Tổng quan về di tích lịch sử văn hóa nói chung và di sản văn hóa nói riêng đã được giới thiệu trong giáo trình “Quản lý di sản văn hóa” của tác giả Nguyễn Thị Kim Loan với nội dung như c
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
KHU DI TÍCH ĐỀN LĂNG Ở XÃ
LIÊM CẦN, HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH
: TS BÙI THỊ ÁNH VÂN: ĐINH THỊ NGỌCANH
: 1405QLVB002: 2014-2018
: ĐH QLVH 14B
HÀ NỘI - 2018
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận
“Công tác bảo tồn và phát huy giá trị khu
di tích đền Lăng ở xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam”, tác giả thường
xuyên nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ củacác thày cô giáo trong khoa Quản lý xã hội,
Trang 3đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của cô giáo
Ts Bùi Thị Ánh Vân - người trực tiếphướng dẫn khoa học
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn trânthành của mình tới các thày cô giáo đã tậntình hướng dẫn, chỉ bảo, tạo điều kiện đểgiúp đỡ tác giả hoàn thành khóa luận này
Tác giả xin chân thành cảm ơn tập thểcán bộ phòng Văn hóa và Thông tin huyệnThanh Liêm, ông Nguyễn Đức Nghĩa - côngchức văn hóa xã hội xã Liêm Cần, ôngNguyễn Văn Họp - thủ từ khu di tích đềnLăng đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi
để tác giả có thể hoàn thành khóa luận
Những lời cảm ơn sau cùng xin dànhcho ba mẹ - người sinh thành, nuôi dưỡng,luôn ở bên tác giả, chi sẻ, bảo ban cũng nhưđộng viên tác giả trong suốt thời gian qua vàtác giả cũng muốn gửi lời cảm ơn chânthành đến những bạn bè đã hết lòng giúp đỡtác giả hoàn thành khóa luận này
Là một sinh viên bước đầu làmnghiên cứu khoa học nên còn nhiều bỡ ngỡ
và không tránh khỏi những thiếu sót Vìvậy, tác giả rất mong nhận được những ýkiến đóng góp của thầy cô và các bạn
Xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2018
Trang 4Sinh viên
Đinh Thị Ngọc Anh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Công tác
bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích đền Lăng ở xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam” là đề tài do chính tôi thực
hiện dưới sự chỉ bảo tận tình của Ts BùiThị Ánh Vân
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quảnghiên cứu của tôi trong khóa luận này
Hà Nội, ngày
30 tháng
3 năm 2018
Sinh viên
Đ in
Trang 5h T hị N g ọ
c A n h
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VHTT&DL Văn hóa thể thao và du lịch
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ XÃ LIÊM CẦN, HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM 6
1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 6
1.1.1. Một số khái niệm 6
1.1.2. Nội dung công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 8 1.2 Khái quát về xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam 11 1.3 Tổng quan về khu di tích lịch sử văn hóa đền Lăng 13
1.3.1. Địa điểm phân bổ di tích 13
1.3.2. Lịch sử hình thành di tích và lai lịch của các vị thần được thờ trong di tích 14
1.3.3. Kiến trúc và cảnh quan của di tích 19
1.4 Giá trị của khu di tích đền Lăng 23
1.4.1. Giá trị kiến trúc 23
1.4.2. Giá trị lịch sử 25
1.4.3. Giá trị tâm linh 26
1.4.4. Giá trị giáo dục 27
* Tiểu kết 28
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH ĐỀN LĂNG Ở XÃ LIÊM CẦN, HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM 29
2.1 Sự phân cấp quản lý khu di tích đền Lăng 29
2.1.1. Các cấp quản lý khu di tích đền Lăng 29
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của ban quản lý khu di tích đền Lăng 32
2.2 Hoạt động bảo tồn khu di tích đền Lăng 34
2.2.1. Hoạt động kiểm kê di sản 34
Trang 82.2.2. Hoạt động trùng tu, tôn tạo di tích đền Lăng 39
2.2.3. Hoạt động sưu tầm, lưu giữ tài liệu về khu di tích đền Lăng 41
2.2.4. Hoạt động tuyên truyền, giới thiệu về khu di tích đền Lăng 42
2.3 Những hoạt động phát huy giá trị khu di tích đền Lăng 44
2.3.1. Kết nối với hoạt động du lịch các tỉnh 44
2.3.2. Phát huy giá trị khu di tích đền Lăng từ việc tổ chức lễ hội 47
2.3.3. Công tác giáo dục kết hợp hoạt động giáo dục di sản đối với thế hệ trẻ ở địa phương 48
2.4 Đánh giá chung về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích đền Lăng 50
2.4.1. Những mặt tích cực 50
2.4.2. Những mặt hạn chế 51
* Tiểu kết 53
Chương 3 GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH ĐỀN LĂNG Ở XÃ LIÊM CẦN, HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM 54
3.1 Giải pháp về lãnh đạo, chỉ đạo và kiện toàn ban quản lý di tích
54 3.2 Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức về di tích, phối hợp các ngành, các cấp trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị khu di tích đền Lăng 55
3.3 Giải pháp về bảo tồn và phát huy các giá trị di tích 56
3.4 Giải pháp về xã hội hóa trong bảo tồn khu di tích đền Lăng 57
3.5 Một số khuyến nghị 58
3.5.1. Đối với UBND tỉnh Hà Nam và huyện Thanh Liêm 58
3.5.2. Đối với Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Hà Nam 58
3.5.3. Đối với Ban quản lý di tích đền Lăng 58
3.5.4. Đối với người dân trên địa bàn di tích 59
* Tiểu kết 59
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 9PHỤ LỤC 62
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Di sản nói chung và di tích lịch sử văn hóa nói riêng là kho báu quý giácủa mỗi quốc gia Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng,minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Di tíchgiúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyềnthống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và do đó có tác động ngược trởlại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Di tích chứađựng những giá trị kinh tế to lớn (trị giá nhiều ngàn tỷ đồng) nếu bị mất đikhông đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thầnlớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa là nguồn lựccho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khai thác, sửdụng tốt sẽ góp phần không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và nócàng có ý nghĩa to lớn khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực
Là một sinh viên theo học chuyên ngành Quản lý văn hóa của trườngĐại học Nội Vụ Hà Nội, lại là người con của quê hương Liêm Cần, chứng kiếncảnh di tích quý giá của quê hương đang dần bị lãng quên nên tôi mong muốnvận dụng những kiến thức mình đã học được trong quá trình học tập tại trường
Trang 11vào thực tế công tác bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích đền Lăng Chính vì
thế tôi chọn đề tài “Công tác bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích đền Lăng
ở xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam” làm khóa luận tốt nghiệp
của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu
về di tích lịch sử trong các tạp chí, trong các sách chuyên ngành
Trong công trình Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa do trường Đại học Vănhóa xuất bản năm 1993, các tác giả Nguyễn Đăng Duy và Trịnh Minh Đức đãgiới thiệu khái quát về các loại hình di tích lịch sử-văn hóa, hệ thống lý luận về
di tích lịch sử và nghiệp vụ bảo tồn dựa trên ngành bảo tồn bảo tàng
Trong bài viết “Một số vấn đề về di tích lịch sử văn hóa” đăng trên tạp
chí văn hóa nghệ thuật năm 2002, giáo sư Lưu Trần Tiêu đã đề cập đến vấn đềquản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích ở nhiều khía cạnh khác nhau và
đề ra những biện pháp mang tính cấp bách nhằm tăng cường việc quản lý nhànước trong bảo tồn di tích
Tổng quan về di tích lịch sử văn hóa nói chung và di sản văn hóa nói
riêng đã được giới thiệu trong giáo trình “Quản lý di sản văn hóa” của tác giả
