LỜI CẢM ƠNTrong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, với sự hướng dẫn tận tìnhcủa các thầy cô trong Khoa Quản lý xã hội và thầy giảng viên hướng dẫn, sựgiúp đỡ nhiệt tình của các cơ qu
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU VỀ NGHỆ THUẬT
MÚA RỐI NƯỚC
TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG
ĐH QLVH 14B
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu khoa học “Tìm hiểu về nghệ thuật múa rốinước tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình” là công trình của cá nhân tôi Các
số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu được sử dụng trong đề tài làkhách quan, trung thực
Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Thương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, với sự hướng dẫn tận tìnhcủa các thầy cô trong Khoa Quản lý xã hội và thầy giảng viên hướng dẫn, sựgiúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan chức năng và nhân dân địa bàn nghiên cứu,
sự cố gắng khắc phục khó khăn của bản thân, tôi đã hoàn thành khóa luận tốtnghiệp với đề tài: “Tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưngtỉnh Thái Bình” Qua đây, tôi đã rút ra được nhiều bài học, kinh nghiệm bổ íchtrong công tác quản lý di sản, quản lý văn hóa, bảo tồn và phát huy di sản vănhóa cổ truyền trong bối cảnh hiện nay, đồng thời giúp tôi hiểu rõ hơn lý thuyết,kiến thức đã được nhà trường trang bị, áp dụng vào thực tiễn công việc
Xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong Khoa Quản lý xã hội vàthầy Nghiêm Xuân Mừng, giảng viên hướng dẫn, đã định hướng, tư vấn, giúp
đỡ tác giả trong quá trình lựa chọn và thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơncác nghệ nhân múa rối nước làng Nguyễn và làng Đống, cùng các cơ quanchức năng huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấpcho tác giả nhiều thông tin, tư liệu bổ ích, giá trị về lịch sử hình thành, quátrình phát triển, các giải pháp bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước tạiđịa phương
Hà Nội, ngày 26 tháng 03 năm 2018
TÁC GIẢ
Trang 4BẢNG VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC VÀ MÚA RỐI NƯỚC TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH 7
1.1 Tổng quan về nghệ thuật múa rối nước 7
3 A _ r 1 2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và nghệ thuật múa rối nước tại đây 23
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG 30
2.1 Phường rối nước làng Nguyễn xã Nguyên Xá 30
2.2 Phường rối nước làng Đống xã Đông Các 39
Tiểu kết chương 2 48
Chương 3 GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG 49
3.1 Đối với cơ quan quản lý và các cấp chính quyền 49
3.2 Đối với các nghệ nhân 58
3.3 Đối với khán giả 63
Tiểu kết chương 3 64
KẾT LUẬN 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Trang 6Múa rối nước (hay còn gọi là trò rối nước) là một loại hình nghệ thuậtsân khấu dân gian truyền thống độc đáo, một sáng tạo đặc biệt của người Việt
ở châu thổ Bắc Bộ, ra đời từ nền văn hóa lúa nước, nhận được sự quan tâmhưởng ứng của đông đảo nhân dân và bạn bè quốc tế
Là một trong những cái nôi của nghệ thuật múa rối nước truyền thống,múa rối nước tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình từ lâu đã nổi danh trên cảnước và bạn bè quốc tế với các phường rối như: rối nước làng Nguyễn và rốinước làng Đống Mặc dù đã nhận được sự quan tâm đầu tư từ nhà nước và các
tổ chức khác nhưng nghệ thuật múa rối nước tại đây vẫn phải đối mặt với thựctrạng nhiều khó khăn, thách thức và nguy cơ bị mai một theo thời gian
Là sinh viên đang theo học chuyên ngành Quản lý văn hóa của TrườngĐại học Nội Vụ Hà Nội, tôi mong muốn được tìm hiểu về nghệ thuật múa rốinước tại đây để nâng cao kiến thức, sự hiểu biết về múa rối nước - một nghệthuật dân gian đặc sắc, một nét đẹp văn hóa không chỉ của người dân ĐôngHưng - Thái Bình mà còn của cả dân tộc Việt Nam phục vụ cho quá trình họctập, làm hành trang cho quá trình công tác thực tiễn sau này Chính vì vậy, tácgiả đã chọn đề tài “Tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưngtỉnh Thái Bình” làm đề tài khóa luận
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật múa rối nước làng Nguyễn và làngĐống tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: xã Nguyên Xá và xã Đông Các thuộc huyện
Trang 7Đông Hưng tỉnh Thái Bình
+ Phạm vi thời gian: khảo cứu hoạt động từ năm 2010 đến năm 2018
3 Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận góp phần tìm hiểu lịch sử hình thành, quá trình phát triển,những đặc trưng, giá trị nghệ thuật và thực trạng hoạt động múa rối nước tạihuyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phầnbảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước tại đây
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát, tổng hợp nguồn tư liệu đã viết về nghệ thuật múa rối nước
để tham khảo, sử dụng cho đề tài nghiên cứu
- Tiến hành liên hệ, điền dã, khảo sát thực tiễn tại làng Nguyễn (xãNguyên Xá), làng Đống (xã Đông Các) và các cơ quan quản lý, chức năng tạihuyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình để thu thập thông tin, dữ liệu, phục vụ cho
đề tài nghiên cứu
- Tổng hợp, phân tích, xử lý các thông tin, dữ liệu thu thập được trướckhi viết khóa luận
- Hoàn thiện đề tài khóa luận
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Tác giả thực hiện việc điền dã, liên
hệ và đến khảo sát thực tế tại các làng múa rối nước ở xã Nguyên Xá và ĐôngCác, trực tiếp quan sát, tiến hành phỏng vấn, điều tra, tìm hiểu, các hoạt động
tổ chức, biểu diễn và bảo tồn nghệ thuật rối nước tại đây
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở các dữ liệu thu thập
được, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp các dữ liệu nhằm làm rõ thực trạngcủa hoạt động tổ chức biểu diễn, cũng như những vấn đề đặt ra đối với côngtác bảo tồn phát huy nghệ thuật múa rối nước ở huyện Đông Hưng, tỉnh TháiBình
6 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trang 8Đến nay, có một số công trình nghiên cứu về nghệ thuật múa rối nướctại Thái Bình nói chung và ở huyện Đông Hưng nói riêng
- Niên luận: Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình, giảng viên chuyên
ngành Dân tộc học tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Nội dung
đã khai thác: tác giả giới thiệu sơ lược vài nét về vùng đất Thái Bình và hoạtđộng của các phường rối nổi tiếng tại Thái Bình Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâuphân tích được thực trạng hoạt động của các phường rối, và chưa đưa ra đượcnhững giải pháp cụ thể cho việc bảo tồn, phát huy nghệ thuật múa rối nước tạiđây
- Luận án Tiến sĩ văn hóa học: Múa rối nước ở Thái Bình từ khi đất nước thống nhất (1975) đến nay, tác giả Nguyễn Văn Định, Học viện Khoa
học Xã hội Luận án của tác giả đã làm rõ thực trạng và sự chuyển biến củahoạt động múa rối nước ở Thái Bình từ năm 1975 đến nay thông qua nghiêncứu trường hợp múa rối nước ở làng Nguyễn (xã Nguyên Xá, Đông Hưng) vàlàng Đống (xã Đông Các, Đông Hưng) Tuy nhiên, do là một đề tài thuộcchuyên ngành Văn hóa học nên tác giả chưa đi sâu vào phân tích những thuậnlợi, khó khăn trong công tác hoạt động và biểu diễn của hai phường múa rốinước này, đồng thời chưa đưa ra được những giải pháp nhằm bảo tồn và pháthuy nghệ thuật múa rối nước ở đây
- Cuốn sách Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình, tác giả Nguyễn Huy
Hồng Nxb Sở Văn hóa và Thông tin Thái Bình, 1987 Tác giả đã khai thácnhững thông tin về đất Thái Bình và nghệ thuật múa rối nước: sân khấu, buồngtrò, quân rối, máy điều khiển, nghệ nhân, nhân vật, biểu diễn, của nhữngphường rối tiêu biểu ở Thái Bình Tuy nhiên, tác giả lại chưa khai thác đượcthực trạng hoạt động của các phường múa rối nước tại đây và chưa đưa ra đượcnhững biện pháp khắc phục tình trạng đó
- Bài viết: Làng Nguyễn (Nguyên Xá - Đông Hưng - Thái Bình): cái nôi của múa rối nước Việt Nam, tác giả Đình Huy đăng trên báo Hòa Nhập
Trang 9- Bài viết: Giữ gìn nghệ thuật rối nước truyền thống làng Nguyên Xá,
tác giả Nguyễn Lành đăng trên Báo Tin Tức ngày 22/4/2016
Nội dung: Tác giả đã khai thác được nhiều nội dung trong việc nỗ lựcgìn giữ truyền thống quê hương của các nghệ nhân, các diễn viên trẻ và bà connhân dân nơi đây Đồng thời cũng nói ra những khó khăn đang tồn tại ởphường rối này Tuy nhiên chưa đưa ra những giải pháp giải quyết tình trạngkhó khăn đó
- Bài viết: Độc đáo múa rối nước làng Đống, tác giả Nguyễn Hậu đăng
trên Báo Thái Bình ngày 13/6/2016
Nội dung: Tác giả giới thiệu về phường rối nước làng Đống xã ĐôngCác huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình, những nét đặc trưng của nghệ thuật rốinước tại đây như quân rối, buồng trò, cơ cấu tổ chức phường hội Tuy nhiêntác giả chưa khai thác được những thuận lợi và khó khăn mà phường rối nàyđang gặp phải cũng như những giải pháp hợp lý giải quyết tình trạng đó
- Bài viết: Nghệ nhân múa rối nước Nguyên Xá, tác giả Quỳnh Thanh
đăng trên Báo Thái Bình ngày 26/3/2016
Nội dung: Tác giả viết về cuộc nói chuyện của tác giả với nghệ nhânNguyễn Hữu Ngữ (xã Nguyên Xá, Đông Hưng), những tâm sự về nghề múarối nước và lòng nhiệt huyết của ông với nghề
Đây là những tư liệu tốt cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho việc tìmkiếm thông tin làm khóa luận của tôi Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu
và những bài viết trên chưa tổng hợp và phân tích một cách chi tiết về thựctrạng hoạt động của các phường rối nước trên địa bàn huyện Đông Hưng tỉnh
Trang 10Thái Bình, những thuận lợi và khó khăn mà các phường rối đang gặp phảicũng như chưa đưa ra những biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuậttruyền thống này Vì vậy, đề tài “Tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước tạihuyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình” của tác giả được thực hiện, mong muốn là
