Qua 2 quan điểm trên, có thể thấy, vấn đề bảo đảm nghĩa vụ dân sự được hiểudựa trên 2 phương diện: Về mặt khách quan: bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho phép các chủ thể trong giao dị
Trang 1BỘ NỘI VỤTRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
NĂM 2015 VỀ CẦM GIỮ TÀI
SẢN
Trang 2Khóa luận tốt nghiệp
1605LHOA039 2016-2020 1605LHOA
HÀ NỘI - 2020
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn thầy cô!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài khóa luận : “ Quy định của Bộ luật dân sự Việt
Nam năm 2015 về Cầm giữ tài sản” hoàn toàn là công trình nghiên cứu của
riêng em Các kết quả nghiên cứu trong đề tài là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Phương Linh
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khoá luận 4
7 Kết cấu khoá luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN 5
1.1 Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự 5
1.1.1 Khái niệm biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự 5
1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự 8
1.1.3 Chức năng của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
11 1.2 Cầm giữ tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự 13 1.2.1 Khái niệm Cầm giữ tài sản 13
1.2.2 Mục đích của cầm giữ tài sản
15 1.2.3 Đặc điểm của cầm giữ tài sản
15 1.3 Quy định về cầm giữ tài sản trong pháp luật của một số nước trên thế giới 17
1.3.1 Pháp luật Pháp 17
1.3.2 Pháp luật Anh 19
1.3.3 Pháp luật Nhật Bản: 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN 24
2.1 Đối tượng của cầm giữ tài sản 24
2.2 Phạm vi của cầm giữ tài sản 27
2.2.1 Cầm giữ tài sản chỉ áp dụng trong hợp đồng song vụ 27
2.2.2 Cầm giữ tài sản chỉ áp dụng trong hợp đồng song vụ có đối tượng là tài sản 27 2.3 Xác lập cầm giữ tài sản 28
2.3.1 Thời điểm phát sinh hiệu lực cầm giữ tài sản 28
Trang 62.3.2 Thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba 30
2.4 Nghĩa vụ và quyền của bên cầm giữ tài sản 32
2.4.1 Nghĩa vụ của bên cầm giữ 32
2.4.2 Quyền của bên cầm giữ 34
2.5 Thứ tự ưu tiên thanh toán từ tài sản 37
2.6 Chấm dứt cầm giữ tài sản 38
2.7 Thời hạn cầm giữ tài sản và xử lý tài sản cầm giữ 41
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 42
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 43
VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN 43
3.1 Đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cầm giữ tài sản 43
3.1.1 Ưu điểm 43
3.1.2 Hạn chế 44
3.2 Giải pháp hoàn thiện biện pháp cầm giữ tài sản 48
3.2.1 Định hướng hoàn thiện 48
3.2 Các giải pháp hoàn thiện 49
3.2.1 Hoàn thiện về pháp luật 49
3.2.2 Các giải pháp khác 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 55
KẾT LUẬN CHUNG 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 24 tháng
11 năm 2015 và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 có nhiều nội dungmới, trong đó có nội dung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Dưới góc nhìn tổng quát,nội dung của phần bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật đã tiệm cận gần hơn vớithông lệ quốc tế và cơ bản giải quyết được những vướng mắc, khó khăn trong thựctiễn ký kết và thực hiện hợp đồng bảo đảm Có thể nói, những tiếp cận mới của Bộluật dân sự năm 2015 về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có sự ảnh hưởng và tác độngmang tính chất chi phối đến cơ chế điều chỉnh pháp luật và nhận thức pháp luật tronglĩnh vực giao dịch bảo đảm và đăng ký biện pháp bảo đảm
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015, các biện pháp bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ dân sự được quy định tại Mục 3 chương XV, Phần thứ ba Tại Điều 292 Bộluật dân sự năm 2015 quy định gồm 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự:cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký cược; ký quỹ; bảo lưu quyền sở hữu; bảolãnh; tín chấp; cầm giữ tài sản Như vậy, so với Bộ luật dân sự năm 2005 thì Bộ luậtDân sự năm 2015 đã bổ sung hai biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mới
là bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản
Cầm giữ tài sản được quy định từ Điều 346 đến Điều 350 Bộ luật dân sự năm
2015 tại “Phần II Thực hiện hợp đồng” với ý nghĩa là biện pháp mà luật cho phépbên có quyền sử dụng nhằm “gây sức ép” đối với bên có nghĩa vụ trong hợp đồngsong vụ để bên này phải thực hiện nghĩa vụ đã cam kết theo thoả thuận giữa các bêntrong hợp đồng song vụ
Xuất phát từ bản chất của cầm giữ tài sản là chiếm giữ tài sản để bên có nghĩa
vụ thực hiện nghĩa vụ, do đó, Bộ luật dân sự năm 2015 đã tiếp cận cầm giữ tài sảnvới tư cách là một biện pháp bảo đảm được xác lập theo quy định của pháp luật Việc
bổ sung cầm giữ tài sản vào Bộ luật dân sự năm 2015 là cần thiết nhằm tạo ra hànhlang pháp lý cho các bên tham gia vào giao dịch dân sự có nhiều phương án để lựachọn biện pháp bảo đảm, bảo đảm được tính linh hoạt cho quá trình ký kết, tham gia,
Trang 8Chính vì vậy, là một sinh viên chuyên ngành luật, em đã mạnh dạn lựa chọn
đề tài “Quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 về Cầm giữ tài Ụ ệ •
• • • <z>
sản” để làm đề tài nghiên cứu khoá luận tốt nghiệp của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến các biện pháp cầm giữ tài sản, có một số công trình:
- Nguyễn Văn Hợi (2014), “Một số vấn đề về cầm giữ tài sản trong Bộ luậtdân sự năm 2005”, Luật học (11), tr 38-45
- Bùi Đức Giang (2014), Cầm giữ tài sản có phải là biện pháp bảo đảm thựchiện nghĩa vụ dân sự”, Nghiên cứu lập pháp (22), tr 33-40
- Vũ Thị Hồng Yến (2015), Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự trong Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi), Nhà nước và pháp luật, (7), trang 21-26
- Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên, 2016), Bình luận khoa học Bộ luật dân sựnước CHXHCN Việt Nam năm 2015, NXB Tư pháp
- Đỗ Văn Đại (Chủ biên, 2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộluật Dân sự năm 2015, NXB Hồng Đức, Hà Nội
Mỗi công trình tiếp cận ở các góc độ khác nhau, song chưa có công trình nàonghiên cứu về cầm giữ tài sản với tư cách là một trong những biện pháp bảo đảmthực hiện nghĩa vụ dân sự
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận đi vào nghiên cứu khái quát về một số vấn đề lý luận về bảo đảm
Trang 94 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Khoá luận tìm hiểu, phân tích, đánh giá pháp luật Việt Nam hiện hành về cầmgiữ tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự từ đó đưa ra những kiến nghị đềxuất hoàn thiện pháp luật
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, khoá luận tập trung giải quyết các nhiệm vụnghiên cứu sau:
- Làm rõ đặc điểm của pháp luật về cầm giữ tài sản
- Phân tích được vai trò, ý nghĩa của cầm giữ tài sản trong sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng xen kẽ các phương pháp nghiên cứu nhằm làm rõ các vấn đềliên quan đến biện pháp cầm giữ tài sản, cụ thể: phương pháp hệ thống, phương phápquy nạp, phương pháp liệt kê, phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp diễn
Trang 10giải, phương pháp so sánh
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khoá luận
Khoá luận góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luận trong khoa học pháp lý
về vấn đề cầm giữ tài sản với vai trò là một trong các biện pháp bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ dân sự
