Do đó, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhànước; tính hợp lý, hợp pháp của các chính sách được thực thi như thế nào phầnlớn phụ thuộc vào năng lực trình độ cán bộ, công chức.Để thực hiện th
Trang 1TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI
DƯỚI TRIỀU LÊ THÁNH TÔNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG TUYỂN CHỌN, SỬ DỤNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
•
TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI
DƯỚI TRIỀU LÊ THÁNH TÔNG VÀ BÀI HỌC
KINH NGHIỆM TRONG TUYỂN CHỌN, SỬ DỤNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3hoạch định chính sách, vừa là người vận hành hoạt động bộ máy nhà nước và làngười triển khai thực thi chính sách Do đó, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhànước; tính hợp lý, hợp pháp của các chính sách được thực thi như thế nào phầnlớn phụ thuộc vào năng lực trình độ cán bộ, công chức.
Để thực hiện thành công mục tiêu cải cách hành chính nhà nước là “xâydựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đạihoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cóphẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đấtnước” [2] trước hết phải thực hiện tốt công tác tuyển chọn và sử dụng đội ngũcán bộ, công chức Chỉ có như vậy, chúng ta mới có được đội ngũ cán bộ, côngchức có năng lực và trình độ làm việc hết mình đem lại hiệu quả
Mặt khác, hiện nay tình trạng “chảy máu chất xám” đang diễn ra phổ biếntrong các cơ quan hành chính nhà nước Bất cập hơn nữa là tệ quan liêu, tham ô,tham nhũng, lãng phí cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng chất lượngđội ngũ cán bộ, công chức Điều đó đặt ra một thách thức lớn trong việc thu hút
và giữ chân được người tài cũng như việc nâng cao trình độ và làm trong sạch độingũ cán bộ, công chức nhà nước
Với cách tiếp cận cho rằng hệ thống hành chính nhà nước muốn hoạt độngđạt hiệu quả cao thì trước hết phải có các nhà lãnh đạo giỏi cùng đội ngũ côngchức đủ năng lực và liêm khiết, thì việc nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng nhữnggiá trị thực tiễn của lịch sử dân tộc cũng như các nước trên thế giới vào quá trìnhtuyển chọn và sử dụng cán bộ, công chức ngày nay là điều hết sức có ý nghĩa vàcần thiết Nghiên cứu lịch sử hành chính nhà nước Việt Nam giúp chúng ta hiểu
rõ những giá trị lịch sử mà cha ông để lại, để từ đó rút ra những nhận xét, nhữngbài học quý báu có thể vận dụng vào thực tiễn cải cách nền công vụ hiện nay
Lịch sử Việt Nam đã trải qua rất nhiều cuộc cải cách hành chính lớn nhỏkhác nhau Trong đó, cải cách hành chính của Lê Thánh Tông được đánh giá làcuộc cải cách thành công và toàn diện nhất Một trong những nội dung quantrọng trong cuộc cải cách đó là vấn đề tuyển chọn và sử dụng quan lại Kết quả là
Lê Thánh Tông có được đội ngũ quan lại vừa có thực tài vừa có tâm huyết cùngchung tay xây dựng nên một triều đại phong kiến cực thịnh bậc nhất trong lịch sửdân tộc Việt Nam
Trang 4Mặc dù nội dung này đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Nhưngnghiên cứu dưới góc độ hành chính học thì chưa được làm sáng tỏ.
Do đó, chúng tôi chọn đề tài “Tuyển chọn và sử dụng quan lại dưới triều
Lê Thánh Tông và bài học kinh nghiệm trong tuyển chọn, sử dụng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu với mong muốn tìm ra những
hạt nhân hợp lý bổ khuyết cho công tác tuyển chọn và sử dụng cán bộ, công chứchiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu cuộc cải cách hành chính của vua Lê Thánh Tông nóichung và cải cách trong việc tuyển chọn và sử dụng quan lại nói riêng của triềuđại này, hướng đến 2 mục tiêu:
+ Rút ra ý nghĩa, giá trị của những cải cách đó đối với hoạt động quản lýhành chính nhà nước triều đại Lê Thánh Tông;
+ Rút ra bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc tuyển chọn và sửdụng cán bộ, công chức hiện nay Nhất là trong điều kiện ngành Nội vụ đang xâydựng và hoàn thiện đề án thu hút nhân tài vào làm việc trong các cơ quan nhànước
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Tuyển chọn quan lại dưới triều Lê Thánh Tông
- Sử dụng quan lại dưới triều Lê Thánh Tông( 1460-1497)
4 Giả thuyết nghiên cứu
Vua Lê Thánh Tông đã tiến hành những cải cách trong tuyển chọn và sửdụng quan lại một cách triệt để từ đó làm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt độngcủa bộ máy nhà nước triều vua Lê Thánh Tông Do đó, nghiên cứu cách thứctuyển chọn và sử dụng quan lại dưới triều Lê Thánh Tông sẽ giúp tìm ra nhữngbài học kinh nghiệm vận dụng trong tuyển chọn và sử dụng cán bộ, công chức ởViệt Nam hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đềsau:
+ Làm rõ vai trò, vị trí của đội ngũ quan lại trong thời phong kiến;
+ Chỉ ra sự tiến triển trong cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại ở một
Trang 5số triều đại phong kiến Việt Nam để thấy được tính kế thừa và tính thực tiễn củacác biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ quan lại ở mỗi giai đoạn lịch sử.
+ Nghiên cứu thiết chế tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê Thánh Tông.+ Nghiên cứu việc tuyển chọn quan lại thời Lê Thánh Tông
+ Nghiên cứu việc sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông
+ Phân tích sự tác động của việc tuyển chọn quan lại dưới triều Lê ThánhTông tới hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước
6 Tình hình nghiên cứu
Về nội dung cải cách hành chính nói chung, các vấn đề liên quan đếntuyển chọn và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông đã được rất nhiều các nhàkhoa học trong và ngoài nước nghiên cứu dưới nhiều giác độ, phạm vi khác nhau
Ở trong nước, ngay từ thế kỷ XV các tác giả của bộ sách Đại Việt sử kýtoàn thư, Phan Huy Chú với bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí, đã trình bày
và phân tích lại những cải cách của Lê Thánh Tông Các tác giả của các bộ sách
sử này đã ghi chép và phản ảnh diễn biến và diễn tiến những cải cách của Vua LêThánh Tông và đưa ra những nhận xét khái quát về công cuộc cải cách
Ngày nay, những thành tựu mà Lê Thánh Tông đạt được tiếp tục được cácnhà khoa học, các sử gia phân tích làm sáng tỏ vấn đề Nhân dịp kỷ niệm 500ngày mất của ông, hội thảo khoa học“ Lê Thánh Tông con người và sự nghiệp”
do trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn phối hợp với đại học Sư phạm,Viện sử học, tổ chức Buổi hội thảo tập hợp 33 báo cáo khoa học đưa ra nhữngphát hiện, kiến giải mới phát hiện về Lê Thánh Tông trên mọi phương diện.Trong đó cũng có rất nhiều vấn đề liên quan đến cải cách hành chính, tuyển chọn
và sử dụng quan lại dưới triều của ông được trình bày tại hội thảo này
Năm 1997, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành cuốn sách “LêThánh Tông vị vua anh minh, nhà canh tân đất nước” của tác giả Lê Đức Tiết.Công trình này đã phân tích một vài khía cạnh của tuyển chọn và sử dụng quanlại thời Lê Thánh Tông, phân tích vấn đề kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ, Năm 2006, giáo sư Văn Tạo công bố công trình nghiên cứu“ 10 cuộc cải cách,đổi mới trong lịch sử Việt Nam” trong đó cũng phân tích các nội dung tuyển chọn
và sử dIng quan lại gắn liền với nội dung cải cách hành chính của Lê Thánh Tông
đã đánh giá những thành tựu nổi bật của vua Lê Thánh Tông trong công cuộc xây
Trang 6dưng và phát triển quốc gia phong kiến Đại Việt.
Ngoài ra còn có rất nhiều những bài phân tích, bình luận trên các tạp tríkhoa học như: tạp chí Nghiên cứu lịch sử, tạp chí Xưa và Nay, tạp chí Dân chủ vàPháp luật, về nội dung cải cách hành chính nói chung và vấn đề tuyển chọn và sửdIng quan lại thời Lê Thánh Tông nói riêng
Như vậy, liên quan đến vấn đề tuyển chọn và sử dIng quan lại thời LêThánh Tông đã có rất nhiều nghiên cứu hoặc là đề cập trực tiếp hoặc khái lượctrên một số phương diện Những công trình này cung cấp cho nhóm tác giảnghiên cứu nhiều tư liệu quý giá Trên cơ sở kế thừa và phát huy thành tựu củacác công trình nghiên cứu đã có, nhóm nghiên cứu tiếp tIc phân tích và tìm hiểuvấn đề tuyển chọn và sử dIng quan lại thời Lê Thánh Tông dưới góc độ hànhchính học để đánh giá, so sánh và rút ra bài học cho công cuộc cải cách hànhchính hiện nay
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vậtlịch sử
Phương pháp cI thể: thu thập thông tin, tổng hợp, phân tích, thống kê, sosánh và nghiên cứu tài liệu thứ cấp,
9 Nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục tham khảo; nội dung chính của đề tàigồm 3 chương:
Chương 1: Tuyển chọn và sử dụng quan lại ở một số triều đại Việt Nam
Trang 7Chương 2: Tình hình tuyển chọn và sử dụng quan lại triều Lê Thánh Tông.Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm từ việc tuyển chọn và sử dụng quan lạidưới triều Lê Thánh Tông trong công tác tuyển dụng và quản lý cán bộ, côngchức ở Việt Nam hiện nay.
Trang 8Chương 1.
TỔNG QUAN VỀ TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI
Ở MỘT SỐ TRIỀU ĐẠI VIỆT NAM 1.1 Quan lại và vai trò của quan lại dưới chế độ phong kiến
Trong thời phong kiến thuật ngữ dùng để chỉ những người làm việc cho
nhà nước là quan lại.
Theo Từ điển Tiếng Việt, Quan là người có quyền hành trong bộ máy nhà nước phong kiến, thực dân [3, 990] Còn Lại là tên gọi chung chỉ viên chức sơ
cấp chuyên làm công việc bàn giấy trong bộ máy nhà nước phong kiến [3, 664]
Trong cuốn từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, quan lại là những
người giữ các chức vụ từ cấp huyện trở lên trong bộ máy nhà nước phong kiến và
thuộc địa trước đây Những người điều hành gọi chung là quan và những người thừa hành gọi chung là lại.
Như vậy, Quan là người giữ cương vị chỉ huy, điều khiển công việc, trị dân Còn Lại là người thừa hành công việc giúp quan Quan do vua tuyển chọn, chỉ định và bổ dụng, thường thay đổi Nói cụ thể hơn Quan là người đứng đầu trong một cơ quan của nhà nước phong kiến, là người quản lý, lãnh đạo Còn lại
là viên chức thừa hành, là nhân viên dưới quyền của Quan Lại do Quan lựa
chọn mang tính chất ổn định hơn để phục vụ nền hành chính của nhà nước phongkiến
Ở thời phong kiến, nói đến khái niệm quan lại thì thường đi kèm với đó làcác khái niệm: hàm, phẩm trật, chức, tước của quan lại để chỉ chức danh, ngạch,bậc của từng chức quan
- Hàm là chức vụ về danh nghĩa không có thực quyền Theo quan chế đời
Hồng Đức năm thứ 2 (1471), việc phong hàm cho người có công như sau: Về vănban: quan chánh nhất phẩm hàm thượng trụ quốc, quan tòng nhất phẩm hàm trụquốc, chánh nhị phẩm hàm chính thượng khanh,
- Phẩm trật là cấp bậc của quan lại, là căn cứ để tính lương Ví dụ, chánh
nhất phẩm, tòng nhất phẩm, v.v Mỗi phẩm trật lại chia ra làm nhiều tư, việcthăng chức tính từng tư, đủ số tư được thăng một cấp Biếm chức cũng vậy, biếmtừng tư, đủ số tư hạ một cấp Quan chế đời Hồng Đức có 24 tư tương ứng với
Trang 9phẩm hàm, tước của từng vị quan (xem bảng thông tư, phẩm, hàm thời HồngĐức, năm 1471).