đề tài đầu tiên, có hệ thống tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước ở những khíacạnh này
7 Giả thuyết nghiên cứu
Tìm hiểu về nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưng tỉnh TháiBình, cách thức hoạt động và biểu diễn, những thuận lợi và khó khăn mà múarối nước đang gặp phải Từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm bảo tồn và pháthuy nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưng Kết quả việc nghiên cứukhóa luận góp phần phổ biến rộng rãi và gìn giữ nét đặc sắc của nghệ thuậtmúa rối nước nói chung và của địa phương nói riêng
8 Đóng góp của khóa luận
- Đề tài góp phần tìm hiểu nghệ thuật rối nước tại huyện Đông Hưngđồng thời chỉ ra được những thuận lợi và khó khăn mà nó đang gặp phải, từ đó
đề xuất những giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước tạiđây
- Kết quả việc nghiên cứu khóa luận góp phần phổ biến rộng rãi và gìngiữ nét đặc sắc của nghệ thuật múa rối nước nói chung và của địa phương nóiriêng đồng thời có thể là nguồn tham khảo cho các cơ quan quản lý, các trườnghọc và những công trình nghiên cứu tiếp theo về nghệ thuật múa rối nước tạihuyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
9 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài chialàm 3 chương
Chương 1: Tổng quan về nghệ thuật múa rối nước và múa rối nước tại huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình
Trang 11Chương 2: Thực trạng nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông HưngChương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa rối nước tại huyện Đông Hưng
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC VÀ MÚA RỐI
NƯỚC TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH
1.1 Tổng quan về nghệ thuật múa rối nước
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của múa rối nước
Múa rối nước (hay còn gọi là trò rối nước) là một loại hình nghệ thuậtsân khấu truyền thống độc đáo của Việt Nam, ra đời từ nền văn hóa lúa nước ởchâu thổ Bắc Bộ Nét độc đáo của nghệ thuật cũng như nền tảng văn hóa nôngnghiệp ẩn đằng sau những trò diễn rối đã khiến cho nghệ thuật này mang ýnghĩa biểu tượng cho đời sống sinh hoạt nông nghiệp vùng nông thôn Bắc BộViệt Nam Ngoài khu vực châu thổ này, sẽ không thể nhìn thấy rối nước ở mộtnơi nào khác vì trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, rối nướcluôn chịu sự tác động của môi trường sống, đặc biệt là các điều kiện tự nhiên,
xã hội, những sinh hoạt văn hóa vật chất, tinh thần của cộng đồng
Điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái vốn được coi là những tácnhân quan trọng có ảnh hưởng đến sáng tạo văn hóa của con người Sự tácđộng qua lại giữa tự nhiên và con người là nhân tố tạo nên sự hình thành pháttriển và đặc trưng của nghệ thuật múa rối nước
Bắc Bộ là châu thổ được hình thành do sự bồi đắp phù sa của sông Hồng
và sông Thái Bình trong một vịnh biển mà bờ là một vùng đồi núi Các consông lớn của châu thổ và các chi lưu đã chia cắt châu thổ thành nhiều ô trũng.Vào mùa lũ, nước dâng cao tràn vào các khu vực trũng thấp, từ đây hình thànhnhiều dòng sông nhỏ làm cho bề mặt châu thổ tăng thêm các diện tích chứanước như ao, hồ, đầm, sông, suối,
Nhưng đặc điểm địa hình của châu thổ Bắc Bộ không chỉ là hình thành
tự nhiên từ quá trình bồi đắp phù sa của các con sông mà nó còn được can thiệp
từ bàn tay của con người trong quá trình định cư định canh Khi đê đã được
Trang 13đắp để hạn chế sự hủy hoại của nước mùa lũ, khi khoa học kỹ thuật chưa thểgiúp con người chủ động được nguồn nước tưới tiêu bằng hệ thống các côngtrình thủy lợi, cộng với việc mưa nắng khó lường, người dân đã lựa chọn aolàng là giải pháp trữ nước để tăng thêm sự chủ động nguồn nước cho sản xuất
và sinh hoạt
Thói quen sử dụng nước tại chỗ đã hình thành tư duy về nước đặc trưngcủa cư dân Nước được coi là chất sống (phục vụ sinh hoạt, sản xuất nôngnghiệp ), chất thiêng (lễ cầu mưa, cầu nước, rước nước, tắm tượng ), chấtsáng tạo nghệ thuật (rối nước, đua thuyền và các trò chơi sông nước.) Vớiriêng rối nước, những ao gắn với cụm công trình kiến trúc đình, đền, chùa củalàng đã trở thành không gian diễn rối trong những ngày hội làng và đượctruyền tới ngày nay Cho tới trước những năm 50 của thế kỷ XX, rối nước vẫnchỉ diễn ra chủ yếu ở ao làng để phục vụ nhu cầu của cộng đồng làng
Sử dụng mặt nước ao làng để làm nghệ thuật, các nghệ nhân đã khai thácnước ở đặc tính làm nổi chứ không khai thác dòng chảy của nó, khai thác tínhđộng và ảo của chất liệu này để tạo một bề mặt diễn xuất tự nhiên Nước đãđược khai thác làm chất liệu nghệ thuật
Những sinh hoạt nông nghiệp diễn ra quanh ao làng là chủ đề xuyên suốtcác tiết mục rối, hình mẫu để xây dựng con rối được lấy ngay từ cuộc sốngthường ngày với những con người sinh sống, lao động ở làng xã Chất liệucuộc sống phong phú đã giúp nghệ nhân dễ dàng phiên chuyển thành nghệthuật và người ta nhận thấy ở rối nước một thế giới thu nhỏ của những sinhhoạt văn hóa làng quê với những hình mẫu quen thuộc Ao làng không chỉ làkhông gian sinh sống mà còn là không gian để người nông dân làm nghệ thuật
Sự ra đời của rối nước ở ao làng như thêm một minh chứng cho thói quen sửdụng nước tại chỗ Rối nước trở thành nghệ thuật của ao làng
Rối nước xuất hiện trong các lễ hội, nó được xem như những trò diễn
Trang 14vui giúp cho người nông dân giải tỏa sau những ngày lao động mệt nhọc củahoạt động thời vụ Nhưng, không ít lễ hội nông nghiệp ở Việt Nam có căn cỗiban đầu là để cầu xin sự phù trợ của các thế lực siêu nhiên cho mưa thuận, gióhòa, mùa màng tươi tốt Vì vậy, đã có những ý kiến cho rằng, rối nước hìnhthành bên cạnh những lễ thức nông nghiệp cầu mong mưa thuận, gió hòa, mùamàng tươi tốt nên rối nước có thể mang ý nghĩa tâm linh chứ không đơn thuần
là trò vui bình thường
Hình ảnh con rồng phun nước vẫn được người dân nông nghiệp coi làbiểu tượng cho việc cầu mưa; lân tranh cầu có liên quan đến việc cầu nắng, cầutạnh; tiếng ếch kêu, tiếng trống như lời gọi sấm Đó là những con vật linhthiêng có ảnh hưởng tới việc tạo ra nguồn nước để phục vụ cho sản xuất nôngnghiệp Hành động của con người dùng sào, dùng gậy múa rối rất gần với hành
vi khuấy động mặt nước trong các cuộc đua thuyền để nhắc nhở thủy thần bannước cho mùa màng , những trò rối mô tả lao động nông nghiệp đa phần đều
có liên quan đến nước Có thể bằng cách diễn rối, con người đã hướng tới cácthế lực siêu nhiên và con rối thay người chuyển tải ước vọng tới các thần linh.Người làng hưởng ứng các trò rối nước với ước vọng mùa màng, với niềm tin
về sự no đủ và bình an
Cùng với hoạt động canh tác lúa nước, lao động thủ công cũng là mộtđặc thù của đời sống cư dân Bắc Bộ và là nền tảng cho sự ra đời của rối nước.Công việc nhà nông dù bận rộn, vất vả nhưng nó cũng không chiếm hết quỹthời gian của người nông dân Lúc nông nhàn họ thường làm thêm nghề phụ.Các công việc phụ này vô cùng đa dạng và hầu như đều là nghề thủ công thô
sơ, đơn giản chứ không có nghề nào có quy mô lớn
Sự khéo tay và khả năng thích ứng đã trở thành lợi thế của người nôngdân trong đời sống lao động cũng như trong sáng tạo nghệ thuật Những conrối nước được làm ra từ những đôi tay của người nông dân quen với lao động
Trang 15thủ công và nghệ thuật tài tình ấy đã được sáng tạo trên tinh thần tư duy củalao động tại chỗ Ta thấy trong rối nước, người nông dân đã biến những vậtdụng bình thường và đơn giản (tre, gỗ, thừng, vải, cao su ) trở thành nghệthuật tài tình như thế nào Họ không sản xuất ra chất liệu để làm nghệ thuật màthường sáng tạo trên tinh thần sử dụng chất liệu, vật liệu có sẵn Điều đó chothấy giá trị nghệ thuật không phải từ những gì cao siêu, xa lạ với con người mà
từ những điều giản dị đi ra từ đời sống
Sự tồn tại của rối nước ở châu thổ Bắc Bộ là một quá trình nhiều thăngtrầm Quá trình đó diễn ra không liên tục mà có sự đứt đoạn Có thời kỳ rốinước phát triển mạnh, có thời kỳ lại suy tàn, có lúc còn rơi vào tình trạng đedọa bị biến mất
Rối nước là sáng tạo của dân gian, được lưu truyền qua nhiều đời Tuynhiên hình thức lưu truyền phi văn bản khiến cho việc tìm hiểu lịch sử rối nước
từ dân gian khó có thể thực hiện Căn cứ vào nguồn sử liệu, những hình thứcrối đầu tiên được ghi chép là khi nó đã trở thành trò diễn phục vụ triều đình
Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép về một hình thức làm núi giả Vạn Thọ
Nam Sơn kết bằng tre để chúc thọ vua Lý Thái Tổ vào ngày sinh nhật năm
1021 [1, tr 246] Theo nhiều tác giả, hình thức núi giả có nhiều liên quan đếnrối nước khi trên núi có hình trạng chim bay, muông chạy, rồng cuốn, muôn vẻ
kỳ lạ, có con hát thổi sáo, thổi kèn, hát múa trong hang núi, có người bắt chướctiếng các loài cầm thú [1, tr 252]
Bên cạnh hình thức làm núi giả, dưới thời Lý còn tồn tại một số trò chơisông nước được vua Lý ưa thích là đua thuyền và rối nước Tất nhiên tên gọirối nước chưa xuất hiện trong thời gian này mà sử sách chỉ mô tả về những tròdiễn trên sông nước và chúng ta tạm hiểu đó là những trò rối nước
Cụ thể trên văn bia Sùng Thiện Diên Linh (chùa Long Đọi, xã Đọi Sơn,huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) soạn năm 1121, tác giả Nguyễn Công Bật đã có
Trang 16nhiều dòng miêu tả trò rối sinh động thường được biểu diễn trước vua quan vàdân kinh thành trong những ngày hội lớn Rùa vàng là một màn rối độc đáo,thể hiện trình độ kỹ thuật làm rối tinh vi diệu thuật đến từng chi tiết nhỏ: rùa cóthể bơi, phun nước, liếc mắt, cúi chào Trong tiết mục rối rùa vàng còn có cảnhthần tiên ca múa nơi cửa động, chim thú bay nhảy theo từng đàn [5, tr 404].
