Johnson và Roger T.Johnson [27] cho rằng: DVCT thăm dò nhận thưc của dân chúng về những vấn đề diễn văn đặt ra; giúp đỡ người dân trong việc giải quyết những vấn đề chínhtrị họ quan tâm;
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
LẬP LUẬN VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG DIỄN VĂN CHÍNH TRỊ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Chủ nhiệm đề tài: TS Vũ Ngọc Hoa Thành viên tham gia: TS Nguyễn Nghị Thanh
HÀ NỘI, 2013
1
Trang 3MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
DVCT là loại văn bản nghị luận quan trọng, thể hiện quan điểm về vấn
đề chính trị của Đảng phái, tổ chức hoặc cá nhân đại diện cho Đảng phái, tổchức DVCT có tác động rất lớn đến công chúng của một quốc gia và thậm chí
cả khu vực và thế giới Sau nhiều năm nghiên cứu về DVCT nói chung và vaitrò của DVCT trong đời sống xã hội nói riêng, David W Johnson và Roger T.Johnson [27] cho rằng: DVCT thăm dò nhận thưc của dân chúng về những vấn
đề diễn văn đặt ra; giúp đỡ người dân trong việc giải quyết những vấn đề chínhtrị họ quan tâm; khuyến khích sự tham gia của người dân trong diễn tiến chínhtrị và định hướng thái độ của thế hệ trẻ đối với các vấn đề chính trị để họ trởthành những công dân tích cực Tamara Eidelman [32] khi phân tích DVCT củaKhrushchyov đã thừa nhận DVCT có thể gây ấn tượng mạnh mẽ đến hàng triệucon người, có thể làm thay đổi bầu không khí chính trị của Chiến tranh lạnhbằng không khí của sự hòa bình, là sự giải tỏa và hòa hoãn
LL đóng vai trò quan trọng trong văn bản nghị luận nói chung và diễnvăn nói riêng Trong diễn văn, không thể không có LL Nói cách khác, diễn văn
có bản chất LL Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Nói tới LL là thường là nói tới suyluận theo diễn dịch và ta thường nghĩ ngay đến logic, đến lí luận, đến diễnngôn nghị luận” [5, tr.165] Nếu LL tạo nên tính thuyết phục về mặt lí trí củadiễn văn thì BPTT tạo nên những dấu ấn mạnh mẽ về cảm xúc của loại văn bản
này Bởi vì, như cách nói của William Saffire trong lời giới thiệu cuốn Những
bài diễn văn nổi tiếng thế giới: “Đừng nên sốc trước tính chủ quan: hùng biện
là một nghệ thuật, không phải là khoa học, một nhà tu từ nổi tiếng có thể chọnnắm bắt, tấn công, truyền cảm hứng, kích thích hay làm cho thích thú” [22, tr.9]
Chính bởi sức ảnh hưởng lớn của DVCT đối với quần chúng nên DVCT
đã được các nghiên cứu quan tâm thậm chí trên thế giới xuất hiện hội củanhững người phân tích diễn văn Nhưng những công trình, tài liệu phân tíchdiễn văn chủ yếu nhìn nhận ở góc độ nội dung (quan điểm về vấn đề chính trị)hoặc nghệ thuật hùng biện; một số bài phân tích về giá trị nội dung và nghệ
Trang 4thuật của một bài diễn văn cụ thể Chưa có công trình nào nghiên cứu ở ViệtNam về kiểu loại DVCT với cách tiếp cận từ bình diện ngữ dụng học mà cụ thể
là từ lí thuyết LL Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn làm rõ đặcđiểm của LL và BPTT trong DVCT, muốn lí giải sức hấp dẫn của các DVCTnổi tiếng của Việt Nam và trên thế giới
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
1.Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu khái quát về diễn văn nóichung và LL, BPTT trong diễn văn nói riêng Có một số bài viết nghiên cứu về
LL trong bài diễn văn nổi tiếng của Việt Nam Lập luận trong Tuyên ngôn độc lập, nghiên cứu về giá trị nội dung và hình thức của Tuyên ngôn độc lập.
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến - tiếng gọi của non sông [15] đã nêu bật giátrị lịch sử của diễn văn Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Lời kêu gọi toànquốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi của non sông đấtnước, là lời hịch cứu quốc, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc,truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân ViệtNam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩaanh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn,
với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Trong Cơ sở lập luận trong Tuyên ngôn độc lập, Trần Văn Sáng [17] chỉ
ra các phương pháp LL được sử dụng trong Tuyên ngôn độc lập: “Đọc toàn văn
bản “Tuyên ngôn Độc lập”, chúng ta nhận thấy phương pháp LL được Bác sử
dụng trước hết, và quan trọng nhất, là LL bằng phương thức so sánh, so sánhtương đồng và so sánh tương phản những luận cứ, luận điểm trực tiếp liên quanđến vấn đề muốn nói.” Bên cạnh đó, tác giả cũng khẳng định tính thuyết phụccủa văn bản này bởi nó hội tụ đủ 4 yếu tố là: cơ hội (thời cơ), lí lẽ, biện phápbiểu cảm và thái độ của người nghe:
a) Cơ hội (thời cơ nói): Khi Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” thì ở
Trang 5miền Nam, thực dân Pháp nấp sau quân đội Anh (thay mặt quân ĐồngMinh vào giải giáp quân đội Nhật) đang tiến vào Đông Dương, còn ởphía Bắc thì bọn Tàu Tưởng, tay sai của đế quốc Mĩ, đã trực sẵn ở biêngiới Đây là thời điểm lịch sử quan trọng để Bác Hồ viết cho đồng bào cảnước và nhân dân thế giới nhằm khẳng định nền Độc lập của nước nhà.b) Lí lẽ (các luận cứ): Để khẳng định quyền Độc lập dân tộc của nước nhà,
và lên án tội ác của quân xâm lược, bản “Tuyên ngôn Độc lập” đã dùng
đến rất nhiều luận cứ, luận chứng (các lí lẽ) hết sức thuyết phục:
- Nội dung Bản “Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ” là bất hủ.
- Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm
1789 “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”
- “Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”
- “Chúng thi hành những luật pháp dã man, ”
- “Chúng lập nhà tù nhiều hơn trường học, ”
- “ trong 5 năm chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật ”
- “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt từ tay Nhật chứ không phải từ tayPháp” v.v
c) Tính biểu cảm của ngôn ngữ: Bác Hồ viết “Tuyên ngôn Độc lập” với
giọng văn chính luận hào hùng, LL sắc sảo, chặt chẽ, ngắn gọn, chắcchắn, dễ hiểu, chính xác và giàu cảm xúc Điều này được thể hiện rõtrong văn bản qua: giọng điệu vừa khéo léo vừa kiên quyết, lựa chọn từngữ chính xác, ngắn gọn, súc tích nhưng hiệu quả Khi nói về mình thì:
“Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng”, “Dân ta đã đánh đổcác xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nướcViệt Nam độc lập”, “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháphơn tám mươi năm nay ”
Khi nói về địch thì: 13 lần sử dụng từ chúng với những hành động đượcmiêu tả khác nhau (chúng thi hành dã man, chúng thẳng tay chém giết, chúngtắm các cuộc khởi nghĩa, chúng ràng buộc, chúng cướp, chúng bóc lột, chúngnhẫn tâm, ); còn khi trình bày những bằng chứng hiển nhiên, ngoài nội dung
Trang 6miêu tả là những kết tử, tác tử LL được sử dụng hết sức chặt chẽ: “thế mà”,
“thậm chí”, “tuy vậy”, “bởi thế cho nên”, “vì những lẽ trên”, “suy rộng ra”; đặcbiệt, Người đã sử dụng lặp đi lặp lại đến hai lần hai chữ “sự thật là ”, “sự thậtlà ” như một điệp khúc của bản cáo trạng, lời văn khẳng định đầy rắn rỏi vàđanh thép
d) Thái độ người nghe: Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” cho ai nghe?
Rõ ràng, Bác đọc “Tuyên ngôn Độc lập” cho toàn thể đồng bào cả nước
và nhân dân thế giới Điều này ai cũng biết Nhưng vấn đề nằm ở chỗ,Người viết không chỉ cho đồng bào và thế giới chung chung, vì như thếkhông cần nhiều đến những lời lẽ LL chặt chẽ, đanh thép đến vậy.”
Từ những công trình nghiên cứu trong nước về DVCT nói trên, có thểkhẳng định: Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, nghiên cứu văn học đã sử dụng líthuyết ngôn ngữ học hiện đại mà cụ thể là lí thuyết LL để phân tích một DVCT
cụ thể Chính việc phân tích DVCT theo hướng này đã đem lại sự tiếp cận mới
mẻ, tạo ra những khám phá thú vị
2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Có nhiều công trình nghiên cứu về DVCT trên thế giới Các công trìnhnghiên cứu tập trung làm rõ ba hình thức là diễn văn chính trị trước côngchúng, diễn văn chính trị trước các chính khách và diễn văn chính trị trước các
tổ chức tôn giáo:
Về diễn văn chính trị trước công chúng: Cuốn “The Quick and Easy Way
to Effective Speaking”, tạm dịch là “Những cách thức nhanh chóng và dễ dàng
để thuyết trình lôi cuốn” của tác giả Dale Carnegie Khi luận bàn về cuốn này,
GS Michan Samdel khẳng định: “This is the classic book on public speaking.Everyone should read it- Đây là cuốn sách về thuyết trình viết theo lối cổ điển-mọi người nên đọc nó” [26; tr.3] Trong 14 chương sách, tác giả đã khái quát,phân tích các bài diễn văn chính trị của các chính trị gia trên thế giới của Anh,
Mỹ, Nga trong vòng 40 năm Trong quá trình phân tích, tác giả đã đưa ra yếu tốcăn bản nhất trong diễn văn chính trị chính là “cách ngôn mang tính thuyếtphục”, hay những thành ngữ Ông nói sử dụng thành ngữ có chủ đích là yếu tố
Trang 7căn bản tạo nên tính thành công của diễn văn [26; tr.45].