- Chức là chức vụ mà quan lại đó đảm nhiệm Ví dụ, chức Đại tổng quản
(chức quan coi giữ việc quân ở trong kinh), Thượng thư Bộ Lại (chức quan đứngđầu giúp vua quản lý đội ngũ quan lại của nhà nước phong kiến), Hà đê chánh sứ(chức quan trông coi đê điều),
- Tước là hình thức vua phong cho con cháu hoàng tộc, quan lại có công
lớn Theo quan chế thời Hồng Đức, các tước có: tước vương, tước công, tướchầu, tước bá, tước tử, tước nam Các tước này lúc đầu đều là danh quan sauchuyển thành tước quan
+ Tước vương, nhà vua phong cho thân vương, hoàng tử, lấy tên một phủ
làm hiệu Ví dụ, Kiến Hưng vương, Kiến Xương vương,
+ Tước công, dưới tước vương, được nhà vua phong cho con của Thái tử
và thân vương, lấy mỹ tự làm hiệu Ví dụ, Triệu Khang công Công thần cũngđược phong quốc công, quận công lấy phủ, huyện làm hiệu
+ Tước hầu, nhà vua phong cho con trưởng của tự vương có tước công,
lấy mỹ tự làm hiệu Ví dụ, Vĩnh Kiến hầu Công thần được phong tước hầu thìlấy tên xã làm hiệu Ví dụ, Nam Xương hầu
+ Tước bá, phong cho Hoàng thái tôn, các con của tự vương có tước công.
Đối với công thần được phong bá thì lấy tên xã làm hiệu
+ Tước tử, phong cho các con của thân công chúa, con trưởng của các
tước hầu, bá; lấy mỹ tự làm hiệu Công thần được phong tước tử ngang với tòngnhất phẩm
+ Tước nam, được nhà vua phong cho con trưởng của thân công chúa
được truy tặng và các con của tước hầu, tước bá; lấy mỹ tự làm hiệu Công thầnđược phong tước nam ngang với chánh nhị phẩm
Mục đích của việc quy định các tước vị này nhằm xác định rõ mối quan hệtrong thân tộc nhà vua và xác lập địa vị cao thấp trong hệ thống quan lại nhànước phong kiến, thứ bậc bao thấp trong xã hội phong kiến Đây là sự ảnh hưởngcủa thuyết “chính danh”, tạo ra sự phân biệt thứ tự và đẳng cấp của các quan Bêncạnh đó, việc phân định tước vị còn là cơ sở để nhà nước phong kiến áp dụng chế
độ lượng bổng và quy định trách nhiệm, hình phạt đối với đội ngũ quan lại
Như vậy, Quan lại có thể được hiểu là những người làm việc trong bộ
Trang 10máy nhà nước phong kiến, được ban phẩm, trật, chức, tước và được triều đìnhphong kiến cấp lương, bổng, lộc để làm việc.
1.1.2 Vị trí và vai trò của quan lại
Trong xã hội phong kiến, khi công thức “nho học >> thi cử >> quantrường” trở thành kim chỉ nam cho những đấng “tu mi nam tử” rèn đức, luyện trí
và hướng tới danh vọng cuối cùng là cố gắng phấn đấu thi đỗ để được triều đìnhphong kiến tuyển bổ một chức quan nhất định Bởi lẽ: “tiến vi quan, thoái vi sư”
Trong trật tự đẳng cấp của xã hội phong kiến “Vua - Quan - Thần dân” đãđịnh vị và xác định rõ vai trò của tầng lớp quan lại trong xã hội phong kiến
Trước hết, đối với vua, quan lại thực hiện hai chức năng Chức năng giúpvua cai trị và chức năng tư vấn cho nhà vua
Thực hiện chức năng giúp vua cai trị, quan lại tùy theo chức, tước và địa vịcủa mình sẽ giúp vua cai trị một phạm vi lãnh thổ nhất định hoặc một lĩnh vựcnhất định Khi đó quan lại thay mặt vua cai quản một vùng đất và thực thi cả baquyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong phạm vi quản lý Quan lại có tráchnhiệm báo cáo với triều đình trung ương về việc thực hiện chức năng cai trị củamình
Khi làm nhiệm vụ tư vấn, quan lại sẽ tham mưu, đề xuất cho vua nhữngchính sách, chính lệnh, chỉ dụ, sắc phong, để nhà vua trị vì Một số triều đại cònđặt ra chức quan “can gián đại phu” để chuyên can gián vua khi vua đưa ra nhữngchính sách quản lý Khi một vị quan có ý tưởng hoặc muốn tư vấn cho vua mộtvấn đề gì thì vị quan đó phải trình cho vua bản “tấu sơ” và giải thích cho vua vềnội dung “tấu sớ” đó
Để thực hiện vai trò là tôi trung của vua, quan lại phải trung thành với vuatheo tư tưởng “trung quân, ái quốc” Bên cạnh đó, quan lại phải triệt để tuân thủ
và thực hiện mọi mệnh lệnh của vua theo tinh thần “quân xử thần tử, thần bất tửbất trung”
Thứ hai, đối với dân chúng, quan lại được coi là cha mẹ “thứ hai” của dântheo quan niệm “dân chi phụ mẫu” Quan lại vừa có trách nhiệm cai trị và quản lýdân chúng vừa có nhiệm vụ giáo hóa dân chúng trong việc tuân thủ những quyđịnh của triều đình và chăm lo cho “lễ”, “nhạc”
Để thực hiện vai trò này, đối với dân, quan lại phải lo cho dân, phải thanhliêm Đối với bản thân, quan lại phải giữ lễ giáo, phải thực hiện nếp sống của
Trang 11người “quân tử” và hành sự theo tư tưởng “chính danh”; “tề gia, trị quốc, bìnhthiên hạ”.
1.2 Cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại ở một số triều đại Việt
Nam
1.2.1 Cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại của triều Đinh, Tiền Lê
Triều Đinh, Tiền Lê được thành lập bước đầu đã thiết lập, phác hoạ được
mô hình nhà nước quân chủ Vì vậy, việc tuyển chọn và sử dụng quan lại chưađịnh hình đầy đủ
Xuất thân từ dân võ biền, vua Đinh, vua Lê chưa nhận thức sâu sắc về vaitrò, vị trí của quan lại trong bộ máy chính quyền Vua Đinh, Vua Lê không đặt ratiêu chuẩn cụ thể về năng lực, trình độ của từng chức quan
Việc tuyển chọn quan lại dựa trên nguyên tắc tuyển chọn theo huyết thống
và công lao, nhà vua đích thân tuyển chọn quan lại theo các hình thức sau:
- Vua phong vương cho con cháu và cắt cử đi trấn các nơi trọng yếu ĐinhTiên Hoàng phong con thứ là Đinh Toàn làm vệ vương, con nhỏ là Hạnh Langlàm thái tử Con trai cả là Đinh Liễn có nhiều công trạng trong việc dẹp loạn 12
sứ quân được phong làm Nam Việt Vương
- Vua sử dụng các tướng lĩnh có công dẹp loạn 12 sứ quân Vua phong chogiữ các chức vụ quan trọng trong triều đình Đinh Quốc công Nguyễn Bặc, Ngoạigiáp Đinh Điền đều làm đại thần phụ chính;
- Đối với các quan lại địa phương, vua vẫn dùng các quan lại là hàotrưởng, tù trưởng người địa phương hoặc bổ dụng một số văn thân để quản lý cácvùng đất ấy Ví dụ, hào trưởng Lê Lương là một hào phú ở Đông Sơn (ThanhHoá) giữ chức Trấn Quốc bộc xạ, Con cháu của các hào trưởng này được kế vị
vùng đất cha mình đang cai quản theo hình thức “cha truyền con nối” và được
vua công nhận
Do chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của đội ngũ quan lại, cácVua Đinh, Vua Lê chưa có những quy định cụ thể về lương bổng đối với quanlại
Nhà vua chỉ dựa vào ruộng đất để ban thưởng cho quan lại Các quan lạiđược ban đất để hưởng thuế Ví dụ, Trần Lãm được ban thực ấp ở Sơn Nam, Quan địa phương hưởng một phần thuế ruộng thuộc thuộc phần đất cai quản Ví
Trang 12dụ, Hào trưởng Lê Lương được hưởng phần đất thuộc 3 huyện Đông Sơn, ThiệuHoá, Quảng Xương tỉnh Thanh Hoá (ngày nay).
Thời Đinh, Phật giáo được coi là quốc giáo Đường lối trị nước bị chi phốibởi tư tưởng Phật giáo Vì vậy, vua Đinh sử dụng các nhà sư thuộc hệ thống tăngquan để phụ giúp triều đình trông coi chính sự Nhà sư Ngô Chân Lưu hiệu làKhuông Việt Thái sư, giữ vai trò cố vấn cho nhà vua, quyền hành ngang tể tướng
Có thể thấy, trong tổ chức bộ máy triều đình nhà Đinh mang đậm tính chấtgia đình trị Bộ máy nhà nước thiết lập dựa trên hai mối quan hệ: quan hệ huyếtthống hoàng tộc chi phối quan hệ vua tôi Các thành viên của hoàng tộc được vuaphong chức, tước; các quan lại do vua trực tiếp cắt cử Họ thuộc hàng ngũ võquan thân thiết Điều đó thể hiện sự thuần phát và là bước chuyển tiếp từ cáchthức quản lý mang tính chất làng, xã, bộ tộc với vai trò của người thủ lĩnh võ biềnsang hình thức quản lý của nhà nước trung ương tập quyền
Triều Đinh suy tàn, nhà Tiền Lê lên thay tiếp tục duy trì và phát triểnnhững thành quả mà nhà Đinh đã đạt được trong tuyển chọn và sử dụng quan lại.Trong cách tuyển chọn và sử dụng quan lại của triều Tiền Lê có một số điểmđáng chú ý:
- Triều đình đặt thêm nhiều chức quan Ở trung ương có Thái sư, Thái uý,Đại tổng quản, Cấp địa phương có An phủ sứ cai trị các lộ; Tri phủ, tri châu caitrị các phủ, châu Quan này đều do vua bổ nhiệm
- Nhà vua cũng dùng một số văn thần bên cạnh võ quan để cai quản đấtnước Ví dụ, Hồng Du người Trung Hoa được bổ nhiệm làm Thái sư, thân cậnbên vua bày mưu, lo toan việc nước
- Nhà Tiền Lê đã quan tâm tới xây dựng hệ thống phép tắc để quan lại theoluật mà thừa hành chính lệnh Năm 1002, Vua Lê định “Luật lệnh” Tuy phápluật thì hà khắc, nghiêm nhưng tuỳ tiện và hay áp dụng tập quán Việc xét xử viphạm của quan lại ở trung ương chủ yếu do vua quyết định, còn ở địa phương docác quan trông coi xét xử
Như vậy, ở thời vua Đinh, Tiền Lê việc tuyển chọn và sử dụng quan lại cómột số đặc điểm chính sau:
- Tính thân tộc, quan hệ huyết thống chi phối cách tuyển chọn và sử dụngquan lại
- Việc tuyển chọn quan lại chưa có quy định cụ thể Các quan trong triều
Trang 13đều là con cháu vua, hoặc là các võ tướng Tầng lớp quan lại đa phần là các võquan để siết chặt quản lý theo mô hình hành chính - quân sự.
