiến trên thế giớicũng như xây dựng một đội ngũ chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực truyền tải điện, đặcbiệt chú trọng đối với các chuyên gia về kỹ thuật truyền tải, đáp ứng những tiêuchuẩn về chất lượng và độ tin cậy trong việc cung ứng điện Có thể thấy lưới điện
truyền tải do EVNNPT quản lý đã thực sự trở thành một bộ phận không thể thiếu
trong kết cấu hạ tầng của Hệ thống điện lực Việt Nam, giữ vai trò đặc biệt quan trọngtrong việc đảm bảo an ninh năng lượng Quốc gia, xứng đáng với vị trí trọng yếutrong việc phát triển và ổn định nền kinh tế của Việt Nam
Sau hơn 60 năm xây dựng và phát triển, từ các cụm nhà máy, đường dây nhỏ
lẻ, hoạt động độc lập theo từng khu vực, ngày hôm nay Hệ thống điện Việt Nam đãtrở thành một thể thống nhất với các đường dây và trạm biến áp có mặt ở khắp mọimiền của Tổ quốc, với trục “xương sống” là Hệ thống truyền tải điện Quốc gia Với
xu thế phát triển chung của toàn xã hội nói chung và ngành điện nói riêng, EVNNPT
ngày nay đã trở thành một doanh nghiệp với quy mô lớn toàn quốc, là nơi đào tạo vàtrưởng thành của trên 7.000 cán bộ nhân viên tuy khác nhau về trình độ chuyên môn,vùng miền địa lý, song ở họ đều có cùng chung một chí hướng, một mục tiêu, niềmtin với lòng nhiệt huyết, sự đoàn kết và gắn bó với lưới điện truyền tải Đây chính là
những giá trị cốt lõi, là “nguồn vốn” quý giá mà EVNNPT sẽ tiếp tục gìn giữ và phát
triển ngày càng vững mạnh hơn trong thời gian tới [12; tr.4-5]
1.2.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ
Về cơ cấu tổ chức của EVNNPT, đối với Ban lãnh đạo cấp cao nhất của Tổng
công ty hiện nay là Chủ tịch Hội đồng thành viên - ông Đặng Phan Tường Ngoài ravới việc tham mưu, tư vấn và hỗ trợ các công tác quản lý, điều hành cùng với Chủtịch Hội đồng thành viên còn có thêm 3 thành viên khác trong Hội đồng cùng với sự
hỗ trợ chuyên môn khác về vấn đề tài chính cũng như các vấn đề liên quan tới quản
Trang 26lý nhân sự của EVNNPT là Ban Tổng hợp Hội đồng thành viên và Ban Kiểm toán
nội bộ và giám sát tài chính Tiếp theo đó sẽ là những người trực tiếp làm việc vớicác đơn vị trực thuộc cũng như trực tiếp điều hành các đơn vị đó theo chỉ thị vàquyết định của Chủ tịch Hội đồng thành viên là Tổng giám đốc và 4 phó giám đốcphụ trách chuyên môn Cuối cùng là các Ban và công ty đơn vị trực thuộc của công
ty mẹ là Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia, trong đó gồm 1 văn phòng, 13phòng chuyên môn, 3 Ban Quản lý dự án các công trình điện của các khu vực Bắc -Trung - Nam và các công ty Truyền tải điện 1, 2, 3 và 4 Ngoài ra mới đây vào năm
2017 Tổng công ty cũng mới thành lập Công ty Dịch vụ kỹ thuật truyền tải điện(NPTS) nhằm tách bạch các khâu dịch vụ ra khỏi các hoạt động vận hành điện năngcũng như nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, tăng năng suất lao động đối
với Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (Ảnh 3, Phụ lục).