Vua Lý Thái Tổ đã dành cho loại hình nghệ thuật dân gian này riêngmột vị trí biểu diễn ngay tại kinh thành, đó là việc xây dựng điện Linh Quang ởbên bờ sông Hồng để nhà vua ngự xem đua thuyền và rối nước [5, tr 404] Đây
là một sự ưu ái lớn của nhà vua dành cho rối nước cho dù ngay tại kinh đôkhông có riêng một phường rối nước nào Vào những ngày lễ hội lớn của kinh
đô, những phường rối nước nằm rải rác quanh kinh thành Thăng Long lại tấpnập kéo tới điện Linh Quang bên bờ sông Hồng để thi tài trước đức vua và toàndân kinh đô Tuy vậy, điện Linh Quang là nơi dành cho vua quan triều đìnhngự xem đua thuyền và rối nước, không phải là nơi để các nghệ nhân sử dụngcho biểu diễn rối nước Nơi diễn rối nước là đoạn sông Hồng phía trước điệnLinh Quang
Thời Lê có một xáo trộn về thế sự tác động không nhỏ đến nghệ thuậtrối, đó là việc vua Lê Thánh Tông cấm dân chúng sử dụng diêm tiêu, thuốcsúng làm trò chơi (1466) [3, tr 62] Vì lẽ đó nhiều trò rối sư dụng thuốc pháotrở thành trò chơi bất hợp pháp Các phường hội không làm nghề nên dần tan
rã theo thời gian Cùng với đó phong trào biểu diễn phục vụ cung đình suygiảm và các phường rối nước trở về dân dã, với đình đám, hội hè ở làng quê [6,
tr 31]
Không còn xuất hiện trong các hoạt động của chính triều, song không có
nghĩa là rối nước đã mất hẳn vai trò và vị thế trong đời sống xã hội Rối nướcvẫn là sinh hoạt văn hóa khá phổ biến trong hội hè đình đám lớn nhỏ ở làngquê, các phường hội này vẫn giữ ngày giỗ tổ linh thiêng Thời Lê cũng là giai
Trang 17đoạn mà các phường rối ổn định tổ chức và định danh tên tuổi Nhiều phườngrối ở vùng Bắc Bộ hiện nay đều khẳng định sự ra đời của phường rối mình là
từ thời Lê như phường Đào Thục, phường Thanh Hải, phường Hồng Phong,phường Chàng Sơn, phường Nam Chấn,
Lúc này những phường rối chủ yếu hoạt động tại địa phương và các làng
xã lân cận trong nội vùng Chính phạm vi hoạt động hẹp đã giúp các phườngphát triển về chiều sâu và những sắc thái văn hóa địa phương đã dần hình thànhtrong từng trò rối [6, tr 31]
Do không còn được phục vụ cho vua quan triều đình nữa, rối nước quay
về với làng xã Các trò rối lúc này chủ yếu dành cho bà con làng xóm nên nộidung có sự biến đổi Mặc dù những trò rối từ thời Lý vẫn được lưu truyền vớinhững nhân vật như rùa tiên, chim, thú, rồng, phượng, sư gõ mõ, tiểu đánhchuông song những trò rối mang nội dung ca ngợi cung đình và vua quandường như không còn thích hợp với bối cảnh không gian văn hóa làng xã vàmối quan tâm của những con người ở làng Mối quan tâm của những người làmrối lúc này quay về với cuộc sống thế tục nơi làng xã với cảnh quan không giannơi mình sinh sống, với sinh hoạt của đời sống thường nhật, những thú vui, thúchơi ở nông thôn, với những mối quan tâm và ước mơ bình dị của người nôngdân Vì thế, những trò rối phản ánh cuộc sống làng xã nông thôn, những trò rốimang hình ảnh, dấu ấn của môi trường tự nhiên, phương thức sản xuất, thóiquen tập tục, tâm lý cộng đồng đã xuất hiện ngày càng nhiều hơn
Khi nhà Lê và Tây Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn lên nắm quyền đã chuyểnkinh đô về Huế, Thăng Long trở thành tỉnh Hà Nội Lúc này là thời kỳ pháttriển mạnh của các nghệ thuật chèo, tuồng, còn nghệ thuật rối thu mình ở cáclàng dân gian Bắc Bộ Không đạt được những bước phát triển nào đáng kểnhưng nghệ thuật rối vẫn không mất đi vì các phường hội vẫn duy trì được tổchức, giữ gìn được kỹ thuật tạc đẽo con rối và bảo mật được cách làm máy rối
Trang 18của riêng mình Một số ít trò rối độc đáo đã được các phường rối giữ gìn như
ngón nghề của riêng mình như phường Phú Đa có trò Hai Bà Trưng đánh trận,
đi thần về phật, nhảy qua vòng lửa; Đào Thục có Võ Tòng chém hổ, Lên võng xuống ngựa; Hồng Phong có leo cột đốt pháo; Nguyên Xá có trò Tễu, Tiên, chạy đàn ngũ phương, dệt cửi cho con; Đông Các có trò đu dây Các trò rối
này có kỹ thuật tương đối khó, khi biểu diễn nghệ nhân phải thật khéo léo và
tinh tế mới thành công Những trò rối khác phổ biến hơn như leo cột đốt pháo, bơi lội, chăn vịt, xay lúa giã gạo, mời trầu, bật cờ, thả lưới bắt cá, rồng vàng phun nước, phun lửa,, thì gần như phường rối nào cũng có, song cách thức
thể hiện lại khác nhau ở mỗi phường
Nếu lấy Hà Nội làm trung tâm, phía bắc có các phường Đồng Ngư, Bùi
Xá, Thanh Long, Thịnh Lộc của Bắc Ninh; Bồ Dương, An Liệt, Bùi Thượng,Lại Ốc của Hải Dương; phía tây có Chàng Sơn, Yên Thôn, Phú Đa, Đông Bìnhcủa Hà Tây (nay là Hà Nội); phía nam có phường Nguyên Xá, Đông Các,Duyên Tục, Kỳ Hội của Thái Bình và Nam Chấn, Nam Giang, Nghĩa Hưng củaNam Định
Mặc dù không phải là một hoạt động nổi trội trong đời sống văn hóanghệ thuật của nhân dân, song nghệ thuật rối nước vẫn tồn tại với sắc tháiriêng, vẫn được duy trì như là thú chơi của người dân ở làng trong những ngàyhội Nó bị gián đoạn khi cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp nổ ravào nửa cuối thế kỷ XIX
Thế kỷ XX có hai dấu mốc quan trọng, đó là sự ra đời của rối chuyênnghiệp năm 1956 và sự phục hồi của rối nước năm 1986
Năm 1956 là một điểm mốc quan trọng trong quá trình phát triển củangành rối Nhà nước chủ trương chuyên nghiệp hóa múa rối và Nhà hát múarối Trung ương được thành lập trên cơ sở tiếp thu học tập nghệ thuật múa rốicạn hiện đại của thế giới Đây là cơ sở rối chuyên nghiệp đầu tiên của Việt
Trang 19Nam Tuy nhiên vào thời điểm này, sự chuyên nghiệp hóa chủ yếu thực hiện ởmảng rối cạn vì đây là hình thức rối mới được học hỏi từ nước ngoài và cách tổchức nhân sự hoàn toàn mới Các đoàn rối chuyên nghiệp cho tới các đơn vịnghiệp dư đều chú trọng nhiều hơn tới nội dung vở diễn và phát triển kỹ thuậtrối cạn bởi nó không bị lệ thuộc quá nhiều vào điều kiện biểu diễn khó khănnhư sân khấu rối nước Vào thời điểm đó, sự hấp dẫn của kỹ thuật rối cạn mớihọc hỏi của nước ngoài cũng đang cần được nhân rộng và phổ cập rộng rãi nên
đã hình thành những câu lạc bộ rối nghiệp dư trong nhà trường, hợp tác xã,công trường, nông trường, lâm trường, đơn vị bộ đội Điều này trái ngược hoàntoàn với tính bảo thủ và bí truyền nghề nghiệp của rối nước
Trong khi rối chuyên nghiệp (chủ yếu là rối cạn) phát triển với tư cách làđơn vị của nhà nước thì rối nước vẫn chỉ có vốn liếng là các phường rối nướcdân gian tại các vùng nông thôn Tính chất hoạt động của các phường hội nàykhông diễn ra thường nhật mà chủ yếu là hình thức sinh hoạt văn hóa cộngđồng tại địa phương, trong các mùa lễ hội Một số gia đình, nhóm người, vàonhững lúc nông nhàn làm rối kiếm sống qua tháng ba ngày tám Có thể thấyrằng trong giai đoạn trước Đổi mới, hoạt động của rối nước mang tính chấtphường hội, làng xã chốn dân dã Sức sống của rối nước là mạch chảy ngầm
