Đặc biệt là bài viết “Tổng hợp kết quả trao đổi về các từ/ thuật ngữ “Từ điển mở thuật ngữ văn thư - lưu trữ - văn phòng” đăng trên tạp chí văn thư - lưu trữ Việt Nam” do Ban tổ chức chu
Trang 1BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC SOẠN THẢO
VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN TẠI
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ
TĨNH
Khóa luận tốt nghiệp
ngành
QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
Người hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Mã số sinh viên
THS ĐỖ THỊ THU HUYỀN PHAN THỊ KIM TUYẾN 1305QTVC067
2013-2017
ĐH QTVP 13C
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận “Nâng cao chất lượng công tác soạn thảo và ban hành văn
bản tại UBND huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh” được hoàn thành dưới sự hướng
dẫn trực tiếp của ThS Đỗ Thị Thu Huyền - Giảng viên Khoa Quản trị Vănphòng - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất
đến quý thầy cô, bạn bè, đặc biệt là ThS Đỗ Thị Thu Huyền - người đã hướng
dẫn tận tình, góp ý trực tiếp và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóaluận Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể giảng viên trong Khoa Quản trịVăn phòng đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường,không chỉ truyền đạt những kiến thức chuyên môn mà còn có cả các kỹ năng
để từ đó tôi có thể vận dụng vào thực tiễn và tự hoàn thiện bản thân mình
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể cán bộ, công chức,viên chức đang công tác tại UBND huyện Kỳ Anh - những người đã cho tôi lờigóp ý chân thành và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tôi thu thập tài liệu,nghiên cứu thực trạng để hoàn thành khóa luận này
Trong quá trình khảo sát thực tế và nghiên cứu còn gặp rất nhiều khókhăn, do trình độ còn hạn chế nên dù cố gắng song bài khóa luận không thểtránh khỏi những thiếu sót Vì thế, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp củathầy, cô cũng như các bạn đọc để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017
SINH VIÊN
Phan Thị Kim Tuyến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Nâng cao chất lượng công
tác soạn thảo và ban hành văn bản tại UBND huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh”
là công trình nghiên cứu của tôi trong thời gian qua, kết quả nghiên cứu có tínhđộc lập riêng, không sao chép bất kì tài liệu nào và chưa công bố nội dung nàybất cứ đâu Các số liệu trong khóa luận được sử dụng trung thực, nguồn tríchdẫn có chú thích rõ ràng, minh bạch, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu
đã được công bố Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trungthực về thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017
SINH VIÊN
Phan Thị Kim Tuyến
Trang 5DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Giả thuyết nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc của đề tài 7
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN 8
1.1 Khái niệm 8
1.1.1 Khái niệm văn bản 8
1.1.2 Khái niệm văn bản quản lý nhà nước 9
1.2 Chức năng của văn bản quản lý 10
1.2.1 Chức năng thông tin 10
1.2.2 Chức năng pháp lý 11
1.2.3 Chức năng quản lý 12
1.3 Phân loại hệ thống văn bản quản lý 13
1.3.1 Văn bản quy phạm pháp luật 13
1.3.2 Văn bản hành chính 13
1.3.3 Văn bản chuyên ngành 15
1.4 Những yêu cầu về công tác soạn thảo và ban hành văn bản 15
Trang 71.4.1 Yêu cầu về thẩm quyền 15
1.4.2 Yêu cầu về nội dung 16
1.4.3 Yêu cầu về thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản 17
1.4.4 Yêu cầu về ngôn ngữ 18
1.4.5 Yêu cầu về quy trình soạn thảo và ban hành văn bản 21
CHƯƠNG II TRẠNG CÔNG TÁC SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH 24
VĂN BẢN TẠI UBND HUYỆN KỲ ANH 24
2.1 Khái quát về UBND huyện Kỳ Anh 24
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của UBND huyện Kỳ Anh 24
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 26
2.1.3 Cơ cấu tổ chức 30
2.2 Thực trạng công tác soạn thảo và ban hành văn bản tại UBND huyện Kỳ Anh 31
2.2.1 Thẩm quyền ban hành văn bản của UBND huyện Kỳ Anh 31
2.2.2 Thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản 36
2.2.3 Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản của UBND huyện Kỳ Anh 47
2.2.4 Nội dung văn bản của UBND huyện Kỳ Anh 48
2.2.5 Quy trình soạn thảo và ban hành văn bản tại UBND huyện Kỳ Anh 49 2.3 Đánh giá về công tác soạn thảo và ban hành văn bản tại UBND huyện Kỳ Anh 60
2.3.1 Ưu điểm 60
2.3.2 Hạn chế 61
2.3.3 Nguyên nhân 67
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN TẠI UBND HUYỆN KỲ ANH 70
Trang 83.1 Đảm bảo các yêu cầu về nội dung, thẩm quyền và thể thức văn bản 70
3.2 Kiểm tra, rà soát các bước trong quy trình soạn thảo văn bản 71 3.3 Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo về soạn thảo và han hành văn bản tại Huyện 72 3.4 Hoàn thiện và ban hành các văn bản có liên quan đến công tác soạn thảo và ban hành văn bản 72 3.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 73 3.6 Nâng cao ý thức của CBCC trong công tác soạn thảo và ban hành văn bản 75 3.7 Thực hiện tốt công tác kiểm tra và xử lý văn bản sai quy định; tăng cường thanh, kiểm tra công tác văn thư 76 3.8 Nâng cao hiệu quả công tác lưu trữ 77 3.9 Hiện đại hóa các trang thiết bị phục vụ công tác soạn thảo và ban
3.10 Mẫu hóa văn bản 79 KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
Trang 9Vì vậy, quan tâm đúng mực đến công tác soạn thảo và ban hành văn bản gópphần tích cực vào tăng cường hiệu lực quản lý hành chính nói riêng và quản lýnhà nước nói chung.