Nguyễn Thị Kim Loan với nội dung như các khái niệm cơ bản, quan điểm pháttriển của Đảng và nhà nước, nội dung cơ bản liên quan đến quản lý di sản vănhóa và hoạt động bảo tồn di sản văn hóa
Về khu di tích đền Lăng cũng có một vài công trình nghiên cứu viết vềkhu di tích này:
Trong cuốn Trăn trở ngàn năm của các tác giả Bùi Văn Cường, Nguyễn
Tế Nhị và Nguyễn Văn Điềm giới thiệu các huyền thoại, truyền thuyết về cácvua Đinh vua Lê trên đất Hà Nam trong đó có giới thiệu về khu di tích đềnLăng và lai lịch các nhân vật được thờ trong khu di tích
Cuốn Hội làng cổ truyền tỉnh Hà Nam tập 2 của tác giả Lê Hữu Bách đã
Trang 12đề cập đến hội đền Lăng thôn Cõi (từ trang 167 đến trang 193), trong đó tậptrung giới thiệu về lai lịch các nhân vật được thờ trong đền Lăng và mô tả lễhội đền Lăng
Ngoài ra, khu di tích đền Lăng cũng được đề cập đến trong các bài viết,
tác phẩm nghiên cứu của hai tác giả Hà Văn Lang và Đinh Văn Chư như: Đền
Lăng - Di tích lịch sử văn hóa Đinh Lê, Bảo Thái có Lê Hoàn - Địa linh sinh hào kiệt của tác giả Đinh Văn Chư; Sự tích quê hương Lê Hoàn, Hoàng đế Lý Thái Tổ về thăm quê ngoại, Đại tướng Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng của
tác giả Hà Văn Lang Những tác phẩm này đều nhắc đến sự tích các nhân vậtđược thờ trong đền Lăng và những mối liên quan của khu di tích đền Lăng vớicác nhân vật lịch sử như vua Lý Thái Tổ, Trần Bình Trọng
Tuy nhiên các tác phẩm trên mới chỉ tập trung nghiên cứu về các nhânvật được thờ trong khu di tích đền Lăng và huyền thoại về những vị ấy Chưa
có công trình nào nghiên cứu về công tác bảo tồn và phát huy giá trị khu ditích này Chính vì thế, tôi mong muốn khóa luận này sẽ cung cấp cho ngườiđọc một cái nhìn tổng thể về khu di tích đền Lăng, từ nguồn gốc, lai lịch cácnhân vật được thờ đến thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị khu ditích Đồng thời đề xuất một số giải pháp nâng cao hoạt động bảo tồn và pháthuy giá trị của khu di tích này
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị khu di tíchlịch sử-văn hóa đền Lăng hiện nay
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt độngnày trong điều kiện thực tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Lịch sử hình thành, lai lịch các nhân vật được thờ trong di tích, các giátrị của di tích
Trang 13- Thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của khu di tích đềnLăng
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: khóa luận tập trung vào hoạt động bảo
tồn và phát huy giá trị khu di tích lịch sử văn hóa đền Lăng
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Khu di tích lịch sử văn hóa đền Lăng
thuộc xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
- Phạm vi thời gian nghiên cứu: 1999 - 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã: Tác giả đã thực hiện chuyến đi thực tế về khu di
tích đền Lăng Ghi chép các dữ liệu thu thập được từ thực tế như kiến trúc,cảnh quan, cơ sở vật chất của khu di tích
- Phương pháp quan sát phỏng vấn, mô tả: Tác giả thực hiện việc thâm
nhập thực tế, quan sát, ghi chép, phỏng vấn cán bộ lãnh đạo địa phương, cán
bộ văn hóa, thủ từ của di tích và nhân dân xung quanh khu di tích
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cở sở những tư liệu và dữ liệu
thu thập được từ thực tế, tác giả đã tiến hành phân loại, xử lý, tổng hợp, phântích và đưa ra những nhận định khách quan về thực trạng của công tác bảo tồn,phát huy giá trị khu di tích đền Lăng hiện nay, những mặt tích cực, những mặthạn chế và những vấn đề đặt ra Từ đó giúp địa phương có thể đưa ra nhữngchủ trương phù hợp trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị khu di tích đềnLăng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của khóa luận
* Ý nghĩa lý luận: Khóa luận góp phần làm sáng tỏ những kiến thức lý
luận được tiếp nhận từ những học phần về chuyên ngành quản lý văn hóa, đặc
biệt là học phần Quản lý di sản văn hóa.
* Ý nghĩa thực tiễn: Khóa luận tập hợp tư liệu về những giá trị của khu
di tích đền Lăng, thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị của khu di
Trang 14tích, đề xuất nhóm giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn vàphát huy giá trị của di tích Khóa luận còn là tài liệu tham khảo cho học sinh,sinh viên trong học tập, tìm hiểu và làm các đề tài nghiên cứu có liên quan.Cung cấp thông tin hữu ích cho mọi người dân muốn quan tâm và tìm hiểu vềkhu di tích lịch sử văn hóa đền Lăng
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung
khóa luận bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch
sử văn hóa và khái quát về xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Chương 2: Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích đền Lăng ở xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích đền Lăng ở
xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI
• • ' •
TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ XÃ LIÊM CẦN
,HUYỆN THANH LIÊM, TỈNH HÀ NAM 1.1 Một số vấn đề lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch
sử văn hóa
1.1.1. Một số khái niệm
Di sản là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc Đó là những giátrị văn hóa có sức sống trường tồn, đẫ vượt qua được sự thẩm định của thờigian để từ quá khứ đến được với hiện đại Để có thể hiểu rõ nhất về công tácquản lý di sản, trước hết cần hiểu một số khái niệm như: di sản, di sản văn hóavật thể, di sản văn hóa phi vật thể, quản lý, quản lý di sản văn hóa
Trong cuốn Quản lý di sản văn hóa của tác giả Nguyễn Thị Kim Loan
có nêu khái niệm: “Di sản văn hóa chính là hệ thống các giá trị vật chất và
tinh thần do một cộng đồng người sáng tạo ra và tích lũy trong một quá trình lịch sử lâu dài và được lưu truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau” [10; Tr.11].
Điều 1 của Luật di sản văn hóa của Việt Nam cũng đưa ra định nghĩa về
di sản văn hóa như sau: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và di
sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Theo cách định nghĩa này, ta thấy di sản văn hóa
bao gồm hầu hết các giá trị văn hóa do thiên nhiên và con người sáng tạo ratrong quá khứ
Di sản văn hóa tồn tại dưới 2 dạng: di sản văn hóa vật thể và di sản vănhóa phi vật thể Trong điều 4 chương 1 của Luật di sản văn hóa định nghĩa:
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyềnmiệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao
Trang 16gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngư văntruyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội,bí quyết về nghềthủ công truyền thống,tri thức về y học, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩmthực,về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật,bảo vật quốc gia
Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, vănhóa, khoa học
Quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của con người Quản lý chứađựng nội dung rộng lớn, đa dạng, phức tạp và luôn luôn vận động, biến đổi,phát triển Vì vậy, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về quản lý.Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy tất cả khái niệm liên quan đến hoạt độngquản lý đều tập trung vào hai nội dung chủ yếu: Quản lý là một hoạt động cóhướng đích của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm đạt mụctiêu của tổ chức; quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua ngườikhác và biết được chính xác họ đã hoàn thành công việc như thế nào
Trong tập bài giảng Khoa học quản lý đại cương, tác giả Trần Ngọc Liêu định nghĩa: “Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy
trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi” [11;
Tr.15].