Cũng trong thời gian này, tác giả Janet E Esposito cho xuất bản cuốn
“In The SpotLight, Overcome Your Fear of Public Speaking and Performing”, tạm dịch là “Trước ống kính, bạn vượt qua sợ hãi khi thuyết trình và diễn thuyết trước công chúng” Tác giả Michael Osborn cho xuất bản cuốn “ Public
Speaking” tài bản lần thứ 8 Cả hai tác giả này đều đưa ra một nguyên tắc khitrình bày diễn văn chính trị là “Speaking: An AudienceCentered Approach -Thuyết trình: khán giả là trung tâm” Cách giải thích này có nghĩa là một bàidiễn văn chính trị đều có một kiểu hành ngôn để hướng tới một chủ đích nhấtđịnh, trong khi người nghe lại hướng đến những chủ đích khác nhau, do đó rấtkhó có diễn văn hoàn hảo Tác giả đã đề xuất cách viết diễn văn chính trị nên
sử dụng những từ trừu tượng kết hợp với ngôn ngữ cử chỉ (body language) đểlại cuốn hút cho người nghe [29]
Về diễn văn chính trị thuyết trình trước các chính khách, năm 2005 tạiHoa Kỳ, tác giả Timothy J Koegel xuất bản tác phẩm “The ExceptionalPresenter: A Proven Formula to Open Up and Own the Room”, tạm dịch là
“Người thuyết trình đặc biệt: Một công thức đã chứng minh để thu hút khán
phòng” Tiêu chuẩn của cuốn sách được viết trên quan điểm "practial and very helpful”- thực hành và rất hữu ích Cuốn sách này được xếp vào “THE NEW YORK TIMES AND WALL STREET JOURNAL BESTSELLER”- Bán chạy nhất
của báo The Newyork Times và Tạp chí Wall Street Tác giả Timothy J Koegel
đã đưa ra một công thức cụ thể khi trình bày ngôn ngữ trong diễn văn chính trịtrước các chính khách đó là “emotional language - ngôn ngữ biểu cảm” để làmhài lòng các chính khách từ các chính đảng khác nhau [34]
Cũng thời gian này, tác giả Dr Terry W Dorsett cho xuất bản tác phẩm “Developing Leadership Teams in the Bivocational Church”, tạm dịch là “Pháttriển đội ngũ lãnh đạo trong Giáo Hội Bivocational” Tác phẩm này đề cập đếndiễn văn chính trị dùng để diễn thuyết cho các tổ chức tôn giáo Tác giả chorằng, thuyết trình diễn văn chính trị trong các tổ chức tôn giáo là khó nhất, bởi
vì các tổ chức giáo hội thường coi Chúa là tất cả Trong diễn văn chính trị loại
Trang 8này, tác giả khuyên sử dụng những “cách ngôn chính trị tôn giáo” [33].
Điểm nổi bật nhất là trong thời gian gần đây các nhà phân tích diễn văntập trung phân tích cụ thể các bài diễn văn của các chính trị gia (như diễn vănnhậm chức của các Tổng thống Mĩ, thông điệp liên bang ) chủ yếu từ góc độnội dung để đánh giá quan điểm chính trị của Đảng phái hoặc của cá nhân đạidiện cho dân tộc Một số bài phân tích diễn văn có đề cập đến phương diệnhình thức của diễn văn nhưng nghiêng về nghệ thuật hùng biện AndrewDlugan [1], diễn giả, chuyên gia huấn luyện kỹ năng nói trước công chúng,thành viên của Hiệp hội diễn giả Toastmaster chỉ ra 5 bài học về nghệ thuậthùng biện từ bài diễn văn nhậm chức (nhiệm kì thứ 1) của B.Obama: (i) Bắtđầu bài diễn thuyết với dàn ý chặt chẽ và đơn giản; (ii) Những câu chữ khéoléo có sức ảnh hưởng lớn; (iii) Quy tắc lặp 3 lần kì diệu; (iv) Những dẫn chứngtương phản; (v) Chủ đề xuyên suốt bài phát biểu
Các nhà bình luận cũng quan tâm đặc biệt đến giá trị nội dung, giá trịcủa các thông điệp từ diễn văn của các chính trị gia Phân tích diễn văn Tôi cómột giấc mơ của M.L.King, (trong Rhetorical Analysis of the “I Have aDream” Speech) Anson L., Chai Wan [23] cho rằng: Bài phát biểu đã có mộttác động lớn vì nó đề cập đến vấn đề phân biệt chủng tộc và kích động sự đồngcảm của khán giả trong khi biểu đạt niềm hy vọng về cuộc sống tốt đẹp củangười Mỹ gốc Phi
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về các bài diễn văn của các chínhtrị gia, còn có những tài liệu hướng dẫn viết diễn văn, đây thực sự là cẩm nangcho những sinh viên đại học hoặc những người đã, đang và sẽ làm nghề viếtdiễn văn Trong giáo trình hướng dẫn viết diễn văn chính trị của Đại họcCambridge của Anh đã đưa ra một lời khuyên khi xây dựng cấu trúc diễn văn
cố gắng kể một câu chuyện, không được chỉ có việc liệt kê danh sách các câuchuyện “Try to tell a story, not just make lists” [25]
Khi luận bàn về lập luận trong diễn văn chính trị, các giáo trình hướngdẫn viết diễn văn ở các trường đại học ở Mỹ và châu Âu hiện nay tập trunghướng sinh viên vào giải quyết các vấn đề sau đây:
Trang 9Về cấu trúc diễn văn, Giáo sư của Đại học Cambridge khuyên sinh viên:Bạn cũng phải suy nghĩ rất kỹ về cấu trúc của bài diễn văn trước khi bạn bắtđầu viết bài luận Thiết lập ra một kế hoạch viết bài, tuy nhiên phải ngắn gọn,trong đó liệt kê các phần trung tâm của những câu hỏi và vấn đề mà bạn sẽ giảiquyết trong một trật tự hợp lý Hãy thử suy nghĩ về những vấn đề lý luận và tưtưởng đầu tiên, và thực hiện một tuyên bố rõ ràng của từng vị trí của bài Hãysuy nghĩ về việc áp dụng các lý thuyết, như các lĩnh vực chính sách đã được ápdụng, và trong bối cảnh toàn cầu cũng như trong nước Hãy tự hỏi mình nhữngcâu hỏi như "đã có điều kiện kinh tế đặc biệt mà sẽ ảnh hưởng đến việc ápdụng một chính sách”? Đã bao giờ có sự mâu thuẫn giữa các chính sách với lýluận được cho là nền tảng cho nó? Đã bao giờ có việc lý luận, chính sách cùngxuất hiện để tạo nên hiệu quả? Đã bao giờ có một sự thay đổi cơ bản trong cáncân quyền lực giữa các nhóm? Đã bao giờ có việc chính sách hay lý thuyết ảnhhưởng khác nhau đối với các nhóm khác nhau? Đã bao giờ có việc chính sáchhay lý thuyết có nội dung kinh tế thực sự, hoặc tốt nhất có thể được hiểu đơngiản là một cử chỉ tượng trưng? Hãy nhớ rằng bạn phải có nhận thức của riêngbạn và các nguồn của bạn phân tích - tất cả các tác giả (bao gồm cả bạn) nói từ
một quan điểm tư tưởng riêng (“You must also think very hard about the structure of an essay and where your argument is going before you start writing the essay Set out an essay plan, however brief, which lists the central parts of the questions and the issues that you are going to address in a logical order Try to think about the theoretical and ideological issues first, and make
a clear statement of each position Think about the application of such theories, the policy areas to which they were applied, and the global/domestic context Ask yourself questions such as ‘were there any special economic conditions that would affect the application of a policy'? Did the policies pursued ever conflict with the theory supposedly underlying it? Did the theory
or policy appear to work? Was there a fundamental shift in the balance of power between groups? Did the policy or theory have differential impact on different groups? Did the policy or theory have real economic content, or can
Trang 10it best be understood simply as a symbolic gesture? Remember that you must
be aware of your own and your sources' frameworks of analysis - every author (including you) speaks from a particular ideological view point,)” [25].
Về cấu trúc của diễn văn, các học giả khuyên rằng: Viết ngắn, giới thiệungắn gọn rõ ràng bao quát tài liệu tham khảo cho các khu vực chính của bạn sẽthảo luận Đoạn thứ hai nên luận bàn về điểm cốt lõi của bài diễn văn (nếu có)hoặc bối cảnh toàn cầu mà bạn sẽ trình bày Khi viết, cố gắng làm cho thảoluận của bạn về một vấn đề xuất hiện ở một đoạn, và không lan rộng khắp cácđoạn khác Cố gắng không lặp lại một điều đã bàn, chỉ cần luận bàn một lần, cóthể được lặp đi lặp lại nếu có liên quan trong kết luận hay tổng hợp của bạn.Đoạn mới không dùng để giới thiệu hoàn toàn chủ đề mà không có cảnh báo
Cố gắng liên kết các đoạn văn của bạn một cách hợp lý để đoạn sau liền mạchvới đoạn trước và đoạn trước dẫn đến đoạn sau Nếu bạn không chắc chắn vềviệc làm thế nào để đi đến luận bàn một điểm, hãy quay trở lại với kế hoạch bàiluận của bạn và xem nó có thể được xen vào lập luận tổng thể mà không làmgián đoạn dòng chảy của bài diễn văn Khi bạn đã đọc một cái gì đó mà bạnnghĩ là có liên quan, không chỉ đưa nó vào bài luận của bạn - làm cho nó trởthành một phần trong lập luận của bạn, nếu không bài tiểu luận có thể trở thànhmột mớ lộn xộn hoặc chú giải của tác giả khác nhau mà không có một hướng
cơ bản rõ ràng Cố gắng kể một câu chuyện, không chỉ tạo ra một danh sáchcác sự kiện (!) Suy nghĩ kỹ về cách mà sự việc phát triển hoặc thay đổi theothời gian - thảo luận về một chuỗi các sự kiện đã xảy ra cùng chủ đề Ví dụ:tránh việc đơn giản rằng và sau đó điều này đã xảy ra và sau đó điều này xảy
ra .) Hãy tranh luận về những gì bạn đã đọc và tạo ra sự phân tích của riêngbạn Nhớ là phải viết một kết luận tổng hợp lập luận của bạn Đừng ngại về đưa
ra ý kiến của riêng bạn, vì điều này sẽ luôn luôn làm cho bài luận của bạn thú
vị hơn Nhưng không được kết luận những gì ở cuối bài diễn văn mà không
được hỗ trợ trong về luận cứ và lập luận trong cấu trúc toàn bài diễn văn (“Write a brief, clear introduction that includes reference to the main areas you will discuss The second paragraph should talk about (if relevant) the
Trang 11background or the global context to the issue you will be addressing When you write the essay, try to make your discussion of an issue appear in one place, and not spread throughout the essay Try not to keep coming back to the same point, just make it once; it may be repeated if relevant in your conclusion or summing up New paragraphs are not for introducing completely new topics without warning Try to link your paragraphs in a logical manner so that each follows on naturally from the preceding one If you're not sure how to bring in
a point, go back to your essay plan and see where it could slot in to the overall argument without interrupting the flow of the essay When you've read something that you think is relevant, don't just slot it into your essay - make it part of your argument; otherwise essays can become a jumble of quotes or paraphrases of different authors without a clear underlying direction Try to tell a story, not just make lists (Ị) Think hard about how things develop or change over a period - discussing a chain of events in terms of the working out
of internal contradictions, for example, is a great way to avoid simply saying
‘and then this happened a nd then this happened! ) Be critical about what you 've read and make your own analysis Remember to write a conclusion summing up your arguments Don't be afraid to include your own opinions, as this will always make your essay more interesting But don't include opinions
at the end that are unsupported in the body of the essay)”[25].