Hiện nay, công tác soạn thảo và ban hành văn bản đã góp phần tích cựcđáp ứng cơ bản yêu cầu quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xãhội Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nhiều văn bản bộc lộ nhiều khiếm khuyết
cả về nội dung và thể thức đặc biệt là các văn bản của các cơ quan quản lýhành chính tại địa phương
UBND huyện Kỳ Anh là cơ quan hành chính nhà nước có chức năngquản lý nhà nước chung ở địa phương trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, vănhóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, phápluật, các văn bản khác của cấp trên nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương, đườnglối, biện pháp để phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện các chính sách kháctrên địa bàn Huyện Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình,
số lượng văn bản ban hành tại Huyện tương đối nhiều, chiếm một vị trí quantrọng và là phương tiện căn bản và chính xác nhất trong việc truyền tải thôngtin của Huyện Vì vậy, công tác soạn thảo và ban hành văn bản tại UBNDhuyện Kỳ Anh cần được coi trọng và không ngừng nâng cao chất lượng
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác công tác soạn thảo và banhành văn bản trong cơ quan, tổ chức, bằng việc tiếp xúc trực tiếp với công việc
Trang 10tại UBND huyện Kỳ Anh, tôi nhận thấy việc nâng cao chất lượng công tácsoạn thảo và ban hành văn bản tại Huyện là rất cần thiết và cấp bách Để hiểusâu hơn về tình hình thực tế so với kiến thức lý thuyết đã được học, tôi đã lựa
chọn đề tài “Nâng cao chất lượng công tác soạn thảo và ban hành văn bản
tại UBND huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài khóa luận Tôi hi vọng
kiến thức trong đề tài có thể là tài liệu tham khảo hữa ích cho bạn đọc khi tìmhiểu về công tác soạn thảo và ban hành văn bản trong cơ quan, tổ chức nóichung và UBND huyện Kỳ Anh nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu
Hiện nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về công tác công văn, giấy tờ
và hệ thống văn bản quản lý Một trong những người tiên phong cho công táclưu trữ và quản trị văn phòng là PGS Vương Đình Quyền, ông đã có nhữngbài viết bao quát hầu hết các vấn đề của công tác văn thư và lưu trữ trong thờiphong kiến: từ thể chế đến việc tuyển dụng quan lại để thực hiện các công việc
về văn bản, giấy tờ; từ những quy định về thông tin liên lạc đến việc quản lý,
sử dụng con dấu và các lệ kiêng húy trong văn bản; Ông cũng là người đã cóbài viết phân tích sâu sắc và làm rõ vai trò, những đóng góp của Minh Mệnh -
vị hoàng đế có công “khai sáng nền văn khố triều Nguyễn” nói riêng và nền
lưu trữ của Việt Nam nói chung Một số tác phẩm nghiên cứu của ông là: “Văn bản và lưu trữ học đại cương”, (1997 ), “Lý luận về phương pháp công tác văn thư”, (2011)
Ngoài ra, về lý luận chung công tác soạn thảo và ban hành văn bảnGS.TSKH Nguyễn Văn Thâm (Học viện hành chính Quốc gia) đã có một số
ấn phẩm như: “Soạn thảo và xử lý văn bản Quản lý nhà nước”, (2001),
“Hướng dẫn soạn thảo văn bản và công tác văn phòng trong các cơ quan Đảng, nhà nước” (2009); TS Lưu Kiếm Thanh (Học viện hành chính Quốc gia) đã công bố cuốn: “Hướng dẫn soạn thảo văn bản lập quy” (2002);
Trang 11PGS.TS Nguyễn Minh Phương (Trung ương hội Văn thư - Lưu trữ Việt Nam)
công bố công trình“Những kiến thức cơ bản về soạn thảo văn bản QPPL” (2012), “Phương pháp soạn thảo văn bản hành chính” (2011); TS Nguyễn Thế Quyền công bố cuốn “Xử lý văn bản quản lý hành chính nhà nước khiếm khuyết”(2009); Lê Văn In “Soạn thảo văn bản và các mẫu tham khảo trong hoạt động kinh doanh và quản lý” (2002), “Mẫu soạn thảo văn bản dùng cho các cơ quan chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế”(2011); v.v và một số dự án nghiên cứu khoa học về soạn thảo và ban
hành văn bản đã được các cơ quan khoa học nghiệm thu Ví dụ: Dự án
VIE/94/003 về “Quy trình soạn thảo văn bản QPPL” của NXB Văn hóa Dân
tộc và Bộ Tư pháp năm 2002
Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Văn Học với đề tài “Lịch sử xây dựng pháp luật về ban hành văn bản quản lý nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 1986 - 2010” đã tiến hành khảo sát, đánh giá lịch sử xây dựng pháp luật về ban hành
văn bản QLNN ở Việt Nam giai đoạn 1986 2010 với 2 bước đi cụ thể 1986
-1996 và -1996 - 2010 những thành quả quan trọng, những kinh nghiệm quý báu
và cả những hạn chế cần tiếp tục đổi mới để hoàn thiện pháp luật về ban hànhvăn bản QLNN Với đề tài này còn giúp bạn đọc tiếp cận một cách có hệ thốngcác văn bản QLNN liên quan đến soạn thảo và ban hành văn bản của nước tatrong giai đoạn 1986 - 2010; Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Bình
“Xây dựng và ban hành văn bản hành chính của Bộ Nội vụ trong điều kiện cải cách hành chính”; Khóa luận tốt nghiệp của Lưu Thị Hương Giang - sinh viên trường Đại học Nội vụ Hà Nội“Công tác soạn thảo và ban hành văn bản quản
lý tại Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Thực trạng
và giải pháp”.
Trên Tạp chí Văn thư lưu trữ cũng có rất nhiều bài viết liên quan đến
công tác soạn thảo và ban hành văn bản Cụ thể là các bài viết: “Biểu tượng
Trang 12hóa ngôn ngữ quyền lực, cấu trúc và tổ chức văn bản học của văn bản hành chính hoàng cung triều Nguyễn, 1802 - 1841 ” của Vũ Đức Liêm, số ra 1/2017; “Một vài ý kiến về việc viết phần mở đầu và kết thúc của báo cáo sơ kết, tổng kết” của ThS Nguyễn Thị Thu Hà, số 1/2017; “Xây dựng và ban hành văn bản” của ThS Nguyễn Trọng Biên số 8/2015; “Kỹ thuật soạn thảo văn bản, thực trạng và định hướng phác thảo” của TS Lê Văn In, số 8/2015;
“Cần sử dụng những thuật ngữ phù hợp liên quan đến công tác soạn thảo và ban hành văn bản” của TS Đào Thị Tố Uyên, số 7/2015 Đặc biệt là bài viết
“Tổng hợp kết quả trao đổi về các từ/ thuật ngữ “Từ điển mở thuật ngữ văn thư - lưu trữ - văn phòng” đăng trên tạp chí văn thư - lưu trữ Việt Nam” do
Ban tổ chức chuyên đề tổng hợp số 2, 3/2016 với bài viết này là sự tổng hợp từnhiều bài viết từ các nhà quản lý, nhà nghiên cứu chuyên ngành Văn thư - Lưutrữ, Hành chính - Văn phòng và các chuyên gia ở các lĩnh vực khoa học: Ngônngữ học, Luật học, Lịch sử đến những người làm công tác Văn thư - Lưu trữtrình bày những sự hiểu biết của mình về những quy định hiện hành cả lýthuyết lẫn thực tiễn áp dụng hay chủ kiến, quan điểm của mình Trong số đó cóbài viết số ra 3/2016 tổng hợp những quan điểm của rất nhiều tác giả giải vềthuật ngữ: Văn bản hành chính và phương pháp soạn thảo hay kỹ thuật soạnthảo và ban hành văn bản hành chính
Kết quả quan trọng nhất về công tác soạn thảo và ban hành văn bản làQuốc hội đã ban hành Luật “Luật ban hành văn bản QPPL”(2015) cùng vớimột số văn bản dưới Luật đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền banhành để hướng dẫn các cơ quan, tổ chức soạn thảo và ban hành văn bản
Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên đều có ý nghĩa, tác dụngthiết thức và có giá trị ứng dụng cao tại cơ quan, đơn vị nghiên cứu Các côngtrình nghiên cứu đã đề cập một cách trực tiếp và gián tiếp đến vấn đề cụ thể vềcông tác soạn thảo và ban hành văn bản ở những mức độ và phạm vi khác
Trang 13nhau Đặc biệt, những công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảoquan trọng trong quá trình tôi thực hiện bài khóa luận này Tuy nhiên, hiện tạivẫn chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu một cách đầy đủ và hoàn thiện