âm ỉ trong lòng làng xã như một món quà quê và chỉ những người dân quêthưởng thức
Năm 1957, Nhà hát múa rối Trung ương đã tìm về giá trị dân tộc theocác trò rối nước của các phường hội dân gian Từ đây đã có sự giao lưu học hỏi
và phối hợp của rối dân gian và rối chuyên nghiệp Nhưng sau đó, thời kỳ suygiảm kinh tế đất nước cộng với những quan niệm sai lệch của những ngườiquản lý văn hóa đã dẫn tới tình trạng sa sút của văn hóa, cùng với đó rối nướccũng rơi vào sự suy thoái nặng nề
Do điều kiện tự nhiên và công việc của nhà nông, có thể nói rằng: Múa
Trang 20rối nước được xây đắp hình thành từ tâm tư, tình cảm của người dân lao động,
nó tái hiện cuộc sống và ước vọng của thời đại Trước kia rối nước chỉ diễnngoài trời, sân khấu gắn bó, hòa quyện với thiên nhiên, trong không gian mênhmông, trời, đất và nước có cây xanh, mây, gió, lửa, có khói mờ vương tỏa, ẩnhiện mái đình uốn cong và màu ngói đỏ, quả là một sự hòa quyện độc đáo giữathiên nhiên và con người Ngày nay, múa rối nước Việt Nam, không chỉ bảotồn mà đã được khai thác sâu, rộng hơn Hiện nay, cả nước có khoảng 18phường rối nghiệp dư và 5 Nhà hát, đoàn múa rối chuyên nghiệp Hoạt độngcủa các phường rối phần lớn vẫn theo hình thức phục vụ hội hè, đình đám ,các thành viên tham gia chủ yếu là nông dân trong làng, xã Có phường cácthành viên là ông bà, cha mẹ, vợ chồng con cái dâu rể cùng trong một gia đình
Trong những năm gần đây, múa rối Việt Nam đã mạnh dạn thể nghiệmmột số vở diễn với hình thức kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, để đáp ứng
và phù hợp hơn với tiến trình phát triển xã hội hóa đất nước Với vị thế hiệnnay, múa rối nước Việt Nam được xếp vào hạng là nghệ thuật độc đáo của Vănhóa dân tộc
1.1.2 Đặc trưng nghệ thuật của múa rối nước
1.1.2.1 Ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng của rối nước là ngôn ngữ biểu hình,nghĩa là sử dụng hình ảnh, cụ thể là những động tác hình thể diễn đạt về nộidung Ngôn ngữ biểu hình còn có ở nghệ thuật múa, nhưng múa là nghệ thuật
sử dụng cơ thể người và những động tác của con người thật Động tác thườnghướng tới những biểu hình khái quát về một nội dung hay một sự biểu cảm nào
đó Còn ngôn ngữ biểu hình ở rối thì ngược lại, bởi con rối không phải là mộtsinh vật sống thực, nó là một vật thể nhân tạo nên nó hướng tới cuộc sống thật,hướng tới những biểu hình giống thật để cho mình thật hơn
Chính từ việc diễn xuất bằng hình thể nên nghệ thuật này được cường
Trang 21điệu là múa rối Song thực ra không phải tất cả các biểu hình ở rối đều là múa
ngoại trừ một số trò Múa rồng, Múa phượng, Múa tiên,, còn hầu hết là những
trò diễn tả hành vi như lao động, cấy cày, tát nước, câu cá, chăn vịt, rướcxách,
Thuở ban đầu những trò rối đều là diễn không lời và thông tin đượctruyền đạt hoàn toàn qua ngôn ngữ biểu hình không cần đến lời nói để diễn tảhành vi mà ngược lại, sử dụng hành vi để diễn tả nội dung cần nói Cho đến
ngày nay vẫn còn tồn tại một số trò rối không lời như cấy cày, múa rồng, múa phượng, múa lân, rước xách, bơi chải còn lại hầu hết đều có lời hát, lời nói
phụ họa Thực tế cho thấy khi có lời hát, lời nói phụ họa, những trò rối trở nênsinh động hơn rất nhiều Tuy nhiên, ngôn ngữ lời nói không phải là điều kiệncần, mà chỉ là điều kiện đủ, có tính chất hỗ trợ Điều đó có nghĩa là trong mộttrò rối không nhất thiết phải có lời nói, người xem vẫn có thể hiểu nội dungthông qua ngôn ngữ hình ảnh, thông qua biểu hình của con rối [6, tr 37]
Như vậy, rối nước là nghệ thuật diễn hình phi diễn ngôn Nội dungtruyền tải qua ngôn ngữ biểu hình có tính phổ quát rộng hơn so với sự diễn giảibằng lời nói Người xem có thể không hiểu hết ngữ nghĩa của lời nói nhưngvẫn có thể hiểu hết nội dung trò rối thông qua sự diễn tả bằng hành động Vìthế, những trò rối nước của đồng quê không chỉ là nghệ thuật của riêng cộngđồng mà nó có thể đến với mọi người thuộc những nền văn hóa khác nhau, nóinhững ngôn ngữ khác nhau chính bởi đặc trưng biểu hình của nghệ thuật
1.1.2.2 Hình tượng nghệ thuật
Mỗi loại hình nghệ thuật đều cần tới những chất liệu riêng để tạo nênhình tượng và điều quan trọng dẫn đến thành công trong nghệ thuật chính làsức sống của hình tượng Với nghệ thuật rối nước, hình tượng đòi hỏi nhiềunhất sự dày công sáng tạo của người nghệ sĩ chính là các con rối, nó như mộtminh chứng thể hiện năng lực nghệ thuật của người nghệ sĩ dân gian Vì vậy để
Trang 22có thể hiểu rõ giá trị nghệ thuật của múa rối nước, người ta không thể khôngnhắc tới vai trò của các con rối.
Hầu hết các con rối nước của Việt Nam đều thuộc thể loại tượng tròn vàđược tạo bằng gỗ với những kích thước to nhỏ khác nhau Có những con rối rấtnhỏ chỉ cao 10cm nhưng cũng có những quân rối cao tới 80cm hoặc 1m Kíchthước lớn hay nhỏ của con rối hoàn toàn do nghệ nhân chủ động điều chỉnh chophù hợp với điều kiện kỹ thuật và nội dung diễn xuất Con rối càng lớn sẽ càngnặng và khó điều khiển, do vậy mà hiếm khi thấy con rối cao trên 1m Các conrối chủ yếu tập trung thể hiện hoạt động sống thường ngày như lao động sảnxuất, quân binh, thi thố, tế lễ, rước xách hội hè Nhân vật thể hiện rất đờithường và phần nhiều mang tính phiếm chỉ như những người nông dân, tiềuphu, ngư chài, bộ đội, nhưng cũng có khi nó là trí tưởng tượng của người nôngdân về các nhân vật có trong các truyện kể dân gian hoặc trong chính sử và dã
sử, ví dụ như Trưng Trắc, Trưng Nhị, Lê Lợi, Sơn Tinh, Thủy Tinh,
Ngoài chức năng biểu diễn, ở các con rối còn có giá trị của một tácphẩm điêu khắc độc lập với những tiêu chí riêng về tạo hình và mỹ cảm Tuyrằng ở các thể loại rối, tính trưng bày không phải là yếu tố quyết định và nókhông quan trọng như tính năng biểu diễn, nhưng rõ ràng là về mặt tạo tác,những đặc điểm cấu thành rối đã khiến cho thể loại điêu khắc này có một vị trírất riêng trong đời sống mỹ thuật dân gian của Việt Nam [6, tr 39]
* Con rối là một khối điêu khắc kết nối theo tính năng chuyển động
Để tạo ra một con rối sẽ là không khó nếu như dưới đôi tay của một điêukhắc gia chuyên nghiệp, nhưng để tạo một con rối có thể biểu diễn thì khôngphải ai cũng có thể làm được Bản thân các nghệ nhân làm rối cũng rất hiểuđiều đó Họ cho rằng thợ tạc tượng thông thường chỉ có thể làm ra rối Vậy cái
gì là yếu tố quyết định cho tiêu chí thẩm mỹ của một tác phẩm rối?