Về chức năng nghề kinh doanh chính của đơn vị bao gồm các hoạt động vềtruyền tải điện theo giấy phép hoạt động điện lực của đơn vị về quản lý vận hành, sửachữa, thí nghiệm lưới điện; Hoạt động tự động hóa và điều khiển lưới điện; Đầu tưphát triển lưới điện truyền tải; Tư vấn đầu tư xây dựng, quản lý dự án, giám sát thicông các công trình lưới điện, viễn thông và công nghệ thông tin và đào tạo, pháttriển nguồn nhân lực về quản lý vận hành, sửa chữa lưới điện
Về nhiệm vụ, EVNNPT thực hiện sản xuất, xây dựng, lắp đặt, giám sát các
công trình, thiết bị lưới điện, thiết bị viễn thông và công nghệ thông tin; Xuất nhậpkhẩu, kinh doanh vật tư, thiết bị lưới điện, thiết bị viễn thông và công nghệ thông tin;Quản lý, vận hành, sửa chữa hệ thống thông tin viễn thông nội bộ; Kinh doanh dịch
vụ công nghệ thông tin; Vận tải thủy bộ phục vụ sản xuất kinh doanh; Cho thuê máymóc, thiết bị và đồ dùng hữu hình khác [7]
1.2.3 Những thành tích đã đạt được
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, mặc dù phải đối mặt với nhiều khókhăn và thách thức lớn song được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Tập đoàn Điệnlực Việt nam; sự hỗ trợ, giúp đỡ từ phía Chính phủ, các Bộ ngành và các địa phương;
sự lãnh đạo, chỉ đạo chủ động, linh hoạt và quyết liệt của Đảng uỷ, Hội đồng thànhviên, Ban Giám đốc, cùng sự phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ với Công đoàn; cũngnhư tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo, không ngừng nỗ lực và cố gắng, quyếttâm cao độ của tập thể cán bộ công nhân viên chức, người lao động trong toàn Tổng
Trang 27công ty, EVNNPT cùng các đơn vị trực thuộc đã thực hiện tốt các công tác về đầu tư
cũng như quản lý vận hành lưới điện truyền tải nhằm đảm bảo an toàn, liên tục, ổnđịnh Qua đó đã góp phần cùng tập đoàn cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế xãhội của đất nước cũng như đời sống sinh hoạt của nhân dân
Mở đầu cho những thành công đáng khích lệ chính là sự kiện vào tháng 3 năm
2009 - sau 8 tháng kể từ ngày được thành lập, EVNNPT đã cho đóng điện được
đường dây 220kV Châu Đốc - Tịnh Biên - Takeo nối liền giữa hai quốc gia ViệtNam và Campuchia Đây là đường dây 2 mạch dài 69,5 km với 210 vị trí cột có côngsuất truyền tải lớn nhất từ trước tới nay lên tới 200 MW và cho sản lượng trung bình
từ 900 triệu đến 1,4 tỷ kWh/năm Đây có thể nói là công trình truyền tải điện có ýnghĩa to lớn và quan trọng không chỉ về kinh tế - xã hội mà còn góp phần mở rộngquan hệ hợp tác hữu nghị đối với hai quốc gia láng giềng là Việt Nam và Campuchia
Tiếp theo, EVNNPT cũng đã kịp thời và nhanh chóng hoàn thành các công trình lưới
điện 500kV nhằm đấu nối đồng bộ Nhà máy thủy điện Sơn La để đưa dòng điện củanơi đây hòa vào lưới điện chung của Quốc gia, trở thành một thể thống nhất, gópphần vào thành tích chung của EVN trong việc hoàn thành đóng điện Nhà máy thủy
mạch đường dây 500kV Bắc - Nam cũng đã được EVNNPT đầu tư và nâng dung
lượng tụ bù dọc để tăng cường khả năng tải điện, nâng công suất truyền tải trên 2mạch đường dây có thể đạt tới 2.300 MW và tăng sản lượng truyền tải điện đạt trên
12 tỷ kWh/năm [8] Đây có thể nói là một thành công vô cùng đáng khích lệ trong sự
cố gắng của toàn thể cán bộ công nhân viên đã ngày đêm hăng say làm việc và hoàn
Trang 28thành nhiệm vụ cao cả đối với đường dây truyền tải điện dài nhất của Quốc gia.
Vào ngày 05/05/2014, việc đóng điện và đưa vào vận hành công trình trọngđiểm, cấp bách của Thủ tướng Chính phủ và EVN là đường dây 500kV Pleiku - MỹPhước - Cầu Bông có thể nói đã mang lại một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việcđảm bảo truyền tải điện an toàn, ổn định giữa ba miền Tổ quốc, kịp thời cung cấp đủđiện cho sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội của toàn miền Nam nói chung vàThành phố Hồ Chí Minh nói riêng, nhất là vào trong những ngày mùa khô của năm
2014 và những năm tiếp theo nữa (Ảnh 5, Phụ lục).
Bên cạnh những thành tích đã đạt được trong công tác đầu tư xây dựng vàquản lý vận hành, các công tác về quản lý, quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh cũng luôn được EVNNPT quan tâm và chú trọng thực
hiện Ngoài ra, sau hơn 7 năm kể từ ngày thành lập, thành tựu đáng ngưỡng
mộ và quan tâm nhất chính là việc Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia đã xâydựng cho riêng mình những giá trị văn hoá cốt lõi và ban hành cũng như đưa vào sửdụng rộng rãi trên toàn Tổng công ty và các đơn vị trực thuộc Bộ Tài liệu văn hoá
doanh nghiệp là “Sổ tay văn hoá EVNNPT” (Ảnh 6, Phụ lục) và “Bộ quy tắc ứng xử văn hoá EVNNPT” (Ảnh 7, Phụ lục) Đây chính là thành quả vô cùng quý giá của
tập thể Ban lãnh đạo cũng như cán bộ nhân viên trong suốt hơn 7 năm xây dựng vàphát triển để có thể cho ra đời được những giá trị văn hoá của riêng lĩnh vực truyềntải điện Đây là dấu mốc đánh dấu cho sự phát triển bền vững cũng như thể hiện sựquan tâm sâu sắc tới việc khẳng định vị thế, tầm vóc cũng như sự khẳng định về sứmệnh và lý tưởng chung của toàn Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia trở thành vịtrí dẫn đầu trong lĩnh vực truyền tải điện của Châu Á
Trang 29nghiệp đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp cũng đã được thể hiện rất rõtrong nội dung chương này.