về công tác soạn thảo và ban hành văn bản tại UBND huyện Kỳ Anh
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác soạn thảo vàban hành văn bản tại huyện Kỳ Anh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài, có rất nhiều nhiệm vụ được đặt
ra trong đó tập trung vào các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Thứ nhất: Phân tích cơ sở lý luận về công tác soạn thảo và ban hành văn
bản trong cơ quan, tổ chức;
- Thứ hai: Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác soạn thảo và ban hànhvăn bản tại UBND huyện Kỳ Anh
- Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng công tác soạnthảo và ban hành văn bản tại UBND huyện Kỳ Anh
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác soạn thảo và ban hành văn bản tại
UBND huyện Kỳ Anh
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: UBND huyện Kỳ Anh
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu về thực trạng công tác soạn thảo và banhành văn bản tại UBND huyện Kỳ Anh trong khoảng thời gian từ 2014 đến2016
6 Giả thuyết nghiên cứu
Hệ thống văn bản tại UBND huyện Kỳ Anh còn nhiều hạn chế về nộidung, thẩm quyền ban hành, kỹ thuật trình bày các thành phần thể thức, quy
Trang 14trình soạn thảo và ban hành văn bản
7 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu, khóa luận đã sử dụng các phươngpháp sau:
- Phương pháp biện chứng: Khóa luận lấy việc vận dụng các quan điểmcủa chủ nghĩa Mác - Lê Nin làm nền tảng nghiên cứu khoa học và làm rõ mỗiquan hệ giữa lý luận và thực tiễn Phương pháp này giúp đánh giá thực trạnggiữa lý luận và thực tiễn thực hiện công tác soạn thảo và ban hành văn bản tạiUBND huyện Kỳ Anh
- Phương pháp thống kê, điều tra khảo sát: Phương pháp này giúp thống
kê các văn bản, tài liệu, số liệu làm cơ sở để nghiên cứu đề tài Khảo sát vềchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và công tác soạn thảo và banhành văn bản tại UBND huyện Kỳ Anh
- Phương pháp so sánh: Tác giả sử dụng phương pháp này để so sánh mặt
lý luận với tình hình hoạt động thực tiễn, so sánh những quy định trên côngvăn, giấy tờ với thực trạng hoạt động của công tác soạn thảo và ban hành vănbản của UBND huyện Kỳ Anh Từ đó làm rõ những ưu điểm, tồn tại làm cơ sởthực tế nhất để tìm ra các giải pháp khắc phục, hoàn thiện Qua các phép sosánh cũng cho phép tìm ra những đặc thù, những điểm phù hợp và những điểmchưa phù hợp của các quy định với điều kiện của công tác soạn thảo và banhành văn bản
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Thu thập các tài liệu liên quanđến đề tài qua quá trình khảo sát thực tế tại cơ quan, từ đó sàng lọc, xử línhững tài liệu cần thiết và loại bỏ những thông tin không cần thiết nhằm đưavào đề tài những thông tin khách quan nhất
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn một số cán bộ, công chức, viênchức làm việc tại UBND huyện Kỳ Anh nhằm thu thập thông tin phục vụ cho
Trang 15đề tài
- Phương pháp hệ thống: Xác định các mối quan hệ, vai trò, vị trí, tầmquan trọng của công tác soạn thảo và ban hành văn bản Phương pháp này cònđược dùng để đánh giá một cách toàn diện những ưu điểm, hạn chế cũng nhưnhững nguyên nhân trong công tác này tại UBND huyện Kỳ Anh
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp: Qua quá trình khảo sát, tìmhiểu và thu thập các tài liệu, chúng tôi tổng hợp và đánh giá toàn bộ quá trìnhliên quan đến công tác soạn thảo và ban hành văn bản tại UBND huyện KỳAnh
8 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận gồm có 3 chương Cụthể:
Chương I Cơ sở lý luận về công tác soạn thảo và ban hành văn bản
Chương II Thực trạng về công tác soạn thảo và ban hành văn bản tạiUBND huyện Kỳ Anh
Chương III Giải pháp nâng cao chất lượng công tác soạn thảo và banhành văn bản tại UBND huyện Kỳ Anh
Trang 16CHƯƠNG I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC SOẠN THẢO
VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN 1.1 Khái niệm
Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Nó chính làcông cụ truyền tải các ý tưởng cũng như các cảm xúc của đối tượng giao tiếp, làmcho hoạt động giao tiếp được thực hiện Tính đến thời điểm hiện nay văn bản làđối tượng nghiên cứu của nhiều nghành khoa học Tùy theo góc độ nghiên cứu
mà có nhiều định nghĩa về văn bản
Dưới góc độ văn bản học, văn bản được hiểu theo nghĩa rộng nhất:“Văn bản
là vật mang tin được ghi bằng kí hiệu ngôn ngữ nhất định” Ký hiệu ngôn ngữ ở
đây chủ yếu dùng để chỉ chữ viết - một loại ký hiệu phổ biến nhất của ngôn ngữ.Ngoài ra ký hiệu ngôn ngữ còn được thể hiện dưới hình thức là những dấu hiệumang tính quy ước
Dưới góc độ ngôn ngữ học,Nguyễn Quang Ninh và Hồng Dân đã định nghĩa
như sau: “Văn bản là một thể hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung, tống nhất về cấu trúc, độc lập về giao tiếp, dạng tồn tại điển hình của văn bản là dạng viết” [15;15].
Trong cuốn “Kỹ thuật và ngôn ngữ soạn thảo văn bản quản lý nhà nước” tác giả Bùi Khắc Việt có đề cập : “Văn bản là sản phẩm của lời nói, thể hiện bằng chính hình thức viết Tuy nhiên văn bản không phải đơn thuần là tổng số những từ ngữ, những câu nói được ghi lên giấy mà là kết qủa tổ chức có ý thức của quá trình sáng tạo nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó”[34,10].
Dưới góc độ hành chính học, thì văn bản được giải thích theo nghĩa hẹp
hơn: “Văn bản là khái niệm dùng để chỉ công văn, giấy tờ hình thành trong hoạt động của cơ quan, tổ chức Những văn bản này đều hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc, độc lập về giao tiếp và tồn tại dưới dạng
Trang 17Như vậy, có thể hiểu khái niệm văn bản theo cách đơn giản như sau: Vănbản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở dạng viết, thường là tậphợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, tính hoàn chỉnh về hình thức,thống nhất về cấu trúc có tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục đích giaotiếp nhất định
Thời gian gần đây, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về văn bảnQLNN Trong các công trình nghiên cứu, các sách và giáo trình viết về văn bảnQLNN, mỗi tác giả lại có một cách nhìn khác nhau về thuật ngữ này Sau đây làmột số cách hiểu về văn bản QLNN
Trong cuốn “Lý luận và phương pháp công tác văn thư” tác giả Vương Đình
Quyền đưa ra khái niệm:“Văn bản quản lý nhà nước là văn bản mà các cơ quan nhà nước dùng để ghi chép, truyền đạt các quyết định quản lý và các thông tin cần thiết cho hoạt động quản lý theo đúng thể thức, thủ tục và thẩm quyền luật định”[21;48].
Giáo trình “Quản lý hành chính nhà nước” của Học viện hành chính Quốcgia do Nhà xuất bản Lao động ấn hành năm 1993, có đề cập đến khái niệm này
như sau: “Văn bản quản lý nhà nước là những quyết định quản lý nhà nước bằng bản viết, do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành, theo những thể thức, thủ tục và thẩm quyền do luật định, mang tính quyền lực đơn phương, làm phát sinh các hệ quả pháp lý cụ thể”[13;405].
Trong cuốn “Soạn thảo và xử lý văn bản quản lý nhà nước” Nhà xuất bảnChính trị Quốc gia ấn hành năm 1997, PGS TS Nguyễn Văn Thâm cũng đưa ra
khái niệm như sau: “Văn bản quản lý nhà nước thể hiện ý chí, mệnh lệnh của các
cơ quan nhà nước đối với cấp dưới Đó là hình thức để cụ thể hóa pháp luật, là phương tiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc phạm vi quản lý nhà nước Văn bản quản lý nhà nước do cơ quan nhà nước ban hành và sửa đổi theo luật
Trang 18định” [30; 26].