- Triều đình chịu nhiều ảnh hưởng tư tưởng của đạo phật, vua tin dùng cácnhà sư có học vấn uyên thâm để cai trị đất nước
- Trong buổi đầu gây dựng triều chính, nhà nước chưa xây dựng các quyđịnh về quan chế Quyền lực dòng họ nhà vua không đủ mạnh Vấn đề tuyểnchọn người tài ra làm quan chưa được đặt ra
Lý Công Uẩn lên ngôi vua, đặt dấu mốc quan trọng cho sự ra đời và pháttriển nhà nước quân chủ chuyên chế Đại Việt So với triều Đinh, Tiền Lê, việctuyển chọn và sử dụng quan lại ở triều Lý có quy chế rõ ràng, phác hoạ đượcnhững nét cơ bản về quan chế thời phong kiến
Quan lại thời Lý được tuyển chọn theo tiêu chuẩn:“ thân” (quan hệ họ hàng trong hoàng tộc), “huân” (có công đặc biệt), “tiến cử” và “thi cử” Trong đó
tiêu chuẩn thân, huân là quan trọng nhất
Mô hình gia đình trị tiếp tục được củng cố Giống như vua Đinh, vua Tiền
Lê, các vua Lý phong vương cho các hoàng tử và cử đi trấn trị các địa phương.Nhưng sau loạn“ tam vương”, thì quyền hành các hoàng tử bị hạn chế rất nhiều,chỉ làm nhiệm vụ thu thuế cho triều đình trung ương
Những người thân, con cháu trong hoàng tộc, quan lại có công lớn đượcvua ban chức tước, tuyển chọn vào những chức vụ quan trọng trong triều Cácchức quan gồm tam Thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo), tam Thiếu (Thiếu sư,Thiếu phó, Thiếu bảo), Đô thống, Nguyên soái,
Ở miền núi, sự chi phối của triều đình trung ương chưa đủ mạnh Các vua
Lý vẫn tuyển chọn các hào trưởng, tù trưởng là người địa phương để quản lý
Con cháu họ được quyền theo tục lệ “cha truyền con nối” Vua Lý thực hiện
chính sách dùng quan hệ hôn nhân để lôi kéo, tác động tới các châu mục, tùtrưởng buộc họ phải thần phục của triều đình
Bắt đầu từ thời Lý, việc tuyển chọn quan lại qua hình thức thi cử đượcthực hiện Năm 1075, khoa thi “Minh kinh bác học” được tổ chức để chọn người
ra làm quan quản lý đất nước Đây là bước tiến bộ trong nhận thức của nhà Lý vềvấn đề tuyển chọn quan lại Để cai trị đất nước, quan lại phải có tri thức
Trong thi cử, nhà Lý vẫn ưu tiên tuyển cử trong hoàng tộc sau mới đến các
Trang 14con cháu quan lại Đối tượng dự thi là dân thường rất ít Việc tổ chức thi cũngkhông thường xuyên, phụ thuộc vào nhu cầu tuyển dụng người tài bổ sung vào bộmáy nhà nước Vương triều nhà Lý tồn tại trong 215 năm trải qua 9 đời vuanhưng chỉ tổ chức được 7 kỳ thi Quy chế thi cử thiếu chặt chẽ, chưa đi vào quy
củ, nền nếp Mặc dù vậy, tuyển chọn quan lại qua thi cử đã đặt nền móng chọ sựphát triển giáo dục và đào tạo Thi tuyển là cơ sở để xây dựng đội ngũ quan lại cótri thức để quản lý đất nước Nó phá vỡ dần quan niệm truyền thống chỉ sử dụngngười thuộc hoàng tộc ra làm quan
Năm 1077, vua Lý Nhân Tông tổ chức kỳ thi lại viên để tuyển chọn quanlại Bài thi gồm 3 môn: viết chữ, làm toán, hình luật Đây là những yêu cầu cănbản mà quan lại phong kiến phải biết Họ phải có kỹ năng soạn thảo văn bản,chiếu, biểu (thi chữ viết), phải biết tính toán để thu thuế ruộng, kiểm kê dân đinh(làm toán); phải biết pháp luật để xét xử các vụ kiện tụng (hình luật)
Ngoài các hình thức tuyển chọn quan lại trên, nhà Lý còn áp dụng hìnhthức mua quan Người muốn làm quan thì nộp một số tiền theo quy định để đượctrao một chức quan Những trường hợp mua quan chỉ thuộc quan địa phương.Hình thức này tuy không phổ biến, nhưng nó phản ánh tính bất công bằng trongcách tuyển chọn và quan lại của triều Lý Người có tiền thì có cơ hội làm quan.Không xem xét đến yếu tố tài năng, phẩm hạnh Lệ mua quan bắt đầu có từ thờiLý
Như vậy, trong cách tuyển chọn quan lại thời Lý đã có tiến bộ khi bắt đầu
áp dụng hình thức thi tuyển Tiêu chuẩn quan lại phải có tri thức được đưa vào sửdụng trong cách tuyển chọn là tiền đề cho sự hình thành đội ngũ quan lại tri thức
ở các triều đại sau này
Về sử dụng quan lại: Quan chế thời Lý đặt ra 9 bậc phẩm trật Việc sắp
xếp, bố trí quan lại được quy định cụ thể Quan lại chia làm hai ban văn, võ cóhàm từ nhất phẩm đến cửu phẩm Quan lại địa phương có tri phủ cai trị các phủ;huyện lệnh cai trị các huyện Các quan địa phương có phẩm trật từ cửu phẩm đến
tứ phẩm Ở cấp trung ương quan có phẩm trật từ tứ phẩm đến nhất phẩm
Các vua Lý tiếp tục duy trì tổ chức tăng quan thời Đinh - Tiền Lê Nhưngcác sư không được tham gia quản lý hành chính trực tiếp như trước Tăng quantrong triều Lý là những người giúp việc vua quản lý các tăng đồ về mặt hànhchính và bảo vệ các quyền lợi Phật giáo
Trang 15Về đào tạo quan lại: Rút kinh nghiệm từ thời Lê Hoàn, các vua Lý nhận
thức được vai trò quan trọng của giáo dục, đào tạo các hoàng tử Hoàng tử kếnghiệp phải có tri thức, có hiểu biết và là người văn võ song toàn Vua cho Thái
tử lập cung Long Đức ở ngoài thành Vua huấn luyện Thái tử quan sát tình hìnhdân chúng, thâm nhập thực tế liệu bề cai trị đất nước Ngoài ra, Thái tử phải đọcsách và có thầy dạy học riêng
Con cháu các quan lại thì sung vào học ở Quốc tử giám để tuyển bổ saunày Các quan lại cũng phải tự học kinh thư, kế sách trị nước
Về lương bổng: Ý thức được tầm quan trọng của nhân tố thúc đẩy quan lại
tận tâm làm việc công, các vua Lý bắt đầu định lệ cấp bổng lộc cho quan lại.Bổng lộc bảo đảm cuộc sống cho quan lại Nó có tác dụng khuyến khích quan lạihết mình vì công việc, tận trung với vua
Năm 1067, vua Lý Thánh Tông định lệ cấp bổng lộc cho một số chứcquan: quan đô hộ phủ sĩ mỗi năm được cấp 50 quan tiền, 100 bó lúa, các thứ cámắm, các viên giữ ngục được 20 quan tiền và 100 bó lúa,
Các quan cao cấp trong triều được ban thật phong, thực ấp1 Số lượng thực
ấp, thật phong tuỳ theo công trạng, chức, tước của các quan Chức, hàm càng caothì được hưởng càng nhiều Ví dụ, Lý Thường Kiệt được ban thực ấp là 10.000
hộ và thật phong là 4.000 hộ, Triều Lý còn có hình thức ban ruộng thác đao và
ấp thang mộc cho quan lại có công Người nhận ruộng đó được hưởng phần
“thuế ruộng thác đao”.
Các vua Lý cho phép quan lại thu thuế của nhân dân ngoài phần đóng vào
kho nhà nước, được thu riêng một phần gọi là “hoành đấu” [4] Nhưng nếu thu
quá số ấy thì bị khép vào tội ăn trộm Việc vi phạm bị xử phạt nghiêm minh Khổ
ti thu thuế, nếu ăn lễ lấy lụa của nhân dân thì cứ mỗi thứ lụa phạt 100 trượng, 1tấm lụa đến trên 10 tấm thì theo số tấm, thêm phối dịch 10 năm
Cách ban thưởng, cấp phát lương bổng như trên chưa bảo đảm tính côngbằng và đánh giá khách quan công trạng của quan lại Vì ban thưởng theo chức,tước, phụ thuộc vào cảm tính của vua và người được ban thưởng Nhung nó cótác dụng tích cực thúc đẩy quan lại làm việc Gắn quan lại với công việc Dùngtiền lương để đánh giá hiệu quả lao động của các quan
quan được thưởng được phép hưởng phần thuế ruộng mà số hộ đó nộp cho nhà nước Còn thật phong là số hộ thực tế được
Trang 16Về kiểm tra, giám sát, đánh giá quan lại: Nhà Lý quan tâm xem xét kết
quả thực thi công việc của quan lại Năm 1501, vua Lý Thái Tông định phépkhảo hạch các quan văn, võ; ai làm việc mà không có tội thì được thăng chức,tước theo thứ bậc khác nhau Đến năm Nhâm Ngọ (1162), đời vua Lý Anh Tôngthực hiện phép khảo khoá các quan văn, võ; 9 năm một lần, người nào đủ niênhạn để khai khoá mà không có lỗi thì thăng trật Đến năm 1179 đời vua Lý CaoTông, quy định cụ thể việc xét công trạng các quan để phân ra 3 hạng làm căn cứthăng quan tiến chức:
- Loại cần mẫn, có tài cán nhưng không biết văn tự;
- Loại quan biết văn tự;
- Loại quan có tuổi quan, có đức hạnh, thông hiểu công việc xưa nay[5].Như vậy, bắt đầu từ thời Lý đã có phép khảo công các quan lại để đánh giá
và thăng tiến quan chức Tuy nhiên, công việc này chưa đi vào nền nếp, quy củ,quy định chưa rõ ràng Việc phân loại quan lại chưa được chính xác, không đánhgiá đúng thực tài của quan lại
Việc quy định cụ thể phẩm trật, ban thưởng, xây dựng cơ chế kiểm tra,giám sát,.cho thấy trong cách sử dụng quan lại, nhà Lý bước đầu chú trọng pháthuy hiệu quả nguồn lực con người Các vua Lý quan tâm hơn tới vai trò của quanlại Quan lại vừa là công cụ để quản lý đất nước vừa là nhân tố bảo đảm cho sựtồn tại của vương triều nhà Lý
Việc tuyển chọn và sử dụng quan lại thời Lý tiến bộ hơn so với thời Đinh,Tiền Lê Vấn đề thi tuyển quan lại đã được đặt ra Công tác đào tạo quan lại đượcchú trọng Đời sống vật chất và tinh thần của quan lại được quan tâm Quy chếnền công vụ rõ ràng hơn Tuy nhiên, cách tuyển chọn và sử dụng quan lại thời Lýcũng có những hạn chế nhất định Hình thức thi cử để chọn quan lại chưa thu hútđược nhiều người tài Hệ thống đào tạo, bồi dưỡng quan lại còn sơ khai Quan lạichưa có lương bổng cụ thể, Những hạn chế, thiếu sót này tiếp tục được các triềuđại sau bổ sung, hoàn chỉnh
1.2.3 Cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại của triều Trần
Năm 1225, sau cuộc“ đảo chính cung đình”, Trần Cảnh lên ngôi vua,
hiệu là Trần Thái Tông, vương triều nhà Trần chính thức được thiết lập Thiết chếchính trị nhà Trần thể hiện bước phát triển cao hơn thời Lý về quy mô cũng nhưtrình độ quản lý, từ việc củng cố bộ máy nhà nước cho đến tuyển chọn, đào tạo,
Trang 17huấn luyện và sử dụng quan lại.
Về tuyển chọn quan lại:
Bài học từ cuộc đảo chính cung đình năm 1225 giúp nhà Trần nhận thứcsâu sắc nguyên nhân dòng họ Lý mất quyền thống trị Vì vậy, nhà Trần quán triệtquan điểm không muốn chia sẻ quyền lực cho bất kỳ dòng họ nào Các vua Trầnthi hành triệt để chính sách tuyển chọn người trong hoàng tộc đảm đương chức
vụ trọng yếu Vua Trần Thánh Tông nói: “Thiên hạ là của tổ tông, người nốinghiệp tổ tông nên cùng với anh em trong họ cùng hưởng vinh hoa, phú quý.”[5,267]
Từ nhận thức trên, các chức vụ quan quan trọng trong triều đình và ở các
lộ phủ đều do tôn thất nhà Trần nắm giữ: thái sư, thái uý, thiếu sư, thiếu phó,thiếu bảo.v.v và các quan cao cấp khác như đô nguyên soái, phó đô nguyên soái,thì chỉ các tôn thất mới được nắm giữ [6] Nhà Trần đặt phủ Tôn nhân để quản lýcon cháu trong hoàng tộc
Nhà Trần duy trì chế độ kết hôn đồng tộc để bảo vệ quyền cai trị của mình.Năm 1267, vua Trần Nhân Tông định ra “Hoàng triều ngọc diệp”, tuân theo tiêuchuẩn “ngũ phục”2 để ấn định quan hệ họ hàng nhà vua và định tước hiệu, banphong, tuyển chọn người trong họ làm quan
Tuy nhiên, do sự phát triển của nhà nước quân chủ tập quyền, bên cạnhchọn người trong hoàng tộc là chính yếu, nhà Trần vẫn phải dùng các hình thứctuyển chọn quan lại khác: thi cử, công lao, thủ sĩ và mua bán bằng tiền
Việc tuyển chọn quan lại qua con đường khoa mục ngày càng được quantâm Các kỳ thi, các khoa thi mở ra ngày càng nhiều tuyển được thêm nhiều vănthân tài giỏi Quy chế thi cử được siết chặt hơn, các đối tượng dự thi cũng được
mở rộng Nhà Trần quy định rõ: “7 năm thi một khoa, đặt ra Tam khôi, điều lệmỗi ngày một nghiêm nghặt, ân điển mỗi ngày một long trọng, công danh do đó
mà ra, nhân tài đầy rẫy, so với nhà Lý trước thịnh hơn nhiều” [7, 7, 191]
Đặc biệt, năm 1304, có khoa thi Thư phân3, hỏi về phép đối án thông quaxét xử vụ việc cụ thể Đó là điểm mới hết sức tiến bộ trong tuyển chọn quan lạicủa nhà Trần Cách tuyển như vậy, yêu cầu quan lại phải có kinh nghiệm, amhiểu pháp luật và có năng giải quyết công việc
2Ngũ phục: năm bậc để tang
Trang 18Như vậy, yếu tố tri thức ngày càng được coi trọng trong việc tuyển chọnquan lại Nó góp phần phá vỡ tính thân tộc trong bộ máy nhà nước Là tiền đề đểxây dựng bộ máy quan liêu tri thức.