Hãy chắc chắn rằng bạn không sao chép phần rất lớn từ các nguồn màbạn đọc Có nhiều lý do cho việc này Đầu tiên , bạn không thực sự bị buộcphải suy nghĩ về một cuộc tranh luận nếu bạn không đặt nó vào cách dùng từngữ của bạn Thứ hai, sự giám sát của bạn thường sẽ không có ý tưởng “chínhkiến” cho dù bạn có thực sự hiểu điều đó hay không Nếu người khác “thinhasgiả” phát hiện sự sao chép của bạn, họ sẽ không được ấn tượng , nếu không , họ
sẽ nghĩ rằng bạn đang ở trên đầu của người khác khi bạn trống rỗng, của một
sự lãng phí thời gian Thứ ba, bài viết của bạn khi người ta đọc toàn bộ sẽ thấykhông phù hợp Trường hợp nguyên mẫu sinh viên sao chép ra phần lớn từ cácsách ủng hộ chính sách hoàn toàn khác nhau về một chủ đề, không biết rằng có
Trang 12rất nhiều bài luận kết thúc hoàn toàn trái ngược so với các bài khác Thứ tư,sao chép dẫn đến việc bạn không thực sự phát triển phong cách hoặc bằng vănbản của riêng bạn Điều này không có vẻ quan trọng, nhưng nếu bạn không làm
điều đó bây giờ bạn có thể sẽ không bao giờ làm được (“Make sure that you do not copy out huge chunks from the sources you read There are many reasons for this First, you're not really forced to think about an argument if you don't have to put it into your own words Secondly, your supervisor will typically have no idea whether you have really understood something or not If they do spot your copying, they won't be impressed, if they don't, they'll think you are
on top of the subject when you aren't, which just means the supervision is a bit
of a waste of time Thirdly, your essays will not read well overall and probably
be very inconsistent The archetypal case is the student who copies out great sections from books advocating quite different policies, blissfully unaware that much of the essay ends up being completely at odds with other parts Fourthly, you don't really get to develop your own style or writing This may not seem crucial, but if you don't do it now you probably never will”)[25].
Tóm lại, DVCT đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm về giá trị nộidung, ý nghĩa của các thông điệp chính trị từ các DVCT Một số nhà phân tích
đề cập đến phương diện lập luận và những BPTT được sử dụng trong DVCT.Nhưng chưa có công trình nào tiếp cận lập luận trong DVCT từ góc độ ngữdụng học Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các thành tựu của các tác giả đitrước, chúng tôi đi sâu nghiên cứu về LL và BPTT trong DVCT
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là LL và BPTT trong DVCT
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, khảo sát LL và BPTTtrong 10 bài DVCT của Việt Nam và của thế giới (Những bài diễn văn của thế
giới được tuyển chọn trong cuốn Những bài diễn văn nổi tiếng thế giới của tác
giả William Safire [22]) Đó là các diễn văn sau (sắp xếp theo trình tự thờigian):
1 Diễn văn kêu gọi thành lập nền chuyên chính vô sản - K.Marx (1856)
Trang 132 Diễn văn Gettyburg - A.Lincon (1863)
3 Diễn văn bênh vực nền chuyên chính vô sản - V.I.Lenin (1919)
4 Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh (1945)
5 Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến - Hồ Chí Minh (1946)
6 Tuyên ngôn độc lập - J.Nehru (1949)
7 Diễn văn nhậm chức - F.Kenerdy (1961)
8 Diễn văn Tôi có một giấc mơ - M.L.King (1963)
9 Diễn văn nhậm chức - B.Obama (2013)
10.Dẫn đề đối thoại Shangri-la - Nguyễn Tấn Dũng (2013)
IV.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là xác định được đặc trưng của diễn văn chính trị vềphương diện lập luận và biện pháp tu từ để từ đó vận dụng vào thực tiễn đểsoạn thảo các diễn văn chính trị
2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, trong đề tài Lập luận và biện
pháp tu từ trong diễn văn chính trị, chúng tôi thực hiện những nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
2.1 Nghiên cứu LL trong DVCT từ cách tiếp cận ngữ dụng học, cụ thể
là phân tích, miêu tả các thành tố trong cấu trúc lập luận, các phươngpháp lập luận và các tác tử, kết tử lập luận
2.2 Nghiên cứu BPTT trong DVCT từ cách tiếp cận phong cách học, cụthể là phân tích, miêu tả các BPTT ngữ âm, ngữ nghĩa, từ vựng, cúpháp và văn bản trong DVCT
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sử dụng nhữngphương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
1 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng trong đề tài nhằm đặtDVCT vào trong hoàn cảnh cụ thể mà văn bản được sản sinh để lí giải, phân
Trang 14tích các đặc điểm về nội dung và ngôn ngữ của diễn văn.
2 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học
Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học với các thủ pháp: thống kê ngôn ngữhọc, so sánh ngôn ngữ học (so sánh đồng dại) được sử dụng trong đề tàinhằm miêu tả các BPTT và các phương pháp LL, các dấu hiệu chỉ dẫn LL trongdiễn văn
VI ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
1 Về lí luận: Đề tài góp phần cụ thể hóa lí thuyết LL trong ngữ dụng học
về lập luận, cụ thể hóa lí thuyết phong cách học về biện pháp tu từ ởphạm vi thể loại DVCT
2 Về thực tiễn: Đề tài giúp ích cho việc giảng dạy học phần Tiếng Việtthực hành ở các trường đại học nói chung và Trường Đại học Nội vụ HàNội nói riêng Đồng thời, đây cũng là tài liệu tham khảo cho người viếtDVCT
VII BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về lập luận và biện pháp tu từ trong diễn văn
nhằm cung cấp các khái niệm công cụ của đề tài: Diễn văn, DVCT, LL,
BPTT
Chương 2 Lập luận trong diễn văn chính trị nhằm phân tích, miêu tả
những phương pháp LL (diễn dịch, quy nạp, so sánh, phản đề, nhân quả ), cấutrúc của LL và các dấu hiệu chỉ dẫn LL trong diễn văn
Chương 3 Biện pháp tu từ trong diễn văn chính trị nhằm phân tích,
miêu tả các BPTT ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp và văn bản trongDVCT
Trang 15Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LẬP LUẬN VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ
TRONG DIỄN VĂN
Trong chương 1, chúng tôi trình bày những vấn đề cơ bản về diễn văn vàdiễn văn chính trị (khái niệm, phân loại, đặc trưng); về lập luận (khái niệm, bảnchất ngữ dụng của lập luận, kết tử và tác tử lập luận); về biện pháp tu từ (kháiniệm, phân loại biện pháp tu từ) Những vấn đề trên sẽ làm nền tảng lí thuyếtcho việc nghiên cứu lập luận và biện pháp tu từ trong diễn văn chính trị
1.1 Khái niệm diễn văn và diễn văn chính trị
Diễn văn là loại văn bản thuộc phong cách nghị luận thể hiện quan điểm,
LL của người phát ngôn về một vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội vàđược thể hiện trước đông đảo người tiếp nhận nhằm tác động, định hướng tưtưởng, cảm xúc, thái độ và hành động của người tiếp nhận
Theo Từ điển Oxford của Anh, diễn văn chính trị được định nghĩa là mộtbài phát biểu có liên quan đến các vấn đề chính phủ, đối nghịch với công việccủa một cá nhân hay tổ chức Họ cung cấp cái nhìn sâu sắc các quan điểmchính trị của người nói và cũng có thể ảnh hưởng có lợi hoặc không cs lơi cho
người nghe “Political speech is a speech which relates to government matters
as opposed to the affairs of an individual or organization They give insight into the political views of the speaker and may either sway listeners in their favor or not.”[25].
Tóm lại, có nhiều định nghĩa về diễn văn chính trị Trong đề tài này,chúng tôi cho rằng, DVCT được hiểu là diễn văn thể hiện quan điểm, lập luậncủa người phát ngôn về một vấn đề chính trị nhằm tác động, định hướng tưtưởng, cảm xúc, thái độ và hành động của người tiếp nhận
1.2 Phân loại diễn văn
1.2.1 Phân loại theo nội dung
Diễn văn được phân loại theo nội dung, cụ thể là lĩnh vực của vấn đềđược trình bày trong diễn văn, thành:
- Diễn văn kinh tế: Là diễn văn thể hiện quan điểm, LL của người viết về
Trang 16vấn đề kinh tế Thí dụ: Diễn văn của Thứ trưởng Bộ Công thương NguyễnCẩm Tú tại Diễn đàn trao đổi kinh tế Việt Nam - Kuala Lumpur (Malayxia)tháng 10 năm 2013.
- Diễn văn chính trị: Là diễn văn thể hiện quan điểm, LL của người viết
về vấn đề chính trị Thí dụ: Diễn văn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhân kỉniệm 45 năm ngày thành lập Asean (1967 - 2012)
- Diễn văn văn hóa, giáo dục: Là diễn văn thể hiện quan điểm, LL củangười viết về vấn đề văn hóa, giáo dục Thí dụ: Diễn văn của Tổng thống
Woodrow Wilson - Tổng thống thứ 27 của Hoa Kì - “Hưởng ứng lời kêu gọi trách nhiệm mới” nhân dịp Lễ tốt nghiệp ở Học viện Hải quân Hợp
chủng quốc Hoa Kì, ở Annapolis năm 1916
- Diễn văn xã hội: Là diễn văn thể hiện quan điểm, LL của người viết về
vấn đề xã hội Thí dụ: Diễn văn Hãy cứ đói khát và dại dột của Steve
Jobs - CEO của Tập đoàn máy tính Apple - về các bài học trong cuộcsống để trở thành người thành đạt tháng 6 năm 2005
1.2.2 Phân loại theo hoàn cảnh
Văn bản nói chung và diễn văn nói riêng được sản sinh trong hoàn cảnhgiao tiếp nhất định Đó không chỉ là thời gian, không gian cụ thể mà còn lànhững điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ma trong đó diễn văn được tạo lập
William Safire - tác giả cuốn “ Những bài diễn văn nổi tiếng thế giới” gọi
hoàn cảnh mà diễn văn được sản sinh là “cơ hội” Ông đánh giá vai trò quantrọng của “cơ hội” đối với bài diễn văn hay: “Có những thời điểm gây ấn tượngsâu sắc trong cuộc sống của một người hay đảng phái hay một quốc gia phảithét lên để thúc đẩy soạn thảo một bài diễn văn Một số người muốn diễn đạtmiền hi vọng, hãnh diện và sầu muộn Diễn giả trở thành trung tâm của sự chú
ý, đối tượng hướng dẫn nổi bật, chỉ mình ông ta đang trên đỉnh điểm, cả thếgiới phải dừng lại và lắng nghe” [22, tr.8]
Dựa theo hoàn cảnh sản sinh văn bản, có thể phân loại diễn văn thành:
- Diễn văn khai mạc sự kiện: Là diễn văn thể hiện quan điểm, lập luậncủa người viết khi khai mạc sự kiện nào đó Thí dụ: Diễn văn khai mạc Đại hội
Trang 17toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ X của đồng chíPhan Văn Mãi - Bí thư thường trực Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa IX.