Khoá luận chỉ ra những thay đổi phù hợp, những điểm mới về cầm giữ tài sảncủa Bộ luật dân sự hiện hành Mặt khác, trên cơ sở liên hệ với pháp luật về cầm giữcủa một số nước trên thế giới, khoá luận phân tích những hạn chế, bất cập trong quyđịnh hiện hành của Việt Nam để từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện cho việc ápdụng những quy định về cầm giữ tài sản làm cho những quy định về cầm giữ thực sự
đi vào cuộc sống
7 Kết cấu khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khoáluận được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cầm giữ tài sản
Chương 2: Pháp luật Việt Nam hiện hành về cầm giữ tài sản
Chương 3: Một số đánh giá và kiến nghị hoàn thiện về cầm giữ tài sản
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN1.1 Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
1.1.1 Khái niệm biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự đầu tiên phải dựa trên sự tựnguyện và tự giác của các bên tham gia giao dịch Tuy nhiên, trong thực tiễn, khôngphải ai cũng có trách nhiệm và thiện trí khi tham gia vào một hoặc nhiều giao dịchdân sự Đối với mối quan hệ nghĩa vụ, người có quyền sẽ là người chủ động yêu cầungười có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của họ hoặc không được thực hiện mộtyêu cầu công việc nhất định; và chỉ khi nào công việc đó được thực hiện đúng thìngười có quyền mới thực hiện được lợi ích của mình Tuy nhiên, về bản chất, ngườithực thi các nghĩa vụ, làm hoặc không làm một yêu cầu nhất định lại là người cónghĩa vụ- tức là người phải chịu sự chỉ đạo của người nắm quyền Điều này cũngđồng nghĩa với việc những hoạt động, nghĩa vụ trong giao dịch dân sự của các bên cóđược thực hiện hay không phụ thuộc hoàn toàn vào hành vi của người có nghĩa vụ.Hay nói cách khác, người có quyền từ thế nắm quyền chủ động giờ lại trở thànhngười bị động, phụ thuộc vào hành vi của người có nghĩa vụ và ngược lại
Mục đích nhằm khắc phục tình trạng kể trên và bảo đảm cho bên có quyền cóđược thế chủ động được hưởng quyền dân sự, pháp luật đã cho phép các bên có thoảthuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng cũng như việc thực hiệncác nghĩa vụ dân sự Thông qua sự cho phép của pháp luật, người có quyền được chủđộng tiến hành các hành vi của mình để tác động trực tiếp đến tài sản của người cónghĩa vụ, nhằm thoả mãn quyền lợi của mình khi đến thời hạn mà người có nghĩa vụkhông thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ
Trong pháp luật thực định Việt Nam, không có điều khoản nào đưa ra kháiniệm các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Để bảo đảm cho quyền vàlợi ích của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ hợp đồng dân sự, Bộ luật dân sựnăm 2015 đã ghi nhận 9 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự tại Mục 7 chương 17phần nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự (từ Điều 309 đến Điều 350 BLDS năm
Trang 122015) Điều 292 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các biện pháp bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ gồm: cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký cược; ký quỹ; bảo lưuquyền sở hữu; bảo lãnh; tín chấp và cầm giữ tài sản.
Hiện nay, có một vài quan điểm khác nhau.nghiên cứu về khái niệm bảo đảmthực hiện nghĩa vụ dân sự Quan điểm thứ nhất cho rằng, bảo đảm thực hiện nghĩa vụdân sự có tính dự phòng, nhằm thúc đẩy việc thực hiện đúng nghĩa vụ theo cam kếthoặc theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự còn có tính bắt buộc đối với tất cả các bên trong giao dịch là được bảo đảmbằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước Do đó, “dù xuất phát từ cơ sở nào thì các biệnpháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cũng luôn mang tính chất bắt buộc như mộtchế tài1” Quan điểm thứ hai lại cho rằng, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự là loại trách nhiệm dân sự đặc biệt trong đó các bên có thể thoả thuận phạm vitrách nhiệm, mức độ trách nhiệm và cả các biện pháp thực hiện áp dụng; có thể tựmình thực hiện, áp dụng trách nhiệm đó2
Qua 2 quan điểm trên, có thể thấy, vấn đề bảo đảm nghĩa vụ dân sự được hiểudựa trên 2 phương diện:
Về mặt khách quan: bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cho phép các chủ
thể trong giao dịch dân sự hoặc các quan hệ dân sự khác áp dụng các biện pháp màpháp luật chấp thuận để đảm bảo cho một nghĩa vụ chính được thể hiện đồng thờixác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó
Về mặt chủ quan, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thoả thuận giữa
các bên nhằm đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để đảm bảo choviệc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu doviệc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
Trang 13bảo lãnh, tín chấp Chế định cũng điều chỉnh các biện pháp bảo đảm được xác lậpdựa thep pháp luật hoặc phát sinh do luật định
Đặc điểm của 7 biện pháp bảo đảm đầu là phát sinh theo thoả thuận của cácbên là xác lập một vật quyền của bên nhận bảo đảm trên tài sản bảo đảm thông quahợp đồng, vì vậy quyền của bên nhận bảo đảm bằng tài sản mang tính phức hợp: vừa
có tính chất vật quyền, vừa có tính chất trái quyền
Tính chất vật quyền được thể hiện ở chỗ khi xảy ra sự kiện vi phạm của bên
có nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng bảo đảm, bên nhận bảo đảm được phépthực hiện quyền trực tiếp trên tài sản bảo đảm (quyền xử lý tài sản bảo đảm) màkhông phụ thuộc vào ý chí của bên bảo đảm (không cần sự đồng ý, hợp tác của bênbảo đảm) Vật quyền bảo đảm cho phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với tàisản ngay cả khi tài sản đó đang thuộc sự chiếm hữu của chủ thể khác.Hơn nữa, tuyquyền của bên nhận bảo đảm được xác lập trên cơ sở hợp đồng bảo đảm nhưng nókhông chỉ có hiệu lực giữa hai bên trong hợp đồng mà còn có hiệu lực đối kháng vớibên thứ ba không tham gia vào giao dịch bảo đảm khi thoả mãn các điều kiện nhấtđịnh Điều này có nghĩa, khi vật quyền bảo đảm đã được công khai với bên thứ ba(thông qua cơ chế đăng ký hoặc chiếm giữ tài sản) thì quyền ưu tiên chính thức đượcxác lập lên tài sản mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể nhận bảo đảm sau
Trong khi đó, bản chất của hai biện pháp bảo lãnh, tín chấp là có thêm mộtbên thứ ba cam kết với bên có quyền là sẽ thay bên có nghĩa vụ thực hiện các nghĩa
vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo giao dịchdân sự ban đầu Đối với trường hợp này, mức độ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đượcxem xét theo nhiều phương diện như về khả năng, tư cách và cả độ tin cậy của bênthứ ba Bên nhận bảo đảm không xác lập một vật quyền nào trên tài sản cụ thể củabên bảo đảm, vì vậỵ , vấn đề xử lý tài sản của bên bảo lãnh hay thứ tự ưu tiên giữabên nhận bảo lãnh với bên nhận bảo đảm bằng tài sản không được đề cập tới
Có thể hiểu rằng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là thoả thuận của các bêntrong việc lựa chọn và áp dụng một hoặc một số biện pháp bảo đảm được pháp luậtquy định cho quan hệ nghĩa vụ mà họ đang tham gia Còn biện pháp bảo đảm thựchiện nghĩa vụ là một phương án dự phòng, do các bên chủ thể thoả thuận lựa chọn
Trang 14hoặc phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định với mục đích bảo đảm lợi ích củabên có quyền luôn nắm thế chủ động trong các quan hệ giao dịch dân sự và giúpgiảm thiểu, hạn chế rủi ro lợi ích của bên có quyền trong trường hợp xấu nhất xảy ra.