Về sử dụng quan lại:
Theo quy chế quý tộc hoá, hoàng tử cả được phong tước vương Họ hàng
xa phong là thượng vị hầu Cháu ba đời của những người này được phong là quậnvương
Các vương hầu vừa đảm nhiệm các chức vụ trong triều vừa được phânphong đi cai quản các vùng trọng yếu Trần Quốc Khang coi giữ Diễn Châu,Nghệ An; Trần Nhật Duật coi giữ Thanh Hoá,
Tầng lớp nho sĩ được tuyển bổ làm quan ngày càng nhiều, nắm giữ cácchức vụ quan trọng trong triều Ví dụ, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn,Trương Hán Siêu,
Ngoài những chức quan đã có dưới triều Lý (tam Thái, tam Thiếu.), nhàTrần đặt ra nhiều chức quan mới: Tư đồ, Tư mã, Tư không, các chức quan chứcnăng theo từng lĩnh vực cụ thể: Hà đê chánh sứ và phó chánh sứ trông coi đêđiều, Các chức vụ đều được quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, mối liên kếttrong ngoài được bền chặt hơn Kỷ cương triều chính được siết chặt
Khác với thời Lý, chức An phủ sứ ở các phủ không nhất thiết là ngườitrong hoàng tộc Họ có thể là người do thi cử được triều đình Trung ương phâncông đi cai trị Như vậy, quan hệ thân tộc bước đầu bị phá vỡ tính liên kết trong
bộ máy chính quyền Vì trước đó, ở triều Lý các chức quan địa phương là concháu trong hoàng tộc
Về đào tạo quan lại: Nhà Trần đặc biệt quan tâm đào tạo tầng lớp quan lại
trong hoàng tộc Quan lại là người có tri thức ngày càng nhiều Nhà Trần muốngiữ vững ngai vàng thì buộc phải đào tạo người trong hoàng tộc của mình Nhất
là đào tạo Thái tử
Nhà Trần thực hiện chế độ Thái Thượng hoàng Vua cha làm trong một vàinăm rồi nhường lại cho con, còn mình làm Thái Thượng hoàng giữ vai trò cố vấncho vua con Hình thức này là bước kế tục và phát triển định chế “phụ chính”,
“nhiếp chính” đã có các triều đại trước Chế độ Thái Thượng hoàng là cách đàotạo, huấn luyện Thái tử triệt để hơn so với thời Lý Vì thời Lý chỉ tập cho Thái tửlàm thay vua một số việc: xét xử kiện tụng, cầm quân chỉ huy, Ở thời Trần thực
Trang 19hiện 2 vua sẽ tránh được sự tranh giành quyền Thái tử Vua cha trực tiếp đào tạo,dìu dắt và giám sát vua con.
Đây là cách đào tạo độc đáo, chưa từng có trong lịch sử phong kiến ViệtNam Các triều đại phong kiến trên thế giới cũng chưa có tiền lệ
Về chế độ lương, bổng: Từ năm 1236, đời vua Trần Thái Tông, các quan
lại được trả lương cụ thể Quan lại làm việc đã có lương Lương để tính hiệu xuấtlàm việc và duy trì sức cống hiến của quan Đây thực sự là điểm tiến bộ vượt bậctrong nhận thức của triều nhà Trần về chế độ sử dụng quan lại Quan lại làm việc
có lương theo công việc và chức trách
Quan lại dưới triều Trần còn được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi khác.Các tôn thất, quan lại được xây dựng dinh thự, tuyển mộ binh lính, thành lậpquân đội riêng, Ngoài ra, họ còn được lập điền trang, thái ấp4 Ví dụ, Thái ấp củaTrần Khát Chân ở Kẻ Mơ (Hà Nội), thái ấp của Trần Hưng Đạo ở Vạn Kiếp (ChíLinh, Hải Dương),
Những chính sách ưu tiên đó không nằm ngoài mục đích tạo điều kiệncủng cố chính quyền dòng họ Trần, tạo ra cánh tay nối dài của triều đình trungương tới mọi vùng miền đất nước Nhưng đồng thời nó cũng cho thấy tính tích tụruộng đất, loại hình sở hữu tư nhân đã manh nha phát triển Kết quả của nhữngchính sách này dễ dẫn đến xu hướng cát cứ, phân tranh
Về kiểm tra, giám sát: Quản lý hành chính muốn đạt được hiệu lực, hiệu
quả thì phải có kiểm tra, giám sát Nhận thức được điều này, nhà Trần thành lậpthêm cơ quan kiểm tra, giám sát Ở cấp trung ương có Ngự sử đài, Đăng vănkiểm sát viện, quan Gián nghị đại phu Ở cấp lộ, phủ có ty liêm phóng đảmđương nhiệm vụ giám sát hoạt động công vụ
Thiết lập được cơ quan kiểm tra, giám sát, nhà Trần đã chú trọng tới việcquản lý chặt hơn tầng lớp quan lại, nhấn mạnh đến tính hiệu lực, hiệu quả thực thicông vụ
Về phép khảo công, đến thời Trần đi vào nề nếp, quy củ hơn Năm 1246
vua Trần Thái Tông định lệ khảo duyệt các quan văn võ, lệ 15 năm 1 lần, ai làmvịec được 10 năm thì thăng tước 1 cấp, ai làm việc được 15 năm thăng chức 1bậc Chức quan nào khuyết thì chánh kiêm chức người phó Nếu chánh, phó đều
4 Điền trang là ruộng mà các vương hầu, tôn thất khai hoang được và lập thành trang trại riêng Thái ấp là phần
Trang 20khuyết thì viên chức trên quản lý luôn chờ đủ niên hạn sẽ bổ sung người vàochức vụ khuyết ấy Như vậy, mô hình thăng quan tiến chức này mang đậm dấu ấncủa tổ chức quan liêu Khảo công dựa theo số năm làm quan, chưa theo côngviệc, công trạng Thiếu chỗ thì cứ đúng niên hạn mới được bổ nhiệm.
Khảo xét quan lại còn dùng để thuyên chuyển, bãi chức những ngườikhông làm được việc Từ năm 1337, vua Trần Hiến Tông tiến hành khảo xét cácquan lại cấp địa phương: “Người ở nhà không làm việc thì phải đuổi về” [5, 124].Các quan ở quản, sảnh, cục thì 15 năm có thể được thăng chức hay thuyênchuyển Quan lại cấp thấp được chuyển lên cấp cao Quan làm việc phủ nhỏchuyển làn việc ở phủ lớn Quan ngoài kinh được chuyển vào trong kinh nếu cóthành tích công trạng lớn
Vương triều nhà Trần có bước tiến triển trong nhận thức về tuyển chọn và
sử dụng quan lại, đặc biệt ở các khâu tuyển chọn, đào tạo, kiểm tra, giám sát,
Trang 21quy chế lương bổng, đã bắt đầu đặt những viên gạch nền móng cho sự chuyểnhoá từ mô hình nhà nước quan liêu thân tộc sang mô hình nhà nước quan liêu trithức.
1.2.4 Triều đại Lê sơ với sự đổi mới trong nhận thức về tuyển chọn và
Về tuyển chọn quan lại: Lê Thánh Tông nhận thức sâu sắc: “ Hiền tài là
nguyên khí của Quốc gia”5 Ông lấy tiêu chuẩn “Hiền” và “Tài” làm chuẩn mực
để chọn quan lại Theo Lê Thánh Tông, Hiền là phải trung với vua, thương yêu
và chăm lo quyền lợi của dân, có đạo đức công vụ Tài là phải có trình độ học
vấn, học vị, năng lực giải quyết công việc Nhận thức trên là sợi chỉ đỏ địnhhướng cho Lê Thánh Tông tiến hành các cải cách trong tuyển chọn và sử dụngquan lại
Trên tinh thần đó, Lê Thánh Tông hoàn thiện các quy định liên quan đếnthi cử, quy chế thi cử, nội dung thi, làm cơ sở thi tuyển được công bằng, nghiêmminh, cốt sao chọn được người tài và không bỏ sót người tài
Ông tổ chức định kỳ 3 năm một lần thi Hội Trong 38 năm trị vì, Lê ThánhTông tổ chức được 12 khoa thi chọn ra 501 Tiến sĩ với 9 Trạng nguyên
Ngoài ra, nhà Lê sơ sử dụng hình thức tiến cử và bảo cử để tuyển chọnngười làm quan Chế độ tiến cử và bảo cử, các vua Lê mong muốn không bỏ sótngười tài, khuyến khích các quan có trách nhiệm với nhà nước trong việc tiến cửngười ra làm quan Nó thể hiện thái độ thực sự cầu thị và trọng dụng nhân tài củanhà Lê, nhất là Lê Thánh Tông
Chế độ tập ấm vẫn được duy trì Nhưng những người được tập ấm nếukhông có tài thì chỉ được trao chức mà không trao quyền Con cháu hoàng tộc,quan lại thì tuỳ tài mà cho đi học ở Quốc tử giám hoặc sung vào các vệ để làmquan võ Đến kỳ tuyển chọn, bộ Lại xem xét mà bổ dụng Đây là điểm hết sức
Trang 22tiến bộ của triều vua Lê Thánh Tông, áp dụng chế độ tập ấm nhưng vẫn dựa theotiêu chuẩn năng lực thực sự của người được tập ấm.
Lê Thánh Tông nắm chắc đặc trưng của cấp cơ sở Ông muốn phát huytính dân chủ rộng rãi ở làng xã Ông cho phép tiến hành bầu xã trưởng căn cứtheo những tiêu chuẩn mà triều đình trung ương đặt ra Đây là điểm mới, tiến bộtrong chính sách đối với cấp cơ sở
Những cách thức tuyển lựa quan lại như trên đã tạo cho Lê Thánh Tông cótrong tay đội ngũ quần thần thực sự có tài, thanh liêm, cần mẫn và làm việc hiệuquả Điều mà trước và sau này chưa có triều đại nào làm được
Việc lựa chọn người tài không câu nệ vào đường xuất thân để ra làm quan
đã phá vỡ tính liên kết bền chặt trong mô hình nhà nước quan liêu thân tộc dựatrên mối quan hệ huyết thống bấy lâu nay Nó chứng tỏ, quyền lực của vua vàhoàng tộc đã đủ mạnh để quản lý đất nước, quản lý tầng lớp quan lại
Việc sử dụng các quan lại: Đến thời Lê Thánh Tông, ông đã nhận thức
đầy đủ về vai trò của quan lại: “Trăm quan là nguồn gốc của trị loạn” Từ đó, ôngđặt ra các quy định về chế độ lương bổng, kiểm tra, giám sát, đánh giá quan lại, một cách hợp lý Quan lại tận tâm thi hành công vụ Hoạt động của bộ máy nhànước mới đạt hiệu lực, hiệu quả
Năm 1471, Lê Thánh Tông ban dụ “Hiệu định quan chế”, nêu rõ quan điểm, nội dung cách thức sử dụng quan lại Hiệu định quan chế là sản phẩm kết
tinh trí tuệ, tư tưởng của vị vua anh minh sau 11 cầm quyền, là cơ sở triển khaicác biện pháp thực thi chính sách quan lại
Nghiên cứu lại lịch sử, có thể thấy rõ 5 điểm khác biệt lớn nhất trong cáchdùng người của Lê Thánh Tông So với các triều đại trước:
Một là, sử dụng quan lại theo năng lực, phẩm hạnh và yêu cầu công việc.Quan lại có chức và trách tương ứng Quan lại được tiêu chuẩn hoá kiến thức,tiêu chuẩn hoá chức danh
Hai là, trong thực thi công vụ, quan lại phải được kiểm tra, giám sát, đánhgiá công trạng thường xuyên “.các chức lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹcùng giữ gìn, lẽ phải của nước không bị chuyện riêng, việc lớn của nước khôngđến lung lay, khiến thói tốt hợp đạo, đúng phép.” [5, 455]
Ba là, quan lại làm việc công được bảo đảm quyền lợi vật chất và tinh
Trang 23thần Quy chế khen thưởng, xử phạt phải cụ thể Khen thật công minh, phạt thậtnghiêm khắc Nó là các công cụ, chế tài cần thiết để quan lại làm việc hiệu quả.