Tính năng chuyển động là một đặc tính cơ bản chi phối sự cấu thành
Trang 23điêu khắc rối Xuất phát từ tính năng này mà hầu hết các thể loại rối đều mangdáng vẻ là một khối điêu khắc kết nối trong đó nhiều thành phần đơn lẻ đượclắp ráp với nhau theo cơ chế tạo chuyển động Nếu như ta vẫn quen nhìn tượng
ở đình, chùa hay tượng lăng mộ nói chung là một khối điêu khắc tĩnh tại trongmột thế ngồi hay dáng đứng thì điêu khắc rối là một thể loại điêu khắc động vì
nó có thể thay đổi hình dạng bằng những chuyển động cơ học đơn giản khiđược giật dây điều khiển Chuyển động của rối có được là nhờ ở các khớp nốiđược thiết kế mô phỏng theo một số cơ chế chuyển động của cơ thể người hoặcvật như khớp tạo chuyển động chân, lưng, khớp tạo chuyển động cánh tay, cổtay, khớp cổ,
Khớp tạo chuyển động cũng được thiết kế đơn giản và có nhiều dạngthức khác nhau: khớp chốt đinh, khớp nối dây, khớp đàn hồi, lợi dụng quántính, giật dây, que đẩy, trục quay, con chì tùy từng vị trí và nhu cầu hoặc mụcđích diễn xuất mà người ta sử dụng cách tạo khớp sao cho phù hợp để đem lạihiệu quả cao khi biểu diễn Như vậy, tính chuyển động là yếu tố quyết định đặcđiểm của một tác phẩm tượng rối
* Máy rối
Mặc dù đã được thiết kế theo tính năng chuyển động nhưng để con rối
có thể nhịp nhàng, sinh động trong những vũ điệu trên mặt nước thì lại cần tớimột cơ chế điều hành được con người gián tiếp thực hiện Cơ chế điều hành ấygọi là máy rối Bí mật của trò rối nằm ở đây [6, tr 40]
Thực chất máy rối là một hệ thống dây được thiết lập theo nhữngnguyên tắc riêng, có áp dụng những lý thuyết vật lý cơ học như: dao động quántính, dao động đàn hồi, dao động cộng hưởng để tạo chuyển động cho rối
Máy rối bao gồm hai phần có thể tháo lắp tách rời nhau Mỗi phần nằm
cố định trong thân rối để điều khiển các động tác biểu diễn múa rối, một phần
là dây hoặc sào tre, gậy gỗ chạy ngầm dưới nước để điều khiển quân rối di
Trang 24chuyển xa gần trên mặt nước Thông thường khi con rối biểu diễn, ta không thểnhìn thấy máy rối bởi nó được lắp đặt ngầm bên trong thân rối đã được khoétrỗng hoặc được giấu ngầm dưới nước Mỗi con rối có một kiểu lắp đặt máyriêng để tạo những chuyển động khác nhau, do vậy máy rối chỉ có tính đơnchiếc chứ không thể được tạo hàng loạt Người thợ tạc rối đồng thời cũng làngười thiết lập hệ thống máy điều khiển rối Họ là người hiểu con rối cần dùngvào việc gì và phải được tạo tác ra sao, phải có hệ thống dây mắc như thế nào.Cũng chính từ lý do này mà tính phổ cập của việc làm rối gỗ không nhiều Mộtngười thợ tạc tượng bình thường có thể tạc được nhiều loại tượng khác nhau,nhưng nếu không ở trong phường rối, không sống cùng nghề rối thì cũng khó
có thể hiểu được những yêu cầu về kỹ thuật, về mỹ cảm cần thiết để sáng tạo rađược một tác phẩm rối hoàn chỉnh Đây có lẽ cũng là lý do tại sao chúng takhông có nhiều nghệ nhân tạc đẽo rối gỗ đơn lẻ ngoài phường rối [6, tr 41]
Cũng vì máy điều khiển rối luôn là một bí mật nhà nghề cho nên ta ít khithấy rối được trưng bày như những tác phẩm điêu khắc thông thường vì dễ bị
lộ phần máy rối Sau mỗi buổi diễn, rối được phơi khô và được các nghệ nhâncất giữ cẩn mật, không cho người ngoài tiếp cận với những con rối
* Màu sắc
Màu sắc trang trí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với con rối Khôngchỉ có ý nghĩa tăng độ đẹp hay độ bền của cốt gỗ bên trong, màu sắc còn hỗ trợkhá đặc lực cho nghệ thuật biểu diễn con rối trên mặt nước Các nghệ nhân xưathường sử dụng kỹ thuật làm sơn ta truyền thống cùng với bảng màu của tranhdân gian để trang trí con rối Với đặc tính dai dẻo và có độ đàn hồi, khô tronghơi nước, sơn ta thích hợp cho những vật dụng dùng nhiều trong môi trườngnước Kết hợp được với sơn ta thường là màu tự nhiên Màu trắng hồng củamặt, màu đen của tóc, màu đỏ, xanh, vàng của trang phục là những màu sắcchủ đạo, được phối hợp với nhau trong kỹ thuật công màu của phép bổ túc [6,
Trang 25tr 42].
Nhờ đó con rối có màu sắc tươi sáng, khác biệt hoàn toàn với màu thâm
u huyền bí của những pho tường chùa Điểm đặc biệt là các nghệ nhân xưa,bằng cách sơn thếp vàng, bạc dưới các lớp sơn màu đã khai thác được hiệu quảánh sắc của màu khi bắt sáng, tạo nên vẻ rực rỡ, lung linh của con rối dưới ánhsáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo Hơn thế nữa, khi các con rối xuống nước,các lớp sơn trở nên trong veo, có độ sâu, hắt ánh kim của vàng và bạc làm chomàu sắc dường như cũng có sự thay đổi, lay động, hấp dẫn thị giác
1.1.2.3 Phương thức trình diễn
* Không gian diễn rối
Không gian diễn rối là một phần quan trọng tạo thành nét riêng độc đáocủa thể loại rối này Không gian ấy cần có mặt nước để nghệ nhân và các conrối của họ thể hiện cái tài khéo và bí ẩn của nghệ thuật Nước là một đặc trưng
cơ bản của loại hình rối nước Với các loại hình rối khác, tên gọi thường gợicho ta hình dung về phương thức biểu diễn Với rối nước của Việt Nam, nướckhông đơn thuần chỉ là phương thức biểu diễn mà nó còn là một nhân tố kháquan trong trong “cộng sinh, cộng minh, cộng hưởng” với quân rối
“Nước đã dùng đặc tính lỏng và phản quang để tạo nên sự ảo hóa hiệntrường Sân khấu rối nước in sắc hình trời, mây, cây, cảnh cùng sự chuyển đổikhôn lường làm nền cho rối hoạt động Trên tấm gương lỏng tự nhiên này, tất
cả đều trở nên lung linh, mềm mại, uyển chuyển, biến hóa muôn hình nghìn vẻliên tục trước mắt người xem Những gì là thô cứng, nghèo nàn ở quân rối vàođây đều trở nên phong phú, dịu mềm, sinh động, linh hoạt Nước giấu tronglòng nó mọi bí ẩn của trò rối Quân rối nước thoắt ẩn, thoắt hiện trên mặt nướcsân khấu
Dùng nước làm nơi cho quân rối hoạt động, nghệ thuật rối nước đã đẩy
sự kỳ diệu của nghệ thuật lên một bước Nước không chỉ là khung cảnh, là môi
Trang 26trường, mà còn là chất xúc tác làm nên sức mạnh của rối và tài năng của nghệ
sĩ rối Trong biểu diễn, khi mặt nước sôi trào biến hóa, hình những quân rối intrên sóng nước đã được nhân lên thành vô vàn con bóng như giữa một cơn mơ
lạ Nước như đã có hồn ” [2, tr 40]
Với nhiều loại rối trên thế giới như rối tay, rối dây, rối người, rối bóng, việc biểu diễn rối không phụ thuộc quá nhiều vào môi trường không gian diễnxướng Người nghệ sĩ có thể mang quân rối đi biểu diễn ở bất cứ nơi nào mà
họ muốn và không gian dành cho diễn xuất được thiết lập một cách khá chủđộng và cơ động Rối nước của Việt Nam thì không như vậy Môi trường diễnxướng không đơn giản chỉ là một cái phông nền cho diễn rối mà còn là mộtnhân tố đặc trưng làm nên nghệ thuật rối nước
Khi biểu diễn rối nước, ngưòi ta dựng giữa ao một buồng trò bằng tranhtre, nứa, lá để tạo ra một sân khấu nhỏ cho các con rối, đó cũng là nơi nghệnhân giấu mình sau lớp mành tre để biểu diễn Buồng trò sau này được xây cốđịnh bằng gạch gọi là thủy đình Thủy đình ra đời khi mà rối nước đã rất pháttriển Tuy nhiên tại các làng rối của vùng châu thổ Bắc Bộ cho đến trước thờiĐổi mới cũng chưa có làng nào có tòa thủy đình riêng dành cho rối nước cho
dù hằng năm rối nước vẫn được người dân biểu diễn trong các ngày hội làng
* Kỹ thuật diễn rố i
Khá đặc biệt so với nhiều thể loại rối trên thế giới, kỹ thuật điều khiểnrối nước không chỉ dừng ở sự khéo léo tinh xảo mà nó còn thể hiện sự kỳ bíkhó tưởng tượng Khi các quân rối “múa” chúng ta không thể nhìn thấy đượchình thức tạo chuyển động của nó là như thế nào bởi hệ thống tạo chuyển độngđược giấu kín hoàn toàn trong lòng thân rối và trong lòng nước Hệ thống nàyđược gọi là máy rối
Những nghệ nhân rối nước rất coi trọng hệ thống máy rối Họ đặt ranhững lời thề, lời nguyền, những quy định khắt khe để bảo vệ bí mật của máy
Trang 27rối Những gì gọi là sáng tạo của rối nước hiện nay không tập trung nhiều vàoviệc làm ra những trò rối mới mà chủ yếu là những sáng tạo ở hệ thống máyrối Vì vậy, chúng ta có thể gặp những tiết mục rối khá giống nhau ở cácphường rối nhưng kỹ thuật máy rối thì chưa chắc đã giống nhau.
Rối nước biểu diễn không chỉ đem đến cho người ta những thỏa mãn về
vẻ tài khéo bề ngoài của các tiết mục mà nó luôn thôi thúc năng lực tìm hiểukhám phá ở người xem buộc họ phải tự tư duy Luôn có những câu hỏi tại saođược đặt ra khi xem nghệ nhân biểu diễn rối nước và muốn có câu trả lời thìphải dành thời gian tìm hiểu chứ không thể nhìn thấy bằng mắt ngay được.Chính vì vậy rối nước luôn tạo được sự hấp dẫn riêng mang tính khám phá
Ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật và phương thức trình diễn
là những nét cơ bản làm nên sự độc đáo và hấp dẫn của nghệ thuật rối nước.Người xem rối nước cảm thấy thú vị bởi những cái hay và độc đáo ấy đã được
ra đời từ những sáng tạo hết sức mộc mạc của người nông dân
1
.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và nghệ thuật múa rối nước
tại đây
1.2.1 Tổng quan về huyện Đông Hưng
Cùng với thành phố Thái Bình, huyện Đông Hưng nằm giữa trung tâmtỉnh Thái Bình, phía Đông giáp huyện Thái Thụy, phía Bắc giáp huyện QuỳnhPhụ, phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Hưng Hà, phía Tây Nam giáp huyện VũThư, chính giữa phía Nam giáp thành phố Thái Bình, phía Đông Nam giáphuyện Kiến Xương Con sông Trà Lý chảy men theo ranh giới phía Nam củahuyện với các huyện Vũ Thư và Kiến Xương
Trên địa bàn huyện có một mạng lưới chằng chịt các con sông nhỏ lấynước từ hai con sông là sông Luộc và sông Trà Lý để cấp nước cho sông Diêm
Hộ Trong đó con sông lớn nhất là sông Tiên Hưng, là nhánh lớn của sôngDiêm Hộ, lấy nước từ sông Luộc, chảy qua thị trấn huyện lỵ Đông Hưng
Trang 28Huyện có diện tích tự nhiên là 191.76 km2, toàn bộ là đồng bằng.