Trong giáo trình Quản lý di sản văn hóa, tác giả Nguyễn Thị Kim Loan
đã định nghĩa: “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa là tác động của các chủ
thể mang quyền lực nhà nước lên các đối tượng trong các hoạt động xã hội liên quan đến di sản văn hóa dân tộc như: sử dụng; trao đổi, bảo tồn, bảo vệ
di sản văn hóa đó” Quản lý nhà nước về di sản văn hóa dân tộc bao gồm cả
Trang 17việc xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện các luật đó và giám sát, chấn chỉnhcác hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến di sản văn hóa dân tộc.
1.1.2 Quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
* Quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo tồn và phát huy giá trị di tích
Để tạo lập một cơ sở có tính định hướng cho hoạt động quản lý nhànước về di sản văn hóa dân tộc, Đảng và Nhà nước đã đưa ra các quan điểmmang tính chỉ đạo trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa nói chung và công tácbảo tồn và phát huy giá trị của các khu di tích nói riêng Các quan điểm nàyđược thể hiện rõ trong các văn bản pháp luật và văn kiện đại hội của Đảng cáckhóa VIII, IX, X, đặc biệt là trong nghị quyết TW 5 khóa VIII và điều 30 Hiếnpháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 [10; Tr.253] Quanđiểm của Đảng và chủ trương của Nhà nước về bảo tồn di sản được tóm tắttrong các quan điểm sau: Di sản văn hóa dân tộc nằm trong sự quản lý thốngnhất của nhà nước, dưới vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đảm bảo tôntrọng sự sáng tạo của các cá nhân, tổ chức trong nghiên cứu, tìm tòi tìm ra cácbiện pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của khối di sản văn hóa dântộc một cách hiệu quả
* Văn bản quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di tích
Để tạo hành lang pháp lý cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích,Đảng và Nhà nước đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnhvực quản lý nhà nước về di sản nói chung và bảo tồn phát huy giá trị di tích nóiriêng
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòađược thành lập Ngày 23/11/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số65/SL về công tác bảo tồn, bảo tàng
Ngày 28/6/1956, Ban Chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt Nam
Trang 18ra thông tư số 38-TT/TW về việc bảo vệ di tích lịch sử văn hóa vừa uốn nắnnhững sai sót gây tổn hại cho kho tàng di sản văn hóa dân tộc, vừa đề ra một sốviệc phải làm như nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ di tích lịch sử, danh lamthắng cảnh trong các cấp các ngành, các tổ chức xã hội và toàn dân, đình chỉngay những hoạt động kinh tế đang phương hại trực tiếp đến một số di tích cụthể, tiến hành phân loại các di tích, cần có kế hoạch để tu bổ các di tích.
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nay là Cộng hòa Xã hộiChủ nghĩa Việt Nam đã xác định di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh
là tài sản quý của toàn dân cần phải được bảo vệ Điều 34 Hiến pháp năm 1992của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi: Nhà nước và xã hội bảotồn, phát triển các di tích văn hóa dân tộc, chăm lo công tác bảo tồn bảo tàng tu
bổ tôn tạo bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử cách mạng, các
di tích văn hóa, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh Nghiêmcấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử cách mạng, các côngtrình nghệ thuật và danh lam thắng cảnh
Năm 2001, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
X, kỳ họp thứ 9 đã ban hành và thông qua Luật Di sản văn hóa và được sửa
đổi bổ sung một số điều năm 2009 Trong đó mục I chương IV đã quy địnhnhững điều liên quan đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sửvăn hóa và danh lam thắng cảnh như: tiêu chí xác định di tích lịch sử văn hóa,phân loại di tích lịch sử văn hóa, thẩm quyền phê duyệt dự án bảo tồn, tu bổ ditích lịch sử văn hóa,
Thông tư số 18/2012/TT - BVHTTDL quy định chi tiết một số quy định
về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích như nguyên tắc trong hoạt động thiết kế tu
bổ di tích, nguyên tắc trong hoạt động thi công tu bổ di tích, hô sơ thiết kế tu
bổ di tích, nội dung thuyết minh, thiết kế tu bổ di tích,
Trên đây là một vài văn bản pháp lý của công tác bảo tồn và phát huygiá trị di tích Những văn bản này là công cụ hỗ trợ, là phương tiện để tiến
Trang 19hành trùng tu, tôn tạo di tích, giúp các di tích sống mãi với thời gian.
* Ý nghĩa của bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa
Bảo tồn và phát huy giá trị di tích là cách thức, biện pháp giữ gìn, bảo
vệ di tích và khai thác, sử dụng các giá trị của di tích phục vụ các nhu cầu vềkinh tế xã hội Đây là hai nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết và có ý nghĩa to lớntrong công tác quản lý di sản nói chung và quản lý di tích nói riêng
Di tích lịch sử văn hóa là những di tích hàm chứa những giá trị về lịch
sử, văn hóa Bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử văn hóa là gìn giữ vàphát huy những truyền thống và các nét đặc trưng văn hóa của dân tộc Di tích
là nơi thờ những vị anh hùng, những người có công dựng nước và giữ nước.Gìn giữ di tích là thể hiện sự biết ơn, sự kính trọng đối với những người cócông với đất nước Đó chính là truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ
kẻ trồng cây của dân tộc Việt Nam Đồng thời gìn giữ, bảo vệ di tích còn giáodục cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc Ngoài ra, di tích còn lưugiữ những nét của văn hóa dân gian truyền thống từ kiến trúc, hoa văn trên đồthờ tự đến cách bố trí cảnh quan Chắc chắn rằng, nếu không có di tích chúng
ta sẽ không thể biết đến con rồng thời Lý trông như thế nào, khác so với conrồng thời Trần ra sao, sẽ không thể biết đến nghệ thuật bố trí nơi thờ tự theochữ Đinh, chữ Công, chữ Tam,
Các di tích lịch sử văn hóa chứa đựng giá trị to lớn về mặt kinh tế,lànguồn lực sẵn có cho phát triển kinh tế nếu được khai thác đúng mục đích.Hiện nay, chất lượng đời sống của nhân được cải thiện, mức sống được nângcao nên nhu cầu về du lịch là rất lớn Di tích lịch sử văn hóa là tài nguyên vôgiá của du lịch Người ta đến với di tích lịch sử văn hóa để tỏ lòng tri ân đốivới các danh nhân, danh tướng, để tìm về với cội nguồn dân tộc, chiêm ngưỡngnhững công trình kiến trúc động đáo và để cho tâm thanh tịnh, cầu xin nhữngđiều mà họ mong muốn Các di tích lịch sử văn hóa chính là một trong nhữngđiểm du lịch thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước Từ đó đem lại
Trang 20nguồn thu lớn cho nền kinh tế, phát triển ngành dịch vụ du lịch.