Bốn là, Cơ chế để thực thi công vụ được quy định cụ thể, chi tiết làmkhuôn mẫu thi hành Quan lại tuân theo pháp luật mà thi hành chính lệnh
Năm là, trong sử dụng phải bảo đảm công bằng, khách quan, chính xác và
sử dụng hiệu quả nguồn lực con người
Những điểm mới tích cực, tiến bộ trong nhận thức về tuyển chọn và sửdụng quan lại đã giúp vua Lê Thánh Tông đạt được nhiều thành công rực rỡ, đưađất nước Đại Việt phát triển đến đỉnh cao của chế độ phong kiến trung ương tậpquyền
1.2.5 Cách thức tuyển chọn và sử dụng quan lại của triều Nguyễn
Triều Nguyễn là vương triều cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam.Các vua Nguyễn có điều kiện kế thừa kinh nghiệm, thành quả các triều đại trước
đã đạt được trong tuyển chọn và sử dụng quan lại
Mặt khác, triều đình nhà Nguyễn chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc cải cáchhành chính của vua Lê Thánh Tông (Minh Mạng được coi là Lê Thánh Tông thứhai) và thành quả phát triển sự nghiệp giáo dục triều Lê sơ Do đó cách tuyểnchọn và sử dụng quan lại triều Nguyễn là bước phát triển thêm của triều Lê sơ.Các quy định liên quan đến việc đào tạo, tuyển chọn, bổ dụng, sử dụng quan lại
đi vào hệ thống, có quy củ, nền nếp, chi tiết và chuẩn mực hơn
Các vua Nguyễn rất sợ sự tranh giành ngôi báu và quyền hành nội bộhoàng tộc Những bài học từ triều Lý, Trần, Lê, tranh chấp ngôi thứ trong nội bộ
họ Nguyễn, các vua Nguyễn hạn chế tối đa sự phân quyền trong nội cung, tronghoàng tộc Nhà Nguyễn ra sức củng cố vững chắc chế độ tập quyền phong kiếnchuyên chế cao độ
Các vua Nguyễn tuân theo nguyên tắc “tứ bất”6, nhà vua thâu tóm mọiquyền lực, không phân chia cho bất cứ một tổ chức, cá nhân nào Các vuaNguyễn luôn căn dặn các con cháu không dùng Tể Tướng Năm thứ 11, đời MinhMạng, vua căn dặn: “Các con cháu nên tuân giữ làm hiến pháp, không được sửachữa thêm bớt để sinh ra tệ hại Ví bằng đời sau có kẻ làm trái lời trẫm, chả lẽkhông có một hai người trung thần theo đấy làm can gian, ” [8, 71]
Đó là tư tưởng xuyên suốt chi phối cách thức tuyển chọn và sử dụng quan
Trang 24lại của triều Nguyễn.
Về tuyển chọn quan lại
Nhà Nguyễn vẫn dùng những hình thức tuyển chọn quan lại truyền thống:tập ấm, tiến cử, bảo cử, thi tuyển, mua quan, Tất cả các hình thức này đều lấytiêu chuẩn trung thành tuyệt đối với vua làm cơ sở để quyết định tuyển chọn
Nhà Nguyễn coi trọng nền giáo dục nho giáo để kén chọn nhân tài Cácvua Nguyễn bổ sung, hoàn thiện thêm những quy định liên quan đến tổ chức các
kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình mà các triều đại trước đã thực hiện
Trong thời gian tồn tại 143 năm với nhiều biến cố thăng trầm, triềuNguyễn vẫn tổ chức được 39 khoa thi Tiến sĩ văn, chọn ra 293 Tiến sĩ; tổ chức 3khoa thi Tiến sĩ võ dưới thời Tự Đức, tuyển chọn 10 Tiến sĩ võ Qua các kỳ thinày cũng lấy được 266 người đỗ phó bảng
Người đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ được nhập ngạch Hàn lâm viện hàmtrước tác thuộc chánh lục phẩm Đệ tam giáp nhập ngạch Hàn lâm viện hàm tusoạn thuộc tòng lục phẩm hoặc Hàn lâm viện biên tu thuộc chánh thất phẩm.Những người khác tuỳ theo số điểm thi mà bổ sung vào ngạch quan cụ thể Căn
cứ vào phẩm hàm đó sẽ được triều đình bổ dụng làm tri phủ, đồng tri phủ,
Ngoài ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình, các vua Nguyễn còn tổ chức kỳthi Chế khoa để chọn nhân tài Kỳ thi được tổ chức không theo định kỳ Tuỳ theolệnh của vua trong các trường hợp vua lên ngôi, sinh Hoàng tử, Đặc biệt, từ năm
Kỷ Sửu 1829 (Minh Mạng thứ 10) đổi từ thang điểm chấm thi phân làm 4 hạng:
Ưu, Bình, Thứ, Liệt thành thang điểm 10 Điều này tạo điều kiện cho việc chấm
thi được công bằng hơn
Từ đời Minh Mạng thực hiện việc bỏ chế độ thế tập của các tù trưởng địa
phương Ai có tài, có đức được dân tin phục thì tâu lên vua xét bổ Đồng thờithực hiện chế độ “lưu quan”, đưa quan người kinh trông coi cùng với các thổquan hặc thay thế hoàn toàn Với chính sách đó, Minh Mạng tiến thêm một bướcnữa trong việc củng cố quyền lực của triều đình trung ương tập quyền tới vùngsâu, vùng xa
Về sử dụng quan lại:
Chế độ thực tập: đây là sự phát triển vượt bậc trong nhận thức về sử dụng
quan lại dưới triều Nguyễn Trước khi chính thức được bổ nhiệm, quan lại phải
Trang 25trải qua giai đoạn thực tập Hình thức thực tập là kết quả của việc tiếp thu tràolưu tư tưởng của các học thuyết chính trị phương Tây đối với chế độ công chức.
Thực tập có 3 hình thức: hậu bổ, học quan và hành tẩu Thời gian thực
tập là 1 năm đối với Tiến sĩ và phó bảng, 3 năm đối với cử nhân
Hậu bổ là việc các thí sinh sau khi vượt qua kỳ sát hạch ở triều đình,
những người đỗ thi Hương, các ấm sinh hay giám sinh có thể được cử làm hậu
bổ đi thực tập ở các tỉnh trong 3 hay 4 năm rồi mới chính thức được bổ nhiệm.
Trong quá trình đi hậu bổ, người đó được cử đi công cán để giải quyết
công việc về một vấn đề thuỷ lợi, thuế khoá, tư pháp hoặc làm thừa uỷ quyền.Năm 1836 Minh Mạng ra chỉ dụ cho các quan tỉnh trong trường hợp có kiện tụng,phải cử các hậu bổ đi giải quyết
Học quan là trường hợp người thi đỗ nhưng không phải đi hậu bổ mà vẫn
được làm quen với công việc trong chức trách học quan ở phủ hay huyện Họđược bổ làm quyền tri phủ hoặc quyền tri huyện nếu nơi đó khuyết chức
Thực tập ở trung ương là hành tẩu, áp dụng cho những người thi đỗ hay giám sinh vẫn có thể được làm hành tẩu tại các cơ quan của triều đình trung
ương Ví dụ, Đặng Như Kim đỗ Hương cống năm 1820 được phái làm hành tẩu ở
bộ binh (năm 1824) trước khi được bổ làm tri huyện Hoa Khê (năm 1826)
Về phép khảo công: Nhà Nguyễn vẫn duy trì phép khảo công đối với
quan lại theo nguyên tắc: Cứ 3 năm một lần khảo công vào các năm Thìn, Tuất,
Sửu, Mùi, gọi là năm “kế sát” Việc khảo xét thành tích các quan lại trong triều
gọi là “kinh sát”, đối với quan lại cấp tỉnh gọi là “đại kê”.
Khi khảo công, mọi công trạng sai phạm trong 3 năm của từng quan đượctấu trình để xét hạch Quan địa phương được đánh giá dựa trên ba tiêu chí truyềnthống gắn chặt với công việc của các quan: tuyển lính, thu thuế, xét xử kiện tụng.Quan trong triều xem xét theo chức danh và chức vụ Các bản kê khai phải nộpđầy đủ lên bộ Lại, bộ Binh kiểm tra, xem xét và định đoạt [9,79,80] Đến năm
1826, Minh Mạng định lệ khảo công đối với quan lại cấp huyện theo 4 hạng:thượng, trung, hạ, kém để làm sớ tâu lên trên căn cứ vào đó mà thăng giáng[9,97]
Về chế độ đãi ngộ đối với quan lại, triều Nguyễn quy định chế độ lương
bổng cho các quan lại từ trung ương đến địa phương Các quan lại được hưởng
Trang 26lương theo phẩm hàm Lương bổng được tính bằng tiền và gạo Đối với quan lớntrong triều thì vợ ở quê cũng được cấp ruộng để phát canh thu tô Thời MinhMạng, theo quy chế năm 1827 thì quan nhất phẩm được cấp 400 quan+300phương gạo, áo quần 70 quan + tiền tuất 400 quan;
Nói chung, ở triều Nguyễn, quan lại được hưởng lương bổng rất hậu hĩnh
Ví dụ, quan Hiệp trấn tỉnh Bình Định được hưởng lương mỗi năm tương đươnggần 7 tấn gạo (gồm tiền lương và trợ cấp trang phục), viên tri huyện hưởng 1,3tấn gạo và 1 lại viên hưởng 800 kg Như vậy, những người này có thể nuôi sốnggia đình họ theo từng loại là trong 4 năm rưỡi, 9 tháng và 5 tháng [10, 72]
Để bảo đảm cho quan lại làm việc được công minh, tránh tham ô, tham
nhũng, nhà Nguyễn quy định quan lại được hưởng tiền “dưỡng liêm” Đây là quy
định hoàn toàn mới mà trước đó, chưa có triều đại nào quy định Tuy nhiên, càng
về sau, tình trạng quan lại tham ô, tham nhũng, nhũng nhiễu nhân dân ngày càngnhiều Triều đình không kiểm soát được
Như vậy, triều Nguyễn với tư cách là vương triều cuối cùng trong lịch sửcác triều đại phong kiến Việt Nam đã được kế thừa và phát triển những giá trị màcác triều đại trước đó đã đạt được
Riêng đối với việc tuyển chọn và sử dụng quan lại, triều Nguyễn đã quyđịnh rất chặt chẽ, chi tiết và đầy đủ nhằm bảo đảm cho triều đình có được đội ngũquan lại cai trị đất nước Tuy nhiên, chính sách mà các vua Nguyễn đưa ra mớichỉ giải đáp cho việc củng cố chế độ trung ương tập quyền của nhà nước quânchủ chuyên chế Những chính sách đó là bảo vệ cái cũ, làm mới cái cũ NhàNguyễn chỉ chăm lo bảo vệ cái quyền thống trị của riêng mình Điều đó chưa phùhợp với những diễn biến phức tạp của bối cảnh xã hội trong nước và tình hình thếgiới lúc bấy giờ Bởi vậy, hiệu quả của những chính sách tuyển chọn, sử dụngquan lại nói riêng, những chính sách khác nói chung chưa được như mong muốn.Hoạt động của bộ máy trì trệ, bảo thủ, quan lại tham ô, tham nhũng, sách nhiễudân chúng Đời sống nhân dân khổ cực Đất nước không có đà phát triển nhưtrước Triều Nguyễn đứng trước thách thức một cuộc cách mạng theo trào lưu tưtưởng mới sắp mở ra
Qua nghiên cứu các triều đại phong kiến Việt Nam có thể thấy, theo tiếntrình của lịch sử dân tộc nhận thức của các triều đại phong kiến Việt Nam về
Trang 27tuyển chọn và sử dụng quan lại ngày càng đầy đủ Hệ thống các quy định liênquan đến nền công vụ ngày càng hoàn thiện Tầng lớn quan lại ngày càng đượcquan tâm hơn và có vai trò quyết định trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quốcgia phong kiến Đại Việt.