Dân số của huyện là: 246.335 người (2007)
Huyện có 44 đơn vị hành chính cấp xã gồm thị trấn Đông Hưng và 43xã: An Châu, Bạch Đằng, Chương Dương, Đô Lương, Đông Á, Đông Các,Đông Cường, Đông Dương, Đông Động, Đông Giang, Đông Hà, Đông Hoàng,Đông Hợp, Đông Huy, Đông Kinh, Đông La, Đông Lĩnh, Đông Phong, ĐồngPhú, Đông Phương, Đông Quang, Đông Sơn, Đông Tân, Đông Vinh, Đông Xá,Đông Xuân, Hoa Lư, Hoa Nam, Hồng Châu, Hồng Giang, Hồng Việt, HợpTiến, Liên Giang, Lô Giang, Mê Linh, Minh Châu, Minh Tân, Nguyên Xá,Phong Châu, Phú Châu, Phú Lương, Thăng Long, Trọng Quan [8]
Là một huyện có truyền thống văn hiến lâu đời, trên địa bàn huyện hiệncòn có 242 di tích các loại (chỉ tính những di tích có từ trước năm 1945), trong
đó có 94 di tích đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, 15 di tíchđược xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Một số di tích không chỉ cógiá trị về lịch sử cách mạng, giá trị về văn hoá mà còn có giá trị rất lớn về kiếntrúc nghệ thuật, điển hình như di tích: đền thờ công chúa Trần Thị Quý Minh ởThượng Liệt (Đông Tân), chùa Từ Ân ở Đông Hải (Đông Vinh), chùa ThiênQuý ở làng Kênh (Đông Xuân), đình Tiến Trật (Đô Lương), đình, chùa, đềnBình Cách (Đông Xá), đình Cổ Dũng (Đông La), lăng mộ, đền thờ Thái Bảo họ
Đỗ ở thôn Tứ (Hồng Việt)
Đông Hưng còn là mảnh đất có truyền thống anh dũng kiên cường, bấtkhuất trong chống giặc ngoại xâm, chống áp bức Nhiều danh nhân nổi tiếng tạiđây đã đóng góp tài năng, trí tuệ vào công cuộc dựng nước và giữ nước củadân tộc, tiêu biểu như: An Hạ Vương (1175-1268), Đàm Chiêu Trinh, NguyễnThành, bảng nhãn Chu Hinh (thế kỷ XIII), danh nhân Quách Gia Di, QuáchGia Cầm (1254-1292), ngự tiền Đỗ Tử Bình (1324-1383), công chúa TrầnNinh Thiệu (thế kỷ XIV), công chúa Trần Thị Quý Minh, Thái học sinh
Trang 29Nguyễn Thành, Hoàng giáp Phạm Hưng Văn (thế kỷ XV), Hoàng giáp NguyễnHán Đình (thế kỷ XV), Tiến sĩ Đặng Doãn Tu, Tiến sĩ Bùi Sĩ Tiêm, Tiến sĩĐào Triết (thế kỷ XVI), Tiến sĩ Hoàng Kỳ, Tiến sĩ Phạm Cảnh (thế kỷ XVI),Tiến sĩ phạm Công Huân, Tiến sĩ Phạm Công Thế, Tiến sĩ Đào Vũ Thường, Tểtướng Phạm Huy Đĩnh, Tiến sĩ Nguyễn Bá Dương (1740-1783), Nguyễn Sơn,Hoàng giáp Lê Hữu Thanh, Cử nhân Lương Quý Chính (18251907)
Là vùng đất có truyền thống văn hiến, Đông Hưng còn tự hào là nơi cónền văn hóa nghệ thuật dân gian tiểu biểu của nền văn minh lúa nước, mộttrong những cái nôi của nghệ thuật chèo và là quê hương của múa rối nước
Ở khắp các làng xã trong huyện đều có người biết hát chèo, diễn chèonhưng tiêu biểu nhất là Chèo làng Khuốc (Phong Châu):
‘‘Chang thèm ăn chả, ăn nem, Thèm mo cơm tẻ, thèm xem hát chèo ’’
Trước cách mạng Tháng 8 năm 1945, Đông Hưng có 7 phường rối nước,hiện nay chỉ còn phường rối Nguyễn (Nguyên Xá) và phường rối Đống (ĐôngCác) hoạt động thường xuyên Rối nước Đông Hưng có nhiều trò hay, hấp dẫn
như: tễu giáo đầu, bật cờ, tứ linh, múa lân, chăn vịt, đánh cáo, bát tiên, cày bừa, chọi trâu nghi đồng hý thủy, đánh cá, múa rồng, lân tranh cầu Các tiết
mục, trò diễn của múa rối nước Đông Hưng không chỉ có mặt ở nhiều cuộc liênhoan nghệ thuật ở địa phương, Trung ương mà còn được biểu diễn ở nhiềuvùng miền trong nước và một số nước Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc
Ngoài chèo, múa rối nước, Đông Hưng còn là miền quê của nhiều lànđiệu múa dân gian: múa giáo cờ, giáo quạt ở làng Thượng Liệt (Đông Tân),múa kỳ lân sư tử (xã Đông Sơn, Đông Hợp), múa rồng, múa tứ linh, múa sinhtiền, múa cờ, múa trống, múa dâng hoa, múa tiên Nét đẹp trong văn hoáĐông Hưng còn được hội tụ sâu sắc qua các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, tínngưỡng tôn giáo mà sự phản ánh rõ nét nhất là các hội lễ, hội làng truyền thống
Trang 30có sức cuốn hút sự tham gia đông đảo của các cộng đồng với các lễ thức tínngưỡng dân gian và các trò chơi dân gian: đánh vật, đánh thó (gậy), thả đèntrời, cờ tướng, tam cúc, chọi gà, kéo co, chơi pháo đất
1.2.2 Tổng quan về làng Nguyễn và làng Đống
* Làng Nguyễn nằm bên quốc lộ 39A Thái Bình Hưng Yên ở km 12
-13, cách thị trấn huyện Đông Hưng 1km, xưa thuộc huyện Thần Khê, phủ TiênHưng nay là xã Nguyên Xá huyện Đông Hưng Từ xa xưa đến nay, làngNguyễn vẫn là một làng một xã (nhất xã nhất thôn) Nguyên Xá đúng với têngọi, là ngôi nhà chung của họ Nguyễn Làng xã có tới 47 chi, ngành họ Nguyễnchỉ khác nhau ở tên đệm
Làng Nguyễn là một làng văn hóa văn nghệ dân gian với những sảnphẩm vật chất và tinh thần rất độc đáo như bánh cáy, kẹo lạc, kẹo vừng, mạchnha, giò lụa, chả quế, dệt lụa, làm pháo, hay hát chèo, múa rối nước
Làng Nguyễn làm pháo bông chủ yếu để phục vụ cho múa rối nước.Pháo bông làng Nguyễn có hai loại: pháo bông và pháo làm trò Pháo bônggồm nhiều loại thường đốt trước khi biểu diễn để lôi kéo người đến xem múarối hoặc khi kết thúc đêm biểu diễn để tạo không khí hồ hởi phấn khởi sau đêmdiễn Pháo bông làm trò làng Nguyễn rất độc đáo, pháo nổ chạy thành đườngngang dọc trên mặt nước Pháo gắn với từng trò diễn, dân làng Nguyễn gọi đây
là “nghệ thuật đốt lửa thành trò” chẳng hạn khi diễn trò muốn đẩy xa, các nghệnhân rối Nguyễn sẽ dùng pháo để đẩy Pháo bông, pháo làm trò làng Nguyễn
đã làm nghệ thuật rối nước sinh động hơn, hấp dẫn hơn Từ ngày cấm đốt pháo,rối nước làng Nguyễn thiếu hẳn không khí sôi động trước, trong và sau buổidiễn [4, tr 88]
Phường rối nước làng Nguyễn là một trong những phường rối nước cólịch sử lâu nhất và mạnh nhất nước ta Theo các cụ già trong làng thì rối nướclàng Nguyễn có từ ngày thành lập làng, cụ thể bao giờ cũng không ai còn nhớ
Trang 31Nhưng qua các nguồn sử liệu khác nhau từ xưa còn để lại thì nghệ thuật múarối nước làng Nguyễn có từ thời Lê, thời kỳ làng Nguyễn phát triển về mọi mặttrở thành một làng quê trù phú Múa rối nước đi liền với các trò diễn là các lời
ca, ngoài trò diễn lại có diễn trích đoạn chèo bằng con rối nên người làngNguyễn biết hát chèo, diễn chèo
Rối nước làng Nguyễn từ trước năm 1945 đã có 3 phường là Tây Trong,Tây Ngoài và Nam Ninh, có số trò diễn vượt xa các phường rối khác, vào thập
kỷ 60 - 70 phường rối Nguyễn có tới 42 trò diễn (cả trích đoạn) Nổi bật như:
Bật cờ, Múa sư tử, Tứ linh, Múa bát tiên, Rồng phun nước, Tễu, Thị Màu lên chùa, Đinh Bộ Lĩnh, Thi hóa rồng, Tiên nước,
Hơn nửa thế kỷ qua, rối nước làng Nguyễn không chỉ đáp ứng yêu cầuphục vụ nhân dân trong xã trong tỉnh mà còn vinh dự được biểu diễn cho Chủtịch Hồ Chí Minh xem, phục vụ cho nhiều đoàn khách nước ngoài Rối nướclàng Nguyễn cũng đi biểu diễn ở các nước Đông Âu, ở Nhật Bản, Các nghệnhân rối nước làng Nguyễn từng là người truyền nghề cho nhà hát múa rốiTrung ương
* Làng Đống gồm hai đống: đống Đông (Đông Các) và đống Tây (NamQuán) nay là xã Đông Các huyện Đông Hưng Làng nằm bên quốc lộ 10 TháiBình - Hải Phòng, cách thành phố Thái Bình 9km Làng Đống nằm trên mộtvùng đất cao, ngoài đống Đông, đống Tây trên đồng làng còn rất nhiều gò như
gò chùa Ông, gò Đốt Thuyền, gò Con Hát
Làng Đống xưa nay vẫn là một làng đa nghề, xưa có nghề dệt vải, dệtlụa, làm vàng mã, Nay một số nghề truyền thống vẫn được lưu giữ phát triểnnhư nghề mộc, nghề xây dựng, tạc tượng, thợ sơn, và chế biến nông sản Vì
là một làng vừa làm nghề nông vừa có nghề thủ công lại có chợ nên làng Đốngsớm trở thành một làng quê trù phú Làng Đống hằng năm mở hội hai lần vàomùa xuân và mùa thu Trong hội làng có lệ thi đánh cồng chiêng Các giáp thi
Trang 32với nhau, chiêng giáp nào kêu to, ngân vang lâu thì được giải, vì thế chiênglàng Đống nổi tiếng trong vùng “chiêng làng Đống - trống làng Triền”.