Như vậy có thể hiểu: Văn bản QLNN là những quyết định và thông tin quản
lý thành văn (được văn bản hóa) do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành theothẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được nhà nước đảm bảo thihành bằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lýnội bộ nhà nước hoặc giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức và côngdân
1.2 Chức năng của văn bản quản lý
Chức năng thông tin là chức năng bao quát nhất của văn bản nói chung, vănbản quản lý nhà nước nói riêng Văn bản được con người làm ra trước hết nhằmghi chép thông tin và truyền đạt thông tin Đó là thông tin về các sự kiện, hiệntượng xảy ra trong đời sống xã hội và tự nhiên
Xét về mặt lịch sử, việc ghi chép và và truyền đạt thông tin bằng hình thứcvăn bản chỉ xuất hiện sau khi loài người sáng tạo ra chữ viết Khi đó, văn bản trởthành phương tiện thông tin ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội, nó khắcphục được những hạn chế về không gian và thời gian của việc thông tin bằngngôn ngữ nói và trở thành một động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của xãhội loài người Nhờ có chữ viết nhiều dân tộc đã ghi chép được những thông tin
về nhiều mặt của đời sống xã hội và hiện tượng tự nhiên qua các thời kỳ lịch sử.Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, thông tin bằng hình thức vănbản ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước và quản lý
xã hội Ở nước ta hiện nay trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, khối lượngthông tin cần truyền đạt từ cấp trên xuống cấp dưới, từ cấp dưới lên cấp trên, từ
cơ quan này tới cơ quan khác, từ hệ thống này sang hệ thống khác rất lớn Đểthỏa mãn nhu cầu này, các cơ quan đã áp dụng nhiều hình thức ghi chép như:băng đĩa, phim ảnh, điện toại, mạng Internet Tuy nhiên hình thức thông tinbằng văn bản vẫn là hình thức có vị trí quan trọng hàng đầu với hoạt động quản
Trang 19Có thể khẳng định, thông tin bằng văn bản là hình thức chủ yếu được các cơquan nhà nước sử đụng để đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý của mình
Chức năng pháp lý là một chức năng mang tính riêng biệt của văn bản quản
lý, nó được thể hiện qua các khía cạnh sau:
Văn bản quản lý nhà nước là phương tiện ghi chép và truyền đạt thông quacác quy phạm pháp luật, xác lập quan hệ pháp luật giữa các cơ quan
Văn bản quản lý nhà nước là công cụ mà nhà nước sử dụng để điều chỉnhcác quan hệ xã hội Bằng hệ thống các quy phạm pháp luật được văn bản hóa sẽtạo thuận lợi cho việc truyền đạt và thực thi pháp luật trong các cơ quan nhà nước
và toàn xã hội được đầy đủ, đúng đắn, nghiêm chỉnh và thống nhất Đồng thời,tạo dựng một hành lang pháp lý cần thiết đảm bảo cho hoạt động quản lý của Nhànước đạt hiệu quả cao
Chức năng pháp lý của văn bản được thể hiện qua việc làm bằng chứng pháp
lý cho các quyết định quản lý và các thông tin về quản lý khác Văn bản quản lýnhà nước của một cơ quan là tiếng nói chính thức của cơ quan đó với tư cách làmột pháp nhân mà chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định bằng vănbản của cơ quan có thẩm quyền Tư cách pháp nhân này còn được thể hiện bởichữ ký của người có thẩm quyền, dấu đóng trên văn bản điều đó đảm bảo cho vănbản ban hành có giá trị pháp lý trong trường hợp cần thiết có thể dùng làm bằngchứng để truy cứu trách nhiệm Đây là ưu thế của việc truyền đạt thông tin quản
lý bằng văn bản so với truyền đạt bằng miệng Bởi vậy, trong công tác quản lýđối với những vấn đề, sự việc cần có cơ sở pháp lý để đảm bảo hiệu lực thi hànhthì thủ trưởng cơ quan hoặc tập thể lãnh đạo cơ quan đều truyền đạt bằng hìnhthức văn bản
Văn bản quản lý nhà nước là phương tiện để cơ quan thực hiện chức trách
Trang 20quản lý theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao Trong công tác quản lývăn bản được dùng vào nhiều mục đích như truyền đạt các quyết định quản lý,hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các quyết định đó, phản ánh tìnhhình lên cấp trên, liên hệ, trao đổi với các cơ quan khác hoặc với cán bộ, côngdân về những vấn đề có liên quan Trong đó khâu quan trọng nhất là truyền đạtcác quyết định quản lý như đề ra các chủ trương, chính sách, xây dựng chươngtrình, kế lioạcli Các thông tin này cần văn bản hóa để có thể truyền đạt đượcmột cách đầy đủ và chuẩn xác đến các cơ quan, đơn vị hoặc các cá nhân có tráchnhiệm thi hành, giúp cho các đối tượng đó thực hiện nội dung các quyết địnhđược thuận lợi và đạt hiệu quả cao Mặt khác, các quyết định quản lý được vănbản hóa là cơ sở để chủ thể quản lý tiến hành theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việcthực hiện và xử lý những trường hợp không chấp hành nghiêm chỉnh.
Trong quá trình quản lý, để đề ra được những quyết định quản lý đúng đắnthường phải thu thập và xử lý nhiều nguồn thông tin, trong đó có nguồn thông tin
đã được văn bản hóa có ý nghĩa rất quan trọng Vì vậy, xây dựng và ban hành cácquyết định quản lý là một trong những công việc chủ yếu của hoạt động quản lý.Hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ công tác của một cơ quan, một ngành hayrộng hơn là của bộ máy nhà nước một phần rất lớn phụ thuộc vào sự đúng đắn vàkịp thời của các quyết định quản lý mà chủ yếu được truyền đạt bằng văn bản.Truyền đạt các quyết định quản lý bằng văn bản là hình thức tối ưu nhưngkhông phải là duy nhất Nếu sử dụng một cách tùy tiện, thiếu cân nhắc hình thứctruyền đạt này có thể dẫn đến lạm phát công văn, giấy tờ và nảy sinh tệ quan liêutrong các cơ quan
1.3 Phân loại hệ thống văn bản quản lý
Căn cứ vào Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ vềcông tác văn thư và Nghị định 09/2010/NĐ-CP ngày 08/2/2010 sửa đổi, bổ sungmột số điều của Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ thì
hệ thống văn bản quản lý bao gồm những loại sau:
Trang 211.3.1 Văn bản quy phạm pháp luật
Trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước, văn bản quy phạm pháp luật có vịtrí quan trọng, kiến tạo nên hệ thống pháp luật Việt Nam
Theo Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy
định: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này.
Văn bản quy phạm pháp luật có vai trò rất lớn trong hoạt động quản lý nhànước, quản lý xã hội Nó thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, làmhành lang pháp lý của hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội Giữ vai tròđiều chỉnh các quan hệ xã hội, là bộ phận hợp thành quan trọng nhất của hệ thốngvăn bản quản lý nhà nước
Văn bản hành chính là những quyết định quản lý thành văn mang tính ápdụng pháp luật hoặc chứa những thông tin điều hành được cơ quan hành chínhhoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền ban hành nhằm giải quyết các công việc cụthể, xác định các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác địnhnhững biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm pháp luật, được banhành trên cơ sở quyết định chung và quyết định quy phạm của cơ quan cấp trênhoặc của chính cơ quan ban hành
Văn bản hành chính là phương tiện không thể thiếu trong hoạt động tácnghiệp của cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội Mặc dù tầm quantrọng thấp hơn văn bản quy phạm pháp luật nhưng văn bản hành chính là cơ sởthực tiễn cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, sửa đổi hoặc banhành văn bản QPPL Văn bản hành chính được chia làm hai loại: Văn bản hànhchính cá biệt và văn bản hành chính thông thường
Văn bản hành chính cá biệt là những những quyết định quản lý thành văn
mang tính áp dụng pháp luật, do cơ quan, công chức nhà nước có thẩm quền ban
Trang 22hành theo trình tự, thủ tục nhất định nhằm giải quyết công việc cụ thể, xác địnhcác quyền và nghĩa vụ cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biệnpháp trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm pháp luật, do đó mang tính ápdụng pháp luật Được ban hành trên cơ sở quyết định chung và quyết định quyphạm của cơ quan cấp trên hoặc của chính cơ quan ban hành quyết định hànhchính cá biệt đó Trong một số trường hợp, nó cũng được ban hành trên cơ sở vănbản cá biệt của cấp trên.
Hình thức văn bản hành chính cá biệt là: quyết định (cá biệt), chỉ thị (cábiệt), nghị quyết (cá biệt)
Quyết định (cá biệt) là văn bản được ban hành để giải quyết các công việc
mang tính chất sự vụ đối với đối tượng cụ thể Bao gồm các quyết định về nhânsự: quyết định tuyển dụng, quyết định nâng lương, quyết định bổ nhiệm, miễnnhiệm, khen thưởng, kỉ luật, quyết định về ban hành văn bản mới, ban hành quychế trong nội bộ cơ quan
Nghị quyết (cá biệt) là một trong những hình thức văn bản do một tập thể,
chủ thể ban hành nhằm đưa ra quyết định quản lý cá biệt đối với cấp dưới
Chỉ thị (cá biệt ) là văn bản đưa ra các mệnh lệnh để giao nhiệm vụ cho cấp
dưới trong việc thực hiện pháp luật và các nhiệm vụ cụ thể phát sinh trong quản
lý nhà nước Chỉ thị thường dùng để đôn đốc nhắc nhở cấp dưới thực hiện nhữngquyết định, chính sách đã ban hành
Văn bản hành chính thông thường là những văn bản có nội duung chứa
đựng các thông tin mang tính chất điều hành hành chính trong các cơ quan nhànước như triển khai, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, theo dõi, phản ánh tình hình,đánh giá kết quả các hoạt động trong cơ quan nhà nước hoặc trao đổi, giao dịch,liên kết hoạt động giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân Văn bản hành chínhthông thường không đưa ra các quyết định quản lý, do đó không được dùng thaythế cho văn bản quy QPPL hoặc văn bản cá biệt Đây là hệ thống văn bản rất đadạng và phức tạp, bao gồm 2 loại chính:
Trang 23- Văn bản có tên loại: Quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn,chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợpđồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ, bản cam kết, bản thoả thuận, giấy chứngnhận, giấy uỷ quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường,giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển, thư công.