1.3 Kết quả của việc tuyển chọn, sử dụng quan lại của nhà nước phong kiến Việt Nam
1.3.1 Bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước
Quan lại tuyệt đối trung thành với vua là bảo đảm tính hiệu lực trong quản
lý của nhà nước phong kiến Vì, đặc trương của nhà nước phong kiến là vua nắmmọi quyền hành trong tay: lập pháp, hành pháp, tư pháp Quyền lực nhà vua là tốicao và không chia xẻ Quan niệm “quân xử thần tử thần bất tử bất trung” buộccác quan lại chỉ được phép thi hành chính lệnh của vua Hơn nữa, nhà nướcphong kiến được tổ chức chặt chẽ theo hệ thống thứ bậc trên dưới Trung ươngđiều hành địa phương Cấp dưới thừa hành cấp trên Quan trên bảo quan dướiphải vâng mệnh
Tiêu chuẩn “trung quân” là thước đo cao nhất để nhà nước phong kiếnđánh giá thành tích, công trạng của quan lại Vì vậy, tuân theo lệnh vua nghĩa làhiệu lực quản lý nhà nước phong kiến đã đạt được
Để có được trật tự, kỷ cương nghiêm như vậy, các triều đại phong kiến đãthực thi nhiều cách thức khác nhau để tuyển chọn cho được đội ngũ quan lại tuyệtđối trung thành Với những cách thức đào tạo, giáo dục, chính sách lương bổng,tinh thần “trung quân” luôn được củng cố trong tầng lớp quan lại Hiệu lực củaquản lý nhà nước phong kiến đạt ở mức cao nhất
1.3.2 Thu hút đông đảo người tài ra “phò vua giúp nước”
Nhà nước phong kiến thể hiện thái độ cầu thị, hết mực trân trọng nhân tài.Vua các triều đại luôn kêu gọi những kẻ sĩ ra làm quan giúp đất nước hưng thịnh
Đó là việc ban chiếu cầu hiền, cầu lời nói thẳng Vua Quang Trung 3 lần mời La
sơn Phu tử Nguyễn Thiếp ra phò tá, Kết hợp với cách thức tuyển chọn quan lại
đa dạng, phong phú: lực chọn trong hoàng tộc, người có công lao lớn, nhất làhình thức tiến cử, bảo cử và khoa cử Và những chính sách trọng dụng, đặc ân,đặc quyền lớn giành cho tầng lớn quan lại Các vương triều phong kiến đã thu hút
các nhân sĩ, trí thức ra làm quan phò vua giúp nước ngày càng nhiều.
Trang 28Chỉ tính riêng ở hình thức khoa cử, kể từ kỳ thi đầu tiên dưới triều vua LýNhân Tông (1075) với khoa thi “Minh kinh bác học” cho đến khoa thi Hội cuối
cùng vào năm Kỷ Mùi đời vua Khải Định (1919) đã có 183 khoa thi được tổ
chức, 2898 người vượt qua kỳ thi trong đó có 46 Trạng nguyên, 47 Bảng nhãn,
75 Thám hoa, 65 Đệ nhất giáp Tiến sĩ, 598 Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 1799 đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân và 266 Phó bảng [11].
Chính vì thế, ở triều đại nào cũng có những bậc danh nhân ra làm quangiúp dân, giúp nước Ở triều Lý, có Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành, nguyên phi
Ỷ Lan, Lê Văn Thịnli, (C triều Trần có Lê Văn Hưu, Trần Hưng Đạo, PhạmNgũ Lão, Nguyễn Trung Ngạn, Đến triều Lê sơ, nhất là Lê Thánh Tông rất coi
trọng và sử dụng người tài theo tinh thần “Hiền tài là nguyên khí của Quốc gia”, nhà nước phong kiến Đại Việt đã có một đội ngũ quan lại thực tài đưa đất
nước phát triển cực thịnh Đó là, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Ngô Sĩ Liên,Lương Thế Vinh, Nguyễn Như Đổ, Thân Nhân Trung, Nguyễn Trực,
Những quần thần tài năng là giường cột của triều đình, sáng suốt đưa ranhững kế sách quan trọng góp phần xây dựng, củng cố và phát triển đất nước
Người hiền tài là chuẩn mực để các nhà vua làm tấm gương giáo huấn chocon cháu và tầng lớp quan lại khác Đồng thời, họ cũng là đầu mối thu hút nhântài, tiến cử nhân tài cho nhà vua Các quan lại khác thì tôn kính và thường lấy đólàm gương răn mình Vì vậy, trong triều đình phong kiến, trên dưới theo nhau giữđạo, học tập và tu sửa bản thân làm tròn đạo với vua và đất nước Quan lại là bềtôi trung thành, tận trung với vua, vì nước, thương dân hết mình vì việc công
1.3.3 Củng cố, xây dựng và phát triển Quốc gia phong kiến Đại Việt
Đội ngũ quan lại phong kiến đã có nhiều đóng góp tích cực trong việccủng cố, xây dựng và phát triển Quốc gia phong kiến Đại Việt Tạo dựng nền vănminh Đại Việt
Đội ngũ bá quan văn, võ song toàn đồng lòng chung sức lãnh đạo nhân dânđánh tan quân xâm lược, bảo vệ vẹn toàn bờ cõi đất nước, giữ vững và củng cốnền độc lập dân tộc Triều Lý, có Lý Thường Kiệt đánh tan quân xâm lược nhàTống Triều Trần với Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn cùng quân dân nhàTrần 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên-Mông Nhà Lê sơ, đập tan áchthống trị của nhà Minh, dẹp yên quân phản loạn, quấy nhiễu biên giới phía
Trang 29Các võ quan cầm quân dẹp yên các cuộc nổi dậy, xu hướng cát cứ phântranh của các vương hầu, địa chủ quý tộc, hào trưởng, tù trưởng địa phương Đấtnước chống được thù trong, giặc ngoài
Chiến tranh kết thúc, các triều đại phong kiến luôn quan tâm huy động tàitrí của các quan lại, sức lực của dân chúng để xây dựng và phát triển đất nước.Các quan lại hiến kế phát triển kinh tế, mở rộng giao lưu, buôn bán với nướcngoài Chính sách khai hoang, lập điền trang, thái ấp của thời Trần, chính sáchlập 43 sở điền trang của Lê Thánh Tông, các chính sách đắp đê, ngăn lụt, đã thúcđẩy kinh tế nông nghiệp phát triển
Nền công, thương nghiệp nước nhà không ngừng được củng cố và pháttriển, quan hệ giao lưu buôn bán với nước ngoài được mở rộng Thời Lê Thánh
Tông, theo sách Dư địa chí, bấy giờ kinh thành Thăng Long 36 phố phường buôn
bán sầm uất với đủ các làng nghề tiểu thủ công nghiệp, chợ búa được mọc lênnhiều chưa từng thấy; đường xá được mở thêm, giao lưu buôn bán với nướcngoài qua các cảng Vân Đồn, Quảng Nam, Hội An, tấp nập, nhộn nhịp
Các triều vua phong kiến quan tâm giáo dục tầng lớp quan lại tận tâm vớicông việc, định lệ khảo công, tra xét công việc, xét xử công minh, làm tròn chứctrách, bổn phận của mình, giữ nghiêm kỷ cương phép nước Tiêu biểu nhất làtriều Lê Thánh Tông, pháp luật nghiêm đến mức, của rơi ngoài đường cũngkhông ai dám nhặt Các quan lại không dám tham ô, tham nhũng, hối lộ, sáchnhiễu dân chúng
Quan lại trong triều đình phong kiến hiến kế cho vua để mở mang bờ cõi,kết mối bang giao với nước ngoài củng cố vai trò, địa vị của Quốc gia Đại Việt
Đó là các cuộc tiến quân của vua quan nhà Trần, của vua Lê Thánh Tông, của cácvua, chúa nhà Nguyễn về phía Nam, đánh chiếm và thuần phục các nước Ai Lao,Chiêm Thành, Chân Lạp,
Tuy nhiên, các triều đại phong kiến của Quốc gia Đại Việt cũng khônghiếm khi xuất hiện những ông vua kém tài, ăn chơi sa đọa, bỏ bê triều chính.Triều đình là nơi tập trung đội ngũ quan lại bất tài, ham xu nịnh, kết bè, kéo cánh,đục khoét của công Dẫn đến, quyền lực của hoàng tộc bị chuyển giao, đất nước
an nguy, kinh tế suy sụp, nhân dân khổ cực
Trang 30Điều đó lý giải quy luật thịnh-suy, tồn-vong của các vương triều Khi nào,tầng lớp quan lại vừa “hiền” lại vừa “tài”, thanh liêm, chính trực, triều đình sẽhưng thịnh, đất nước thái bình, nhân dân ấm no Khi nào, quan lại bất tài, tham
vơ vét, đục khoét thì chính trị dối loạn, chiến tranh, loạn lạc xảy ra, kinh tế suytàn, xã hội rối ren, nhân dân phiêu tán
Vương triều nào quan tâm, chăm lo để có được tầng lớp quan lại trungthành, có phẩm chất đạo đức, có trình độ và năng thực thực tiễn thì vương triều
đó hưng thịnh Vương triều nào không quan tâm, chăm lo giáo dục, tuyển chọnđược tầng lớp quan lại tốt thì vương triều đó tất yếu sẽ suy vong
Điều đó cho thấy tầm quan trọng của đội ngũ những người quản lý đấtnước Vương triều còn hay mất, đất nước thịnh hay suy chính là do tầng lớp quanlại cai trị quyết định
Đây là những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu cho chúng ta thấy đượcvai trò to lớn của đội ngũ cán bộ, công chức trong công cuộc xây dựng và pháttriển đất nước Nghiên cứu kỹ nội dung này, sẽ là cơ sở để hoạch định chính sáchđối với cán bộ, công chức Giúp chúng ta có được đội ngũ cán bộ, công chức vừa
có năng lực, trình độ vừa có phẩm chất đạo đức công vụ trong sáng Cán bộ, côngchức thực hiện tốt vai trò quản lý, điều hành đất nước
1.4 Tiểu kết chương 1:
Qua mỗi triều đại đều sử dụng một phương thức cơ bản, đặc trưng đểtuyển chọn và sử dụng quan lại Triều Đinh -Tiền Lê, nhà nước còn sơ khai, ởbuổi đầu gây dựng triều chính theo mô hình trung ương phong kiến tập quyền, do
đó còn mang nặng tính chất thủ lĩnh quân sự, hình thức tuyển chọn quan lại theothi cử chưa được đề cập Sang thời Lý, chức năng của nhà nước phong kiến được
mở rộng, nhu cầu quan lại lớn do đó bước đầu xuất hiện hình thức thi cử để tuyểnchọn quan lại Nhưng về cơ bản, ở thời này, vẫn duy trì tổ chức quan lại theo môhình quan liêu thân tộc Đến thời Trần phương thức tuyển chọn quan lại lại chútrọng vào nhiệm tử để củng cố quyền lực của dòng họ Sang đến thời Hồ và Lê
sơ, chủ trương thiết lập mô hình nhà nước phong kiến quan liêu không đẳng cấpnên hình thức thi cử trở thành chủ đạo trong tuyển chọn và sử dụng quan lại.Triều Nguyễn là vương triều cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam cóđiều kiện kế thức và phát triển những thành tựu của các triều đại trước đó để tiếp
Trang 31tục tiến hành những nội dung tuyển chọn và sử dụng quan lại ở những phươngthức mới Tất cả các cải cách đó đã góp phần tăng hiệu lực, hiệu quả của bộ máynhà nước phong kiến trong từng giai đoạn.
Trang 32Chương 2.