1.2 Khái quát về xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
Xã Liêm Cần là một xã nằm ở phía Đông Bắc huyện Thanh Liêm, phíaBắc giáp xã Liêm Phong, phía Tây giáp xã Thanh Bình và xã Thanh Hà, phíaBắc giáp xã Liêm Tiết, phía Nam giáp xã Liêm Thuận Tổng diện tích đất củatoàn xã là 725,23 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp thực hiện dồn đổi là314,8 ha Xã Liêm Cần hiện nay có 09 thôn làng là thôn Vực, thôn Nhuế, thônCõi, thôn Trại, thôn Tam, thôn Tứ, thôn Ngũ, thôn Động Nhất, thôn Bông;gồm 2.398 hộ dân và 6.908 nhân khẩu [16; Tr.3]
Xã Liêm Cần
Liêm Cần là xã thuần nông, nhân dân chủ yếu sinh sống bằng nghề nôngnên đời sống còn nhiều khó khăn Trong những năm gần đây, nền kinh tế của
xã Liêm Cần có nhiều khởi sắc Trong sản xuất nông nghiệp, UBND xã LiêmCần đã tập trung chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng như chuyển đổi từ giốnglúa thuần sang giống lúa lai cho năng xuất cao, chuyển đổi mô hình chăn nuôi
từ chăn nuôi hộ gia đình sang chăn nuôi tập trung đồng thời áp dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất như sử dụng máy xạ lúa, sử dụng phân bón vi sinh,
Hệ thống giao thông của xã ngày càng được hoàn thiện hơn Các conđường liên xã, liên huyện qua địa bàn xã Liêm Cần đều được bê tông hóa, đảmbảo cho người dân đi lại thuận tiện, không bị lầy lội vào mùa mưa, tạo điềukiện thuận lợi cho các hoạt động thương mại của nhân dân trong xã Hơn nữa,trên địa bàn xã có 2 tuyến đường chính chạy qua là quốc lộ 21B và tuyến caotốc Cầu Giẽ - Ninh Bình tạo tiềm năng phát triển kinh tế- xã hội cho xã
Hiện nay trên địa bàn xã Liêm Cần có 04 công ty may đó là công ty mayĐức Mạnh, công ty may Thiên Sơn, công ty may Hà Anh, công ty may AnPhát Sự hình thành và đi vào hoạt động của các công ty này đã góp phần giải
Trang 21quyết nhu cầu việc làm của nhân dân trong xã trong lúc nông nhàn, đồng thờigóp phần phát triển kinh tế xã hội của xã.
Liêm Cần được mệnh danh là vùng đất “địa linh sinh nhân kiệt” Trênmảnh đất Liêm Cần có hệ thống di tích lịch sử văn hóa rất có giá trị về khoahọc và lịch sử Đó là khu di tích đền Lăng - nơi thờ tự Tứ vị hoàng đế ( ĐinhTiên Hoàng đế, Lê Đại Hành hoàng đế, Lê Trung Tông hoàng đế và Lê NgọaTriều hoàng đế) và Tam vị đại vương (Nhữ Hoàng Đê công chúa, Quang MinhĐại vương và Thiên Cang), Mả Giấu - nơi an táng của Lê Lộc (ông nội của LêĐại Hành hoàng đế), đình Tam - nơi thờ thống lĩnh tướng quân Đinh Bang thờiĐinh, Hệ thống di tích lịch sử văn hóa này nếu được khai thác đúng cách sẽđem lại nguồn thu không nhỏ cho nền kinh tế của xã Liêm Cần
Đời sống tinh thần của nhân dân xã Liêm Cần ngày càng được cải thiện
Xã đã xây dựng được nhà văn hóa xã với diện tích quy hoạch 500m2, hộitrường nhà văn hóa có 300 chỗ ngồi, có 3 phòng chức năng là phòng truyềnthanh, phòng thiết bị văn hóa và phòng trang phục; đáp ứng nhu cầu hội họp vàsinh hoạt văn hóa của nhân dân trong xã [16; Tr.12] Tất cả 9/9 thôn trong xãđều có nhà văn hóa thôn Xã đã xây dựng được điểm vui chơi giải trí và thểthao cho trẻ em và người cao tuổi Trung tâm văn hóa xã dành 20% - 30% thờigian sử dụng trong năm để tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí cho trẻ em
và người cao tuổi
Trên địa bàn xã Liêm Cần hiện nay có 4 cấp học đó là Trường Mầm non
xã Liêm Cần, Trường Tiểu học xã Liêm Cần, Trường Trung học cơ sở LiêmCần và Trường Trung học phổ thông Lê Hoàn Ba trường Mầm non, Tiểu học
và Trung học cơ sở đều có cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đạt chuẩn quốcgia Trình độ dân trí của xã ở mức trung bình Xã đã đạt chuẩn phổ cập giáodục Mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2010 - 2015 và giai đoạn 2015 - 2020,đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học ở mức độ 3 năm 2016, đạt chuẩn mức độ
Trang 22phổ cập Trung học cơ sở mức độ 2 năm 1992 và chuẩn mức độ 3 năm 2017[16; Tr.15].
Với những thành tựu đã đạt được, năm 2017 xã Liêm Cần đã được côngnhận là xã đạt chuẩn nông thôn mới, được Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Đình Khang
và Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Xuân Đông đã trao Cờ thi đua, Bằng côngnhận của UBND tỉnh Hà Nam trong Lễ Tịch Điền diễn ra vào ngày mùng 5tháng Giêng năm 2018 [PL 1; A12] Đây là bước đánh dấu sự khởi sắc của nềnkinh tế xã Liêm Cần Tuy nhiên, do Liêm Cần là xã thuần nông, có nền kinh tếthấp hơn so với mặt bằng chung của huyện Thanh Liêm nên đời sống nhân dântrong xã vẫn còn gặp nhiều khó khăn
1.3 Tổng quan về khu di tích lịch sử văn hóa đền Lăng
Đền Lăng còn có tên là đền Ninh Thái, nằm trên khu đất cao, rộng ởphía Tây chân núi Lăng Di tích thuộc thôn Cõi, có tên chữ là Bảo Thái, còn cótên khác là Bảo Cái, trước đây thuộc tổng Hòa Ngãi, huyện Thanh Liêm, phủ
Lý Nhân, trấn Sơn Nam Hiện nay thuộc xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm,tỉnh Hà Nam Đây là vùng thôn quê bán sơn địa, vừa có cánh đồng chiêmtrũng, lại vừa có núi non, sơn thủy giao đãi Theo cách nhìn phong thủy thì
thôn Cõi nằm trong khu vực “địa linh”, tiềm tàng khả năng sinh “nhân kiệt”.