- Diễn văn bế mạc sự kiện: Là diễn văn thể hiện quan điểm, lập luận củangười viết khi bế mạc sự kiện nào đó Thí dụ: Diễn văn bế mạc Hội nghị Trungương 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ngày 11 tháng 5 năm 2013
- Diễn văn chúc mừng năm mới (diễn văn chúc tết): Là diễn văn thể hiệnquan điểm, lập luận của người viết nhân dịp năm mới Thí dụ: Diễn văn củaChủ tịch nước Trương Tấn Sang nhân dịp xuân mới Nhâm Thìn 2012
- Diễn văn nhậm chức: Là diễn văn thể hiện quan điểm, lập luận củangười viết trong buổi lễ nhậm chức Thí dụ: Diễn văn nhậm chức tổng thốngnhiệm kì 2 của B.Obama ngày 21 tháng 3 năm 2012
1.3 Đặc trưng của diễn văn và diễn văn chính trị
1.3.1 Đặc trưng của diễn văn
1.3.1.1 Tính thuyết phục
Diễn văn nhằm thuyết phục người nghe Để thuyết phục người nghe, tácgiả diễn văn phải LL Nguyễn Đức Dân [9, tr 167-168] cho rằng: Có hai loại
LL khác nhau ứng với hai loại mục đích khác nhau: (1) LL để đi tới một đích
về giá trị chân lí Trong các công trình khoa học, các nhà khoa học dùng loại
LL này (2) LL để đi tới một đích về tính hiệu quả Một diễn từ chính trị, mộtđoạn quảng cáo là những LL thuộc loại này Chúng đặt ra mục tiêu dẫn dắt,lôi kéo hoặc thuyết phục thêm được quần chúng hướng theo những điều màmình đề ra và từ bỏ những xác tín cũ của họ Tính thuyết phục, tính hấp dẫncủa diễn văn là điều đã được bàn đến từ thời cổ đại trong công trình nghiên cứucủa Aristote (Bàn về phép tu từ) cho đến thời hiện đại William Safire trong
Lời ngỏ đầu sách Những bài diễn văn nổi tiếng thế giới đã khẳng định, “từ
những năm 1970, khi người ta ghi âm các bài diễn văn, chúng được xem nhưmột món ăn tinh thần” và “đầy sức sống”
Nhưng không nên đồng nhất LL với thuyết phục Theo Aristote, có 3nhân tố để lời nói có tính thuyết phục: (i) nhân tố lí lẽ, (ii) nhân tố xúc cảm, lờinói phải gây được thiện cảm của người tiếp nhận, (iii) nhân tố tính cách, đặc
Trang 18điểm, tâm lí dân tộc, văn hóa của người tiếp nhận.
Như vậy, diễn văn thuyết phục người nghe bằng cả sức mạnh của lí lẽ(thuyết phục lí trí) và bằng cả sức mạnh của sự truyền cảm (thuyết phục tìnhcảm)
1.3.1.2 Tính lập luận chặt chẽ
LL là bản chất của văn bản nghị luận nói chung và diễn văn nói riêng.Hay nói ngược lại: Diễn văn có bản chất LL Đỗ Hữu Châu: “Nói tới LL làthường là nói tới suy luận theo diễn dịch và ta thường nghĩ ngay đến logic, đến
lí luận, đến diễn ngôn nghị luận” (Tác giả nhấn mạnh) [5, tr.165] Diễn văn
có tính LL chặt chẽ bởi vì “muốn thuyết phục người đọc thì cần phải giải thích,thuyết minh một cách có lí lẽ, có căn cứ vững chắc, nghĩa là phải dựa trên cơ
sở những luận điểm, luận cứ khoa học” [13, tr.117]
1.3.1.3 Tính bình giá công khai
Diễn văn có tính bình giá công khai, tức biểu hiện một cách trực tiếpquan điểm của người viết về một vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa nào đó.Điều này tạo sự khác biệt giữa diễn văn với văn bản nghệ thuật Văn chươngthể hiện quan điểm thẩm mĩ, tư tưởng của nhà văn về cuộc sống nhưng thể hiện
thông qua hình tượng nghệ thuật, tức thể hiện gián tiếp Thí dụ, tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao thể hiện quan điểm lên án xã hội vùi dập con người, con
người trong xã hội đó được sinh ra là người nhưng không được làm người Tưtưởng nhân văn cao cả này thể hiện thông qua hình tượng nhân vật Chí Phèo từkhi sinh ra là người lương thiện, sau trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, và
cuối cùng phải chết vì day dứt “Ai cho tao lương thiện?” Diễn văn thể hiện
trực tiếp quan điểm của người viết bằng những từ ngữ có giá trị biểu cảm âm
tính hoặc dương tính, bằng các tính thái từ.Thí dụ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa!” (Hồ Chí Minh - Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến) Từ cướp trong đoạn văn trên có màu sắc biểu
cảm âm tính, thể hiện trực tiếp thái độ lên án của Chủ tịch Hồ Chí Minh vớihành động xâm lược của thực dân Pháp
Trang 191.3.2 Đặc trưng của diễn văn chính trị
Bên cạnh những đặc trưng của diễn văn nói chung, DVCT còn có đặcđiểm riêng Đó chính là tính chính trị
DVCT thể hiện quan điểm của Đảng phái, tổ chức, cá nhân về vấn đềchính trị Tính chính trị trước hết thể hiện ở vấn đề được bình luận, phân tíchnhư vấn đề thành lập nền chuyên chính vô sản, chủ quyền của giai cấp vô sảntrong bài diễn văn của K.Marx trong buổi tiệc chiêu đãi ở London năm 1856nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập tờ People,s Paper; hay vấn đề nội chiến giữaphe Liên hiệp và phe Tự do ở Mĩ trong bài diễn văn Gettysburg của Tổngthống Abraham Lincoln nhân sự kiện Nghĩa trang của các binh sĩ phe Liênhiệp bị tử trận được tiến hành xây cất vào ngày 19 tháng 11 năm 1863
Tính chính trị còn thể hiện ở quan điểm tư tưởng của người viết diễn văn
về vấn đề chính trị đó Cùng một vấn đề chính trị nhưng quan điểm (của Đảngphái, tổ chức hoặc của bản thân cá nhân người viết) có thể khác nhau thậm chíđối lập nhau Chẳng hạn, cùng vấn đề thành lập nền chuyên chính vô sản nóitrên, quan điểm tư sản cho rằng, với khoa học, công nghệ hiện đại, giai cấpcông nhân đã được giải phóng, nên không cần thiết phải thực hiện cuộc đấutranh giải phóng giai cấp nhưng K.Marx thể hiện tư tưởng của ông trong bàidiễn văn nói trên: cuộc cách mạng của giai cấp công nhân là cần thiết nhằmgiải phóng giai cấp của chính mình, sự thống trị toàn cầu của nguyên tắc tư bản
và tình trạng nô lệ với đồng lương Hay trước vấn đề nội chiến giữa phe Liênhiệp và phe Tự do ở Mĩ, có quan điểm cho đó là cuộc chiến phi lí, nồi da nấuthịt, anh em tương tàn và sự hi sinh của các binh sĩ là vô ích nhưng trong bàidiễn văn Gettysburg nổi tiếng của mình, Tổng thống Abraham Lincoln lại
khẳng định: những người này (các binh sĩ phe Liên hiệp hi sinh trong trận chiến Gettysburg - chú thích của tác giả đề tài) đã không chết trong ô nhục, rằng quốc gia này dưới Thượng đế sẽ có mội sự tái sinh tự do mới, và rằng chính quyền này là của dân, do dân, và vì dân sẽ không bao giờ bị hủy diệt trên quả đất (these dead shall not have died in vain, that this nation under God shall have a new birth freedom, and that government of the people, by the
Trang 20people, for the people shall not perish from the earth.)