Những giá trị văn hoá hữu hình của doanh nghiệp được xác định là nhữngbiểu hiện trực quan có thể nhìn thấy, nhận thấy trong đời sống hàng ngày của doanhnghiệp thông qua kiến trúc nội và ngoại thất, các nghi lễ, ấn phẩm điểm hình, logo vàkhẩu hiệu Những giá trị văn hoá vô hình hay những biểu hiện phi trực quan mặc dùkhông thể nhìn thấy một cách rõ nét những vẫn giúp chúng ta hiểu được, cảm nhậnđược thông qua những quan điểm, lý tưởng hay hệ giá trị niềm tin, thái độ và lịch sửphát triển và truyền thống văn hoá mà họ đã tuyên bố ra với bên ngoài
Ngoài ra, nội dung chương cũng đã khái quát một cách tổng quan nhất về lịch
sử hình thành cũng như cơ cấu tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của đối tượng nghiêncứu trong nội dung khoá luận chính là Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia Thôngqua đó sẽ là những cơ sở tiền đề và nền tảng cho việc tìm hiểu và nghiên cứu nhữngvấn đề về văn hoá doanh nghiệp, những biểu hiện về văn hoá trong doanh nghiệp họ
sẽ được viết và nhắc tới ở Chương 2
Chương 2 THỰC TRẠNG VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP TẠI TỔNG CÔNG TY
TRUYỀN TẢI ĐIỆN QUỐC GIA 2.1 Những biểu hiện trực quan của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia
Kiến trúc được xem là một ngành nghệ thuật và khoa học về tổ chức, sắp xếp
và bài trí không gian Thông qua những vật liệu sẵn có, những tri thức khoa học, kinhnghiệm và nhu cầu thực tế cũng như những quan niệm về ý nghĩa và giá trị thẩm mỹcủa các công trình kiến trúc Mỗi chi tiết trong những công trình này sẽ thể hiện chomột giá trị văn hóa nào đó và thường mang lại những phong cách riêng biệt thể hiệncho những đặc trưng thời kỳ lịch sử mà công trình đó được xây dựng [6]
Đối với kiến trúc bên ngoài, trụ sở làm việc chính của Tổng công ty Truyền
tải điện Quốc gia (EVNNPT) hiện nay được xây dựng dựa trên nền móng cũ trụ sở
của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, toạ lạc tại vị trí đắc địa số 18 Trần Nguyên Hãn
-trung tâm Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội (Ảnh 8, Phụ lục) Đây được cho là
Trang 30khu vực phát triển nhất trung tâm nội đô với những cơ sở ban ngành trọng yếu đượcđặt tại các khu vực xung quanh cùng với tầm nhìn cảnh quan phía bên phải trụ sởlàm việc là Hồ Hoàn Kiếm còn phía trước là Cung Thiếu nhi Hà Nội do đó nhìnchung cảnh quan của trụ sợ khi hướng tầm mắt ra nhìn rất thoáng đãng, tạo cảm giác
dễ chịu và thư thái cho cán bộ khi làm việc Theo đó, trụ sở tại số 18 Trần NguyênHãn được khởi công xây dựng vào năm 1980 và khi đó được đặt làm Trung tâm Điều
độ hệ thống điện Miền Bắc - là một đơn vị của Công ty Điện lực miền Bắc, thuộc BộĐiện và Than ngày đó Sau đó trải qua hơn 20 năm đi vào hoạt động và sử dụng, vàotháng 3 năm 2004 toà nhà khi đó là trụ sợ làm việc chính của Tập đoàn Điện lực ViệtNam đã được cải tạo và xây mới lại với 6 tầng nhà của 3 toà A, B và C cùng 2 tầnggara ô tô, xe máy với tổng diện tích sử dụng và bố trí cho các phòng làm việc đượcước tính là 1883m2 Trong đó diện tích bố trí cho các phòng làm việc là: 481m2, diệntích bố trí cho hội trường và phòng truyền thống là: 856m2 Do đó xét một cách tổng
quan về kiến trúc bên ngoài của EVNNPT sau khi đã được cải tạo và xây dựng mới
lại thì nhìn chung là một phong cách tân thời, không quá lạc hậu nhưng cũng khôngquá hiện đại, tạo một cảm giác thân quen mà vẫn trang nghiêm Ngoài ra ở giữa trụ
sở là khuôn viên sân sinh hoạt chung dành cho các hoạt động tập thể của Tổng công
ty tại đây với những hàng cây phía ngoài được trồng thẳng hàng tạo quang cảnh gần
gũi và thư thái khi bước vào trong trụ sở làm việc của EVNNPT (Ảnh 9, Phụ lục).