Để đến được với khu di tích đền Lăng, du khách có thể đi theo các trụcđường chính như sau:
- Từ thành phố Phủ Lý, đi xuôi theo đường quốc lộ 21 (hướng đi NamĐịnh) 7km đến phố Động (xã Liêm Cần) rẽ phải, đi theo con đường liên huyệnkhoảng 1km, tiếp tục rẽ tay phải 1km sẽ đến di tích
- Từ thành phố Nam Định, ngược đường quốc lộ 21 khoảng 24km sẽđến phố Động, rẽ tay trái theo đường liên huyện như trên chỉ dẫn sẽ đến ditích
Trang 231.3.2 Lịch sử hình thành di tích và lai lịch của các vị thần được thờ trong di tích
1.3.2.1 Lịch sử hình thành
Dựa vào thần tích và truyền thuyết lưu truyền ở địa phương, thì đềnLăng được người dân thôn Cõi dựng lên từ thế kỷ thứ X để thờ Đinh TiênHoàng Đế, sau đó thờ Lê Đại Hành Hoàng Đế, Lê Trung Tông Hoàng Đế, LêNgọa Triều Hoàng Đế, Quang Minh Đại Vương, Nhữ Hoàng Đê và ThiênCang
1.3.2.2 Lai lịch các nhân vật được thờ trong di tích
Liêm Cần - mảnh đất cổ của Hà Nam với địa thế núi đồi nổi giữa đồngbằng, với con sông cổ Khương Kiều uốn lượn, tạo dòng chảy nối sông Châuvới sông Đáy, rất thuận cho giao thông đường thủy, lại tiện lợi cho việc quân.Phải chăng từ địa thế đó mà nhiều vị tướng tài của các triều đại đã lấy LiêmCần làm cơ sở tụ nghĩa, luyện quân cứu nước
Đền Lăng là ngôi đền thờ Tứ vị hoàng đế và Tam vị đại vương Tứ vịhoàng đế được thờ ở đây là Đinh Tiên Hoàng Đế, Lê Đại Hành Hoàng Đế, LêTrung Tông Hoàng Đế và Lê Ngọa Triều Hoàng Đế Tam vị đại vương làNguyễn Minh, Nhữ Hoàng Đê, Thiên Cang Thần tích và lai lịch của các vịthần như sau:
- Sự tích Đinh Tiên Hoàng đế
Theo ngọc phả được lưu giữ trong khu di tích , truyền thuyết địa phươngcùng nội dung khắc trên bài vị thờ tại chính tẩm thì vị vua thứ nhất được thờ ở đền Lăng là Đinh Tiên Hoàng đế húy là Đinh Bộ Lĩnh, có công dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, lập ra triều đại phong kiến chính thống ở Việt Nam vào thế kỷ thứ X.[12; Tr.7]
Theo truyền thuyết dân gian lưu truyền ở thôn Cõi và các vùng quê lâncận thì trong cuộc đời chinh chiến đánh Đông dẹp Bắc của mình, có lần Đinh
Bộ Lĩnh đã cùng Đinh Điền và Đinh Bang về Liêm Cần tuyển quân, lập căn
Trang 24cứ, huấn luyện quân sĩ tạo dựng vị trí tiền đồn cho quân doanh chính ở Hoa Lư(Gia Viễn - Ninh Bình) Và chỗ vua Đinh đóng quân chính là điểm mà sau nàynhân dân lập sinh từ rồi sau dựng đền thờ, gọi là đền Lăng bây giờ.
Nhân dân Động Xá Liêm Cần còn một số người theo vua Đinh tụ nghĩa
ở đây rồi vào Hoa Lư đi dẹp nội loạn, đưa đất nước về một mối Từ mối quan
hệ mật thiết, tốt đẹp đó nên khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, ông đã miễntrừ sưu thuế, tạp dịch cho nhân dân Bảo Thái, tạo điều kiện cho dân làng cócuộc sống no ấm hơn
Đinh Tiên Hoàng Đế mất, Thiếu đế lên ngôi đã cho nhân dân Bảo Thái(nay là thôn Cõi xã Liêm Cần) rước sắc về phụng sự và ân nghĩa đó còn giữmãi đến ngày nay
- Sự tích Lê Đại Hành hoàng đế và hai con của ngài là vua Lê Trung Tông và Lê Ngọa Triều.
Việc Lê Hoàn được thờ ở đình Lăng là do mối liên quan lúc sinh thời
mà thư tịch, dấu tích, truyền thuyết còn ghi nhận:
Xưa có ông Lê Lộc quê ở Tràng An (Ninh Bình), vợ là Cao Thị Khươngsinh được một người con trai đặt tên là Hiền, nhưng do hoàn cảnh loạn ly, giađình túng bấn nên Lê Lộc đưa vợ con đến Bảo Thái cư trú làm ăn Lê Lộc làmnghề đơm đó, bắt tôm cá kiếm sống Để tiện cho việc trông coi, ông dựng mộttúp lều nhỏ ở ven sông Một hôm, không rõ vì sao có một con hổ màu trắng từđâu lạc đến ở lều của ông Với tấm lòng đôn hậu ông cho hổ ăn tôm, cá tựanhư cha cho con ăn, rồi lại căn dặn nó không được hại người, phá của Hổ conkhông biết nói song có vẻ như nó hiểu được nội dung lời dặn dò của ông Lộc.Lâu dần con hổ ở lại cùng ông, được ông coi như con và hằng ngày giúp ôngcoi giữ đó cá Một hôm, ông Lộc đi đổ đó ban đêm ở chân núi Bông Do ôngmặc áo mưa nên hổ trắng không nhận ra, tưởng kẻ gian đổ trộm đó, liền vồchết ngay Khi lật cái xác lại, hổ trắng nhận ra đó là chủ của mình, bèn cõngxác ông Lộc về núi Cõi giấu, rồi mối đùng thành mộ và hổ bỏ đi Cũng vì vậy
Trang 25mà chỗ đó có tên gọi là Mả Giấu hay Mộ hổ táng Dân gian cho đó là mả đạikết, đại phát công danh [1; Tr.171].
Lê Lộc mất, Lê Hiền bỏ làng ra đi, vào miền trong lấy vợ họ Đặng.Ngày 10 tháng Giêng năm Tân Sửu (941) bà họ Đặng sinh ra một trai khôingô, tuấn tú và cho đây là điều phúc đã trở lại với gia đình nên đặt tên con làHoàn [1; Tr.171] Năm Hoàn 7 tuổi thì cha mẹ đều mất, gia cảnh cùng quẫnnên phải đến nương nhờ viên quan Sát sứ họ Lê ở Ái Châu (Thanh Hóa) QuanSát sứ thấy Hoàn cùng họ, lại có tướng mạo khác thường, nhận đoán sự trưởngthành mai sau nên rất thương, cho ăn học chu đáo, coi hoàn như con đẻ Vốnthông minh lại được cha nuôi tìm thầy cho học nên khi đến tuổi thành niên, LêHoàn đã am hiểu binh pháp, võ nghệ tinh thông Song cha nuôi ông qua đờigiữa lúc đất nước gặp nội loạn các sứ quân Trước tình hình đó, Lê Hoàn trở vềquê cũ thôn Cõi theo lời mẹ dặn, vừa thăm phần mộ ông nội, vừa muốn tìmhiền tài để mưa cầu việc lớn
Sống tại Bảo Thái, Lê Hoàn mở trường dạy học để kiếm sống, đồng thờitìm hiền tài, cùng chí hướng Ông đã kết giao với Nguyễn Minh là người làngVực cùng xã, tuyển mộ tráng đinh, luyện tập võ nghệ, trau dồi chiến lược,chiến thuật Ở xã Liêm Cần hiện nay vẫn còn các địa danh như Giàn Thề ( nơi
Lê Hoàn lập cho quân sĩ tế trời đất, xin thề ồng tâm đưa giang sơn về mộtmối), Trại Nhuế ( trại ngựa của Lê Hoàn) ghi dấu việc Lê Hoàn tuyển quângiúp vua Đinh dẹp loạn 12 sứ quân
Khi nghe tin Đinh Bộ Lĩnh là người có phong độ đế vương, đang chiêuhiền đãi sĩ, dẹp nội loạn Lê Hoàn đã đem quân vào Hoa Lư yết kiến, quythuận và được Đinh Bộ Lĩnh trọng dụng Trong chiến đấu, Lê Hoàn tỏ rõ thaolược, ít người sánh kịp, lại có tài thu phục nhân tâm, do vậy ông được phongchức Thập đạo tướng quân và là bậc lương đống của triều đình từ năm ông 30tuổi (971) Công lao to lớn của Lê Hoàn đối với đất nước, với người dân Đại