Một biểu hiện nữa của tính chính trị là diễn văn chính trị là công cụ đấutranh bảo vệ lợi ích của Đảng phái, giai cấp, dân tộc Các chính trị gia trongbài phát biểu của mình bằng sự logic của lập luận, sự hấp dẫn của nghệ thuậthùng biện đã thuyết phục, lôi cuốn và định hướng quần chúng theo tư tưởngchính trị của giai cấp, Đảng phái.mà chính trị gia là người đại diện Trần Văn
Cơ cho rằng: chức năng chính của giao tiếp chính trị là đấu tranh cho quyềnlực [3, tr.31], còn ngôn bản chính trị (trong đó có diễn văn chính trị - chú thíchcủa tác giả đề tài) có 5 chức năng trong đó có chức năng “tạo ra hiện thực ngônngữ của trường chính trị và giải thích nó (chức năng giải thích và định
hướng)” Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (Hồ Chí Minh, 1946) “định hướng” hành động cho cả một dân tộc: đứng lên chống thực dân Pháp Tuyên ngôn độc lập Ấn Độ (J Nehru, 1949) định hướng nhận thức và hành động cho
người dân Ấn: phải lao động và làm việc, làm việc siêng năng để biến nhữnggiấc mơ thành hiện thực và để xây dựng biệt thự vương giả của Ấn Độ tự do
1.4 Lí thuyết lập luận
1.4.1 Khái niệm lập luận
LL là hành động ngôn từ mà người viết (người nói) đưa những lí lẽnhằm dẫn dắt người nghe đến một hoặc một số kết luận hay chấp nhận mộthoặc một số kết luận nào đó mà người viết (người nói) muốn đạt tới
Dựa theo sự phân biệt về phương pháp LL và lĩnh vực LL, các nhànghiên cứu [9], [10], [24] thường phân biệt hai loại LL: LL theo logic hìnhthức và LL theo logic phi hình thức (LL trong ngôn ngữ tự nhiên)
LL theo logic hình thức là LL đi tới cách đánh giá về giá trị chân lí đúngsai của sự kiện Nói cách khác là LL theo logic hình thức đi tới đích về giá trịchân lí Loại LL này đòi hỏi phải theo những quy luật logic Ở đây, chân líđược khẳng định qua các tiên đề và các quy tắc suy diễn theo các phương phápsuy luận hình thức như suy luận quy nạp (quy nạp hoàn toàn và quy nạp khônghoàn toàn), suy luận diễn dịch (suy luận một tiền đề, suy luận hai tiền đề).Trong logic, từ một hoặc một số phán đoán (mệnh đề) đã biết, ta suy ra phán
Trang 21đoán mới Sự suy ra đó gọi là một phép suy luận hay một LL Có hai phươngpháp suy luận: diễn dịch và quy nạp “Suy luận quy nạp là suy luận mà kết luận
là tri thức chung được khái quá từ những tri thức riêng lẻ, cụ thể Đây là tiếntrình tư duy đi từ cái riêng đến cái chung, từ cái cụ thể tới cái khái quát” [9,tr.183] Suy luận diễn dịch là “phép suy luận mà từ một phán đoán hay một sốphán đoán, chúng ta suy ra một phán đoán khác, theo những quy tắc hình thức”[9, tr.184]
LL theo logic phi hình thức là thao tác mà người LL đưa những lí lẽ làmcho người tiếp nhận chấp nhận kết luận nào đó hoặc đi tới một xác tín nào đó.Nói cách khác là LL để đi tới đích về tính hiệu quả Sự LL ở đây theo những trithức, lí lẽ, phong tục, tập quán của một xã hội, một dân tộc mà hầu hết các cánhân sống trong xã hội đó đều tuân thủ
LL trong diễn văn là LL theo logic phi hình thức Nguyễn Đức Dânkhẳng định: “Một diễn từ chính trị, một đoạn quảng cáo.là những LL thuộc loại
này (tức LL đi tới đích về tính hiệu quả - chú thích của tác giả đề tài) Chúng
đặt ra mục tiêu dẫn dắt, lôi kéo hoặc thuyết phục thêm được quần chúng hướngtheo những điều mà mình đề ta và từ bỏ những xác tín cũ của họ Tiêu chuẩnđánh giá loại LL này là hiệu quả thực tiễn của nó” [9, tr.167- 168]
Tuy nhiên, LL phi hình thức không hoàn toàn tách biệt với LL theo logichình thức Theo Nguyễn Đức Dân [10] logic phi hình thức bao gồm cả nhữngsuy luận theo lô gích truyền thống lẫn những suy luận phi hình thức
LL phi hình thức vẫn sử dụng các phương pháp của LL logic hình thức nhưdiễn dịch, quy nạp
Đề tài này phân tích LL trong DVCT thuộc LL phi hình thức Nhưng từđây trở về sau để giản tiện, chúng tôi gọi ngắn gọn LL phi logic là LL
1.4.2 Cấu trúc lập luận
Từ khái niệm LL đã trình bày ở trên, có thể thấy trong LL có các thànhphần: lí lẽ (gọi là luận cứ), kết luận và cơ sở của LL Quan hệ giữa luận cứ vàkết luận tạo thành quan hệ LL
1.4.2.1 Luận cứ
Trang 22Luận cứ là tiền đề của LL Theo Bùi Minh Toán [18, tr.23]: Luận cứ cóthể là những sự việc, hiện tượng trong thực tế, có thể là những lí lẽ thôngthường hay những tiên đề, định luật khoa học
Nguyễn Đức Dân [9, tr.244] khi bàn về các phương thức gây hiệu quả
LL cho rằng có các loại luận cứ:
+ Luận cứ là định nghĩa: định nghĩa khoa học hay định nghĩa thông
thường như: Thời gian là vàng.
+ Luận cứ là cấu trúc so sánh: Các hình thức so sánh ngang bằng, khôngngang bằng đều có thể dùng làm luận cứ cho LL
Thí dụ: Tăng lương nhưng thực tế không tăng: Lương tăng bao nhiêu thì giá cả tăng bấy nhiêu.
Trong LL trên, cấu trúc so sánh (Lương tăng bao nhiêu thì giá cả tăng bấy nhiêu) được dùng làm luận cứ cho kết luận (Tăng lương nhưng thực tế không tăng).
+ Trích dẫn: đây là sự thuật lại một lời nói, một sự kiện theo cách trựctiếp hay gián tiếp
Thí dụ: “Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo Không khéo là
ăn đi trước, lội nước theo sau, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn” (Trần Đình Hượu - Đến hiện đại từ truyền thống)
Bàn về văn hóa dân tộc Việt Nam, Trần Đình Hượu đã dùng tục ngữ “Ăn
cỗ đi trước, lội nước đi sau” để nói về tính cách người Việt
+ Sự miêu tả tường thuật lại sự kiện, nêu dữ kiện, những con số để củng
cố thêm cho lí lẽ Vậy nội dung miêu tả cũng là một loại luận cứ
Thí dụ: “Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải ” (Trần Đình Hượu - Đến hiện đại từ truyền thống)
Để khẳng định quan điểm về cái đẹp của người Việt là sự dịu dàng,
Trang 23thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải, tác giả dùng 4 câu miêu tả
những chi tiết khác nhau
Giữa các luận cứ có quan hệ định hướng LL Nếu các luận cứ đềuhướng đến một kết luận chung thì các luận cứ có quan hệ đồng hướng LL Nếuluận cứ/một số luận cứ hướng tới kết luận (r) còn luận cứ/một số luận cứhướng kết luận ngược với (r) thì các luận cứ có quan hệ nghịch hướng LL
Về hiệu lực LL, các luận cứ có hiệu lực LL mạnh yếu khác nhau Luận
cứ có hiệu lực LL mạnh sẽ quyết định hướng LL (tức kết luận) Luận cứ cóhiệu lực LL mạnh thường đặt sau luận cứ có hiệu lực LL yếu hơn
Về sự hiện diện, trong một LL, có thể có một luận cứ nào đó hàm ẩn
Thí dụ: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng Con không nên chơi với nó.
LL trên thiếu một luận cứ: “nó” không ngoan
1.4.2.2 Kết luận
Kết luận là một khẳng định, một xác tín được rút ra từ các luận cứ
Về vị trí, kết luận có thể ở đầu, giữa hoặc cuối so với luận cứ
Về sự hiện diện, kết luận có thể hiện diện tường minh, tức là được nói rõ
ra hoặc có thể hàm ẩn, người LL không nói ra, người tiếp nhận phải căn cứ vàongôn cảnh để suy ra
Thí dụ: Mẫu quảng cáo mĩ phẩm: Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng Nhưng không gì ngăn được bạn nổi lên với sản phẩm X.
Kết luận hàm ẩn trong quảng cáo trên chính là mục tiêu mà nhà quảngcáo muốn hướng đến: Sản phẩm X rất đáng lựa chọn vì dùng nó sẽ làm cho bạnhơn những người khác
1.4.2.3 Cơ sở lập luận
Cơ sở LL là những yếu tố mà nhờ nó chúng ta xuất phát từ luận cứ đểsuy ra kết luận Trong ngôn ngữ tự nhiên, các cơ sở LL (topos) là các chân lí cótính chất kinh nghiệm, các quy ước cộng đồng trong đó có các quy phạm phápluật, quy phạm đạo đức, quy phạm văn hóa Các chân lí có tính chất kinhnghiệm còn được gọi là lẽ thường có thể có tính phổ quát toàn nhân loại, hoặcphổ quát từng khu vực trên thế giới, từng quốc gia, dân tộc, từng cộng đồng
Trang 24nghề nghiệp, văn hoa Kho tàng tục ngữ thường là nơi chứa đựng các lẽthường Đỗ Hữu Châu [5, tr 198] cho rằng: “Tục ngữ là kho tàng những lẽthường của mỗi dân tộc đã được cố định bằng hình thức ngôn ngữ” Tuy nhiên,kho tàng tục ngữ đồ sộ vẫn chưa phải là tất cả các lẽ thường cho phối cách suynghĩ, cách nói năng và hành động của con người Có những lẽ thường chưa cóhình thức ngôn ngữ cố định nhưng vẫn điều khiển chúng ta, biến một nội dungphát ngôn nào đó thành luận cứ, thành kết luận và nối kết các phát ngôn đó
thành một quan hệ LL nhất định Thí dụ: “Nhìn theo bóng Tràng và bóng người đàn bà đi về bến, người trong xóm lạ lắm Họ đứng cả trong ngưỡng cửa bàn tán ( ) Im một lúc, có người bỗng lại cười lên rung rúc:
- Hay là vợ anh cu Tràng? Ừ, khéo mà vợ anh cu Tràng thật anh em ạ, trông chị ta thèn thẹn hay đáo để.” (Vợ nhặt - Kim Lân)
Sự suy luận của người hàng xóm (người đàn bà đi cùng Tràng chính là
vợ Tràng) dựa theo kinh nghiệm: Cô dâu mới thường hay thẹn thùng Trông chị ta thèn thẹn hay đáo để chứng tỏ chị ta là vợ anh cu Tràng thật.
1.4.3 Phân loại lập luận
Trang 25a Dựa vào số lượng luận cứ và kết luận, có thể phân chia LL thành 2loại: LL đơn và LL phức hợp LL đơn là LL chỉ có một kết luận, các thànhphầncòn lại là các luận cứ LL phức hợp là LL có nhiều kết luận LL phức hợp cóhai dạng chính:
Dạng 1
chung
Trong dạng này, luận cứ 1, luận cứ 2 đóng vai trò là luận cứ của kết luận
1 Kết luận 1 là luận cứ của kết luận 2 Cứ như vậy cho tới kết luận chung
Thí dụ: Cuộc họp sở dĩ hoãn lại (r)vì không đủ thành phần (p).
sẽ được chúng tôi phân tích cụ thể trong chương 2
b Dựa vào tính chất, vị trí quan hệ giữa luận cứ và kết luận, có thể phânchia LL thành: LL diễn dịch, LL quy nạp, LL so sánh, LL phản đề, LL nhânquả
Quy nạp là “quá trình suy nghĩ vận động từ sự xem xét những hiệntượng, đối tượng riêng lẻ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa chúng với nhau, từ
đó nhân lên thành nhận định khái quát trừu tượng về những dấu hiệu chung củachúng.( ) Khi chứng minh, biện luận, phương pháp này có sức thuyết phụclớn vì nó dựa trên sự kiện thực tế, trên những nhận xét cụ thể, được công nhậndần dần rồi dẫn từng bước chắc chắn tới kết luận cuối cùng” [2, tr 208- 209]
Cũng theo Đình Cao [2, tr 211], diễn dịch là quá trình “vận động của tưduy từ cái chung, cái khái quát, đến cái riêng, cái cụ thể (.) Diễn dịch làphương pháp LL được sử dụng rộng rãi nhất Nó có sức thuyết phục lớn nếu
Kết luận 1
r Kết luận 2 —►
r
Kết luận
_ ► Kết luận r1
—► Kết luận r2
—► Kết luận
r Kết luận chung R
Trang 26tiền đề nêu lên là một chân lí hiển nhiên và những luận chứng đưa ra sát hợp.”