Tiếp đó là một màn ảnh Led hình chữ nhật to cùng một bảng led chạy chữđược lắp đặt ngay trung tâm của tòa nhà với những hình ảnh về các sự kiện, hoạtđộng đã được tổ chức tại các đơn vị cũng như của Tổng công ty, thông qua đó bất cứ
ai bước chân vào trụ sở làm việc đều có thể nhìn thấy và cảm nhận thấy được nhữngchặng đường lịch sử mà Tổng công ty đã đi qua một cách sinh động nhất Phía bêntrái sảnh chính khi đi từ ngoài vào là ba cột cờ cao thẳng tắp với lá cờ của Đảng củanước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và lá cờ truyền thống đại diện cho ngànhĐiện của quốc gia với màu xanh đặc trưng của mình Có thể nói với vị trí trang trọngcủa ba lá cờ được đặt cạnh nhau đã có thể sự thể hiện về lý tưởng về niềm tin và sứmệnh của Tổng công ty truyền tải điện quốc gia cũng như trách nhiệm và nghĩa vụ,trọng trách cao cả đối với Đảng, Nhà nước và Chính phủ nói chung cũng như đối vớingành điện nói riêng trong lĩnh vực truyền tải điện năng Ngoài ra với ba phần cửa sổ
Trang 31được làm bằng kính phản chiếu được đặt ở vị trí trung tâm của toà nhà làm việc thểhiện cho ba con đường cũng như định hướng phát triển của Tổng công ty hướng tớilần lượt như ba lá cờ được đặt bên cạnh là nhiệm vụ, trọng trách cao cả của Đảng,Chính phủ, Nhà nước giao cho cũng như đối với ngành điện lực của Quốc gia Bahàng kính thu ánh sáng từ bên ngoài vào như sự chiếu rọi vào những mục đích và lýtưởng mà Tổng công ty hướng tới cũng như thể hiện cho một tấm gương sáng ngời
với vai trò và vị trí của một “trục xương sống” trong ngành điện của EVNNPT (Ảnh
tại tầng 2 toà nhà A (Ảnh 11, Phụ lục), ngoài ra còn 2 phòng họp với quy mô vừa
cùng 1 hội trường lớn ở tầng 5 toà nhà B phục vụ cho các cuộc họp giao ban với sốlượng thành viên lớn hoặc các hội nghị lớn của Tổng công ty Không gian trong cácphòng họp được bài trí trang trọng cùng với máy chiếu hiện đại để thuận lợi cho việctrao đổi công việc trực tuyến với những đơn vị ở tại các tỉnh thành không thể tham
dự tại trụ sở làm việc (Ảnh 12, Phụ lục), các phòng họp gần như đều được trang bị những thiết bị tân tiến và hiện đại nhất và được đặt ở vị trí trung tâm (Ảnh 13, Phụ
lục) Mọi chi tiết dù là nhỏ nhất trong các phòng họp cũng như phòng làm việc của
cán bộ công nhân viên đều được tỉ mỉ sắp đặt và trang nghiêm, gọn gàng, thể hiệncho văn hoá công sở văn minh, hiện đại cũng như tính chuyên nghiệp mà Tổng công
ty tạo dựng và phát triển văn hoá doanh nghiệp Ngoài ra về cơ sở vật chất, trangthiết bị cần thiết như máy tính, máy in, đồ dùng văn phòng phẩm luôn được trang bịđầy đủ trong các phòng, Ban làm việc giúp mọi người không phải di chuyển quánhiều tránh mất thời gian trong khi làm việc và tác nghiệp Thêm vào đó để xây dựngmột môi trường làm việc xanh, sạch, đẹp và văn minh, Ban lãnh đạo cũng luôn chútrọng nhắc nhở bộ phận lao công phải kịp thời dọn dẹp vệ sinh để một hình ảnh củatrụ sở làm việc lớn của Tổng công ty luôn khang trang, sạch đẹp tạo cảm giác thoảimái cho mọi người khi tới cơ quan làm việc
Trang 322.1.2 Các nghi lễ
- Chuyển giao: Đối với loại hình này, các hoạt động của Tổng công ty Truyền
tải điện Quốc gia thường được tổ chức dựa trên những buổi lễ ra mắt nhằm giới thiệunhững thành viên mới của Ban quản trị Tổng công ty đối với các phòng ban và nội
bộ doanh nghiệp Những buổi lễ ra mắt đối với Hội đồng thành viên quản trị chungcủa Tổng công ty sẽ diễn ra với quy mô lớn với sự có mặt của toàn thể các đơn vị
trực thuộc nhằm giới thiệu những người lãnh đạo chung của EVNNPT Ngoài ra đối
với các đơn vị khối cơ sở, khi có sự bổ nhiệm mới về các vị trí lãnh đạo cũng được tổchức với hình thức như một buổi họp để thông báo với cán bộ nhân viên của đơn vịtại các trụ sở làm việc của họ và sau đó các đơn vị này phải có báo cáo lại về kết quả
của quá trình tổ chức thực hiện buổi lễ này với Ban lãnh đạo của EVNNPT (Ảnh 14,
Phụ lục) [7]
- Củng cố: Hàng năm EVNNPT đều tổ chức “Lễ vinh danh” đan xen với các
Hội nghị hay các cuộc thi được Tổng công ty tổ chức từ đó nêu lên những gươngsáng, điển hình và tiêu biểu trong Tổng công ty nhằm tôn thêm vị thế của thành viêncũng như củng cố những giá trị văn hoá là nét đẹp vốn có của người “lính truyền tảiđiện” Đây là dịp mà Tổng công ty có thể khẳng định cho những giá trị văn hoá củadoanh nghiệp mình cũng như tạo thêm động lực để cố gắng với toàn thể cán bộ côngnhân viên, người lao động có thể học hỏi theo, tiếp tục phát huy những thế mạnh vàgiá trị văn hoá không chỉ của bản thân mà còn là cho cả bộ mặt của Tổng công ty.Bên cạnh đó chính những sự kiện này sẽ như một con sóng lan toả ra khắp các đơn vị
của Tổng công ty để từ đó giúp họ có thêm niềm tin và sự tự hào đối với EVNNPT
mà từ đó ngày càng cố gắng trau dồi kiến thức, học hỏi kinh nghiệm để có thể hoàn
thành công việc một cách tốt nhất (Ảnh 15, Phụ lục) [7]