Các biện pháp bảo đảm nói trên góp phần bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ
đã thoả thuận trong hợp đồng được thực hiện, nói cách khác bảo đảm cho các quan
hệ hợp đồng được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và đúng thoả thuận đặt
ra Việc xác lập và thực hiện các biện pháp đảm bảo nói trên là cơ sở góp phần hoànthiện hành lang pháp lý, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của các bên khi tham giavào các mối quan hệ dân sự, hợp đồng giao dịch dân sự; góp phần giúp xã hội ổnđịnh và phát triển
1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Do bị chi phối bởi mục đích và tính chất bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nên cácbiện pháp bảo đảm có những đặc điểm riêng biệt so với các giao dịch dân sự thôngthường:
Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính
nhưng mang tính độc lập tương đối
Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự không tồn tại độc lập màluôn phụ thuộc và gắn liền với một nghĩa vụ nào đó Các biện pháp bảo đảm đượchình thành với mục đích bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong một hợp đồng được xácđịnh Sự phụ thuộc thể hiện qua việc khi có quan hệ nghĩa vụ chính thì các bên mớicùng nhau thiết lập một biện pháp bảo đảm
Với tính chất là nghĩa vụ phụ nên nghĩa vụ trong giao dịch bảo đảm thườngchỉ thực hiện khi có điều kiện nhất định Đó là khi nghĩa vụ trong hợp đồng chính bị
vi phạm (ngoại trừ đặt cọc nhằm mục đích giao kết hợp đồng) Nghĩa vụ trong hợpđồng chính bị vi phạm có thể là nghĩa vụ đó không được thực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng nhưng chỉ khi đến hạn mà nghĩa vụ trong hợp đồng chính chưa đượcthực hiện thì nghĩa vụ trong giao dịch bảo đảm mới phát huy hiệu lực Nói cáchkhác, chỉ khi nào các chủ thể xác định được nghĩa vụ cần phải bảo đảm là gì, phảiđược bảo đảm như thế nào thì các biện pháp bảo đảm mới được hình thành
Trang 15Mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính nhưng biện pháp bảo đảm mangtính độc lập tương đối Theo nguyên tắc chung, nếu hợp đồng chính vô hiệu thì hợpđồng phụ cũng vô hiệu theo Tuy nhiên, đối với các biện pháp bảo đảm thì lại cónhững loại riêng Xuất phát từ mối quan hệ về hiệu lực giữa hợp đồng chính và hợpđồng phụ cũng được quy định tại Khoản 2, khoản 3 Điều 407 BLDS năm 2015 thì sẽphát sinh những hệ quả pháp lý sau:
- Hiệu lực của các biện pháp bảo đảm phụ thuộc vào hợp đồng có nghĩa vụđược bảo đảm vô hiệu nhưng các bên chủ thể chưa thực hiện hợp đồng đó thì cácbiện pháp bảo đảm cũng mặc nhiên vô hiệu theo3 Tuy nhiên, nếu hợp đồng có nghĩa
vụ được bảo đảm đã được các bên thực hiện toàn bộ hay một phần hợp đồng rồi, sau
đó mới bị Toà án tuyên bố vô hiệu thì các biện pháp bảo đảm vẫn có hiệu lực Bởihậu quả pháp lý của hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu là các bên phải hoàn trả cho nhautất cả những gì đã nhận, bên có lỗi phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
- Nếu hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị huỷ bỏ hay đơn phương chấmdứt thực hiện thì các biện pháp bảo đảm cho hợp đồng đó vẫn có giá trị, hiệu lực thihành để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả
- Giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ đượcbảo đảm, trừ trường hợp các bên thoả thuận biện pháp bảo đảm là một phần khôngthể tách rời của hợp đồng chính
Thứ hai, đối tượng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất.
Nghĩa vụ cần được bảo đảm mang tính chất tài sản nên đối tượng của các biệnpháp bảo đảm cũng phải mang tính tài sản, khi thiết lập quan hệ nghĩa vụ Quan hệnghĩa vụ là loại quan hệ phức tạp, quyền lợi của các bên rất dễ bị xâm phạm Do đó,đối tượng của các biện pháp bảo đảm phải là lợi ích vật chất thì mới có thể xác địnhđược tính ngang giá, qua đó thực hiện việc bù đắp tổn thất, khắc phục thiệt hại Lợiích vật chất là đối tượng của các biện pháp bảo đảm thường là một tài sản Ngoài ra,còn có thể là một công việc phải làm, nếu nó mang lại lợi ích cho bên có quyền Cácđối tượng này phải có đủ các yếu tố mà pháp luật đã yêu cầu đối với một đối tượng
3 Điều 15, Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm
Trang 16của nghĩa vụ dân sự nói chung.