LL nhân quả nhằm truy tìm nguồn gốc của các hiện tượng, sự kiện hoặc
lí giải sự xuất hiện của các hiện tượng, sự kiện Theo Nguyễn Đức Dân [9,tr.210-212], có những kiểu LL nhân quả sau: LL theo điều kiện có thể, LL theođiều kiện cần, LL theo điều kiện tất yếu và LL theo điều kiện duy nhất
LL so sánh là đối chiếu các đối tượng, các vấn đề, các sự kiện để pháthiện ra những nét giống nhau hay khác nhau giữa chúng nhằm đi đến khẳngđịnh, bênh vực, hay đề cao, bác bỏ một vấn đề nào đó
LL phản đề là quá trình LL xuất phát từ một luận điểm cần bác bỏ, người
LL đưa lí lẽ, dẫn chứng để chứng minh luận điểm đó trái ngược với chân lí, với
Thí dụ: Thông tin miêu tả: Bây giờ tám giờ.
Đưa tác tử: đã vào thì hướng vào kết luận:
Bây giờ đã tám giờ k Nhanh lên.
Đưa tác tử mới thì hướng vào kết luận:
Bây giờ mới tám giờ -k Từ từ đã.
1.4.4.2 Kết tử lập luận
Là những yếu tố (như liên từ đẳng lập, liên từ phụ thuộc, các trạng từ vàcác trạng ngữ.) phối hợp hai hoặc nhiều phát ngôn thành một LL duy nhất Nhờcác kết tử mà các phát ngôn thành luận cứ hay kết luận của một LL
Phân loại kết tử LL:
Trang 27+ Dựa theo số lượng luận cứ và kết luận trong LL, kết tử được phân loạithành: Kết tử hai vị trí, kết tử ba vị trí
Kết tử hai vị trí là những kết tử chỉ cần có một luận cứ và một kết luận là
đủ thành một LL, không nhất thiết phải có thêm luận cứ Kết tử hai vị trí là
những cặp liên từ tạo câu ghép: vì nên , nếu thì , bởi vì nên , hễ thì ; liên từ: và, cặp liên từ h()ặc h()Ịic , từ ngữ biểu hiện quan hệ mục đích để,
từ tình thái biểu hiện sự chắc chắn, sự tin cậy như chắc chắn, đương nhiên,
nhất định, thế nà( cũng, tất nhiên.
Thí dụ: Tôi mệt nên tôi phải nghỉ ngơi.
Kết tử ba vị trí là những kết tử đòi hỏi phải có hai luận cứ và một kết
luận mới thành một LL Kết tử ba vị trí gồm: nhưng, mặc dù
Thí dụ: Trời đẹp nhưng tôi bận học nên không thể đi chơi được.
+ Dựa theo mối quan hệ với luận cứ và kết luận thành, kết tử được phânloại thành: Kết tử dẫn nhập luận cứ và kết tử dẫn nhập kết luận Kết tử dẫnnhập luận cứ là kết tử đưa một nội dung (hay một hành vi ở lời) vào làm luận
cứ cho một LL [5, tr.185] Đó là những kết tử như vì, tại vì, vả lại, hơn nữa, chẳng những.mà còn, đã.lại (lại còn), không phải.mà là v.v Tác tử dẫn nhập
kết luận là kết tử nối một nội dung (hoặc một hành vi) đóng vai trò kết luận
cho LL với luận cứ [5, tr.185] Đó là những kết tử như thì, nên, vậy nên, cho nên, vậy, dù thế nào cũng, dù sao cũng.
Thí dụ: Tôi nghĩ rằng giải thưởng này không phải trao cho cá nhân tôi
mà là trao cho tác phẩm của tôi - một sự kết tinh tâm huyết để sáng tạo của
tôi, không phải vì danh lợi Chính vì thế tôi chỉ là người được đại diện đến
đây để nhận giải thưởng, đồng thời tôi muốn dành món tiền thưởng này vào việc mà lúc đầu tiên chủ nhân của giải thưởng này muốn dùng (I feel that this award was not made to me as a man, but to my work - a life's work in the agony and sweat of the human spirit, not for glory and least of all for profit, but to create out of the materials of the human spirit something which did not
exist before So this award is only mine in trust) - Diễn văn Con người không
chỉ cần sống -Faulkner (1897 - 1962)
Trang 28Trong thí dụ trên, hai kết tử không phải, mà là là những kết tử dẫn nhập
luận cứ: giải thưởng này không phải trao cho cá nhân tôi mà là trao cho tác phẩm của tôi Kết tử dẫn nhập kết luận: chính vì thế (Chính vì thế tôi chỉ là
người được đại diện đến đây để nhận giải thưởng).
+ Dựa theo định hướng LL, kết tử được phân loại thành kết tử đồnghướng LL và kết tử nghịch hướng LL
Kết tử đồng hướng LL là những kết tử nối các luận cứ cùng hướng đến
một kết luận Đó là những kết tử như và, hơn nữa, thêm vào đó, vả lại, lại còn, đã lại, chẳng những mà còn, huống hồ, huống chi, quả thật, thật vậy, nữa là.
Kết tử nghịch hướng LL là những kết tử nối các luận cứ hướng đến
những kết luận phủ định nhau Đó là những kết tử như nhưng, thế mà, thực ra, tuy nhiên, tuy nhưng, tuy vậy.
1.5 BIỆN PHÁP TU TỪ
1.5.1 Khái niệm biện pháp tu từ
BPTT là những cách kết hợp sử dụng trong hoạt động lời nói cácphương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không trong một ngữcảnh rộng để tạo hiệu quả tu từ (tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc,thái độ, hoàn cảnh) [14, tr.142]
1.5.2 Phân loại biện pháp tu từ
Dựa theo sự phân chia thành các cấp độ trong ngôn ngữ, các nhà phongcách học, tu từ học thường phân chia các BPTT thành các cấp độ: BPTT ngữ
âm, BPTT từ vựng, BPTT ngữ nghĩa, BPTT cú pháp và BPTT văn bản
1.5.2.1 Biện pháp tu từ ngữ âm
BPTT ngữ âm là những cách phối hợp sử dụng các thanh điệu, vần, nhịpđiệu, nhằm tạo ra những màu sắc biểu cảm - cảm xúc nhất định BPTT ngữ âmbao gồm: điệp phụ âm đầu, điệp vần, điệp thanh, tượng thanh, hài âm, tạo nhịpdiệu
Điệp phụ âm đầu là BPTT ngữ âm trong đó có sự lặp lại phụ âm đầu,nhằm mục đích tăng tính tạo hình và diễn cảm cho câu thơ [14, tr.222]
Trang 29Thí dụ: Làn ao lóng lánh bóng trăng loe (Nguyễn Khuyến)
Điệp phụ âm đầu l trong câu thơ trên làm cho khái niệm lóng lánh thêmthể hiện rõ
Điệp vần là BPTT ngữ âm, trong đó có sự lặp lại những âm tiết có phầnvần giống nhau, nhằm mục đích tăng sức biểu hiện, nhạc tính của câu thơ [14,tr.223]
Thí dụ: Lá bàng đang đỏ ngọn cây
Sếu giang mang lạnh đang bay ngang trời (Tố Hữu)
Tính chất cộng hưởng của những âm mũi làm cho câu thơ có nhạc tínhcao, gây ấn tượng về những gì nhẹ nhàng, thanh thoát
Điệp thanh là BPTT ngữ âm, trong đó có sự lặp lại thanh điệu thường làcùng một nhóm bằng hoặc trắc, nhằm mục đích tăng tính tạo hình và diễn cảmcủa câu thơ [14, tr.223]
Thí dụ: Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi (Xuân Diệu)
Lặp lại thanh bằng trong hai câu thơ trên, Xuân Diệu đã thể hiện thànhcông tiếng đàn trong trẻo cao vút trong sương hòa cùng sự chơi vơi của lòngthi nhân
Tạo nhịp điệu là BPTT ngữ âm, “có sự lặp lại đều đặn, liên tục hoặccách quãng, luân phiên có tính chất chu kì, và có thể có sự thay đổi các yếu tốcùng loại theo một khoảng thời gian hoặc một quá trình, một trật tự nào đó ( )
để tạo nên sự hài hòa, cân xứng, tạo nên cảm giác về sự lưu chuyển, vận độngcủa sự sống ”
Nhịp điệu được cấu thành từ hai nhân tố là nhịp và điệu Nhịp là khoảngcách đều đặn được nối tiếp và lặp lại nhiều lần theo một chu kì nhất định củamột hiện tượng ngôn ngữ nào đó trong tác phẩm thơ văn Mỗi một nhịp đượcđánh dấu ở chỗ tách rời và luân phiên giữa hai khoảng bằng nhau của hiệntượng
Điệu là đường nét, tính chất của nhịp (dài hay ngắn, nhanh hay chậm,lên hay xuống, mạnh hay yếu, nhấn hay lướt, bằng phẳng hay không bằng
Trang 30phẳng ) Điệu là nên dáng vẻ, sắc thái riêng của nhịp điệu [6, tr.15]
1.5.2.2 Biện pháp tu từ từ vựng
BPTT từ vựng là những cách phối hợp sử dụng các đơn vị từ vựng trongphạm vi một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn nhằm tạo ra hiệu quả tu từ BPTT
từ vựng bao gồm: hòa hợp, tương phản, quy định
Hòa hợp là BPTT trong đó các từ ngữ cùng một điệu tính chung, hoặccao quý, trang trọng hoặc giản dị, mộc mạc., có mối quan hệ phụ thuộc vàonhau, quy định lẫn nhau, hô ứng với nhau, tạo nên sự cộng hưởng về ý nghĩa.[14, tr.144]
Thí dụ: Mì ngon phải có bí quyết Lúa mì Úc thượng hạng Chế biến công phu cho sợi mì dai mướt tự nhiên Thêm súp thịt và rau củ Hương thơm,
vị thật đậm đà( ) (Quảng cáo mì Gấu đỏ)
Sự hòa hợp của các từ ngữ ngập tràn cảm giác: vị giác, xúc giác, khứu
giác, thị giác (dai mướt, hương thơm, vị đậm đà) khiến cho người tiếp nhận
quảng cáo cảm nhận được một cách rõ ràng vị ngon của sản phẩm
Tương phản là BPTT trong đó các từ ngữ có điệu tính trái ngược nhau một số có màu sắc cao quý, trang trọng, một số có màu sắc giản dị, mộc mạc -nằm trong mối quan hệ đối chọi nhau., có khả năng gợi liên tưởng đến nhữnghình tượng nhân vật, sự kiện, hiện tượng phức tạp (có những mâu thuẫn màthống nhất biện chứng) [14, tr.145]
-Quy định là BPTT trong đó từ ngữ có điệu tính tu từ cao (có màu sắc caosang, quý tộc, bác học.) hoặc điệu tính tu từ thấp (có màu sắc giản dị, mộcmạc.) được sử dụng trên cái nền của các từ ngữ trung hòa về tu từ học, đã quyđịnh màu sắc tu từ học chung của toàn bộ phát ngôn [14, tr.148]
Thí dụ: Tôi lấy ví dụ trong việc cứu đói, mình khuyên dân mười ngày
nhịn ăn một bữa mà đến ngày mình nhịn mình lại cứ chén tì tì thì làm sao nghe
được (Hồ Chí Minh)
Dùng từ ngữ thông tục chén tì tì đã quy định màu sắc tu từ học của câu
nói trên: thân mật, gần gũi phù hợp với nội dung phê phán nhẹ nhàng mà sâusắc
Trang 311.5.2.3 Biện pháp tu từ ngữ nghĩa
BPTT ngữ nghĩa là những cách phối hợp sử dụng các đơn vị biểu thị ýnghĩa (từ, ngữ, câu, đoạn ) trong mọi cấp độ của lời nói nhằm tạo ra nhữngsắc thái nghĩa hoặc nghĩa mới mang tính chất lâm thời, có hiệu quả tu từ trongtừng ngữ cảnh cụ thể [8, tr 462] BPTT ngữ nghĩa bao gồm: so sánh, ẩn dụ,hoán dụ, phản ngữ
So sánh là BPTT trong đó, người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại củathực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nétgiống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đốitượng [14, tr.154]
Thí dụ: Người đẹp như hoa (Thành ngữ)
Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiệntượng này sang sự vật, hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở liên tưởng đồngnhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng [19, tr 8]
Thí dụ: Hoa cười ngọc thốt đoan trang (Nguyễn Du).