- Nhắc nhở: Loại hình này nhằm duy trì cơ cấu xã hội cũng như tăng thêm
năng lực tác nghiệp của doanh nghiệp [2, tr.41] Do đó ngay từ đầu năm, Ban lãnh
đạo cũng như Ban chỉ huy Công đoàn của EVNNPT đã luôn phát động các phong
trào thi đua gắn với việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
từ đó lấy những kết quả đã thực hiện các chỉ tiêu thi đua làm căn cứ đánh giá chohiệu quả lao động và chất lượng hoạt động của cán bộ công nhân viên, người laođộng Phong trào học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, luyện tay nghề,
Trang 33thi thợ giỏi luôn đáp ứng được yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới và được triểnkhai sâu rộng tới toàn thành viên Với khối các đơn vị trực thuộc Tổng công ty là
những phong trào xây dựng trạm đường dây tiêu biểu, “Lao động giỏi, lao động sáng
tạo”, “Hội Thi thợ an toàn, vệ sinh viên giỏi”, phong trào “Thi thợ quản lý vận hành giỏi hàng năm”; tổ chức các buổi lễ phát động phong trào thi đua đẩy nhanh tiến độ
các công trình trọng điểm cấp bách và công trình đồng bộ nguồn điện trên toàn
EVNNPT Việc tổ chức những sự kiện này ở cấp công ty sẽ được tổ chức mỗi năm 1
lần còn quy mô Tổng công ty sẽ là 2 năm/lần, và thông qua các cuộc thi này có thểgiúp nâng cao kỹ năng nghề, xây dựng được tác phong trong công việc cũng như tính
kỷ luật lao động cho đội ngũ lao động đang trực tiếp làm công tác quản lý và vận
hành đường dây, trạm biến áp trên lưới điện truyền tải (Ảnh 16, Phụ lục) [14, tr.7]
- Liên kết: Trong năm, phong trào thi đua liên kết, các công trình gắn biển
chào mừng các ngày kỷ niêm, ngày lễ lớn được các đơn vị cũng như Tổng công ty tổchức và tham gia sôi nổi Bên cạnh việc tổ chức những ngày kỷ niệm và truyền thống
của đất nước, EVNNPT còn có những hoạt động tổ chức các ngày lễ kỷ niệm truyền
thống khác dành cho các đơn vị được tổ chức định kỳ hàng năm vào những ngàyđánh dấu cho việc hình thành và phát triển của từng đơn vị cũng như của Tổng công
ty Truyền tải điện Quốc gia trong lĩnh vực truyền tải điện Những ngày trọng đại và
có ý nghĩa lịch sử này được nêu rõ ở trang 14, phần V trong “Sổ tay văn hoá
EVNNPT” như sau: [12, tr.13]
21/12/1954 Ngày Truyền thống ngành Điện lực
(Ngày Bác Hồ về thăm Nhà máy đèn Bờ Hồ)
15/09/1976 Ngày thành lập Công ty Truyền tải điện 4
01/05/1981 Ngày thành lập Công ty Truyền tải điện 1
01/11/1981 Ngày thành lập Ban QLDA các công trình điện miền Bắc
07/07/1988 Ngày thành lập Ban QLDA các công trình điện miền Trung
01/04/1990 Ngày thành lập Công ty Truyền tải điện 3
01/05/1990 Ngày thành lập Công ty Truyền tải điện 2
Trang 34Ngày đóng điện đường dây siêu cap áp 500kV Bắc - Nam (đánhdấu thời điểm lưới điện truyền tải Quốc gia được kết nối thống nhất trong cả nước)
01/08/1995 Ngày thành lập Ban QLDA các công trình điện miền Nam
01/07/2008 Ngày Truyền thống EVNNPT
Bên cạnh đó nhằm nâng cao đời sống tinh thần của công nhân viên chức laođộng tại các cơ quan đơn vị, tổ, đội, trạm; các Công đoàn cơ sở của Tổng công tycũng như tại các đơn vị luôn duy trì việc tổ chức thường niên các hội thao và hội
diễn văn nghệ truyền thống của các đơn vị (Ảnh 17, Phụ lục) Ngoài ra nhân dịp
triển khai các hoạt động trong “Tháng công nhân” thì Công đoàn của Tổng công ty
cũng thường xuyên thăm hỏi, động viên cán bộ công nhân viên, người lao động tạicác đơn vị khó khăn, vùng sâu, vùng xa, tại các công trình trọng điểm, các trạm chốtcũng như thăm hỏi các gia đình gặp nhiều khó khăn, các cán bộ hưu trí và hỗ trợ cácgia đình tu sửa nhà cửa Thêm vào đó để thể hiện sự quan tâm của Ban lãnh đạo dànhcho cán bộ công nhân viên nhằm có thể sẻ chia những khó khăn, vất vả cũng như hỗtrợ nhân đạo cho cán bộ công nhân viên chức cũng như các hoạt động hỗ trợ nhân
đạo khác như '“Tuần lễ hồng của EVN”, ; hàng năm Ban lãnh đạo và Ban Thường
vụ Công đoàn Tổng công ty sẽ ra Chỉ thị liên tịch về việc “Vận động quyên góp Quỹ
tương trợ xã hội” nhằm kêu gọi toàn thể công nhân viên chức lao động tại các đơn vị
trong Tổng công ty có thể tham gia đóng góp, cảm thông, san sẻ với những hoàncảnh gia đình cũng như cá nhân còn đang khó khăn tại Tổng công ty Nhìn chung cáchoạt động về công tác xã hội đối với không chỉ trong nội bộ doanh nghiệp mà cònvới trách nhiệm xã hội của mình, thể hiện những giá trị văn hoá vô cùng cao quý và
đáng tôn vinh đã được EVNNPT vô cùng quan tâm và chú trọng tổ chức cũng như
xây dựng các hoạt động này hàng năm [14, tr.5]
Ngoài ra Tổng công ty cũng tổ chức các buổi liên hoan tổng kết cuối nămnhằm báo cáo kết quả hoạt động trong một năm với quy mô toàn thể cán bộ côngnhân viên của Tổng công ty cũng như tổ chức những dịp nghỉ mát được chia vào 3đợt trong năm hay tổ chức các đoàn tham quan, học tập theo điều kiện thực tế củatừng đơn vị nhằm khích lệ và động viên tinh thần lao động, hăng say với công việc
Trang 35trong nội bộ thành viên của EVNNPT.