- Văn bản không có tên loại: công văn hành chính
Là loại văn bản do cơ quan Nhà nước quản lý một lĩnh vực nhất định, đượcnhà nước ủy quyền ban hành, dùng để quản lý một lĩnh vực cụ thể Loại văn bảnnày mang tính chất đặc thù và thuộc thẩm quyền ban hành riêng của từng cơ quannhà nước theo quy định của pháp luật
Những loại văn bản này liên quan tới nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhaunhư: y tế, công an, quân đội, tài chính, giáo dục
1.4 Những yêu cầu về công tác soạn thảo và ban hành văn bản
1.4.1 Yêu cầu về thẩm quyền
Văn bản ban hành phải theo đúng thẩm quyền, nội dung văn bản khôngđược trái với hiến pháp, pháp luật và các quy định của cấp trên Thẩm quyền banhành văn bản QLNN được xem xét trên hai mặt: thẩm quyền về hình thức vàthẩm quyền về nội dung
Thẩm quyền về hình thức có nghĩa là chủ thể quản lý chỉ được phép sử dụngnhững thể loại văn bản mà luật pháp đã quy định cho mình trong việc ban hànhvăn bản
Thẩm quyền về nội dung: Chủ thể quản lý chỉ được phép ban hành văn bản
để giải quyết những vấn đề, sự việc mà theo quy định chủ thể đó có thẩm quyền
giải quyết Nội dung văn bản phải phù hợp với thẩm quyền ban hành văn bản.
Văn bản, xét trên giá trị sử dụng của nó phải đáp ứng các yêu cầu về nộidung như sau:
Trang 24Thứ nhất, nội dung văn bản phải đảm bảo có tính mục đích Văn bản banhành phải có chủ đề, có phạm vi điều chỉnh và mức độ điều chỉnh Tính mục đích
là yêu cầu đầu tiên mà mỗi văn bản cần có được
Thứ hai, nội dung văn bản phải có tính khoa học Tính khoa học của văn bảnđược thể hiện đầu tiên ở bố cục trình bày văn bản, văn bản cần phải được trìnhbày một cách rõ rang, mạch lạc, bố cục chặt chẽ, việc sắp xếp các thông tin phải
có tính trật tự, đảm bảo tính logic giữa các nội dung trong văn bản
Thứ ba, văn bản khi ban hành phải đảm bảo được tính phổ thông, đại chúng.Tức là văn bản soạn thảo phải có nội dung đơn giản, ngắn gọn và dễ hiểu
Thứ tư, nội dung văn bản cần đảm bảo tính thực hiện sao cho đơn giản vàchính xác nhất
Thứ năm, nội dung văn bản cần đảm bảo tính hệ thống và phù hợp với nộidung cả từng loại văn bản Văn bản phải đảm bảo tính hệ thống của cơ quan, tổchức ban hành Văn bản đồng thời phải có tính hệ thống với nội dung mà văn bản
đó chuyển tải
Hiện nay, việc quy định các yếu tố thể thức cho văn bản và cách trình bàycác yếu tố thể thức đã được quy định tại Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày19/01/2011 của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ về việc hướng dẫn thể thức và kĩ thuậttrình bày văn bản hành chính; Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 củaChính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày08/4/2004 của Chính phủ về công tác Văn thư và Nghị định số 34/2016/NĐ-CPngày 14/5/2016 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thihành luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Thể thức được hiểu là toàn bộ các bộ phận cấu thành văn bản do Nhà nướcquy định, được sắp xếp, bố trí một cách khoa học theo đúng từng thể loại vănbản, nhằm đảm bảo cho văn bản có hiệu lực pháp lý và sử dụng thuận lợi trongcác cơ quan, đơn vị Kỹ thuật trình bày văn bản bao gồm các nội dung sau:
Trang 25- Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản;
- Số, ký hiệu của văn bản;
- Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản;
- Tên loại và trích yếu nội dung của văn bản;
- Nội dung văn bản;
- Chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền;
- Dấu của cơ quan, tổ chức;
- Nơi nhận;
* 7 yếu tố thể thức bổ sung
- Dấu chỉ mức độ khẩn
- Dấu chỉ mức độ mật
- Dấu chỉ dẫn về phạm vi lưu hành, đối tượng phố biến
- Địa chỉ cơ quan, tổ chức; địa chỉ thư điện tử; số điện thoại; số Telex, sốFax; địa chỉ trang thông tin điện tử; biểu tượng logo của cơ quan
- Ký hiệu người đánh máy và số lượng bản phát hành;
- Chỉ dẫn phụ lục kèm theo;
- Đánh số trang
Những quy định trên về thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản được áp dụngvới văn bản soạn thảo trên máy vi tính và in ra giấy; văn bản được soạn thảo bằng
Trang 26các phương pháp hay phương tiện kỹ thuật khác hoặc văn bản làm trên giấy mẫu
in sẵn Không áp dụng đối với văn bản được in thành sách, in trên báo, tạp chí và
các loại ấn phẩm khác.
Văn bản quản lý là công cụ để truyền đạt chủ trương, chính sách luật pháp
và các thông tin cần thiết của Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức khác Vìvậy, ngôn ngữ dùng để viết loại văn bản này là ngôn ngữ hành chính Ngôn ngữdùng trong văn bản thể hiện chức năng giao tiếp và chức năng thể hiện ý chí củanhà quản lý bắt buộc các khách thể quản lý phải thực hiện và chấp hành Ngônngữ dùng trong văn bản phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất, tính chính xác, mạch lạc
Văn bản quản lý là văn bản chứa đựng thông tin hết sức quan trọng liênquan đến sự tồn vong, thành, bại của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức do vậy tínhchính xác và mạch lạc là yêu cầu đầu tiên khi soạn thảo loại văn bản này Tínhchính xác trong cách dùng từ ngữ phải đi đôi với sự mạch lạc trong cách diễn đạt
và kết cấu các phần, đoạn, ý của văn bản nhằm đảm bảo cho nội dung văn bản chỉđược hiểu theo một ý duy nhất, không gây sự hiểu nhầm
Yêu cầu về sự chính xác, mạch lạc trong ngôn ngữ và văn phong hành chínhcao hơn ngôn ngữ và văn phong khoa học Nếu từ ngữ trong văn bản quản lý nhànước không chính xác, diễn đạt thiếu mạch lạc sẽ dẫn đến những cách hiểu, giảithích khác nhau và sự thực hiện không thống nhất, kẻ xấu có thể tìm cách xuyêntạc, lợi dụng và gây ra những hậu quả nghiêm trọng Làm ảnh hưởng đến quátrình quản lý nhà nước
Thứ hai, tính khách quan, nghiêm túc
Văn bản quản lý nhà nước phải trình bày thông tin một cách khách quan,không thiên vị điều này xuất phát từ việc văn bản QLNN là tiếng nói của cơ quancông quyền chứ không phải của cá nhân, dù rằng văn bản có thể được giao chomột cá nhân hay một nhóm cá nhân sọan thảo
Trang 27Người soạn thảo văn bản không được tự ý đưa những quan điểm riêng củamình vào văn bản, mà phải nhân danh cơ quan trình bày đúng ý chí của Nhànước, ý tưởng của tập thể hay của lãnh đạo Do đó, ngôn ngữ phải khách quan.Tính nghiêm túc vốn là đặc điểm của ngôn ngữ hành chính Vì nó mang tínhxác nhân, khẳng định, mệnh lệnh yêu cầu phải chấp hành thực hiện Chính vì vậynhiều khi làm cho văn bản quản lý nhà nước trở nên khô khan Để đảm bảo tínhnghiêm túc cho văn bản ban hành thì phải tránh dùng những từ ngữ mang sắc tháibiểu cảm, tránh dùng những đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít, thông tin trìnhbày trong văn bản phải đúng với hiện thực khách quan, không bị hư cấu.