Thứ ba, phạm vi bảo đảm cho các biện pháp bảo đảm không vượt quá phạm
vi nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung các quan hệ nghĩa vụ chính
Về nguyên tắc chung, phạm vi bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đãđược xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm mà tương ứng với
nghĩa vụ chính Khoản 1 Điều 293 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Nghĩa vụ có
thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thoả thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại” Như vậy, phạm vi bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ khi các bên không
có thoả thuận và pháp luật không quy định khác nhưng cũng có thể chỉ là một phầnnghĩa vụ Đây là những quy định mang tính chất dự phòng, nếu các bên có “thoảthuận” thì áp dụng những thoả thuận đó4
Pháp luật đã cho phép các bên có quyền được “thoả thuận” về phạm vi bảođảm Điều này được khẳng định lại tại Điều 299 Bộ luật dân sự năm 2015 về cáctrường hợp xử lý tài sản bảo đảm Khoản 3 Điều này quy định về trường hợp khác docác bên thoả thuận Việc thoả thuận của các bên về phạm vi bảo đảm có thể là mộtphần hoặc toàn bộ nhưng cũng có thể vượt qua giới hạn nghĩa vụ được bảo đảm
Thứ tư, các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm
nghĩa vụ
Trong một quan hệ nghĩa vụ dân sự, bên có nghĩa vụ phải tự giác thực hiệnnghĩa vụ của họ đối với bên có quyền Nếu đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ đã thựchiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình thì biện pháp bảo đảm nghĩa vụ đó cũng đượccoi là chấm dứt Chức năng dự phòng của các biện pháp bảo đảm cho thấy các biệnpháp bảo đảm chỉ được áp dụng khi nghĩa vụ chính không được thực hiện, thực hiệnkhông đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nhằm qua đó bảo đảm quyền lợi cho bên
có quyền
Như vậy, các biện pháp bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển
4 Phạm Công Lạc (1996), “Bản chất các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”, Luật học, (số chuyên đề về Bộ luật Dân sự), tr 31-34
Trang 17quan hệ của chủ thể mang quyền từ bị động thành chủ động Thông qua việc áp dụngcác biện pháp bảo đảm bên có quyền sẽ không bị động mà trở thành bên chủ độngtrong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong các giao dịch dân sự,thương mại đã ký kết.
Xem xét các quy định chung về các biện pháp thực hiện nghĩa vụ dân sự trongtổng thể những quy định về nghĩa vụ dân sự, chúng ta có thể thấy được bản chấtpháp lý của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là một loại chế tàitrong nghĩa vụ dân sự
Chế tài này do các bên thoả thuận đặt ra dưới sự bảo trợ của pháp luật Cácbên có thể tự áp dụng như đã thoả thuận khi có sự vi phạm nghĩa vụ hoặc nếu không
có sự thoả thuận thì các bên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ápdụng để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho bên có quyền5
1.1.3 Chức năng của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Mỗi biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có những đặc trưng riêng,
do đó chúng mang những chức năng khác nhau Và các biện pháp này lại có nhữngchức năng chung sau đây:
Đầu tiên là chức năng thúc đẩy bên có nghĩa vụ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ
của họ theo giao kết trong hợp đồng Khi thực hiện giao kết hợp đồng dân sự thìnguyên tắc đầu tiên mà các bên phải tuân thủ là trung thực và thiện chí ( nguyên tắcnền tảng) Nguyên tắc này nhằm mục đích bảo đảm các bên tham gia giao kết hợpđồng là hoàn toàn tự nguyện, không bị bất kỳ sự vật, hiện tượng, con người tác độnglên làm ảnh hưởng đến ý chí của chủ thể khi tham gia hợp đồng, đồng thời thể hiệnbản chất của quan hệ pháp luật hợp đồng Việc áp dụng các biện pháp bảo đảm có tácđộng mạnh mẽ vào ý thức của các bên, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các bêntrong việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, ngăn ngừa và hạn chế vi phạm hợp đồng xảyra
Thứ hai là chức năng bảo đảm hay còn gọi là chức năng dự phòng Đây là
chức năng quan trọng và cốt lõi của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
5 Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Tập II), Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công annhân dân, 2014, tr 63
Trang 18Khi nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì tài sản bảođảm sẽ được dùng để khấu trừ nghĩa vụ hoặc tài sản của bên có nghĩa vụ nhằm bảođảm quyền lợi cho bên có quyền Khi có hành vi vi phạm xảy ra, tài sản có thể đem
ra xử lý theo phương thức đã thoả thuận hoặc do luật định Hay nói cách khác, cácbiện pháp được áp dụng mang tính chất có liên quan đến việc phòng ngừa rủi ro Khiđến thời hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thựchiện không đầy đủ nghĩa vụ thì việc áp dụng các biện pháp bảo đảm này được coi làmang tính chất thay thế, có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, tạo cho bên có quyền
là bên nhận bảo đảm với ưu thế hơn so với các chủ nợ khác6
Các biện pháp bảo đảm có chức năng và ý nghĩa quan trọng không chỉ giúphợp đồng dân sự được thực hiện đúng mà có ý nghĩa trong việc bù đắp tổn thất khắcphục thiệt hại, cảnh báo các chủ thể phải có trách nhiệm đối với xử sự nếu khôngmuốn phải gánh chịu những bất lợi nhất định về vật chất Việc quy định các biệnpháp bảo đảm đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối an toàn cho các quan hệ dân sự
có đối tượng là tài sản và tránh được các tranh chấp phát sinh từ việc không thựchiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ dân sự
1.2 Cầm giữ tài sản là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
1.2.1 Khái niệm Cầm giữ tài sản
Trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành, nhằm hạn chế rủi ro chobên có quyền, các chủ thể trong hợp đồng thoả thuận thiết lập biện pháp bảo đảmthực hiện nghĩa vụ dân sự ngay từ đầu ví dụ như biện pháp thế chấp, cầm cố, đặt cọc.Khi đến hạn mà bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ thì việc áp dụng các biện phápnhư đã thoả thuận sẽ thuận lợi cho bên có quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của mìnhmột cách chủ động Bộ luật dân sự năm 2015 hiện hành đã bổ sung thêm một phươngthức bảo vệ quyền đó là trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiệnkhông đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thì bên có quyền được nắm giữtài sản cho đến khi bên có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình mặc dù việccầm giữ này không được các bên thoả thuận từ trước Cầm giữ tài sản chỉ được xác
6 Trần Đình Hảo (2005), “Về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong Dựthảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)”, Nhà nước và Pháp luật (4), tr 16 - 21
Trang 19lập khi đã có sự vi pham nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ.