Logo của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia được tạo thành dựa trên cơ
sở của logo Công ty mẹ là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), với logo sử dụng
chung trong toàn tập đoàn vì vậy nhìn chung logo của EVNNPT không có sự thay
đổi nhiều Theo đó Logo của EVN gồm 2 phần chính:
* Phần hình:
Với ý nghĩa tượng trưng cho ánh sáng của điện năng với sản phẩm hàng hoáchính của EVN, logo của EVN có biểu tượng là hình ảnh ba ngôi sao bốn cánh đồngtâm nổi bật lớn dần từ trong ra ngoài thể hiện đặc tính kỹ thuật của công nghiệp điệnvới dòng điện ba pha cũng như ánh sáng đang toả chiếu tượng trưng cho sự đáp ứngcủa EVN đối với nhu cầu điện năng ngày càng tăng cao của nền kinh tế quốc dân vàđời sống xã hội Tiếp đó, với hình ảnh ngôi sao nhỏ trong cùng màu vàng nằm giữangôi sao lớn hơn màu đỏ gợi lên mối liên hệ với Lá cờ Tổ quốc tượng trưng cho hìnhảnh Việt Nam, thể hiện sứ mệnh quan trọng, cao cả cũng như sự cam kết của EVNđối với đất nước Ngôi sao ngoài cùng màu xanh đậm thể hiện sự quan tâm tới môitrường để phát triển EVN một cách bền vững Và vòng tròn hình địa cầu ở ngoài baotrọn lấy ba ngôi sao bốn cánh đồng tâm thể hiện cho mơ ước, khát vọng muốn vươn
ra các thị trường khu vực và trên thế giới của EVN (Ảnh 18, Phụ lục) [9]
* Phần chữ:
Là chữ “EVN”, theo kiểu chữ Helvetica Black, kiểu in đứng, màu xanh lamvới nghĩa viết tắt tiếng Anh cho tên của Tập đoàn Điện lực - Vietnam Electricity.Kiểu chữ Helvetica Black với đặc điểm các nét chữ đều đặn, đặc biệt là khi phóng tohay thu nhỏ vẫn đảm bảo kiểu chữ có độ đậm đồng đều, tạo nên hình ảnh về mộtEVN với tiềm lực vững chắc, phong cách hiện đại, khả năng phát triển bền vững vàhùng mạnh trong tương lai [9]
Điểm khác biệt trong logo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam với Tổng công ty
Truyền tải điện Quốc gia là ở dòng chữ của logo khi được sử dụng với EVNNPT sẽ
có thêm dòng chữ NPT viết tắt tên tiếng Anh của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia - National Power Transmission Dòng chữ NPT được viết theo kiểu chữ in
nghiêng ngay phía sau chữ EVN thể hiện cho việc Tổng công ty Truyền tải điện
Trang 36Quốc gia là công ty con thuộc quyền sở hữu của công ty mẹ là EVN Ngoài ra chữ
NPT có màu đỏ thể hiện cho ánh sáng của dòng điện năng được phát ra, thể hiện
chức năng chính là truyền tải điện của EVNNPT (Ảnh 19, Phụ lục).