Tính nghiêm túc, khách quan trong văn bản quản lý nhà nước gắn với chuẩnmực của pháp luật, khiến cho văn bản được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất
và đạt hiệu quả cao
Thứ ba, tính khuôn mẫu
Văn bản cần được trình bày theo thể thức, khuôn mẫu do pháp luật quyđịnh, tính khuôn mẫu đảm bảo cho sự thống nhất, tính khoa học của văn bản.Tính khuôn mẫu của văn bản hành chính thể hiện ở việc thường dùng lặp đilặp lại những câu, những từ, những cấu trúc có sẵn mà không bị coi là lỗi lặp từ,lặp câu Tính khuôn mẫu đảm bảo cho sự thống nhất, kỉ cương, chuẩn mực củavăn bản, giúp tăng năng suất và chất lượng soạn thảo văn bản, tránh được nhữngsai sót trong quá trình soạn thảo văn bản Và ở một mức độ nhất định, tính khuônmẫu cũng đem lại sự cân đối, thẩm mĩ cho văn bản
Thứ tư, tính trang trọng, lịch sự
Lời nói trong văn bản QLNN là lời nói của cơ quan có tư cách pháp nhân,
có hiệu lực thi hành đối với đối tượng có liên quan, thể hiện mối quan hệ bìnhđẳng hoặc quan hệ trên dưới đối với người nhận Do đó, văn bản phải đảm bảotính trang trọng, lịch sự
Tính trang trọng, lịch sự trong sử dụng ngôn ngữ còn thể hiện sự đànghoàng, nghiêm túc, không khoa trương, khách sáo của chủ thể ban hành với thái
Trang 28độ tôn trọng đối với khách thể điều đó khiến người nhận văn bản có thái độnghiêm túc trong việc chấp hành, thực thi văn bản, đồng thời tạo sự thiện cảm đốivới người đọc.
Để đảm bảo tính trang trọng, lịch sự khi sử dụng ngôn ngữ trong văn bảnQLNN thì người soạn thảo cần phải hạn chế sử dụng những từ ngữ khách sáo,khoa trương Cần diễn đạt hợp lý trong các trường hợp xưng hô, kiến nghị, đềnghị, phản ánh tình hình, truyên đạt mệnh lệnh, đôn đốc nhắc nhở, cảm ơn
Thứ năm, tính phổ thông, đại chúng
Đối tượng tiếp tượng tiếp nhận của văn bản QLNN là nhiều tầng lớp nhândân trong cả nước Vì vậy, ngôn ngữ biểu đạt phải mang tính phổ thông, đạichúng, dễ hiểu, dễ tiếp thu Tránh hiện tượng sử dụng ngôn ngữ suồng sã, khôngdùng khẩu ngữ, tiếng lóng, tiếng địa phương, các từ ngữ nước ngoài chưa đượcViệt hóa ở phạm vi toàn quốc
Quy trình soạn thảo và ban hành văn bản là khái niệm để chỉ trình tự cáccông việc cần tiến hành trong quá trình soạn thảo một văn bản để ban hành
Bước 1: Chuẩn bị soạn thảo
Đây là bước quan trọng để giúp cho việc soạn thảo văn bản được thuận lợi
và chất lượng gồm các nội dung sau đây:
- Phân công soạn thảo:
Căn cứ tính chất, nội dung của văn bản cần soạn thảo, người đứng đầu cơquan, tổ chức giao cho đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo Đốivới những văn bản có nội dung quan trọng, trong trường hợp cần thiết hoặc phápluật quy định khi soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật thì phải thành lập Bansoạn thảo (hoặc Tổ soạn thảo)
- Đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo:
+ Xác định mục đích, tính chất, nội dung của vấn đề cần ra văn bản Trong
đó cần xác định văn bản ban hành nhằm mục đích? Có mấy mục đích? tính chất
Trang 29của văn bản? giới hạn của văn bản (nội dung, đối tượng, phạm vi điều chỉnh)?+ Xác định tên loại và trích yếu nội dung của văn bản: Việc xác định hìnhthức văn bản sử dụng cần căn cứ vào mục đích, tính chất và nội dung cần văn bảnhóa; căn cứ vào chức năng của từng hình thức văn bản và thẩm quyền ban hànhcủa cơ quan để lựa chọn hình thức văn bản phù hợp Trích yếu nội dung phảingắn gọn và phản ánh được chủ đề của văn bản.
+ Thu thập thông tin, phân tích, lựa chọn các thông tin cần thiết có liên quantới nội dung của vấn đề cần văn bản hoá Thông tin cần thu thập là các thông tinpháp lý và thông tin thực tế từ các nguồn khác nhau với nhiều phương pháp khácnhau Thông tin cần được thu thập và đầy đủ, xử lí chính xác
+ Xây dựng đề cương: Xây dựng đề cương văn bản nhằm giúp cho việc soạnthảo văn bản thuận lợi Đề cương được trình bày sơ lược hoặc chi tiết về dự địnhnhững điểm cốt yếu trong nội dung và bố cục của văn bản Những văn bản có nộidung quan trọng có thể tổ chức hội thảo thông qua đề cương
Bước 2: Xây dựng dự thảo văn bản phù hợp với hình thức, thể thức văn bản theo quy định của nhà nước.