TÌNH HÌNH TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI DƯỚI TRIỀU LÊ THÁNH TÔNG 2.1 Tổng quan cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông
2.1.1 Bối cảnh lịch sử cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông
Triều Lê sơ lên nắm quyền là kết quả của cuộc kháng chiến chống quânxâm lược nhà Minh, giành độc lập dân tộc do Lê Lợi khởi xướng (năm 1428)
Nhà Lê sơ ra đời trên cở sở kế thừa những di sản hành chính từ các triềuđại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần và sự nghiệp cải cách của Hồ Quý Ly còn đang thựchiện dang dở Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly chưa để lại dấu ấn sâu đậm trong xãhội nhưng nó cũng đặt ra cho chính quyền Lê sơ những bài học quản lý thiết thực
Bởi vậy, có thể nói cải cách hành chính mà Lê Thánh Tông thực hiện vừa
là gạch nối vừa là sự tiếp tục phát triển nhà nước trung ương tập quyền đến đỉnhcao Xây dựng nhà nước quan liêu tri thức thay thế hoàn toàn cho nhà nước quanliêu thân tộc trước đó Cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông diễn ra trongbối cảnh nhà Lê sơ trong buổi đầu dựng nghiệp, đứng trước những mâu thuẫn cầnphải giải quyết:
Thứ nhất, khủng hoả ng về đường lối trị nước:
Các vị vua đầu tiên dưới thời Lê sơ sau khi ổn định đất nước đã cố gắngtìm ra biện pháp mới để cai trị đất nước Đến thế kỷ XV, Nho giáo trở nên thịnhhành và phát triển trong cả nước Tư tưởng sùng nho trọng đạo lấn át dần tưtưởng tôn sùng Phật giáo Trong triều các quan lại hình thành mâu thuẫn giữa mộtbên ra sức ủng hộ tư tưởng mới, trọng dụng đạo Nho với một bên cố gắng bảo vệ
tư tưởng cũ, đề cao Phật giáo
Các tư tưởng cai trị nước khác nhau đã tồn tại trong triều đình suốt thờigian 32 năm trị vì của ba vị vua đầu tiên (từ 1428 đến 1459) Điều này đã ảnhhưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, điều hành đất nước và tạotiền đề cho cuộc cải cách hành chính sau này của Lê Thánh Tông
Thứ hai, xuất hiện những mâu thuẫn nội bộ trong cung, sự suy thoái của các công thần Đội quân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn sau chiến tranh gian
khổ giành lại giang sơn, hưởng thái bình thì lại rơi vào quy luật tất yếu của cáccuộc khởi nghĩa nông dân: lúc khó khăn thì đoàn kết tập hợp, khi thắng lợi thì
Trang 33tranh giành quyền lực và rơi vào trạng thái hưởng thụ Bởi vậy, đội ngũ vua-tôi,công thần sinh ra nghi nghờ, ghen ghét, đố kỵ nhau, bỏ bê triều chính chỉ lo củng
cố quyền lực của mình
Thái tổ Lê Lợi canh cánh trong lòng nhiều nỗi nghi nghờ Ông cặn dặnThái tử:“ .lòng người thực hay giả, cũng chưa dễ gì tỏ tường, những việc nghingờ cũng chưa dễ gì phán đoán, như vậy đạo làm vua không khó ư? ” [5, 287].Dẫn đến sát hại công thần, Hữu Tướng quốc Trần Nguyên Đán, Thái uý Lê VănXảo Các bậc trung thần bị thất sủng, Thừa Chỉ nhập nội đại hành khiển NguyễnTrái từ quan về ở ẩn Các gian thần được thể lộng hành như Lê Sát, Lê Ngân,
Do được chứng kiến những mâu thuẫn nội bộ trong cung đình đã rèn luyệncho Lê Thánh Tông tính kiên quyết trong các biện pháp cải cách của mình saunày
Thứ ba, Xu hướng cát cứ, phân tán nổi lên, biên giới quốc gia bị xâm phạm.
Những mâu thuẫn trong cung đình chưa yên thì trên biên giới các tùtrưởng, hào trưởng địa phương liên tục nổi dậy Năm 1432, tù trưởng châuMường Lẽ là Đèo Cát Hãn làm phản, tù trưởng châu Ngọc Ma (Nghệ An) là CầmQuý nổi loạn (1435) Đến năm 1441, Thổ tù châu Thuận Lỗi là Nghiêm Nghiễmquấy nhiếu, Điều này, chứng tỏ ảnh hưởng của vương triều mới còn mờ nhạt ởcấp cơ sở nhất là vùng biên cương Đặt ra yêu cầu xây dựng nhà nước trung ươngtập quyền đủ mạnh để cai trị trên phạm vi cả nước
Lợi dụng nội cung lục đục, biên cương bất ổn, các nước Bồn Man, Ai Lao,Chiêm Thành liên tục cho quân quấy nhiễu, đánh phá vùng đất phía nam Ở phíaBắc nhà Minh vẫn xúi dục các hào trưởng địa phương gây bất ổn Nền độc lậpdân tộc bị đe doạ Núi sông bờ cõi đất nước an nguy
Thứ tư, Hiệu lực, hiệu quả trong các chính sách quản lý thấp.
Tình hình rối ren trong cung đình, sự bất ổn ở vùng biên càng cổ vũ chobọn nịnh thần, tham quan ô lại“ thừa nước đục thả câu” Quan đại thần thì thamquyền cố vị, thao túng quyền lực, ức hiếp trăm quan Quan dưới quyền thì đượcthể vơ vét Hiệu lực của bộ máy chính quyền giảm sút
Bộ máy nhà n ước thì cồ ng k ềnh, nhiều tầng nấc trung gian Thời vuaThái Tổ, từ trung ương tới địa phương phải qua nhiều cấp khác nhau: trung ương,
Trang 34đạo, trấn, lộ, phủ, huyện, xã Tên gọi chưa thống nhất, phạm vi chưa được xácđịnh cụ thể.
Tình hình trên nếu không được giải quyết triệt để, nguy cơ suy vong củavương triều sẽ càng lớn Lê Thánh Tông không thể không tiến hành hành cảicách
Thứ năm, Xây dựng một nhà nước trung ương phong kiến tập quyền đủ mạnh để cai trị đất nước trở thành nhu cầu bức thiết để tái thiết đất nước
Triều Lê sơ sau 32 năm (1428-1459) thanh bình đã hội tụ đủ các điều kiệnchín muồi để Lê Thánh Tông thực hiện những cải cách của mình Đưa đất nước
sang một giai đoạn mới, giai đoạn quản lý thay cho giai đoạn chinh phục, giai
đoạn xây dựng và phát triển thay cho giai đoạn thiết lập và củng cố
Nhân dân sau một th ời gian dài sống trong khói lửa binh đao rất muốn đấtnước yên bình, triều đình quan tâm chăm lo phát triển sản xuất Xã hội Đại Việtbước vào thời kỳ yên ổn tập trung giải quyết những hậu quả chiến tranh, pháttriển kinh tế, văn hoá, giáo dục Đó là thực tế, là trách nhiệm nặng nề đặt lên vaingười đứng đầu nhà nước
Thực tế là những mâu thuẫn xã hội, sự lúng túng trong đường lối trị nước,thoái hoá trong đội ngũ quan lại; những yêu cầu bức thiết của đời sống xã hội đãđạt đến điểm đỉnh Buộc triều đình Lê sơ phải gồng mình ra gánh vác tráchnhiệm Chính trong hoàn cảnh đó, Hoàng tử Tư Thành lên ngôi với tài năng, đức
độ, sự anh minh, sáng suốt đã kiên quyết tiến hành cải cách từng bước để chấnchỉnh những thiếu sót, lệch lạc trong quản lý Trong đó, ông xem cải cách hànhchính là trung tâm Ông lấy đó làm tiền đề thực hiện và thúc đẩy các cải cáchkhác Trong cải cách hành chính, ông đặt vị trí của việc xây dựng đội ngũ quản lýmới làm then chốt
Từ định hướng đúng, Lê Thánh Tông triển khai thực thi các biện phápmạnh, thiết thực, hiệu lực, hiệu quả đã đưa quốc gia phong kiến Đại Việt bướcvào giai đoạn phát triển cực thịnh
2.2.2 Mục tiêu của cuộc cải cách
Đứng trước những yêu cầu của lịch sử đặt ra, Lê Thánh Tông đã đề ra cácnục tiêu của cuộc cải cách hành chính Với mục tiêu tổng thể là: làm trong sạch
bộ máy hành chính, phát huy hiệu lực, hiệu quả trong quản lý điều hành Lê
Trang 35Thánh Tông hướng tới các mục tiêu cụ thể sau:
Một là, xây dựng bộ máy trung ương tập quyền vững mạnh, bảo đảm sự thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Đây là mục tiêu cao nhất mà cải cách hành chính của Lê Thánh Tôngmuốn đạt được Đó cũng là yêu cầu cấp thiết của lịch sử, buộc nhà cầm quyềnphải tập trung thâu tóm quyền lực vào tay mình Để tránh sự tiếm quyền, lộngquyền, lạm quyền của các bậc khai quốc công thần từng một thời “nằm gai nếmmật” gây dựng cơ đồ cho nhà Lê sơ
Mục tiêu này cũng phù hợp với tư tưởng Nho giáo với thuyết “tôn quânquyền” Lê Thánh Tông lại là người được đào tạo bài bản theo học thuyết củaNho giáo Ông thấm nhuần và rất tôn sùng tư tưởng Nho giáo, coi đó là quốc giáo
và là kế sách để cai trị dân chúng
Trong dụ Hiệu định quan chế, Lê Thánh Tông khẳng định: “đất đai bờ cõingày nay so với ngày trước khác nhau nhiều lắm, ta phải tự mình giữ quyền chếtác, làm chọn đạo biến thông” [5,454]
Hai là, Phân công, xác định lại công việc giữa các cơ quan trong triều nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý.
Sự yếu kém của bộ máy đã làm cho tình hình kinh tế-chính trị, văn hoá-xãhội đầu thời Lê sơ lâm vào khủng hoảng Các chức trách, bộ phận bỏ bê côngviệc, các quan lại không làm tròn nhiệm vụ, lo vơ vét tiền của, tham quyền cốvị, Các cơ quan trách nhiệm không rõ ràng, chưa có sự ràng buộc lẫn nhau Nộidung của dụ Hiệu định quan chế mà Lê Thánh Tông ban hành đã xác định rõ mụctiêu này Ông nêu cụ thể chức trách của các cơ quan: “.ở trong quân vệ đông đúcthì năm phủ chia nhau giữ, việc công bề bộn thì sáu bộ chia nhau mà làm.”[5,454]
Ba là, Tuyển chọn người tài ra làm quan Thay thế đội ngũ quan lại quan liêu thân tộc bằng tầng lớp quan lại quan liêu tri thức nho học.
Năm 1484, tấm bia đầu tiên được dựng ở Quốc Tử Giám, Thân Nhân
Trung nhân danh vua Lê Thánh Tông khắc dòng chữ: “Hiền tài là nguyên khí
quốc gia” Đó là tư tưởng xuyên suốt của Lê Thánh Tông trong sự nghiệp của
mình Ông muốn lựa chọn cho được đội ngũ quan lại có thực tài thông qua conđường thi cử Trên tinh thần đó, Lê Thánh Tông áp dụng nhiều biện pháp khuyến
Trang 36khích giáo dục và tuyển dụng nhân tài Ngay cả chức xã trưởng cũng phải lànhững người có gốc nho học mới được bầu Quan lại có tri thức, có hiểu biết làgiường cột của triều đình đưa đất nước đến thịnh trị.
Bốn là, Tạo ra sự ràng buộc, kiềm chế, giám sát giữa các bộ phận.
Muốn tập trung quyền lực vào tay vua, vua có thể thông tỏ mọi điều thì độingũ quan lại phải tuyệt đối trung thành, không dám lộng quyền, tiếm quyền, lạmquyền Cách tốt nhất là tạo ra mối liên hệ ràng buộc, kiềm chế, đối trọng nhaugiữa các quan lại Vua sẽ là đầu mối để xử lý các thông tin, quan sát nắm bắt mọiđiều Trong dụ Hiệu định quan chế đặt ra mục tiêu: “ tất cả đều liên quan vớinhau, ràng buộc lẫn nhau ”, “ trách nhiệm lại có nơi quy kết khiến cho quan to,quan nhỏ đều ràng buộc với nhau, chức trọng, chức kinh cùng kiềm chế lẫn nhau”[5,454]
Có được như vậy, các quan lại mới làm việc công tâm, luôn đúng chứctrách, bổn phận và tận tình với công việc Việc điều hành quản lý đất nước mớiđược vận hành suôn sẻ, các chính sách quản lý mới đem lại hiệu quả
Trên tình thần thực hiện các mục tiêu đó, Lê Thánh Tông tiến hành triểnkhai các nội dung của cải cách hành chính
2.2.3 Sơ lược nội dung cải cách hành chính của Lê Thánh Tông
2.2.3.1 Cải cách bộ máy ở trung ương
- Bãi bỏ chức tể tướng:
Các triều đại trước đều có chức tể tướng đứng đầu 2 ban văn võ với quyền
hành vô cùng lớn:“dưới một người, trên vạn người” Tể tướng giữ vai trò trọng
yếu trong triều đình, giữ quyền thực thi pháp luật, có quyền chi phối các mệnhquan triều đình
Thực hiện mục tiêu thâu tóm mọi quyền hành trong tay, trực tiếp điều hànhcông việc của các cơ quan, Lê Thánh Tông bãi bỏ chức vụ Tể tướng Nguy cơtiếm quyền, lộng quyền, lạm quyền của bậc đại thần bị triệt tiêu Mức độ tậptrung quyền lực của nhà nước trung ương tập quyền đạt đến mức cao nhất
- Bãi bỏ các cơ quan trung gian:
Lê Thánh Tông bãi bỏ các cơ quan trung gian: Nội Mật Viện, Thượng ThưSảnh, Tôn Nhân Phủ, Chủ trương tinh giản bộ máy cơ quan trung ương nàykhông nằm ngoài dụng ý thu gọn đầu mối, tránh sự nhiễu loạn thông tin từ cấp
Trang 37địa phương đến cấp trung ương Để vua có thể trực tiếp nắm bắt tình hình đấtnước và điều hành công việc của lục bộ Và tránh được sự phân tán quyền lực,gây bè phái, nội loạn trốn thâm cung.