2.1.4 Khẩu hiệu
Theo Ban lãnh đạo Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia cho biết, câu khẩu
hiệu được họ lựa chọn là “EVNNPT - Truyền niềm tin” nhằm khẳng định sự kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa của EVN và EVNNPT- với tư cách là một Tổng Công
ty trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, tạo nên sự đồng thuận và thống nhấttrong tiêu chí hành động, giá trị truyền thống và giá trị cốt lõi trong đại gia đình
EVN Trong đó việc đưa dòng chữ “EVNNPT” - tên viết tắt của Tổng công ty
Truyền tải điện Quốc gia lên đầu câu khẩu hiệu nhằm nhấn mạnh và khẳng định vị trí
và vai trò như một thực thể không thể thiếu, đã và đang không ngừng phát triển trongtoàn EVN Bên cạnh đó còn thể hiện được nét riêng biệt về chức năng, nhiệm vụ của
EVNNPT so với câu khẩu hiệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam "E\N - Thắp sáng
niềm tin” Với ý nghĩa như một bản cam kết của EVN trong việc luôn cố gắng cung
cấp đủ điện năng trên toàn quốc thì EVNNPT với cương vị là trục xương sống của
EVN trong việc truyền tải điện năng để cung ứng điện sẽ tạo thêm ý nghĩa và ngàycàng khẳng định vị thế, truyền thêm sức mạnh và niềm tin cho sự phát triển của công
ty mẹ là Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Chữ “truyền” trong câu khẩu hiệu được sử dụng mang nghĩa như sự lantruyền từ nơi này đến nơi khác, từ thực thể này đến thực thể khác Vì vậy câu “truyềnniềm tin” chính là sự thể hiện cho vai trò truyền niềm tin đã được EVN thắp sáng đến
mọi miền Tổ quốc Chữ “truyền” gợi ý đến nhiệm vụ chính trị của EVNNPT là
truyền tải điện nhưng không bị quá trực diện, cụ thể “Truyền niềm tin” còn là lantruyền sự phát triển và văn minh, những ước mơ, những thông điệp của cuộc sống,truyền tải những tâm huyết của những người “lính truyền tải điện” dành cho nhândân và cho sự phát triển của đất nước [10]
Khẩu hiệu “EVNNPT- Truyền niềm tin” chứa đựng đầy đủ bên trong lời cam kết nhất quán của EVNNPT về chất lượng dịch vụ và sản phẩm khi đưa ra cách so
sánh “điện năng được truyền tải” chính là “niềm tin” của khách hàng, của nhân dân.Câu khẩu hiệu đã thể hiện được mục tiêu, trách nhiệm và sứ mệnh thiêng liêng cao
Trang 37cả của EVNNPT trong việc đảm bảo truyền tải điện an toàn, liên tục, ổn định, giữ vai
trò hết sức quan trong trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước [10]
Ấn phẩm điển hình của EVNNPT được xem như là những tài liệu quảng cáo
về văn hoá doanh nghiệp có vai trò như một Hệ thống nhận diện thương hiệu củaTổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia, đây là một trong những tài sản thuộc quyền
sở hữu trí tuệ của Tổng Công ty Về những tài liệu này EVNNPT đã ban hành các
quy định rất cụ thể đối với từng nội dung trong Hệ thống nhận diện thương hiệu
Trước tiên những nội dung này đã được thể hiện qua việc ban hành “Sổ tay
văn hoá EVNNPT” cũng như được chuyển thể thành tài liệu video và các file âm
thanh về văn hoá doanh nghiệp của Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia cùng với
đó còn có một bộ phim tư liệu kể về lịch sử hình thành và giai đoạn phát triển saunày của Tổng công ty với độ dài 17 phút Bên cạnh đó còn là việc khẳng định và xây
dựng nhãn hiệu của EVNNPT cũng như các đơn vị trực thuộc đối với bên ngoài như:
[12, tr.7]
- Nhãn hiệu Công ty mẹ EVNNPT;
- Nhãn hiệu nhóm Ban QLDA các công trình điện;
- Nhãn hiệu nhóm Công ty Truyền tải điện;
- Nhãn hiệu nhóm Truyền tải điện khu vực
Ngoài ra còn một số những tài liệu quảng cáo khác có thể kể tới như:
- Hệ thống mẫu về: trụ sở, biển hiệu tại trụ sở các đơn vị; hệ thống biển cácphòng ban; nội quy công ty; băng khẩu hiệu ngang, dọc; phông hội nghị, hội thảo;logo cho xe ô tô; phù hiệu gài áo; logo in trên cavat; đồng phục của cán bộ nhânviên; ;
- Bài hát truyền thống “Hành khúc truyền tải điện Việt Nam” của nhạc sĩ An Thuyên được sử dụng tại các hội nghị, sự kiện do EVNNPT và các đơn vị trực thuộc
Tổng công ty chủ trì tổ chức;
- Hệ thống về văn phòng phẩm như: Nhãn địa chỉ; danh thiếp; thẻ nhân viên;
phong bì (Ảnh 20, Phụ lục); bộ giấy tiêu đề; kẹp tài liệu (Ảnh 21, Phụ lục); thiệp
hàng ngày; phiếu giải quyết công văn; chứng chỉ, bằng khen nội bộ; mẫu bộ giấymời; túi giấy; ;
Trang 38- Hệ thống về hồ sơ giao dịch: Cặp hồ sơ giao dịch; bìa hồ sơ;.;
- Tiêu đề và chữ ký thư điện tử;