Trong câu thơ trên, hoa được đồng nhất với cái miệng xinh xắn của Thúy Vân
Hoán dụ là phép thay thế tên gọi của hai sự vật, hiện tượng.khác loại(khác phạm trù) dựa trên cơ sở đồng nhất hóa chúng do chúng luôn luôn cùngxuất hiện cặp đôi với nhau trong thực tế khách quan [20, tr 3]
Thí dụ: Hà Nội đã lên tiếng phản đối những hành động khiêu khích
Trong thí dụ trên, Hà Nội được dùng theo lối hoán dụ: lấy bộ phận thay
cho toàn thể
Phản ngữ là BPTT trong đó người ta đặt trong một chuỗi cú pháp nhữnghình ảnh có ý nghĩa đối lập nhau, nhằm nêu bật bản chất của đối tượng đượcmiêu tả nhờ thế đối lập tương phản [14, tr.165]
Thí dụ: Khúc sông bên lở bên bồi
Bên lở thì đục bên bồi thì trong (Ca dao)
1.5.2.4 Biện pháp tu từ cú pháp
BPTT cú pháp là những cách phối hợp sử dụng các kiểu câu trong mộtngữ cảnh rộng (trong chỉnh thể trên câu, trong đoạn văn, văn bản) nhằm tạo ra
Trang 32hiệu quả tu từ BPTT cú pháp bao gồm: sóng đôi, câu hỏi tu từ, tách biệt
Sóng đôi là BPTT cú pháp dựa trên sự cấu tạo giống nhau giữa hai haynhiều câu hoặc hai hay nhiều bộ phận của câu [14, tr.184]
Thí dụ:
Người người thi đua
Ngành ngành thi đua
Ngày ngày thi đua (Hồ Chí Minh)
Trong thí dụ trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng BPTT lặp cuối kếthợp với sóng đôi để cổ vũ phong trào thi đua trong sản xuất và chiến đấu
Câu hỏi tu từ là BPTT dùng câu hỏi nhưng không đòi hỏi câu trả lời mànhằm tăng cường tính diễn cảm của phát ngôn [14, tr.194]
Thí dụ: Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu? (Thế Lữ)
Câu hỏi tu từ trên là một tiếng than của chúa tể sơn lâm, thể hiện sự nuốitiếc, xót xa trong tình thế bị giam cầm
Tách biệt là BPTT mà người viết tách có dụng ý một (một số) bộ phậncâu thành một (một số) câu riêng nhằm cụ thể hóa nội dung của bộ phận trungtâm hoặc nhấn mạnh nội dung được tách biệt hay tạo nhịp điệu cú pháp.[14,tr.194-202]
Thí dụ: Con người ta có thể trong sáng đến thế! Tận tụy đến thế! Dũng mãnh đến thế! (Nguyễn Khải).
Trong thí dụ trên, Tận tụy đến thế! Dũng mãnh đến thế! vốn thuộc bộ phận vị
ngữ của câu nhưng được tách thành hai câu riêng
1.5.2.2 Biện pháp tu từ văn bản
BPTT văn bản là cách thức tổ chức, kết hợp các phần, các mảnh đoạnbất kì trong văn bản nhằm tạo ra hiệu quả tu từ BPTT văn bản bao gồm: rútgọn văn bản, đảo trật tự, hòa hợp về giọng điệu, tương phản về giọng điệu, lặplại các phần văn bản, dùng đề từ, tạo kiểu cấu trúc đặc biệt, lặp đầu - cuối Thí
dụ về biện pháp hòa hợp về màu sắc biểu cảm
“Xuân Tóc đỏ điên tiết lên mà rằng:
-Thế ông, ông có phải là con nhà bình dân không? Ừ, tôi xin hỏi: Ông
Trang 33có phải dòng giống nhà bình dân không? Ông lạ lắm! Ông không đúng mốt! Phải biết cái gì là hợp thời trang chứ?
Người kia ra vẻ hổ thẹn lắm! Quần áo đã hủ lậu mà lại đến cả dòng giống cũng là con nhà tử tế không hợp thời trang! Thật là hỏng bét cả”
(Số đỏ - Vũ Trọng Phụng)Đoạn văn bản trên có hai mảnh đoạn: lời trực tiếp của Xuân Tóc đỏ vàlời người kể chuyện đều hòa hợp, tương đồng về màu sắc phong cách: lời nói
“tân tiến” của những kẻ vô học được tác giả nhại lại trong lời kể chuyện nhằmthể hiện tính mỉa mai, châm biếm của tác giả
Thí dụ về biện pháp lặp đầu - cuối : Trong Chí Phèo (Nam Cao), hình
ảnh chiếc lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua lại xuất hiện ởphần đầu tác phẩm gắn với sự ra đời của Chí Phèo và lại xuất hiện ở cuối tácphẩm trong ý nghĩ của Thị Nở sau khi Chí Phèo chết diễn tả bi kịch của cuộcđời con người không bao giờ kết thúc, Chí Phèo cha chết đi thì Chí Phèo conlại ra đời
Tiểu kết chương 1
Từ những nội dung đã trình bày ở trên, có thể khái quát như sau:
1 Diễn văn là loại văn bản thuộc phong cách nghị luận thể hiện quan điểm,
LL của người viết về một vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhằmtác động đến tư tưởng, cảm xúc, thái độ và hành động của người tiếpnhận
Diễn văn được phân loại theo nội dung thành DVCT, kinh tế, văn hóagiáo dục và theo hoàn cảnh xuất hiện của diễn văn thành diễn văn khai mạc, bếmạc sự kiện, diễn văn nhậm chức
DVCT là diễn văn thể hiện quan điểm, LL của người viết về một vấn đềchính trị nhằm tác động đến tư tưởng, cảm xúc, thái độ và hành động của ngườitiếp nhận
Diễn văn có đặc trưng: tính thuyết phục, tính LL chặt chẽ, tính bình giácông khai còn DVCT, ngoài những đặc trưng của diễn văn còn có đặc trưng:
Trang 34tính chính trị
2 LL là hành động ngôn từ mà người viết (người nói) đưa những lí lẽnhằm dẫn dắt người nghe đến một hoặc một số kết luận hay chấp nhậnmột hoặc một số kết luận nào đó mà người viết (người nói) muốn đạt tới
LL gồm 3 thành tố: Luận cứ (lí lẽ), kết luận và cơ sở của LL Dựa vào sốlượng luận cứ và kết luận, có thể phân chia LL thành 2 loại: LL đơn và LLphức hợp Dựa vào tính chất quan hệ giữa luận cứ và kết luận, phân chia LLthành: LL diễn dịch, LL quy nạp, LL so sánh, LL phản đề, LL nhân quả
3 BPTT là những cách kết hợp sử dụng trong hoạt động lời nói cácphương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không trong mộtngữ cảnh rộng để tạo hiệu quả tu từ BPTT được phân loại thành BPTTngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, cú pháp và BPTT văn bản
Những vấn đề lí thuyết được trình bày trên là cơ sở để chúng tôi đi vàonghiên cứu về LL và BPTT trong DVCT
Trang 35Chương 2 LẬP LUẬN TRONG DIỄN VĂN CHÍNH TRỊ
Trong chương 2, chúng tôi nghiên cứu về lập luận trong DVCT, cụ thể làphân tích cấu trúc của lập luận, các phương pháp lập luận được sử dụng trongDVCT và miêu tả một số tác tử lập luận, kết tử lập luận tiêu biểu
2.1 Cấu trúc lập luận trong diễn văn chính trị
Cấu trúc của một LL bao gồm: Luận cứ (lí lẽ), kết luận và cơ sở LL
2.1.1 Luận cứ trong diễn văn chính trị
2.1.1.1 Đặc điểm của luận cứ trong diễn văn chính trị
a Sự đa dạng của các loại luận cứ trong diễn văn chính trị
Các tác giả DVCT sử dụng đa dạng các loại luận cứ: Trích dẫn, sự kiện,
sự việc thực tế, kinh nghiệm lịch sử và trải nghiệm tự thân
- Luận cứ là các trích dẫn
Để tạo nên sức thuyết phục của diễn văn, các chính trị khai thác sứcmạnh của lịch sử và của trí tuệ nhân loại bằng việc trích dẫn thành ngữ, tụcngữ, điển cố hay những câu nói bất hủ trong những tác phẩm kinh điển
William Safire nhận xét trong lời ngỏ đầu sách Những bài diễn văn nổi tiếng thế giới: “Trong quá khứ, các nhà hùng biện đôi lúc chèn thêm các câu nói
trong thời Hy Lạp cổ đại, nhưng ngày nay câu trích dẫn là điều bắt buộc” [22,tr.9]
Trong Tôi có một giấc mơ (I have a dream), khi Martin Luther King thể
hiện mơ ước về sự bình đẳng giữa người da màu và người da trắng ở Mỹ, ông
đã trích dẫn những lời bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: I have a dream that one day this nation will rise up and live out the true
meaning of its creed: "We hold these truths to be self-evident: that all men are
created equal." (Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày khi đất nước này trỗi dậy
để sống theo ý nghĩa thật của niềm xác tín của chính mình: "Chúng ta đều tin vào bằng chứng không chối cãi: ấy là mọi người sinh ra đều bình đẳng")
Trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 khai sinh nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa, để có cơ sở lịch sử và pháp lí cho tuyên bố “Nước Việt có quyền
Trang 36hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập Toàn thểdân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải
để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai
bản tuyên ngôn: Bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ: “Tất cả mọi người sinh
ra đều có quyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâmphạm được; trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu
cầu hạnh phúc” và Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng
Pháp năm 1789: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng và quyền lợi và phải luônluôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”
Hơn thế nữa, tác giả của các diễn văn nổi tiếng trên thế giới còn kết hợpvới sức mạnh của trí tuệ và sức mạnh của đức tin khi vận dụng những lí lẽ củakinh Thánh, kinh Phật, kinh Kora Khi nhắc đến điều khoản bãi bỏ nô lệ được
ghi trong bản Tuyên ngôn giải phóng nô lệ, Martin Luther King (trong Tôi có một giấc mơ - đã trích dẫn) nói "Nó đã đến như bình minh để kết thúc đêm dài của kiếp nô lệ" So sánh đầy hình ảnh trên được L.M.King trích dẫn từ Thánh vịnh 30:5.