Bằng những cải cách đó, mô hình nhà nước trung ương tập quyền đã đạtđến đỉnh cao Mô hình này tiếp tục được triều Nguyễn kế thừa và phát triển
- Cải cách các cơ quan giúp việc hàng ngày cho vua:
Lê Thánh Tông tổ chức và quy định lại cơ quan văn phòng giúp việc Vuađịnh rõ thẩm quyền, chức trách của các cơ quan: Đông Các, Trung Thư giám,.Cải cách cơ quan văn phòng, vua có điều kiện tập trung điều hành chính sự màvẫn giám sát được những công việc hàng ngày của văn phòng
- Cải cách ở lục bộ, lục tự:
Lê Thánh Tông nắm quyền hành quản lý trực tiếp cơ quan chuyên môn
Do đó, vua phải cải cách, tổ chức lại lục bộ, lục tự Điều này Vua đã trăn trở quaviệc đổi bộ thành viện rồi viện thành bộ Vua Lê Nghi Dân cũng đặt ra 6 bộ, 6 tựnhưng chỉ là hư danh chưa có thực quyền Đến năm 1466 chức năng, nhiệm vụcủa từng bộ được phân định rõ, Bộ Lại: tuyển bổ, thăng, giáng cho quan lại BộLễ: đặt và tiến hành các nghi lễ, yến tiệc, học hành, thi cử Bộ Hộ: trông coiruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế, lương bổng của quan lại Bộ Binh: trôngcoi việc binh chính, quân sự Bộ Hình: trông coi pháp luật, thi hành pháp luật, xét
xử kiện cáo, Bộ Công: xây dựng lâu đài, cung điện đường xá,
Lê Thánh Tông đặt thêm lục tự để đảm đương những công việc khôngthuộc lục bộ (có thể coi là cơ quan trực thuộc Chính phủ ngày nay): Thái Thường
Tự, Đại Lý Tự,
Việc đổi tên từ bộ thành viện, Lê Thánh Tông muốn các bộ làm chức năngtham mưu Vì sợ sự phân quyền cho lục bộ Nhưng khi đi vào hoạt động, các việnkhông phát huy được hiệu quả Viện chỉ là cơ quan tham mưu, tư vấn không phải
là cơ quan chức năng điều hành công việc Lục viện phải trở về lục bộ với chứcnăng quản lý theo nghành, theo lĩnh vực cụ thể Đồng thời, Lê Thánh Tông đặtthêm lục khoa để giám sát, hạn chế quyền hành của các bộ
- Tổ chức lại cơ quan kiểm tra, giám sát:
Đời Trần đã có Ngự sử đài để giám sát, đàn hạch các quan trong triều đình.Đứng đầu là Ngự sử trung tán, nhưng nhiều khi do Tể tướng kiêm nhiệm, khó
Trang 38tránh khỏi sự lạm quyền, thao túng quyền lực Lê Thánh Tông cải cách lại, traothêm quyền, đặt địa vị của Ngự sử đài lên cao hơn để bảo đảm tính độc lập Ngự
sử đài do Đô ngự sử (phẩm trật từ tòng nhị phẩm trở lên), phó Đô ngự sử (tòngtam phẩm), đều là người có học vị tiến sĩ đảm trách và phải qua 4 kỳ khảokhoá
Nếu như, Hồ Quý Ly chỉ chú trọng tới giám sát cấp địa phương khi đặt Sởliêm phóng ở các lộ để dò xét tình hình, trông coi bộ máy mật thám và dò la tintức [12] Thì, Lê Thánh Tông coi trọng giám sát cả cấp địa phương và trungương Ở địa phương ngoài Hiến sát sứ ti còn có Ngự sử đài ở 13 thừa tuyên Ởtriều đình trung ương ngoài Ngự sử đài còn có lục khoa giám sát lục bộ
Việc đặt 6 khoa tương ứng với 6 bộ để giám sát công việc của 6 bộ nhằmhạn chế sự phân quyền của 6 bộ, bảo đảm công việc được thừa hành, các quanràng buộc, kiểm chế nhau thực hiện đúng chức trách, bổn phận của mình
Cái hay của việc đặt ra 6 khoa là đề ra quy chế giám sát, kiểm tra theo hệthống dọc, hoàn toàn độc lập nhau: chỉ ra thu vào là chức của hộ bộ mà hộkhoa phải giúp đỡ, Lại bộ thăng bổ nhầm người thì Lại khoa được phép bác bỏ ”[5,454] Cơ quan thanh tra, giám sát được đặt ngang hàng với lục bộ, mang tínhđộc lập có quyền hành lớn chỉ chịu mệnh vua, không phụ thuộc sự chỉ đạo chiphối của bất cứ quyền lực nào khác Giám sát như vậy là công tâm, khách quan,chính xác
Qua những cải cách ở trung ương, Lê Thánh Tông đã củng cố vững chắcquyền lực của mình đến mức tối đa, thoát ra khỏi mô hình bộ máy gia đình trị,dòng họ trị, cách thức làm việc cá nhân Ông tổ chức hợp lý các cơ quan chuyênmôn, giảm bớt đầu mối, tạo được sự ràng buộc, kiềm chế lẫn nhau Với cơ chế đóvua trở thành trung tâm của quyền lực
2.2.3.2 Cải cách hành chính ở địa phương
Để tiện cho việc quản lý, Lê Thánh Tông tiến hành cải cách hành chính ởđịa phương Ông chia cả nước thành 13 thừa tuyên; bỏ cấp trấn, lộ Các cấp chínhquyền địa phương gồm: thừa tuyên, phủ, huyện, châu - xã Lê Thánh Tông lệnhcho các thừa tuyên phân giới cắm mốc, lập bản đồ địa lý - hành chính: “Sai 12thừa tuyên tra xét trong hạt mình những nơi sông núi hiểm dị, cùng sự tích xưanay vẽ thành bản đồ, ghi chú rõ ràng, gửi cho bộ Hộ để làm bản đồ địa lý”
Trang 39[5,301] Tính đến năm 1489, cả nước có 13 thừa tuyên, 52 phủ, 178 huyện, 50châu, 20 hương, 36 phường, 6841 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30nguyên, 30 trường” [5,507].
Lập bản đồ trong cả nước không chỉ có ý nghĩa xác định lãnh thổ đất nước
mà còn thể hiện trình độ quản lý hành chính triều Lê Thánh Tông đã đạt đượcmức cao Bản đồ đó là bản đồ hành chính làm cơ sở để phân định ranh giới giữa
các vùng miền khác nhau, làm cơ sở xác định nhân tố địa chính trị, địa nhân
sinh, địa văn hoá, địa kinh tế để đưa ra những chính sách quản lý cho phù hợp
với từng vùng Nó cũng không nằm ngoài mục đích củng cố và thâu tóm mọiquyền lực cho nhà vua Việc lập bản đồ hành chính chứng tỏ, sự chi phối củatriều đình trung ương đã vươn tới được các vùng miền của đất nước
- Phân định chức trách, nhiệm vụ các cấp chính quyền địa phương:
Trước Lê Thánh Tông, các cấp có người đứng đầu phụ trách chung Đứngđầu đạo là Hành khiển, Tổng quản chỉ huy quân đội, cấp trấn có Trấn thủ, Thìnay, việc tổ chức lại cấp địa phương theo tinh thần tránh tình trạnh cát cứ, phântán để tập trung quyền lực Theo đó, ở mỗi thừa tuyên không có người đứng đầu.Ông đặt 3 ty thừa hành công việc, ngang quyền nhau và trực tiếp liên hệ với trungương Thừa ty phụ trách các việc hành chính dân sự Hiến ty: phụ trách việcthanh tra quan lại trong đạo của mình Đô ty: phụ trách quân đội Dưới thừa tuyên
là phủ có Tri phủ đứng đầu, chịu trách nhiệm chung; dưới phủ có huyện do Trihuyện đứng đầu
Ngoài ra Lê Thánh Tông đặt Ngự sử đài ở 13 thừa tuyên trực thuộc Ngự sửđài trung ương cùng thực hiện việc kiểm tra, giám sát
Với cách thức tổ chức đó, vua Lê Thánh Tông vừa nắm bắt được công việccác cấp, vừa tránh được xu hướng cát cứ, ly tâm Công việc điều hành lại thông
tỏ, không kẻ nào dám làm bậy, tính chuyên môn hoá ở mức cao Các ty là cánhtay nối dài, là tai mắt của vua để trông coi cấp địa phương
Đối với cấp xã, Lê Thánh Tông đổi xã quan thành xã trưởng do dân bầu
Xã trưởng phải thoả mãn điều kiện nhất định mới được làm Các triều trước, chia
xã theo số dân đinh, Lê Thánh Tông căn cứ theo số hộ gia đình để chia xã nhằmcủng cố thiết chế Nho giáo trong xã hội Thông qua đó mà giữ gìn kỷ cương phépnước
Trang 402.2.3.3 Cải cách trong tuyển chọn và sử dụng quan lại
Lê Thánh Tông phải tuyển chọn và sử dụng một đội ngũ quan lại mới thaythế cho tầng lớp khai quốc công thần đã không đáp ứng được yêu cầu điều hànhcông việc Ông đã thi hành một loạt các biện pháp, từ việc cải cách hệ thống thituyển quan chức, thực hiện chính sách trọng đãi hiền tài, thiết lập cơ chế kiểm tra,giám sát quan lại; chuẩn mực hoá các chức quan cho đến bãi bỏ chức vụ tể tướng.Ông muốn tạo dựng cho được đội ngũ quan lại có thực tài và tuyệt đối tận trungvới nhà vua theo tinh thần: các chức lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹcùng giữ gìn nhau, lẽ phải và việc lớn của nước không bị lung lay.” [5,454] Hiệuquả của cải cách trong tuyển chọn và sử dụng quan lại đã góp phần to lớn vàothành công chung cuộc cải cách hành chính
2.2.3.4 Những nội dung cải cách hành chính khác
Cùng với những cải cách trọng tâm: bộ máy nhà nước và quan chế, LêThánh Tông thi hành các biện pháp cải cách khác liên quan đến việc xây dựng vàhoàn thiện nhà nước phong kiến tập quyền Nhất là việc hoàn thiện thể chế, cảicách thủ tục hành chính, việc ra văn bản và thực thi văn bản
Trong 38 năm làm vua, Lê Thánh Tông ban hành 83 sắc chỉ về các công
việc hành chính và thể chế quan chức, 10 sắc chỉ quy định về kiện tụng, 8 sắc chỉ
về đội ngũ quan lại trông coi pháp luật, 11 sắc chỉ về phòng chống tham nhũng,
hối lộ, buôn lậu, Lê Thánh Tông là vị vua đầu tiên cho phép các làng xã áp dụng
chế độ hương ước để quản lý trên địa bàn Ông cho phép hương ước hoá các
phép tắc của nhà nước để dân làng thực thi nhằm phát huy tính dân chủ ở làng xã
Ngoài ra, Lê Thánh Tông còn cho soạn thảo, pháp điển hoá các quy tắcpháp luật thành bộ luật Hồng Đức Trong bộ luật Hồng Đức có rất nhiều điều luậtliên quan đến thể chế hành chính nhà nước về các mặt, quyền và nghĩa vụ quanlại, về nền công vụ, Các điều luật này tập trung ở chương Cấm vệ và chương Vichế
Mục đích của việc hoàn thiện thể chế hành chính là: “đặt luật là để bài trừ
kẻ gian, sao dung được bọn coi thường pháp luật” [5,464] Thể chế nền hànhchính được ban hành đầy đủ, hoàn thiện là cơ sở để quan lại tuân thủ và thực thipháp luật
2.2.3.4 Kết quả và ý nghĩa cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh rri