Khoản 1 Điều 416 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Cầm giữ tài sản là
việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” Như vậy, cầm giữ
tài sản chỉ phát sinh trong quan hệ hợp đồng, cụ thể là hợp đồng song vụ Điều 346
Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn giữ cách tiếp cận này
Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng song vụ là tài sản của bên vi phạmnghĩa vụ thì bên có quyền sẽ chiếm giữ tài sản để buộc bên vi phạm phải thực hiệnđúng, đủ nghĩa vụ của mình Khi bên có quyền cầm giữ tài sản, bên vi phạm nghĩa
vụ không có khả năng khai thác và hưởng lợi từ tài sản này một cách trọn vẹn Chính
vì vậy mà cầm giữ tài sản tạo nên sức ép cho bên có nghĩa vụ: nếu họ muốn khaithác, hưởng lợi một cách đầy đủ tài sản của mình thì họ phải thực hiện đúng nghĩa vụcủa mình để bên cầm giữ giao tài sản
Điều 346 Bộ luật dân sự năm 2015 đưa ra khái niệm cầm giữ tài sản như sau:
“Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ
hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
Như vậy, có thể hiểu, Cầm giữ tài sản là cách thức bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ, là quyền được pháp luật quy định của bên có quyền trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ như đã thoả thuận trong hợp đồng
So với Bộ luật dân sự năm 2005 thì Bộ luật Dân sự năm 2015 có sự thay đổi
về cách dùng từ khi quy định về khái niệm cầm giữ tài sản Điều 346 Bộ luật Dân sự
năm 2015 đã dùng các từ “nắm giữ” đến “chiếm giữ” thay cho “chiếm hữu” đến
“cầm giữ” như trong Bộ luật dân sự năm 2005 “Chiếm giữ” và “nắm giữ” là hai khái niệm mới được đề cập trong pháp luật Việt Nam “Nắm giữ tài sản” là việc trực tiếp giữ và kiểm soát tài sản của người khác theo thoả thuận, còn “chiếm giữ tài sản” là
việc trực tiếp giữ và kiểm soát tài sản của người khác không phụ thuộc vào ý chí của
Trang 20chủ sở hữu tài sản nhưng pháp luật cho phép7 Cách dùng từ này là phù hợp với bảnchất của biện pháp cầm giữ tài sản.
Bộ luật dân sự năm 2015 dùng cụm từ “không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ” thay cho cụm từ “không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng theo thoả thuận” như quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005.
Bởi nghĩa vụ có thể do thoả thuận hoặc theo luật định Sự thay đổi này nhằm mở
rộng phạm vi áp dụng cho cả trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
nghĩa vụ do pháp luật quy định.
1.2.2 Mục đích của cầm giữ tài sản
Mục đích của cầm giữ tài sản là giúp nâng cao trách nhiệm của bên có nghĩa
vụ, đồng thời bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm nghĩa vụ Tuy nhiên, hiện nay, Bộluật dân sự năm 2015 không quy định khi nào bên vi phạm nghĩa vụ buộc phải hoànthành nghĩa vụ Đồng thời, Bộ luật dân sự hiện hành cũng không có cơ chế xử lý tàisản; do đó, mục đích đặt ra rất khó đạt được do không có cơ chế cưỡng chế thi hành
Bên cạnh Bộ luật dân sự, quyền cầm giữ tài sản còn được quy định trong LuậtThương mại năm 2005, Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015
Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Trừ trường hợp có thoả thuận khác,
bên đại diện có quyền cầm giữ tài sản, tài liệu được giao để bảo đảm việc thanh toán các khoản thù lao và chi phí đã đến hạn 8 ”hay “Thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics có quyền cầm giữ một số lượng hàng hoá nhất định và các chứng từ liên quan đến số lượng hàng hoá đó để đòi tiền nợ đã đến hạn của khách hàng nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho khách hàng 9 ”.
Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Hàng hải Việt Nam quy định quyền cầm giữ tài sảnhàng hải là quyền của người có khiếu nại hàng hải được ưu tiên trong việc đòi bồithường đối với chủ tàu, người thuê tàu, người khai thác tàu mà tàu biển đó đã làmphát sinh khiếu nại hàng hải
Như vậy, so với Bộ luật dân sự năm 2015, hai văn bản pháp luật trên quy định
7 Đỗ Văn Đại (Chủ biên, 2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, NXB Hồng Đức, Hà Nội, tr 362
8Điều 149 Luật Thương mại năm 2005
9Khoản 1 Điều 239 Luật Thương mại năm 2005
Trang 21rõ hơn về mục đích của cầm giữ tài sản, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thểkhi áp dụng biện pháp này.
1.2.3 Đặc điểm của cầm giữ tài sản
Ngoài những đặc điểm chung của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự thì cầm giữ tài sản mang những đặc điểm riêng biệt như sau:
Thứ nhất, đây là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được áp dụng
mà không dựa trên sự thoả thuận của các chủ thể trong giao dịch
Cầm giữ tài sản là một biện pháp tự vệ trong quan hệ dân sự nhằm bảo vệ lợiích chính đáng của bên có quyền Mặc dù, cũng xác lập một quyền trên tài sản củabên có nghĩa vụ nhưng cầm giữ tài sản không phát sinh trên cơ sở thoả thuận do phápluật quy định Trong khi đó, các biện pháp bảo đảm còn lại như thế chấp hay bảolãnh hoặc cầm cố chỉ áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận từ trước Đốivới biện pháp này, pháp luật cho phép bên có quyền được cầm giữ tài sản của bên cónghĩa vụ mà không cần xem xét nguyên nhân khiến cho bên có nghĩa vụ vi phạmnghĩa vụ đã thoả thuận Trên cơ sở kế thừa quy định về cầm giữ tài sản trong thựchiện hợp đồng song vụ tại Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2015 đãphát triển cầm giữ tài sản thành một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tàisản theo luật định
Ví dụ: A thuê máy sản xuất kem của B để thực hiện việc sản xuất kem từngày 20 tháng 07 năm 2017 đến ngày 25 tháng 07 năm 2017 Tiền thuê máy đượcthanh toán 70% ngay sau khi B khi giao máy, 30% còn lại sau khi A trả máy Trongthời gian sử dụng, máy của B bị lỗi kỹ thuật nên A thông báo cho B về vấn đề này.Hai bên thoả thuận, A sẽ tự sửa chữa và B sẽ thanh toán chi phí này sau khi A tấttoán hợp đồng Đến thời điểm trả máy theo thoả thuận, A đề nghị B thanh toán chiphí sửa chữa máy cho mình nhưng B không trả với lý do không có tiền Như vậy A
có quyền chiếm giữ chiếc máy đến khi B thanh toán đủ cho mình số tiền mình đã bỏ
ra để sửa chữa máy mặc dù trước đó A và B không thoả thuận về việc chiếm giữ này
Thứ hai, nghĩa vụ được bảo đảm phải là nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ tài sản
cầm giữ, những nghĩa vụ không phát sinh một cách trực tiếp từ tài sản này thì bên cóquyền không được cầm giữ nó
Trang 22Ví dụ: A cho B vay 5 triệu đồng Trước đó, B cho A mượn một chiếc đồng hồtrị giá 6 triệu đồng Nếu đến hạn mà B chưa đủ tiền trả cho mình thì A cũng khôngđược tự ý bán tài sản trên để bù trừ nghĩa vụ Vì nghĩa vụ của B phải thực hiện khôngphát sinh từ tài sản là chiếc đồng hồ này.