Cồ Việt là đã trợ giúp vua Đinh dẹp loạn 12 sứ quân, thu non sông về một mối
Trang 26Không chỉ có thế, trên cương vị là Phó Vương, ông còn chỉ huy nhân dân Đại
Cồ Việt đánh tan đạo quân xâm lược của nhà Tống trên sông Bạch Đằng năm
981, bảo toàn được quyền tự chủ của đất nước vốn đã được xác lập từ thời nhàĐinh [1; Tr.172] Rồi trên cương vị hoàng đế ông đặt lễ cày Tịch điền dướichân núi Đọi, nhằm khuyến nông, trọng nông Vì công lao hộ quốc tý dân tolớn mà khi ngài “hóa” , nhân dân thôn Cõi đã phụng thờ Ngài ở đền Lăng cùngvới vua Đinh, hằng năm mở hội tưởng niệm, tri ân công đức vào ngày mùng 4tháng Giêng âm lịch
Vua Lê Trung Tông húy là Lê Long Việt, là con thứ ba của vua Lê ĐạiHành Khi vua cha mất, Lê Long Việt nối ngôi, là vị vua thứ 2 của triều Tiền
Lê Do các hoàng tử Lê Ngân Tích, Lê Long Cảnh, Lê Long Đĩnh đánh nhau
để đoạt ngôi báu, cho nên Lê Trung Tông chỉ làm vua được 3 ngày đã bị sáthại Mặc dù vậy, vua Lê Trung Tông sau khi chết, vẫn được nhân dân thôn Coithờ ở đền Lăng cùng với vua cha Lê Đại Hành
Vua Lê Ngọa Triều húy là Lê Long Đĩnh, con thứ năm của vua Lê ĐạiHành Khi vua Lê Trung Tông bị thích khách giết hại, Lê Long Đĩnh lên nốingôi Đây là ông vua hoang dâm, vô đạo, bất chính lại hiếu sát, lòng dân oánthán Vì thế khi Lê Long Đĩnh qua đời, quần thần đặt tên Thụy là Lê NgọaTriều, hàm ý trỏ ông vua “nằm mà coi triều” Vua Lê Ngọa Triều cũng đượcthờ ở đền Lăng
- Sự tích Minh Quang Đại vương và Nhữ Hoàng Đê công chúa
Minh Quang Đại vương (Nguyễn Minh) là con trai của Nguyễn Hạnh vàTrần Thị Mỹ, người vùng Kinh Bắc đến Bảo Thái cư trú, vợ chồng ông lấynhau nhiều năm mà không có con Bấy giờ ở Bảo Thái có một ngôi chùa cổ,lâu ngày hoang tàn lạnh lẽo, không có sư trông coi Vợ chồng ông Nguyễn bènxin ở lại chùa để tu bổ tượng Phật, cầu mong Phật ban cho phúc lành Một lần
hai ông bà nằm ngủ thì mơ thấy từ trên phật điện có nguời nói: “Nhà ông
thành kính, trời đã xét soi, nay ta cho một kim đồng vào làm con, sau này công
Trang 27danh hiển hách nơi triều chính, để lại tiếng thơm muôn thủa, không phải quá lo” [14; Tr.31] Thế rồi Trần thị có mang, đến ngày mùng 10 tháng Giêng năm
Canh Tý (940) , sinh ra một bé trai, mắt sáng tựa sao,thần sắc tuấn tú nên ông
bà đặt tên là Minh Nguyễn Minh được bố mẹ cho theo thầy học văn, học võ vàmau chóng tinh thông Năm ông 16 tuổi thì cha mẹ đều mất, sau khi làm machay cho bố mẹ, gia sản khánh kiệt nên thường ngày ông vác búa vào rừng đốncủa kiếm sống Tuy nghèo song Nguyễn Minh có chí lớn, thường kết giao, quy
tụ người tài để tính chuyện lâu dài Có lần Lê Hoàn đến chơi, tỏ ý cùng nhauphù tá Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn cát cứ, giúp dân thoát khỏi lầm than Tuy là bạncùng thôn xã nhưng Nguyễn Minh chần chừ chưa quyết Sau đó, ông mơ thấythần linh báo mộng khuyên ông quy thuận họ Đinh, ông mới cất quân đi phùĐinh
Trên đường qua trang Thanh Khê, gặp người con gái tên Nhữ Đê, là conông Nhữ Khâm và được ông cho kết duyên chồng vợ Sau đó, Nguyễn Minhđến động Hoa Lư tiếp kiến Đinh Bộ Lĩnh và được trao chức phó tướng, thamtán quân vụ Nguyễn Minh cùng Lê Hoàn ra sức phù Đinh, đánh dẹp các xứquân, nhanh chóng thu phục hết thế lực này đến thế lực khác
Khi chiến thắng, đất nước thái bình, ông xin vua về Bảo Thái làm ăn vàtrong bữa tiệc vua tôi chia tay, bỗng dưng cả hai ông bà Nguyễn Minh - Như
Đê đều vô bệnh mà mất Vua Đinh thương tiếc cấp tiền cho dân Bảo Thái thờ
tự ông bà và phong là Quang Minh chính trực đại vương và Nhữ phu nhânđược phong là Nhữ Hoàng Đê công chúa [14; Tr.32]
Nhân dân Bảo Thái thờ Nguyễn Minh Quang Đại vương, Nhữ Hoàng
Đê và thờ thêm vị thần Thiên Cang đã báo mộng cho ông phù nhà Đinh trừloạn nước
Hiện nay tại đền Lăng, cung trong thờ Tứ vị hoàng đế (Đinh TiênHoàng đế, Lê Đại Hành hoàng đế, Lê Trung Tông hoàng đế, Lê Ngọa Triềuhoàng đế), cung ngoài thờ Tam vị đại vương (Nguyễn Minh Quang đại vương,
Trang 28Nhữ Hoàng Đê công chúa và Thiên Cang), thể hiện tấm lòng tri ân, theo nềnếp từ xưa ông cha để lại Công lao của vua Đinh, vua Lê Đại Hành cũng nhưNguyễn Minh Quang đại vương được lịch sử và nhân dân nơi đây trân trọng.Nhà Lý lên ngôi, khi mới dời đô ra Thăng Long, đã ban chiếu cho xã Bảo Tháiphụng sự đền miếu Các triều đại kế tiếp y lệ cũ ban sắc và xuân thu nhị kỳ tổchức Quốc tế Và điều đáng tự hào, đáng quý là người xưa và hiện tại đã trântrọng lịch sử, phát huy truyền thống xây dựng, bảo vệ đất nước, quê hương nhưtinh thần câu đối tại đền Lăng:
Phạt Tống bình Chiêm quang Việt sử
Quy lai thập nhị sứ anh hùng
Tạm dịch
Đánh Tống bình Chiêm Thành sử nước nêu gương sáng,
Dẹp yên loạn 12 sứ quân, thật đáng bậc anh hùng
1.3.3 Kiến trúc và cảnh quan của di tích
Đền Lăng tọa lạc trên một khu đất cao, rộng ở phía Tây núi Lăng, hòanhập với cảnh quan thiên nhiên xung quanh gồm núi non, đầm hồ, sơn thủygiao hòa Di tích được bố cục mặt bằng theo kiểu tiền chữ Nhị, hậu chữ Đinhgồm có tòa Đệ Nhất (nhà Tiền đường), tòa Đệ nhị (nhà Bái đường), tòa Hậucung (chính tẩm) Cả ba tòa đều được lợp ngói nam, cùng hệ thống đấu trụ,đao góc, bờ dải, bờ nóc, đảm bảo yêu cầu của một công trình kiến trúc nghệthuật
Tòa Tiền đường được thiết kế theo kiểu mái cong chồng diêm theophong cách của dân tộc Hệ thống cột cái ở tiền đường làm theo lối hìnhvuông, soi lác cạnh do đó trông rất mềm mại và nhẹ nhàng Hệ thống câu đầutạo uốn vành mai duyên dáng, chắc khỏe Điều đáng lưu tâm là các cấu iện kếtcấu công trình ở hai vì gian giữa của tòa tiền đường có lớp lớp các mảng phùđiêu chạm rồng, ly, quy rất sinh động Trên trụ non, đấu rế còn được tạo thànhmâm ngũ quả với đào, lựu tự nhiên, vừa mắt Một số mảng mê còn chạm rồng
Trang 29chầu, chạm chim phượng và hoa cúc tinh tế nghệ thuật Để gánh bốn trụ noncủa tòa Tiền đường, thợ chạm tạo bốn con nghê ghé vai đội trụ một cách sinhđộng, không dập khuôn, gò bó.