- Thiết kế sản phẩm quà tặng: Cốc, bút; tranh
Ngoài ra công tác truyền thông, tuyên truyền trong việc quảng bá hình ảnh,
thương hiệu của EVNNPT cũng được chú trọng thông qua những kế hoạch truyền
thông được xây dựng cụ thể hàng năm theo từng quý, tháng và được triển khai đến
tất cả các đơn vị trực thuộc thực hiện EVNNPT trong thời gian qua đã xây dựng
được mối quan hệ và phối hợp tuyên truyền với các cơ quan thông tấn, báo chí có uytín với tầm ảnh hưởng trong xã hội nhằm truyền truyền các mặt hoạt động của
EVNNPT, đồng thời định hướng thông tin, chủ động cung cấp thông tin để sẵn sàng
xử lý các nguy cơ khủng hoàng về truyền thông trong thời gian nhanh nhất đúng theo
sự chỉ đạo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam Các chủ đề trọng tâm trong công tác
tuyên truyền về hình ảnh và hoạt động của EVNNPT luôn gắn liền với các dự án,
công trình truyền tải điện cũng như những vấn đề liên quan tới xã hội hoá công tácbảo vệ an toàn lưới điện cao áp [16, tr.12]
Bên cạnh đó trang tin điện tử EVNNPT cũng được quan tâm và ngày càng thể
hiện sự năng động và sáng tạo, phát triển thể hiện thông qua việc đăng tải những tintức đầy đủ, kịp thời về các hoạt động của Tổng công ty Số lượng tin, bài đăng tảitrên Trang tin vào năm 2017 đã tăng lên gấp 1,5 lần so với năm 2016; chất lượng tin,bài, hình ảnh ngày càng được cải thiện do đó số lượng người truy cập cũng cao hơnnhiều so với các năm trước đó [16, tr.12] Đây có thể nói là một hình thức quảng bá
hình ảnh của EVNNPT được nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất trong sự phát triển về
công nghệ thông tin vượt bậc như hiện nay.
2.2 Những biểu hiện phi trực quan của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia
Lý tưởng của EVNNPT đã được khẳng định và thể hiện trong sứ mệnh của mình là: “EVNNPT đảm bảo truyền tải điện an toàn, liên tục, ổn định cho các hoạt
động kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng và thị trường điện Việt Nam” Và
để thể hiện được những giá trị cao cả này và giúp doanh nghiệp có thể đi theo vàthực hiện sứ mệnh của mình tốt nhất, Tổng công ty Truyền tải điện Quốc giađã thểhiện những lý tưởng này trên những phương diện sau:
Trang 392.2.1.1 Mối quan hệ mang tính nhân văn đối với môi trường
Mối quan hệ mang tính nhân văn đối với môi trường bên ngoài doanh nghiệp
mà EVNNPT đã xác định rõ cũng như quy định rõ trong việc ứng xử giữa các mối
quan hệ này như thế nào để làm sao có thể thể hiện được những lý tưởng, sứ mệnhcủa bản thân doanh nghiệp mình một cách tốt nhất và phát triển bền vững nhất
* Đối với pháp luật
Theo đó EVNNPT đối với pháp luật - là môi trường tạo ra những hành lang
pháp lý để doanh nghiệp có thể hoạt động một cách đúng nhất, phù hợp nhất vớinhững gì là giá trị văn hoá truyền thống cũng như tôn chỉ của một quốc gia,
EVNNPT đã thể hiện mối quan hệ này bằng việc khẳng định cho một tập thể của
Tổng công ty Truyền tải điện luôn tôn trọng, tuân thủi các quy định cu a pháp luật
mà Nhà nước, Đảng và Chính phủ đã ban hành [13, tr.5] Trong đó nhấn mạnh việcluôn tuân thủ các luật hay các hiệp định ký kêt giữa Chính phủ Việt Nam vo'i chínhphủ các mi'o'c và các tô chư'c quôc tê có liên quan tới lĩnh vực truyền tải điện Ngoài
ra EVNNPT cũng đạic biệt quan tâm đên các luật điêu chinh trong các môi quan hẹ? cua EVNNPT nhu:: Luật Doanh nghiệp, Luật Diện lực, Luật Bao vệ môi truOmg, Bọ
Luật lao đọng,
* Đối với cơ quan nhà nước
Mối quan hệ đối với các co quan nhà nước trước tiên là đối với Đảng và Nhà
nựớc, EVNNPT đã cam kêt thực hiện tôt những nhiệm vu chính tri đu'ợc Đang và
Nhà nước giao, luôn thể hiện thái độ nghiêm chinh trong việc thực hiện các chi thi,Nghi quyêt cua Đang; chính sách và pháp luật cua Nhà mi'o'c
Thứ hai, đối với các Bọ ban ngành và co' quan quan lý Nhà mi'o'c, EVNNPT
cũng xác định với mối quan hệ này trong việc thể hiện sự cam kêt nghiêm túc trongviệc thực hiện những chi dạo cua các Bọ, ngành và co' quan quan lý Nhà mi'o'c tronglĩnh vực chuyên môn của mình
Ngoài ra Tổng công ty cũng xác định rõ sự cố gắng của mình trong việc phô ihọp chật che vo'i các co' quan chực nang để có thể giai quyêt các công việc có liênquan tới những co quan này mọt cách hiệu quả nhất Cũng nhự luôn thể hiện sự chuđọng, kip tho'i đê xuât các kiên nghi hay giải pháp vê nhùng vân đê còn đang vuo'ngmắc khi thực hiện các quy đinh, chế tài cua Nhà mi'o'c