Thứ ba, bên cầm giữ tài sản có quyền từ chối hoàn trả tài sản đang chiếm giữ
khi bên có nghĩa vụ chưa thực hiện xong nghĩa vụ của mình Luật không giới hạnkhoảng thời gian mà bên có quyền được quyền cầm giữ tài sản
Ví dụ: A có nghĩa vụ phải thanh toán cho B 15 triệu đồng Nếu A đã thanhtoán cho B 10 triệu đồng thì B có quyền chiếm giữ tài sản của A đã nắm giữ từ trướccho đến lúc A trả đủ cho B 15 triệu đồng
1.3 Quy định về cầm giữ tài sản trong pháp luật của một số nước trên thế giới
1.3.1 Pháp luật Pháp
Theo quy định tại khoản 1 Điều 416 BLDS, quyền cầm giữ tài sản chỉ phátsinh trong quan hệ hợp đồng, cụ thể là hợp đồng song vụ Hiện nay BLDS 2015 đãtiếp cận cầm giữ tài sản với tư cách là một biện pháp bảo đảm được xác lập theo quyđịnh của luật
Điều 346 BLDS 2015 đưa ra khái niệm cầm giữ tài sản như sau: "Cầm giữ tài
sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên
có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ." Pháp luật của một
số nước công nhận cả các tình huống không mang tính chất song vụ
Chẳng hạn theo Điều 2277 của BLDS Pháp, người đang chiếm giữ một tài sản
bị đánh cắp hay bị mất nếu đã mua tài sản này tại một hội chợ, chợ, một buổi bán đấugiá hay từ một người bán hàng bán các tài sản tương tự chỉ phải hoàn trả tài sản nàycho người chủ ban đầu khi người chủ này hoàn trả cho anh ta số tiền anh ta đã phảitrả khi mua tài sản, tức là, nếu không được hoàn trả số tiền bằng giá mua thì ngườiđang chiếm giữ được tiếp tục cầm giữ tài sản Ở đây không có quan hệ hợp đồng trựctiếp giữa người đang chiếm giữ tài sản và chủ sở hữu tài sản Một ví dụ khác liênquan đến hợp đồng thuê nhà ở, nếu trong hợp đồng thuê có quy định quyền của bên
Trang 23cho thuê được bán căn nhà cho thuê và yêu cầu bên thuê ra khỏi địa điểm thuê trongthời hạn của hợp đồng thuê thì bên thuê chỉ phải rời địa điểm thuê khi được bên chothuê hay bên mua nhà thanh toán các khoản bồi thường thiệt hại được quy định tronghợp đồng hay theo quy định của pháp luật10.
Ngoài các trường hợp cầm giữ tài sản đặc biệt như trong hai ví dụ vừa nêu,BLDS Pháp dành riêng Điều 2286 để khái quát hóa phạm vi áp dụng của quyền cầmgiữ tài sản, theo đó các đối tượng sau được hưởng quyền cầm giữ tài sản : (i) tài sảncủa bên có nghĩa vụ (Điều 1744 và 1749 BLDS Pháp 22) được chuyển giao cho tớikhi quyền đòi nợ của bên này được thanh toán (đây chính là trường hợp cầm giữ tàisản trong khuôn khổ quan hệ cầm cố); (ii) bên mà quyền đòi nợ chưa được thanhtoán phát sinh từ hợp đồng trong đó có quy định nghĩa vụ của bên này phải chuyểngiao tài sản (trường hợp này giống với cầm giữ tài sản theo quy định của pháp luậtViệt Nam); (iii) bên mà quyền đòi nợ chưa được thanh toán được xác lập trong quátrình bên này nắm giữ tài sản (chẳng hạn nếu chủ sở hữu một bất động sản yêu cầungười chiếm hữu bất động sản trả lại bất động sản đó cho anh ta thì người chiếm hữubất động sản có quyền tiếp tục chiếm giữ đối với bất động sản đó nếu chưa được bồithường các phí tổn mà anh ta đã bỏ ra để sửa chữa hay đầu tư vào bất động sản đó);(iv) bên nhận cầm cố tài sản mà không có chuyển giao tài sản (cầm cố ô tô, cầm cốbất động sản ) Các học giả Pháp gọi đây là quyền cầm giữ ảo
Tại Pháp hiện nay đang có tranh luận về mặt học thuật, liệu cầm giữ tài sản có
áp dụng cho các tài sản vô hình như quyền đòi nợ hay không Chẳng hạn để giảithích cho việc bên nhận thế chấp quyền đòi nợ có độc quyền nhận ưu tiên thanh toán,một số tác giả cho rằng, sau khi thông báo với bên có nghĩa vụ trả nợ về việc thếchấp, bên nhận thế chấp có quyền cầm giữ đối với quyền đòi nợ được thế chấp Tuynhiên, cách tiếp cận như vậy có nguy cơ đi ngược lại với bản chất pháp lý của cầmgiữ vốn gắn liền với việc nắm giữ về mặt vật chất và do đó, chỉ có thể thực hiện đượcvới các tài sản hữu hình mà thôi
Điều 2286 nói trên nằm trong phần quy định chung về các biện pháp bảo đảmcủa BLDS Pháp Dù coi quyền cầm giữ tài sản là một biện pháp bảo đảm, các nhà
10 Các Điều 1744 và 1749 BLDS Pháp
Trang 24lập pháp của Pháp vẫn còn dè dặt trong cách tiếp cận biện pháp bảo đảm này Vềđiểm này, tại Việt Nam trước khi BLDS 2005 ra đời, một số học giả cho rằng, cầmgiữ tài sản có thể được xem một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Tuynhiên, BLDS 2005 không đưa cầm giữ tài sản vào phần quy định về bảo đảm thựchiện nghĩa vụ dân sự (các điều từ Điều 318 đến Điều 373) mà đề cập khái niệm nàytrong phần quy định chung về thực hiện hợp đồng dân sự (các điều từ Điều 412 đếnĐiều 422) Theo quy định tại BLDS 2005 cầm giữ tài sản là một trong các chế tàidân sự áp dụng trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Hiện nay, BLDS 2015
đã đưa cầm giữ tài sản vào phần quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (cácđiều từ Điều 346 đến Điều 350)
1.3.2 Pháp luật Anh
Khác với pháp luật Pháp, trong pháp luật Anh, cầm giữ tài sản (lien) trước hết
là một biện pháp bảo đảm được tạo ra trên cơ sở mặc nhiên được pháp luật thừa nhận(by operation of law) chứ không cần phải có thỏa thuận Các bên cũng có thể tạo raquyền cầm giữ thông qua hợp đồng (contractual lien) Biện pháp cầm giữ không cầnphải được đăng ký để đảm bảo giá trị pháp lý với các bên thứ ba
Bốn dạng cầm giữ tài sản phổ biến nhất của hệ thống pháp luật này bao gồm:
- Quyền cầm giữ theo án lệ (legal liens): là biện pháp bảo đảm được tạo ratrong một số trường hợp khi bên có quyền đang có quyền chiếm hữu tài sản của bên