Trên vì phía Đông, người thợ khéo léo thể hiện một con thú bên hồ sen,
tư thế dấu mình, lẩn trốn trong lá sen cách điệu Còn vì bên kia là hình một conthú đang ôm một cái đó lớn, con thú này như hình con hổ và bên cạnh đó có cảmột con hổ khác đang đeo chiếc giỏ ở cổ Phải chăng, những hình này đang táidiễn lại cảnh hổ giúp ông Lê Lộc làm nghề đơm đó sinh nhai từ nghìn nămtrước
Phía trong tòa Tiền đường là tòa Đệ nhị cung và chính tẩm Hai cungnày chung trong một tòa bốn gian rộng, thiết kế theo phong cách giường hạ kẻ
Hệ thống cột chính gồm 10 chiếc, đường kính cột 35 cm [13, Tr.14] Hệ thốngcột quân nhỏ hơn Tất cả hệ thống cột này đều làm bằng gỗ lim theo kiểu búpđòng, đầu cột thon thon ngậm xà và câu đầu Chân cột thu nhỏ để hợp với hệthông chân tảng, vừa tạo dáng mềm mại cho khối gỗ tứ thiết, bớt đi sự cứngnhắc, thuận mắt mọi người
Năm vì kèo đều làm theo lối chồng giường, mặc dù gỗ cũ, gỗ mới dùngtrong đại tu bị pha trộn, song từng con giường, từng chiếc trụ non, từng conđấu bát cũng đều có tỷ lệ thích hợp, khiến từng vì vẫn đảm bảo yêu cầu về kỹthuật và mỹ thuật
Các cấu kiện khác như câu đầu, kẻ, bẩy cũng được gia công nghệ thuậtkhoa học đẹp mắt Không chỉ cân xứng trong tỷ lệ mà còn có dáng mềm mại,cong cong; đầu dư, ngàm, mộng hài hòa, bén khít khiến công trình thêm phầngiá trị
Cửa cung cấm được thiết kế ngạch ngưỡng theo lối cổ, vừa cắt mòi, vừasoi chỉ tạo khung công phu Phần cửa cũng được làm cẩn thận Các bạo cửakhung bên đều chạy chỉ và để cho có độ thông thoáng, hệ thống song tiện đượclắp dựng trên xà lòng, xà nách giúp cho phần cửa cấm thêm hòa nhập, đẹp một
Trang 30cách kín đáo.
Tất cả các cột đều được đặt trên chân tảng kích thước 50 x 50cm [13;Tr.15] Chân tảng đục nổi, gương tròn theo cấp để định vị chân cột, vừa là lốitrang trí, tôn nâng đại trụ làm đẹp cho công trình Điều đặc biệt là vì chính diệncủa tòa đệ nhị còn có bức cửa võng, vừa gắn với câu đầu, với cột cái công trìnhđược đục chạm công phu, tạo chương với cảnh lưỡng long chầu nguyệt tinh vinghệ thuật, tạo riềm trên, riềm hai bên với những băng lá sòi, những mảnhlong vân, phượng vũ có sức truyền cảm cao Trung tâm cửa võng nổi bốn chữ
“ Thánh cung vạn tuế” trong khung tròn rất đẹp Cửa võng được sơn son thếp
vàng, màu sắc vàng óng, ấm áp, tôn thêm vẻ đẹp cho công trình
Phía trước cửa đền là hệ thống trụ, cổng tả hữu, tường hoa hòa nhập vớibóng cây cổ thụ, dáng núi gần xa, làm tăng thêm vẻ trang nghiêm , cổ kính, tônthêm vẻ đẹp hữu tình của khu di tích đền Lăng [PL1; A9]
Lễ hội là sinh hoạt văn hóa cộng đồng phổ biến của người Việt Nam từxưa đến nay Lễ hội có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần củangười Việt Lễ hội là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa tâm linh, thể hiện lòngbiết ơn, sự tưởng nhớ đối với những người có công với dân tộc, là nơi mọingười gặp gỡ, cùng nhau tế lễ, thể hiện sự cố kết cộng đồng dân tộc,
Đền Lăng trước hết là nơi thờ tự thiêng liêng Hơn thế, đó còn là nơisinh hoạt văn hóa của cộng đồng làng Chạ Trong một năm, nhân dân thôn Cõitiến hành nhiều nghi lễ vào các ngày đặc biệt tại đền Lăng như ngày Rằmtháng Giêng, ngày Rằm tháng Bảy Âm lịch, ngày Rằm tháng Hai Âm lịch (ngày sinh vua Lê Ngọa Triều), ngày 8/3 Âm lịch (ngày sinh vua Lê TrungTông), Xong tâm thức nhân dân nơi đây vẫn hướng nhiều hơn vào ngàymùng 10 tháng Giêng Âm lịch ngày sinh của Lê Đại Hành Hoàng đế và đượcgọi là ngày Đại tế kỳ phúc, kỳ yên hay dân gian gọi là ngày Hội làng
Lễ hội đền Lăng được tổ chức vào ba ngày là mùng 9, mùng 10 và ngày
Trang 3111 tháng Giêng Âm lịch Trong đó, ngày mùng 9 là ngày khai hội, ngày mùng
10 là ngày chính hội và ngày 11 là ngày vãn hội, đóng cửa đền Hội chính 3năm mới mở 1 lần, hội lệ năm nào cũng mở Hội chính thì có Tế lễ, Rước kiệucùng nhiều trò chơi, trò thi đấu thể thao và diễn xướng dân gian Còn hội lệnăm nào cũng mở thì chỉ có Tế lễ, không có nghi thức Rước kiệu, các trò chơicũng có nhưng giảm thiểu nhiều
Diễn trình lễ hội đền Lăng cũng tương tự diễn trình hội đình, đền, miếu
ở các địa phương khác trong vùng đồng bằng sông Hồng Khi mở hội cung cócác nghi thức được tiến hành theo trình tự: lễ Cáo yết, lễ Rước nước, lễ Mộcdục, lễ Gia quan, lễ Rước kiệu; Tế lễ - Dâng hương; sinh hoạt ẩm thực, các tròhội và diễn xướng dân gian, lễ tạ và đóng cửa đình [1; Tr.180]
Do đền Lăng thờ hai anh hùng dân tộc là Đinh Tiên Hoàng đế và Lê ĐạiHành hoàng đế (có phối thờ với các vị khác) cho nên vào các dịp hội chínhthường có nghi thức Quốc tế Trước đây, nghi thức này do Quan tổng đốc hoặcTri phủ trực tiếp làm chủ tế [1; Tr.179] Ngày nay, nghi thức này do Ban quản
lý di tích đảm nhiệm , tuy nhiên Chủ tịch huyện Thanh Liêm - ông Đinh Văn
An, Phó Chủ tịch huyện phụ trách công tác văn hóa - bà Nguyễn Thị Huệ cũngquan tâm chỉ đạo và tham gia dâng hương trong buổi Tế lễ Điều này đã thuhút được đông đảo nhân dân trong huyện tham gia