Người làng Đống chịu chơi như cách nói của dân gian, làng có nghệthuật múa rối nước, hát tuồng, chèo rất sớm Chuyện kể về trò “con rối rồngbơi trên nước” được sáng tạo vào đầu thế kỷ XIV cho biết làng Đống đã cónghệ thuật múa rối nước từ thời ấy Chuyện kể rằng: vào thời Vua Trần AnhTông (1393-1414) ở làng Đống có người con gái tên là Chu Thị Hương “tứ đức
vô hà” (công, dung, ngôn, hạnh không ai sánh bằng) lại cinh đẹp, nết na, đượcvua triệu vào cung, phong làm cung phi Hàng năm vào các ngày lễ tết, bàthường đi thuyền rồng về thăm quê hương, gia đình Để tiện đi lại, bà đã chođào một con sông nhỏ thông với sông lớn, dân làng vẫn quen gọi là cừ Tây
Một lần về thăm nhà, cha mẹ bị ốm nặng, bà ở lại chăm sóc, trở về cungkhông đúng hẹn nên bị khép tội “khi quân” bị tội chết, vua cho bà hãm sinh tạiquê nhà (nay mộ bà và bốn nàng hầu vẫn còn ở bên quốc lộ số 10 đoạn km10.3 Thái Bình - Hải Phòng) Sau khi bà chết, để tưởng niệm và nhớ lại nhữngngày bà đi thuyền rồng về thăm quê hương, các nghệ nhân làng Đống đã làmmột con rồng gỗ và làm trò rối rồng đi trên nước Trò diễn được người xemngưỡng mộ Vốn có nghề tạc tượng khắc gỗ, các nghệ nhân làng Đống làm tiếpnhững con trâu, con cá, con vịt, [4, tr 64]
Ban đầu phường rối làng Đống chỉ có một số trò diễn đơn sơ như: Tễu giáo trò, Múa tiên và các trò phản ánh các sinh hoạt đời thường của người lao động như: Ngư tiêu canh độc, Tứ dân lục sở, Đua ngựa, Múa tứ linh và cũng
chỉ biểu diễn phục vụ những ngày lễ hội của làng
Cùng với năm tháng, múa rối nước làng Đống đã phát triển, con rốiđược tạo hình đẹp và to hơn, được áp dụng sào đẩy có ròng rọc điều khiểnbằng dây Từ các trò diễn đơn sơ được nâng thành nghệ thuật biểu diễn, múarối kết hợp với hát chèo, diễn tuồng, kết hợp với âm nhạc, tiết tấu âm nhạc phù
Trang 33hợp với trò rối, với hát nên có sức hấp dẫn người xem Rối nước làng Đốngvượt ra khỏi hội làng, đi diễn ở các nơi, càng đi biểu diễn thì các trò diễn lạicàng được sáng tạo thêm.
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã làm rõ những vấn đề về lý luận nghệ thuậtmúa rối nước: lịch sử hình thành và phát triển, nét đặc trưng của nghệ thuậtnày Đồng thời cũng đã giới thiệu những nét tổng quan về huyện Đông Hưngcùng những nét đặc trưng trong nghệ thuật múa rối nước tại đây Có thể thấyrằng đây là một trong những cái nôi của múa rối nước Việt Nam với những đặctrưng riêng Hiện nay những phường rối nước tại đây đang hoạt động ra sao vàthực trạng như thế nào? Đó chính là những vấn đề đặt ra và sẽ được tác giả
khảo tả, giải quyết và làm rõ trong chương 2.
Trang 34Chương 2 HOẠT ĐỘNG BIỂU DIỄN NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƯỚC
TẠI HUYỆN ĐÔNG HƯNG 2.1 Phường rối nước làng Nguyễn xã Nguyên Xá
2.1.1 Cơ cấu tổ chức phường hội
Phường rối Nguyên Xá hiện tại có 18 thành viên bao gồm cả nhạc công
và nghệ nhân múa Hầu hết các thành viên trong phường đều đã tới tuổi “xưanay hiếm” Các nhạc công của phường người biết nhiều bài hát một phần đãtheo cố nhân, phần còn lại cũng không còn đủ sức khỏe để biểu diễn Tuổi giàcũng không cho phép các nghệ nhân lội bùn, ngâm mình trong dòng nước đểdiễn các tích trò Trước đây có một số em nhỏ theo học múa rối nhưng mộtthời gian sau các em đã không thể tiếp tục do các em bận công việc học tậpkhông theo được
Bên cạnh đó, học múa rối không phải ngày một ngày hai, tiền công biểudiễn lại ít ỏi, kinh tế khó khăn nên các anh chị phải lao động đảm bảo thu nhậpcho gia đình
Một đặc điểm nổi bật nhất trong tổ chức phường hội rối Nguyễn là tínhchất “bí truyền” Việc giữ miếng, giữ nghề là can hệ trực tiếp đến danh dự và
sự sống còn của phường rối Bởi vì, ngày xưa có tục lệ thi đấu, hội thi được tổchức rất long trọng và điều đó làm cho các phường hội rối ráo riết tăng cường
sự chuẩn bị của mình Từng phường rối lần nào cũng cố tìm ra những trò mới,hay, khéo lạ để thu hút được sự chú ý của người xem Ở phường rối Nguyễn đểgiữ bí mật nghề nghiệp, phường chỉ kết nạp con em trong nhà hoặc người cùnglàng, và chỉ tiếp nhận đàn ông, không tiếp nạp phụ nữ vì sợ họ đem bí mật củaphường về nhà chồng Người xin gia nhập phải ăn mặc chỉnh tề, mang cơi trầuchai rượu đến lễ Tổ và trình phường, nguyện làm phường lớn mạnh, nếu để lộnghề sẽ chết “một đời cha, ba đời con” Đứng đầu phường rối là các ông Trùm,
lo toan và quản lý mọi việc Làng Nguyễn có những ông Trùm nổi tiếng như
Trang 35ông Lý Mục, ông Tổng Quỳnh, ông Phó Thiếu Ông Lý Mục là người làm ra
trò "“Rồngphun nước trên cao”, trò ““chú Tễu”; ông Tổng Quỳnh chế ra trò
‘‘Múa bát tiên’’
2.1.2 Kỹ thuật, nghệ thuật chế tạo buồng trò, máy rối và con rối
Buồng trò rối nước làng Nguyễn xưa không làm theo kiểu cố định nhưbuồng trò của chùa Thầy (Hà Tây cũ) hay một số nơi khác mà làm theo kiểulưu động, lắp buộc, tháo dỡ dễ dàng, khung bằng tre gỗ, vách bằng phên, vải,mái bằng cót vẽ giả ngói (ảnh 2)
Nhưng quan trọng hơn vẫn là cách làm quân rối - bởi sự phát triển củanghệ thuật múa rối không tách rời khỏi việc sáng tạo và cải tiến quân rối Quânrối càng hoàn hảo càng giúp cho kỹ xảo của người điều khiển nâng cao và khảnăng diễn đạt phong phú hơn Quân rối Nguyễn thường được làm từ gỗ sung,xưa nổi tiếng là đẹp, hay, có sơn son thiếp vàng, ít thấm nước, xuống nước làbóng lên do các nghệ nhân tài hoa của làng làm ra (ảnh 3)
Làng rối Nguyễn hiện nay còn hàng trăm quân rối nhưng trong đó chỉ có
2 quân Tiên và Tễu là được tạo trước 1945, quân Tễu làng Nguyễn là quân Tễuđẹp nhất của sân khấu rối nước và của ngành rối nước truyền thống Việt Nam.(ảnh 4)
Máy điều khiển cũng giữ vai trò hết sức quan trọng trong biểu diễn rốinước Máy điều khiển là khâu trung gian truyền tải những ý đồ, hành động điềukhiển của người diễn viên tới quân rối để chúng có thể cử động Phường rốiNguyễn có cả 2 loại máy là máy dây và máy sào Máy sào tạo sức cân, tácđộng vào đế quân rối làm quân rối xoay chuyển được toàn thân Máy dây thìphong phú hơn máy sào, vừa nhiều kiểu độc đáo, vừa năng động, tổng hợp cóthể chứa được nhiều quân hơn, có khả năng mở rộng các trò tới các hoạt cảnh.Đây là kiểu máy triển vọng để phát triển nghệ thuật rối nước làng Nguyễn