có nghĩa vụ và có thể là quyền cầm giữ cụ thể (particular liens) hay quyền cầm giữchung (general liens) Quyền cầm giữ cụ thể phát sinh khi (i) theo quy định của phápluật chung một người có nghĩa vụ tiếp nhận tài sản động sản hữu hình chẳng hạn nhưchủ khách sạn phải cho khách lưu trú cùng với hành lý hay bên chuyên chở có nghĩa
vụ chở hàng hóa được giao hoặc (ii) một người cải thiện một tài sản động sản hữuhình bằng công việc và kỹ năng của mình Quyền cầm giữ chung được xác lập từ cáctập quán thương mại và cho phép một số đối tượng như bên môi giới chứng khoán,ngân hàng hay luật sư tư vấn được cầm giữ mọi tài sản đang nắm giữ cho tới khi bên
có nghĩa vụ thanh toán hết cho mình các khoản tiền còn nợ
- Quyền cầm giữ theo thỏa thuận: hợp đồng có thể mở rộng quyền của bên
có quyền cầm giữ theo án lệ trong việc xử lý biện pháp bảo đảm thông qua việc trao
Trang 25cho bên này quyền bán tài sản động sản hữu hình khi bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa
vụ Các bên cũng có thể thỏa thuận mở rộng phạm vi của quyền cầm giữ theo án lệbằng cách tăng phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm (chẳng hạn chuyển một quyền cầmgiữ cụ thể thành một quyền cầm giữ chung) hoặc mở rộng phạm vi của tài sản là đốitượng cầm giữ
- Quyền cầm giữ theo văn bản pháp luật (statutory liens): một số văn bảnpháp luật nêu cụ thể quyền cầm giữ đã được án lệ thừa nhận Chẳng hạn quyền cầmgiữ của một người bán hàng chưa được thanh toán tiền hàng được nêu trong Luật vềMua bán hàng hóa năm 1979 (Sale of Goods Act 1979) hay quyền cầm giữ của bênmôi giới bảo hiểm hàng hải trong Luật Bảo hiểm hàng hải năm 1960 (MarineInsurance Act 1906) Một số quyền cầm giữ khác phát triển độc lập với án lệ nhưquyền của sân bay được giữ máy bay theo Điều 88 của Luật Hàng không dân dụng
1982 (Civil Aviation Act 1982)
- Quyền cầm giữ công bình (equitable liens) thường có đối tượng là đất đai
và khác các dạng cầm giữ nêu trên ở chỗ không đòi hỏi phải cầm giữ về mặt vật chấttài sản Cần lưu ý là việc có hay không quyền cầm giữ công bình đối với một số tàisản vô hình như phần vốn góp hay văn bằng sáng chế vẫn chưa thực sự rõ ràng trongpháp luật Anh
Bên cầm giữ tài sản có quyền chiếm giữ tài sản cho tới khi nghĩa vụ được bảođảm được thanh toán Ngược lại, bên cầm giữ không được bán tài sản trừ khi các bên
có thỏa thuận khác và cũng không được yêu cầu Tòa án ra quyết định bán tài sản.Quy định này khá tương đồng với Luật Việt Nam không cho bên cầm giữ được xử lýtài sản cầm giữ Hơn nữa, quyền cầm giữ cũng có hiệu lực trong thủ tục phá sản củabên có nghĩa vụ nhưng vẫn phải chịu nguyên tắc tạm hoãn xử lý tài sản bảo đảmtrong thủ tục phục hồi kinh doanh (administration) hay thủ tục thỏa thuận tự nguyệnvới chủ nợ (company voluntary arrangement) đối với công ty có quy mô nhỏ
1.3.3 Pháp luật Nhật Bản:
Trong pháp luật Nhật Bản, cầm giữ tài sản cũng là một biện pháp bảo đảmthực hiện nghĩa vụ bên cạnh những biện pháp được quy định lâu đời như cầm cố, thếchấp Quyền cầm giữ tài sản là loại vật quyền bảo đảm pháp định có tính truyền
Trang 26thống, tồn tại cùng với sự phát triển của pháp luật dân sự Nhật Bản.
Cầm giữ tài sản được quy định tại Điều 295 Bộ luật Dân sự Nhật Bản Nội
dung của cầm giữ tài sản được hiểu là Nếu một người đang chiếm hữu hợp pháp một
vật thuộc sở hữu của người khác có trái quyền phát sinh liên quan đến vật đó thì có thể nắm giữ vật đến khi nhận được thanh toán cho trái quyền đó Tuy nhiên, quy định này không áp dụng nếu trái quyền chưa đến hạn thanh toán 11
Từ quy định nêu trên của Bộ luật dân sự Nhật Bản, chúng ta nhận thấy để ápdụng quyền cầm giữ tài sản thì phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Người có trái quyền phải đang chiếm hữu vật bị cầm giữ, việc chiếm hữunày phải hợp pháp;
- Vật bị cầm giữ không nhất thiết phải thuộc sở hữu của người có trái quyền;
- Trái quyền được bảo đảm đã đến hạn thanh toán;
- Giữa trái quyền với đối tượng của trái quyền (vật) phải có quan hệ khẳngkhít (trái quyền phát sinh liên quan đến vật đó)
Quy định nêu trên của Bộ luật dân sự Nhật Bản cho thấy, mặc dù thừa nhậnquyền chiếm hữu thực tế tài sản của bên có quyền nhưng pháp luật không công nhậnquyền ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản, trong khi đó quy định về điều kiện xác lậpquyền cầm giữ không thực sự rõ ràng, dễ bị lợi dụng trong quá trình áp dụng12
Cầm giữ tài sản cũng được quy định trong Luật Thương mại Nhật Bản TheoĐiều 521 Luật này thì trái quyền từ hành vi thương mại của hai bên chủ thể đến hạnthanh toán, bên có quyền có thể cầm giữ vật hoặc giấy tờ có giá trị của bên có nghĩa
vụ cho đến khi được thanh toán trái quyền với điều kiện:
- Người trái quyền đang chiếm giữ đối tượng;
- Trái quyền được bảo đảm đã đến hạn thanh toán;
- Vật bị chiếm giữ thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ;
- Hai bên có hành vi thương mại
Trên thế giới đã có hệ thống coi cầm giữ tài sản là biện pháp bảo đảm thực
11 Bộ luật dân sự Nhật Bản, Bản dịch từ Tiếng Anh do Lê Hồng Hạnh thực hiện, HàNội, 1993, tr.30
12 Hồ Quang Huy, “Bộ luật Dân sự Việt Nam (sửa đổi): cần hạn chế sự bất bình đẳnggiữa các chủ nợ có bảo đảm”
Trang 27hiện nghĩa vụ dân sự Do đó, Việt Nam chính thức ghi nhận cầm giữ tài sản với vaitrò là một trong những biện pháp bảo đảm là phù hợp với thông lệ quốc tế.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Sự cưỡng chế của nhà nước chỉ cần thiết khi các bên không tự nguyện thựchiện nghĩa vụ của mình Do đó, pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được xâydựng không nằm ngoài mục đích bảo đảm cho khả năng của các chủ thể tham giaquan hệ dân sự tự chịu trách nhiệm về tài sản, bảo đảm nguyên tắc tự do, tự nguyện