- Viết bản thảo:
Trên cơ sở đề cương đã xây dựng, cá nhân hoặc đơn vị chủ trì tiến hànhsoạn thảo văn bản phù hợp với hình thức, thể thức, nội dung của văn bản đã xácđịnh Ở khâu này phải sử dụng các câu, từ, cụm từ để diễn đạt các ý trong đềcương nhưng đồng thời vẫn đảm bảo cho văn bản đó tạo thành một thể thống nhất
và trọn vẹn về hình thức cũng như nội dung
Sau khi soạn thảo xong phải kiểm tra về chính tả, kĩ thuật trình bày, mụcđích đạt được của văn bản
- Xin ý kiến góp ý cho bản thảo:
Văn bản có tính chất quan trọng, nội dung phức tạp thì có thể đề xuất vớingười đứng đầu cơ quan, tổ chức việc tham khảo ý kiến của các cơ quan, tổ chứchoặc đơn vị, cá nhân có liên quan; nghiên cứu tiếp thu ý kiến để hoàn chỉnh bản
Trang 30- Tổng hợp ý kiến góp ý (nếu có) và hoàn chỉnh dự thảo
Bước 3: Duyệt văn bản
- Lãnh đạo phụ trách trực tiếp (trưởng hoặc phó) duyệt nội dung bản thảo
- Cán bộ Văn phòng phụ trách công tác văn thư, lưu trữ ở cấp xã duyệt thểthức và thủ tục pháp lí
- Lãnh đạo cơ quan (thủ trưởng hoặc phó thủ trưởng phụ trách lĩnh vực)duyệt và ký ban hành Nếu là văn bản có tính chất quan trọng, nội dung phức tạp
có nhiều vấn đề cần trình kèm theo Hồ sơ trình ký
Đối với những văn bản thuộc thẩm quyền của tập thể mà việc thông quaphải do tập thể thảo luận và quyết định theo đa số) thì việc thông qua do tập thểquyết định
Bước 4: Hoàn thiện thể thức và làm các thủ tục ban hành
- Hoàn chỉnh dự thảo lần cuối, đánh máy (hoặc in), soát lại văn bản và trình
ký chính thức
- Sau khi có chữ ký của người có thẩm quyền, cán bộ văn thư hoàn thiện thểthức và làm các thủ tục ban hành:
+ Văn thư ghi số, ngày, tháng, năm ban hành văn bản;
+ Nhân bản theo số lượng nơi gửi, nơi nhận;
+ Đóng dấu cơ quan;
+ Làm các thủ tục ban hành;
+ Lưu văn bản theo quy định hiện hành (01 bản lưu ở Văn thư, 01 bản lưutại đơn vị soạn thảo)
Tiểu kết: Trong Chương I chúng tôi đã đưa ra được cơ sở lý luận về công
tác soạn thảo và ban hành văn bản chung nhất cho toàn bộ nội dung của khóaluận Cụ thể, tác giả đã trình bày khái quát về khái niệm, chức năng, phân loại hệthống văn bản đến yêu cầu về công tác soạn thảo và ban hành văn bản
CHƯƠNG II TRẠNG CÔNG TÁC SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH
Trang 31VĂN BẢN TẠI UBND HUYỆN KỲ ANH 2.1 Khái quát về UBND huyện Kỳ Anh
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của UBND huyện Kỳ Anh
- Vị trí địa lý: Huyện Kỳ Anh nằm ở phía Đông Nam tỉnh Hà Tĩnh, vàokhoảng 17,5 - 18,1 độ vĩ Bắc; 106,28 độ Kinh Đông Phía Bắc và Tây Bắc giáphuyện Cẩm Xuyên, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Đông giápBiển Đông; Có bờ biển dài 63km, Quốc lộ 1A chạy dọc huyện có chiều dài 56
Km, Quốc lộ 12 nối với cửa khẩu Cha Lo Diện tích tự nhiên: 105.429 ha, trong
đó 74% diện tích là đồi núi Dân số 172.738 người, lao động 88.840 người
Kỳ Anh có 32 xã và 1 thị trấn, trong đó có 9 xã ở phía nam với tổng diệntích 22.781ha nằm trong khu kinh tế Vũng áng (theo Quyết định 72 - QĐ/TTgngày 03/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ)
- Dân cư: Tổng dân số: 174.000 người, được phân bố đều ở các vùng trênđịa bàn huyện Mật độ dân số: 161/km2
- Về giáo dục: Kỳ Anh có 34 trường mầm non có 8 trường đạt chuẩn quốcgia; 34 trường Tiểu học 100% đạt chuẩn quốc gia; 27 trường THCS với 5 trườngđạt chuẩn quốc gia, trường THCS Kỳ Tân được phong tặng danh hiệu Anh hùnglao động trong thời kỳ đổi mới; Có 5 trường THPT trong đó có 1 trường đạtchuẩn quốc gia
- Về y tế: Có 33 trạm y tế của các xã, phường trong đó có 18 trạm đạt chuẩnquốc gia
Thời nhà Hậu Lê, Kỳ Anh là miền đất phía nam của huyện Kỳ Hoa (gồmhuyện Cẩm Xuyên và Kỳ Anh hiện nay) thuộc phủ Hà Hoa, xứ Nghệ An Năm
1863, vua Minh Mạng nhà Nguyễn chia huyện Kỳ Hoa lập thành 2 huyện, KỳAnh và Cẩm Xuyên thuộc tĩnh Hà Tĩnh
Vượt qua những năm tháng đói nghèo Kỳ Anh đang vươn mình ra biển lớn
và phát triển Mảnh đất được ví như chảo lửa, túi mưa đang từng giờ thay da đổithịt với những tiềm năng, lợi thế về biển, đất đai, tài nguyên khoáng sản và nguồn
Trang 32lao động dồi dào Kỳ Anh nay thực sự đang đứng trước vận hội lớn trên conđường xây dựng và phát triển.
Trải qua hơn 175 năm hình thành xây dựng và phát triển Kỳ Anh đã khôngngừng lớn mạnh, nhất là từ khi Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đấtnước.Đến nay Kỳ Anh đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vựckinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, đời sống của nhân dânkhông ngừng được nâng cao Kỳ Anh đang đứng trước những vận hội lớn trêncon đường hội nhập và phát triển Khu kinh tế Vũng áng đã và đang trở thành địachỉ hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Đến nay đã có 135 dự án củacác doanh nghiệp, tập doàn kinh tế trong và ngoài nước đầu tư trên địa bàn, vớitổng số vốn đăng kí trên 25 tỷ USD Nhiều dự án đã đi vào hoạt động và phát huyhiệu quả như: Cầu cảng Vũng Áng số 1, số 2, tổng kho khí hóa lỏng Bắc Trung
Bộ, nhà máy sản xuất- xuất khẩu dăm gỗ Việt Nhật, khu công nghiệp I VũngAng
Kỳ Anh có một nền văn hóa lâu đời gắn liền với những thăng trầm của lịch
sử dân tộc, được thiên nhiên ưu đãi cho những danh thắng tuyệt đẹp như ĐèoNgang, bãi biển Kỳ Xuân, bãi biển Kỳ Ninh.Nhiều di tích lịch sử văn hóa đượcxếp hạng, có hệ thống khách sạn, nhà hàng đáp ứng nhu cầu của du khách đếntham quan và làm việc Hệ thống kết cấu hạ tầng đang từng bước được hoàn thiệnđáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninhcũng như phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân
Dẫu phía trước còn nhiều khó khăn thách thức nhưng Đảng bộ và nhân dânHuyện Kỳ Anh nguyện đoàn kết một lòng nỗ lực vươn lên, phấn đấu xây dựngquê hương sớm trở thành trung tâm công nghiệp và đô thị phía nam Hà Tĩnh
2.1.2.1 Chức năng
UBND huyện Kỳ Anh là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương cóchức năng quản lý nhà nước chung ở địa phương trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế,
Trang 33văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh.
Chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản khác của cấptrên nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương, đường lối, biện pháp để phát triển kinh
tế - xã hội và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn Huyện
2.1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn
UBND Huyện là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương chịu sự giámsát trực tiếp của Huyện Uỷ, Thường Trực HĐND Huyện Kỳ Anh Nhiệm vụ củaUBND Huyện cụ thể trong các lĩnh vực như sau:
- Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương, hướng dẫn kiểm tra UBND xãthị trấn về thực hiện ngân sách đại phương theo quy định của pháp luật;
- Phê chuẩn kế hoạch kinh tế xã hội của xã, thị trấn
- Huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các côngtrình kết cấu hạ tầng
> Trong lĩnh vực công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủy lợi và đất đai:
- Xây dựng, trình HĐND cùng cấp thông qua các chương trình khuyến khíchphát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp ở địa phương và tổ chức thựchiện các chương trình đó;
- Chỉ đạo UBND huyện thực hiện các biện pháp thực hiện chuyển dịch cơcấu kinh tế phát triển nông nghiệp bảo vệ rừng, trồng rừng và khai thác lâm sản
Trang 34phát triển nghành nghề đánh bắt nuôi trồng thủy sản và chế biến thủy sản;
- Thực hiện giao đất cho thuê đất thu hồi đất với cá nhân và hộ gia đình giảiquyết các tranh chấp đất đai thanh tra đất đai theo quy định của pháp luật;
- Xét duyệt quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai của UBND xã, thị trấn;
- Xây dựng quy hoạch thủy lợi tổ chức bảo vệ đê điều, các công trình thủylợi vừa và nhỏ Quản lý mạng lưới thủy nông trên đại bàn theo quy định của phápluật
> Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
- Tham gia với HĐND huyện trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạchphát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện;
- Xây dựng và phát triển các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dịch
vụ ở các xã, thị trấn;
- Tổ chức thực hiện xây dựng và phát triển các làng nghề truyền thống sảnxuất sản phẩm có giá trị tiêu dùng và xuất khẩu, phát triển cơ sở chế biến nônglâm thủy sản và các cơ sở khác theo sự chỉ đạo của HĐND huyện
> Trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải :
- Tổ chức lập, trình duyệt, xét duyệt theo thẩm quyền quy hoạch thị trấn,xây dựng điểm dân cư nông thôn trên địa bàn huyện; quản lý việc tực hiện cácquy hoạch xây dựng đã được duyệt;
- Quản lý khai thác sử dụng các công trình giao thông và kết cấu hạ tầng cơ
sở theo sự phân cấp;
- Quản lý việc xây dựng cấp giấy phép xây dựng và kiểm tra việc thực hiệnpháp luật về xây dựng; tổ chức thực hiện các chính sách về nhà ở và quỹ nhàthuộc sở hữu trên địa bàn;
- Quản lý việc khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng theo phâncông của HĐND huyện
- Tổ chức thực hiện xây dựng và phát triển các làng nghề truyền thống sản
Trang 35xuất sản phẩm có giá trị tiêu dùng và xuất khẩu, phát triển cơ sở chế biến nônglâm thủy sản và các cơ sở khác theo sự chỉ đạo của HĐND huyện.
> Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ và du lịch:
- Xây dựng, phát triển mạng lưới thương mại, dịch vụ du lịch và kiểm traviệc thực hiện quy định của nhà nước về hoạt động thương mại, dịch vụ và dulịch trên địa bàn huyện;
- Kiểm tra việc thực hiện các quy tắc về thực hiện các quy tắc về an toàn và
vệ sinh trong hoạt động thương mại dịch vụ du lịch trên địa bàn;
- Kiểm tra việc chấp hành quy định của nhà nước về việc hoạt động thươngmại dịch vụ, du lịch trên địa bàn
> Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin và thể dục thể thao:
- Thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện, phối hợp với UBND các xã quản lý trường Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trên địa bàn huyện.
- Tổ chức thực hiện chương trình y tế cơ sở, dân số - kế hoạch hoá gia đình, phòng chống dịch bệnh.
- Xây dựng phong trào và tổ chức các hoạt động văn hoá nghệ thuật, thể dục thể thao, các lễ hội cổ truyền, bảo vệ phát huy giá trị di tích lịch sử danh lam thắng cảnh.
- Thực hiện chính sách, chế độ đối với thương bệnh binh, người có công với cách mạng.
- Tổ chức hoạt động từ thiên, nhân đạo.
> Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, tài nguyên và môi trường:
- Thực hiện các biện pháp ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phục vụsản xuất và đời sống nhân dân ở địa phương;
- Tổ chức thực hiện bảo vệ mội trường phòng chống khắc phục hậu quảthiên tai;
Trang 36- Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường vàchất lượng sản phẩm và hành hóa trên địa bàn huyện, ngăn chặn việc sản xuất vàthu hàng giả, hàng kém chất lượng tại đia phương;
> Trong lĩnh vực quốc phòng an ninh trật tự an toàn xã hội:
- Tuyên truyền giáo dục xây dựng nền quốc phòng toàn dân;
- Thực hiện công tác quân sự và tuyển quân theo kế hoạch;
- Tuyên truyền giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, Luật
và các văn bản của cấp trên;
- Quản lý công chức biên chế, lao động và tiền lương, đào tạo công chứctheo sự phân cấp của cấp trên;
- Quản lý địa giới hành chính của UBND Huyện, giải quyết địa giới hànhchính giữa các xã, thị trấn
> Trong lĩnh vực thực hiện chính sách dân tộc tôn giáo:
- Tuyên truyền giáo dục, phổ biến chính sách pháp luật về dân tộc và tôngiáo;
- Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao về các chương trình kế hoạch
dự án phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số,vùng sâu vùng xa vùng khó khăn đặc biệt;
- Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các chính sách dân tộc chính sách tôngiáo, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo;
- Quyết định các biện pháp ngăn chặn hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng,tôn giáo hoạc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để làm trái với những quy định củapháp luật và chính sách của nhà nước theo quy định của pháp luật
> Trong lĩnh vực thi hành pháp luật:
- Chỉ đạo tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật kiểm tra việc chấp hànhHiến Pháp,Luật, các văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyếtcủa của HĐND cùng cấp;
Trang 37- Tổ chức thực hiện và chỉ đạo UBND xã, thị trấn thực hiện các biện phápbảo vệ tài sản của nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội tổ chứckinh tế Bảo vệ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền lợihợp pháp của công dân;
- Chỉ đạo việc thực hiện công tác hộ tịch trên địa bàn;
- Tổ chức, chỉ đạo thực hiện công tác thi hành án theo quy định của phápluật;
- Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện công tác kiểm tra thanh tra nhà nước,tổchức tiếp dân, giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân,hướng dẫn chỉ đạo công tác hòa giải ở xã, thị trấn
> Trong việc xây dựng chính quyền và quản lý địa giới hành chính:
- Tổ chức thực hiện việc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND theoquy định của pháp luật;
- Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quanchuyên môn thuộc UBND cấp mình theo sự hướng dẫn của UBND cấp trên;
- Quản lý hồ sơ, mốc, chỉ giới, bản đồ địa giới hành chính ở địa phươngtrình HĐND cùng cấp thông qua để trình cấp trên xem xét,quyết định
án Formosa)
UBND huyện Kỳ Anh có các phòng, ban, đơn vị sự nghiệp như sau: Khối phòng:
1 Văn phòng HĐND - UBND,
Trang 3810 Phòng Lao động- Thương binh và xã hội,
11 Thanh tra Huyện,
12 Phòng Văn hóa - thông tin,
13 Chi cục thống kê,
14 Văn phòng điều phối NTM
Các đơn vị sự nghiệp thuộc Huyện:
1 Ban quản lý đầu tư xây dựng cơ bản huyện
2 Trung tâm Y tế
3 Đài Truyền thanh - Truyền hình
4 Trung tâm Ứng dụng KHKT&BVCTVN
5 Hội Chữ thập đỏ
- Sơ đồ cơ cấu tổ chức: ( Xem phụ lục 1)
2.2 Thực trạng công tác soạn thảo và ban hành văn bản tại UBND huyện Kỳ Anh
Trong hoạt động của các cơ quan, công tác soạn thảo và ban hành văn bản
có vai trò rất quan trọng UBND huyện Kỳ Anh là cơ quan Hành chính Nhà nước
ở địa phương có chức năng quản lý nhà nước chung ở địa phương trên tất cả cáclĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh Chịu trách nhiệm chấphành Hiến pháp, pháp luật, các quy định khác của cấp trên nhằm đảm bảo thực
Trang 39hiện chủ trương, đường lối, biện pháp để phát triển kinh tế - xã hội và thực hiệncác chính sách khác trên địa bàn Huyện Theo quy định thì UBND huyện Kỳ Anh
có thẩm quyền ban hành các loại văn bản sau:
2.2.1.1 Văn bản quy phạm pháp luật
Về việc ban hành văn bản QPPL của UBND Huyện được quy định tạiKhoản 13, Điều 4 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015.Theo đó, UBNDHuyện có thẩm quyền ban hành Quyết định
- Quyết định: Là hình thức văn bản dùng để quy định, quyết định các chủ
trương, chính sách, chế độ, thể lệ, biện pháp thực hiện các mặt công tác, các vấn
đề về tổ chức cán bộ và các vấn đề khác thuộc chức năng, nhiệm vụ và quyền hạncủa cơ quan
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 28, Luật Tổ chức chính quyền địa phươngQuyết định của UBND huyện Kỳ Anh được ban hành để:
Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh; biện pháp bảođảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi viphạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi đượcphân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự
do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của côngdân trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật;
Quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nướccấp trên phân cấp; quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơquan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địaphương ở huyện;
Trang 40Quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện;Quyết định biện pháp phát triển hệ thống giáo dục mầm non, tiểu học vàtrung học cơ sở; biện pháp phát triển sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục, thểthao; biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh,thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình; biện pháp phát triển việc làm,thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, chính sách bảotrợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo; biện pháp bảo đảm việc thực hiện chính sách dântộc, tôn giáo trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật và các vấn đề vềquản lý nhà nước khác thuộc chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấpmình theo quy định và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan của cơquan nhà nước cấp trên.
2.2.1.2 Văn bản hành chính