Trang 362.1.3 Các trò, tích trò tiêu biểu và đặc trưng nghệ thuật
2.1.3.1 Các trò, tích trò tiêu biểu.
Các chương trình tiết mục biểu diễn của rối nước làng Nguyễn rấtphong phú gồm nhiều trò lẻ và tích trò Dù rằng là trò lẻ, hoạt cảnh hay tích tròthì các tiết mục rối nước làng Nguyễn đều mang ý nghĩ giáo dục và giá trị thẩm
mĩ sâu sắc
Trước Cách mạng tháng 8/1945 gồm có: Trò bật cờ, múa Têu, canh nông, múa tứ linh, múa sư tử, đấu mã, chăn vịt đánh đáo, Đinh Bộ Lĩnh, Thị Màu lên chùa, đua thuyền, Từ Thức nhập thiên thai, Múa bát tiên (ảnh 5)
Sau Cách mạng tháng 8/1945: Bình dân học vụ, đánh đường 10, đánh trận sông Lô, trâu phá cày, đánh Mỹ Diệm, thi hoá rồng
Ví dụ:
+ Trò Bật cờ: Công chúng háo hức chờ đêm biểu diễn mở màn, bồngmột tiếng pháo nổ to làm mọi người giật mình hướng về buồng trò tự nhiênthấy một lá cờ hội (nay là quốc kỳ) bay phấp phới trước gió Nhiều ngườinước ngoài lần đầu tiên xem trò diễn này không khỏi ngạc nhiên Người làngNguyễn thì không lạ gì trò diễn này vì cờ đã được đặt trong các ống tre đượcbịt kín hai đầu để không bị thấm nước, khi biểu diễn các nghệ nhân đã dùnglực đẩy từ dưới và lực kéo từ trên lên
+ Trò múa Tễu: Chiếc mành trước cửa nhà thủy đình được từ từ kéo lên;chú Tễu bước ra, vừa đi vừa vung vẩy hai tay, người chú to lớn, da dẻ hồnghào, mình ở trần đóng khố đỏ, quay bốn phía chào khán giả rồi hắng giọng hỏi:
‘‘Anh em ơi! Têu tôi ra đây có phải xưng danh không nhỉ? ’’
Người trong buồng trò đế: ‘‘Chả xưng danh thì ai biết tên? ’’
Tễu nói: ‘‘Tên tôi là Têu
Thuở xuân xanh tôi còn niên thiếu
Ai ai cũng gọi là Vông
Trang 37Đến năm sau trí sảo nhân công Phường khắc măt đặt tên tôi là Tễu ’ ’
Tễu dừng lại, đi đi lại lại rồi nói tiếp:
2.I.3.2 Đặc trưng nghệ thuật
Cũng giống như nghệ thuật rối nước dân tộc, nghệ thuật rối nước làngNguyễn vốn xuất thân từ những trò không lời, thu hút người xem bằng sự kỳdiệu do tài năng của các nghệ nhân tạo hình, nghệ nhân điều kiển tạo nên Lờivăn cũng như âm nhạc mới tham gia vào giai đoạn sau này
Một nét điển hình của rối nước làng Nguyễn là những lời giáo Tễu, đó lànhững bài văn vần phục vụ kịp thời các dịp biểu diễn ở trong làng, mang tínhchất thời sự sâu sắc Ví như nhân dịp làng có tranh chức lý trưởng, nhân dịp tếxuân của họ Nguyễn Huy, nhân hội chùa Quỳnh
Âm nhạc không chỉ giữ tiết tấu cho diễn xuất, khuấy động không khíbiểu diễn mà nó còn truyền đạt, lay động tới người xem những nội dung, tưtưởng tình cảm nhất định Nghệ thuật rối nước làng Nguyễn do được sinh ratrên cái nôi của nghệ thuật chèo truyền thống vì thế các nghệ nhân múa rối ởđây đã biết tận dụng triệt để âm nhạc của chèo Nhạc cụ ở phường rối Nguyễngồm có:
+ Bộ gõ: Trống đại, trống trung, trống tiểu, thanh la, nạo bạt, mõ,
Trang 38+ Bộ hơi: Sáo, kèn (kèn tàu)
+ Bộ dây: Hồ, líu, nhị, đàn tranh, đàn tam
Người xem bị cuốn hút không chỉ bởi những hình ảnh trên sân khấu màcòn bởi những âm thanh rộn rã của tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng sáo (trongcác tiết mục bật cờ, múa lân, múa tứ linh) Những làn điệu, khúc nhạc chèo khivui tươi rộn rã (trong các tiết mục xẩm xoan, tứ quý, lưu thuỷ, sắp qua cầu, sắp
cổ phong), khi ngân nga da diết (như các điệu vỉa, ngâm sổng)
Có người từng nhận xét: Đi xem biểu diễn rối nước ở phường Nguyễn
cứ như đi xem chèo, chỉ có khác chèo là người thật, còn rối nước là người giả.Điều đó càng khẳng định vai trò của âm nhạc rất quan trọng trong sự thànhcông của nghệ thuật rối nước nơi đây
2.1.4 Thực trạng tổ chức hoạt động
2.1.4.1 Thuận lợi
Thứ nhất, dân làng Nguyễn ai ai cũng yêu cái nghề rối, ai ai cũng thích
xem biểu diễn rối, ai ai cũng tự hào về nghệ thuật truyền thống của quê hương
Nếu như người làng Khuốc yêu chèo của họ như yêu chính máu thịt củamình thì người dân của rối nước làng Nguyễn cũng không ngoại lệ Lớp lớpngười dân làng Nguyễn từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành đã được đắmmình trong chính những tích trò rối đặc sắc, trong những lời giáo trò vui nhộncủa các nghệ nhân Không chỉ là món ăn tinh thần độc đáo, múa rối nước còn
là biểu tượng của làng, là niềm tự hào của những người con làng Nguyễn khinhắc đến Múa hát, diễn rối đã trở thành nếp sinh hoạt văn hóa quen thuộc củangười dân nơi đây Hầu hết người dân trong làng đều biết, thích xem và thưởngthức múa rối Những thế sự buồn vui của mỗi cuộc đời, của làng quê đã ngấmvào trong dạ, trong máu, trong câu hát, tích trò của họ Cuộc sống làng, tìnhyêu làng, đó là mạch nguồn bất tận thẳm sâu, là không gian nuôi dưỡng các trò,
Trang 39tích trò Dù bần hàn, lam lũ, nhưng các câu hát, các tích trò đã dựng làng đứngdậy, đưa tâm hồn người dân cuốn theo những cử chỉ, những động tác vui nhộn,hài hước, chất phác của quân rối nước Những người con của rối nước làngNguyễn dù đang ở góc bể, chân trời nào cũng nhớ về làng, nhớ về nơi “chônrau cắt rốn” bởi trò rối nước đã ngấm trong da thịt họ, trong dòng máu họ Cácthế hệ nối tiếp nhau, những trò, tích trò được nâng niu, gìn giữ và trao truyềnlại hậu thế như báu vật muôn đời Ngay cả những nghệ sĩ chuyên nghiệp xuấtthân từ rối nước làng Nguyễn cũng vậy Dù sau này thành danh vang dộinhưng họ cũng bắt đầu từ những con rối, tích trò quê mà ông bà, cha mẹ truyềncho Khi đã là những nghệ sĩ nổi tiếng, họ quay về góp sức vun đắp nghệ thuậtrối nước ở quê hương.
Thứ hai, làng Nguyễn hiện có một nguồn nghệ nhân, nghệ sĩ biểu diễn,
diễn viên, nhạc công chuyên nghiệp vốn xuất thân từ làng đi công tác tại cácđoàn múa rối chuyên nghiệp, nay quay trở lại đóng góp cho hoạt động bảo tồnnghệ thuật múa rối nước tại làng
Phường rối Nguyên Xá hiện tại có 18 thành viên bao gồm cả nhạc công
và nghệ nhân múa Tuy rằng hầu hết các nghệ nhân gạo cội trong phường đều
đã tới tuổi “xưa nay hiếm” Các nhạc công của phường người biết nhiều bài hátmột phần đã theo cố nhân, phần còn lại cũng không còn đủ sức khỏe để biểudiễn, tuổi già cũng không cho phép các nghệ nhân lội bùn, ngâm mình trongdòng nước để diễn các tích trò Nhưng ai ai cũng vẫn còn một niềm đam mêcháy bỏng với nghệ thuật truyền thống của quê hương Không đủ điều kiệnbiểu diễn, các nghệ nhân lại tìm cách truyền dạy nghề lại cho các thế hệ đờisau Cái tâm với nghề có lẽ đến lúc chết cũng không dứt ra được, luôn đau đáulàm sao để nghệ thuật truyền thống của làng ngày một ổn định và phát triển
Điển hình như ông Nguyễn Bá Thắng, phó phường múa rối Nguyên Xáhàng ngày không chỉ truyền cảm hứng cho những người con yêu mến múa rối
Trang 40nước mà vẫn học hỏi, sáng tạo những con rối mới dù cho tuổi đã ngoài 70 Ông
đã nghiên cứu và đưa vào thử nghiệm những con rối được làm bằng nhựa thaythế chất liệu gỗ Thực tế cho thấy, những con rối bằng nhựa vẫn đảm bảo tínhlinh hoạt, gợi hồn mỗi tích trò và hơn cả là chi phí sản xuất chỉ bằng một nửa
so với chất liệu gỗ
Còn với lớp trẻ hơn, ai cũng cố gắng học hỏi, trau dồi kỹ năng làm rối,biểu diễn rối của các nghệ nhân gạo cội Họ luôn mang trong mình một tinhthần tự giác học hỏi không ngừng nghỉ những tích trò đặc sắc của làng Mặc dùcuộc sống mưu sinh còn nhiều vất vả nhưng họ luôn cố gắng dành thời giancủa mình cho nghệ thuật truyền thống của quê hương Anh Nguyễn ĐìnhTrinh, 38 tuổi, một nghệ nhân múa rối trong phường vào đoàn đã được 5 năm.Bên cạnh thời gian lao động, anh vẫn cùng mọi người trong phường luyện tập
và biểu diễn Anh cho biết những nghệ nhân trong phường còn bận mải côngviệc đồng áng nhưng cứ có nơi mời biểu diễn mọi người đều không ngại thamgia Có những nhà có tới 3 thế hệ cùng trong phường rối thậm chí có nhà cả giađình đều tham gia Anh Trinh cũng cho biết thêm hiện tại phường rối có một số
em nhỏ theo học và đã thành thạo việc biểu diễn
Thứ ba, phải kể đến là sự quan tâm của chính quyền địa phương và
những người yêu mến nghệ thuật múa rối nước
Từ sau khi có Nghị quyết Trung ương 5 khóa 8, phong trào phục hưngvăn hóa truyền thống ở các địa phương được mở ra Điều này tác động khôngnhỏ đến hoạt động của phường rối Anh Nguyễn Tường Thư, Trưởng ban vănhóa xã Nguyên Xá cho biết thời gian tới chính quyền xã sẽ kiện toàn lạiphường rối, không để tình trạng phường tự quản mà sẽ do chính quyền chỉ đạohoạt động Từ đó, xã sẽ khích lệ nhân dân tham gia, bổ sung nghệ nhân mớicho phường Về vấn đề đầu tư con rối mới, anh Thư cho biết mặc dù số tiềnlàm lại toàn bộ con rối là không nhỏ nhưng chính quyền xã sẽ nỗ lực huy động