Trong diễn văn nhậm chức của B.Obama có đoạn: Chúng ta vẫn là một quốc gia non trẻ, nhưng như những lời thiên khải trong Kinh Thánh, đã tới lúc
bỏ sang một bên những điều nông nổi (We remain a young nation, but in the words of Scripture, the time has come to set aside childish things), Obama đã nhắc lại lời nói của thánh Paul trong 1 Corinthians 13:11: Khi tôi còn là một đứa trẻ, tôi thường nói như một đứa trẻ, suy nghĩ như một đứa trẻ, lý luận như một đứa trẻ; khi tôi đã trưởng thành, tôi dẹp đi những thứ của trẻ con (When I was a child, I used to talk as a child, think as a child, reason as a child; when I became a man, I put aside childish things).
- Luận cứ là các sự việc, sự kiện thực tế
Sự thực dù đơn giản nhưng bao giờ cũng có sức mạnh vô biên Các tácgiả diễn văn phát huy giá trị của sự thực để thể hiện tư tưởng chính trị của
mình Các cụm từ: sự thật là (Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh), có một sự thực quan trọng (Diễn văn kêu gọi thành lập nền chuyên chính vô sản -
Trang 37K.Marx) trở thành các dấu hiệu hình thức đánh dấu các luận cứ là các sự việc,
sự kiện thực tế
Trong Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã dùng tới 14 câu để miêu tả những sự kiện có thực để minh chứng chohành động vô nhân đạo của thực dân Pháp đối với Việt Nam trên cả hai phươngdiện chính trị và kinh tế:
“Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của
ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều Chúng cướp không ruộng đất, hầm
mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày
và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”.
Các dẫn chứng thực tế có tính tiêu biểu, minh xác trên còn có sức nặnghơn ngàn vạn các bình luận, đánh giá Đó là những lí lẽ không thể “chối cãi”minh chứng toàn diện cho sự đàn áp về chính trị, cụ thể là luật pháp dã man, sựđàn áp đẫm máu các cuộc khởi nghĩa, chính sách ngu dân và đầu độc giống nòi
Đó là những lí lẽ không thể “chối cãi” minh chứng toàn diện cho sự bóc lột vềkinh tế, bao gồm sự bóc lột về tư liệu sản xuất, về tài chính và sự bóc lột bằng
Trang 38chính sách kinh tế.
Sự thăng hoa của nghệ thuật ẩn dụ trong Tôi có một giấc mơ không hề
xóa nhòa sự thực nghiệt ngã của cuộc sống người da đen:
“Nhưng một trăm năm sau, người da đen vẫn chưa được tự do Một trăm năm sau, cuộc sống của người da đen vẫn còn què quặt do gông cùm của lòng kỳ thị và xiềng xích của tinh thần phân biệt Một trăm năm sau, người da đen vẫn sống trên hoang đảo của nghèo khó ngay giữa lòng đại dương bao la của phồn vinh vật chất Một trăm năm sau, người da đen vẫn tàn úa trong những xó tối của xã hội Mỹ và nhận ra rằng họ chỉ là những kẻ bị lưu đày ngay trên quê hương mình (But one hundred years later, we must face the tragic fact that the Negro is still not free One hundred years later, the life of the Negro is still sadly crippled by the manacles of segregation and the chains of discrimination One hundred years later, the Negro lives on a lonely island of poverty in the midst of a vast ocean of material prosperity.
One hundred years later, the Negro is still languishing in the corners of American society and finds himself an exile in his own land).
Đó là sự thực của sự mất tự do, của sự kì thị chủng tộc, của sự đói nghèo
và cao hơn hết là sự thực của những người “thiếu quê hương” (chữ dùng củanhà văn Nguyễn Tuân - chú thích của tác giả đề tài) ngay trên mảnh đất quêhương mình
- Luận cứ là các kinh nghiệm lịch sử
Trong các DVCT, các kinh nghiệm mang tính lịch sử của một dân tộchay của loài người và thậm chí cả trải nghiệm tự thân của chính tác giả - cácchính trị gia - trở thành các lí lẽ (cả luận cứ và cơ sở LL) quan trọng và thuyếtphục
Trong diễn văn bênh vực nền chuyên chính vô sản, V.I.Lenin dùng quyluật xã hội - quy luật đấu tranh giai cấp từ khi xuất hiện giai cấp - làm điểm tựavững chắc cho khẳng định mang tính tuyên ngôn: chuyên chính vô sản là tất
yếu: “Lịch sử cho chúng ta biết không có một giai cấp bị áp bức nào từ trước đến nay lên nắm chính quyền, và không thể nắm chính quyền mà không trải
Trang 39qua một thời kì chuyên chính ”
Quy luật xã hội (mọi giai cấp bị áp bức lên nắm chính quyền đều phảitrải qua một thời kì chuyên chính) xuất hiện trong LL trên có giá trị như một đạitiền đề trong tam đoạn luận Có thể mô hình hóa LL tam đoạn luận này trong
diễn văn của Lenin tại Hội nghị quốc tế cộng sản năm 1919 như sau: (Đại tiền đề) Mọi giai cấp bị áp bức lên nắm chính quyền đều phải trải qua một thời kì chuyên chính.
(Tiểu tiền đề) Giai cấp công nhân bị áp bức và luôn đấu tranh để giành chính quyền.
(Kết luận) Giai cấp công nhân nhất thiết phải trải qua thời kì chuyên chính (Tức: Nền chuyên chính vô sản nhất định phải tiến hành)
Cũng dùng lịch sử làm điểm tựa cho LL, B Obama (Diễn văn nhậmchức nhiệm kì 2 - ngày 21 tháng 01 năm 2013) khẳng định sự tất yếu của đấutranh để giành tự do:
Thí dụ: Hôm nay chúng ta tiếp tục cuộc hành trình vô hạn, để nối liền ý nghĩa các từ ngữ ấy với thực tế của thời đại Bởi vì lịch sử nói với chúng ta rằng mặc dù các chân lý đó có thể là hiển nhiên, chúng chưa bao giờ tự thể hiện được và rằng mặc dù tự do là một món quà của Thượng đế, nhưng con dân của ngài phải tranh đấu để có được tự do trên trái đất này (Today we continue a never-ending journey, to bridge the meaning of those words with the realities of our time For history tells us that while these truths may be self- evident, they have never been self-executing; that while freedom is a gift from God, it must be secured by His people here on Earth).
Những trải nghiệm về chân lí phải đấu tranh mới có thể giành được
“quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” đã được minh chứngqua lịch sử của dân tộc Mĩ từ cuộc đấu tranh của những người yêu nước năm
1776 để tạo dựng nền cộng hòa cho đến những hành động không mệt mỏi của
cả dân tộc trong hiện tại để vượt qua khủng hoảng
b Tính phức hợp của luận cứ trong diễn văn chính trị
LL trong diễn văn nói chung và trong DVCT nói riêng có tính phức hợp
Trang 40Tức LL trong diễn văn là chuỗi các LL có sự liên kết với nhau, trong đó có hiệntượng kết luận bộ phận r1 trở thành luận cứ để đến kết luận bộ phận r2 hoặc kếtluận chung R Như vậy, một luận cứ có thể đóng hai vai trò: luận cứ trong mộtđại LL và kết luận trong một LL bộ phận hoặc luận cứ trong LL bộ phận 2 vàkết luận trong LL bộ phận 1.
Thí dụ: Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng (p1), thực dân Pháp càng lấn tới (q1), vì chúng muốn cướp nước ta lần nữa! (r1) (p2)
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.(q2)
Hỡi đồng bào,
Chúng ta phải đứng lên! (r2)
Trong phần đầu Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, kết luận r1 chúng muốn cướp nước ta lần nữa đồng thời là luận cứ (p2), luận cứ (p2) nghịch hướng với luận cứ (q2) trong LL có kết luận r2: chúng ta phải đứng lên Tính phức hợp của luận cứ trên thể hiện ở chỗ chúng muốn cướp nước ta lần nữa
vừa là kết luận r1 của LL thứ nhất có hai luận cứ p1, q1 nhưng đồng thời lại làluận cứ p2 cùng với luận cứ q2 hướng đến kết luận r2 Điều này thể hiện tínhchuỗi hoặc tính liên tiếp của các LL trong một diễn văn
2.1.1.2 Quan hệ giữa các luận cứ trong diễn văn chính trị
Các luận cứ trong LL ở DVCT có quan hệ đồng hướng hoặc nghịchhướng
Các luận cứ có quan hệ đồng hướng như các mũi tên đều hướng về mộtđích
Thí dụ: Trong diễn văn bênh vực nền chuyên chính vô sản, Lenin minhchứng sự khác biệt giữa chuyên chính vô sản và chế độ độc tài của tư sản bằng
hai luận cứ: (LC1) chế độ độc tài của địa chủ và giai cấp tư sản là sự đàn áp bằng vũ lực đối với sự đối kháng của đa số của dân số, nghĩa là, giai cấp cần lao và (LC2) nền chuyên chính vô sản là sự trấn áp bằng vũ lực sự đối kháng của những kẻ bóc lột, nghĩa là, của một thiểu số không đáng kể trong dân số -