và bình đẳng Như vậy, các biện pháp này cũng giúp cho bên có quyền luôn ở thếchủ động trong việc bảo vệ lợi ích của mình trong các giao dịch đã ký kết Trongtrường hợp có sự tranh chấp, đối kháng về lợi ích giữa các bên nhận bảo đảm với cácchủ thể khác thì các biện pháp bảo đảm sẽ là một trong những cơ sở vững chắc đểbảo vệ lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo đảm Từ đó, các giao dịch dân sự, thươngmại sẽ ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ, là động lực phát triển nền kinh tế đấtnước
Cầm giữ tài sản là một trong những cách thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ làquyền được pháp luật quy định của người có quyền trong trường hợp bên có nghĩa
vụ không thực hiện nghĩa vụ, khắc phục và ngăn chặn những rủi ro và giúp cho bên
có quyền luôn ở thế chủ động trong việc bảo vệ lợi ích của mình trong các giao dịch
đã ký kết
Trang 28CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN2.1 Đối tượng của cầm giữ tài sản
Việc pháp luật quy định rõ ràng về đối tượng của các biện pháp bảo đảm thựchiện nghĩa vụ dân sự nhằm định hướng và tạo thuận lợi cho các chủ thể khi tham giacác giao dịch dân sự và lựa chọn các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự phù hợp vớitừng giao dịch cụ thể
Theo quy định tại Điều 346 Bộ luật dân sự năm 2015, đối tượng của cầm giữtài sản là tài sản Tài sản được quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 Theo
đó, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản
và động sản Các tài sản này đều có thể trở thành tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Tuy nhiên, mỗi biện pháp bảo đảm có đối tượng riêng nên tuỳ từng trường hợp màcác bên tham gia giao dịch lựa chọn tài sản cho phù hợp
Tài sản cầm giữ phải thoả mãn các điều kiện được quy định tại Điều 295 Bộ
luật dân sự năm 2015 về tài sản bảo đảm, cụ thể:
- Tài sản cầm giữ có thể là tài sản thuộc sở hữu của bên vi phạm nghĩa vụhoặc của chủ thể khác
Khi đưa tài sản trở thành đối tượng của các biện pháp bảo đảm phải bảo đảmtài sản đó thuộc sở hữu của bên bảo đảm, trừ hai biện pháp bảo đảm là cầm giữ vàbảo lưu quyền sở hữu Quy định tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm nhằm phòngngừa rủi ro cho bên nhận bảo đảm (trường hợp tranh chấp tài sản liên quan đến bênthứ ba); đồng thời, bảo vệ quyền của chủ sở hữu tài sản khi bị người khác chiếm giữbất hợp pháp hoặc cố ý chiếm đoạt tài sản sau đó đem đi cầm cố, thế chấp
Cầm giữ tài sản là biện pháp tự vệ trong quan hệ dân sự nhằm bảo vệ lợi íchchính đáng của bên có quyền, pháp luật là cơ sở trực tiếp phát sinh quyền được cầmgiữ tài sản mà không phát sinh theo thoả thuận được xác lập từ trước của bên thamgia Mặt khác, đây là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của một bên trong hợpđồng song vụ; do đó, tài sản cầm giữ có thể là tài sản thuộc sở hữu của bên vi phạmnghĩa vụ hoặc của chủ thể khác
Cách tiếp cận này của pháp luật Việt Nam khác với quy định của pháp luật
Trang 29Nhật Bản Trong khi Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 quy định tài sản cầm giữ cóthể là tài sản thuộc sở hữu của bên bị vi phạm nghĩa vụ hoặc của chủ thể khác thì Bộluật dân sự Nhật bản chỉ cho phép bên có quyền được cầm giữ đối với tài sản thuộc
sở hữu của bên vi phạm nghĩa vụ cho đến khi người đó thực hiện nghĩa vụ13
- Tài sản cầm giữ là động sản hoặc bất động sản
Trong cơ chế thị trường, việc cầm giữ tài sản có tính chất bảo đảm tuyệt đối,
do đó, các loại tài sản đều có thể cầm giữ được kể cả bất động sản Theo nguyên tắc,bên có quyền chỉ thực hiện được quyền cầm giữ đối với các tài sản hữu hình Tài sảncầm giữ không thể là tài sản hình thành trong tương lai
Tài sản cầm giữ là vật đặc định (như ô tô, xe máy, đồng hồ, dây chuyềnvàng ) Bởi, bản chất của cầm giữ tài sản là bên có nghĩa vụ tạm thời dịch chuyểnquyền chiếm hữu tài sản cho bên cầm giữ, bên cầm giữ có quyền và nghĩa vụ quản lýtài sản nhằm tạo áp lực để bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đối với mình Nếunghĩa vụ được thực hiện đầy đủ thì bên cầm giữ phải giao lại tài sản cầm giữ cho bên
có nghĩa vụ Bộ luật dân sự hiện hành không quy định tài sản cầm giữ phải là vật đặcđịnh nhưng khi bên cầm giữ thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật thì phải giao đúngvật đó Như vậy, vật cầm giữ phải là vật đặc định bởi chỉ có vật đặc định mới có thểxác định, phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu,hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí14
Trên thực tế, vật cùng loại cũng có thể là tài sản cầm giữ Nếu vật cùng loạicũng đã được đặc định hoá bằng một hình thức nhất định như được đánh số, đánhdấu thì sẽ được xác định như vật đặc định Còn nếu vật cùng loại không được đặcđịnh hoá thì bên cầm giữ phải trả lại cho bên có nghĩa vụ tài sản tương đương về chấtlượng số lượng, trị giá tài sản cầm giữ ban đầu
Tài sản cầm giữ phải xác định được, là tài sản hiện có Tài sản hình thànhtrong tương lai, quyền tài sản không thể là đối tượng của cầm giữ, bởi đối với biệnpháp này, bên có nghĩa vụ phải chuyển giao thực tế tài sản cho bên cầm giữ Người
có quyền phải chiếm giữ thực tế tài sản cầm giữ mới thể hiện đúng tính chất bảo đảm
13Bình luận Khoa học Bộ luật dân sự Nhật bản / Xaca Vacaxum, Tori Aritdumi; Dịch:Nguyễn Đức Giao, Lưu Tiến Dũng, Hoàng Thế Liên hiệu đính, NXB Chính trị quốc gia,
1995, tr 272
14 Khoản 2, Điều 113 Bộ luật dân sự năm 2015