Các trò hội trong lễ hội đền Lăng bao gồm các trò chơi, trò thi đấu thểthao, nghệ thuật dân gian như trò bơi chải, trò đi cầu tòm, trò đu tiên, hát chèo
và diễn chèo, Những trò hội này đều ít nhiều liên quan đến các sự tích củavua Lê Hoàn trên đất Bảo Thái Ví dụ như:
Trò bơi chải là trò chơi sôi nổi, đông vui và hào hùng Diễn trường bơichải là cái hồ rộng trước đền Tương truyền, vào thế kỷ X, vua Lê Hoàn vàNguyễn Minh đã từng cho thủy quân tập trận ở hồ này trước khi đem toàn thểquân bản bộ vào Hoa Lư ra nhập nghĩa quân của Đinh Bộ Lĩnh [1; Tr.185].Phương tiện tham gia bơi chải là thuyền ba lá, dầm gỗ cho chải viên để bơi,
Trang 32cây sào để hoa tiêu điều chỉnh hướng đi của thuyền Lực lượng tham gia bơichải là các thanh niên trai tráng Mỗi thuyền có 8 đinh tráng bao gồm 1 thuyềntrưởng cần nhịp, 1 hoa tiêu và 6 chải viên ngồi chia đều hai bên mạn thuyền.Thể lệ thi bơi chải như sau: Từ điểm cọc mốc xuất phát đến điểm cọc đích dài
500 mét, thuyền đua chải bơi 5 vòng, thuyền nào về đích trước được coi làthắng cuộc Đây là trò chơi mang nhiều ý nghĩa Trước tiên nó là hình thức rènluyện sức khỏe Công việc nghề nông vừa bấp bênh, nặng nề, hiệu quả lại thấp
Nếu không có sức chịu đựng thì không thể “chân cứng đá mềm” được Bên
cạnh đó, trò bơi chải còn mang ý nghĩa tái hiện hoạt động rèn luyện thủy quâncủa Lê Hoàn và cộng sự của ông là Nguyễn Minh, vào thời điểm xảy ra tìnhtrạng loạn mười hai sứ quân, đất nước chia cắt, nhân dân ly tán
Tất cả các trò chơi trong lễ hội đền Lăng đều không giới hạn người thamgia Hơn nữa, đa phần các trò chơi đều đỏi hỏi người chơi phải tham gia theođội Chính vì thế, thu hút được đông đảo nhân dân đến xem hội cũng như thamgia các trò chơi Bởi lẽ, người chơi tham gia theo đội, lại có thêm người đi theo
cổ vũ tinh thần cho đội chơi đó khiến cho hội đền Lăng đông càng thêm đông
1.4 Giá trị của khu di tích đền Lăng
Đến với khu di tích đền Lăng, du khách không chỉ được sống trongkhung cảnh trang nghiêm, cổ kính, sơn thủy giao hòa mà còn được chiêmngưỡng những công trình kiến trúc cổ độc đáo, những đồ thờ tự hàng trăm nămtuổi có giá trị nghệ thuật cao Như đã trình bày ở trên, khu di tích đền Lăngđược bố cục mặt bằng theo kiểu tiền chữ Nhị, hậu chữ Đinh, gồm có tòa ĐệNhất (nhà Tiền đường), tòa Đệ nhị (nhà Bái đường), tòa Hậu cung (chính tẩm).Đây là kiểu bố cục của rất nhiều đình, đền ở Việt Nam
Đền Lăng có khá nhiều đồ thờ tự Các đồ thờ ở đền Lăng đều được sơnson thếp vàng [ PL1; A8] Bởi vậy, khi tới đây, du khách sẽ cảm nhận được sựlộng lẫy, uy nghi bởi các đồ thờ tại các cung chính tẩm, Đệ nhị và Tiền đường
Trang 33Đầu tiên phải kể đến chiếc ngai thờ thời Hậu Lê Đây là chiếc ngai lớn,
có kích thước 110 x 70 x 55 (cm) [13; Tr.15] có dáng khỏe và chạm nổi, chạmthông phong ở tay ngai, trụ, sập ngai thật cầu kỳ đẹp mắt
Chiếc sập thờ được đặt ở Chính tẩm Tuy là hiện vật thời Nguyễn nhưngcũng là đồ thờ quý hiếm Sập có kích thước 220 x 180 x 85 cm [13; Tr.17] làmtheo kiểu chân quỳ, khỏe mà không nặng nề, ít cầu kỳ mà đẹp mắt Bao loan ởbốn góc mặt sập tạo ô và họa tiết đơn giản mà vẫn đẹp Cổ sập thì chạm nổi,chạm thông gió long hóa, tứ linh rất sáng tạo nghệ thuật Chân sập tạo chânquỳ dạ cá và với mây tản, lá lật cách điệu như bay, như cuốn tạo cảm xúc lânglâng, nhẹ nhàng cho người đứng trước sập
Thứ ba là đôi hạc thờ ở đền Lăng cao 250 cm [13; Tr.17] cũng được tạodáng sinh động Từ tư thế đứng chầu nghiêm túc, đến đôi cánh cụp sát thân,chiếc cổ cất cao chầu mà không hề cứng nhắc chứng tỏ nghệ nhân đã kết hợpnhuần nhuyễn giữa thực tế với cách điệu [ PL1; A3] Đáng lưu tâm hơn là lớplớp lông cánh như mây bay, như lá hóa, lại như cài vào nhau rất tự nhiên.Trang trí trên đầu bờm gáy và cả bàn, ngón chân bám trên lưng rùa cũng đượcthể hiện một cách linh hoạt Đây là đôi hạc đẹp, sản phẩm văn hóa của thờiHậu Lê rất quý hiếm, cần được bảo vệ và trân trọng
Ngoài ra, đền Lăng còn có hai chiếc quán tẩy từ thời Hậu Lê, đôi tượngngười nô lệ được cách điệu rất độc đáo cùng với nhiều đồ thờ thời Nguyễnkhác như y môn bằng gô, sập thờ, mâm đồng cõ lớn kiểu mâm quả, đài thờ,long đình, hòm sắc, tất cả đều được sơn son thếp vàng lộng lẫy Những đồthờ này đã làm tăng giá trị cho khu di tích đền Lăng, làm cho đền Lăng càngtrở nên cổ kính hơn trong mắt du khách
Đền Lăng là nơi ghi dấu những kỷ niệm của Đinh Tiên Hoàng Đế từ lúcđóng quân, luyện tập, đến lúc nhân dân lập sinh từ Đây cũng là nơi mà conngười Bảo Thái từ tướng đến quân hết lòng phò tá vua Đinh và được nhà Đinh
Trang 34quan tâm ưu đãi Việc tôn thờ vua Đinh ngoài ý nghĩa tri ân, còn có ý nghĩaghi nhận mối liên quan giữa địa phương với một sự kiện lịch sử quan trọngtrong cuộc đấu tranh thống nhất đất nước của dân tộc vào thế kỷ thứ X.
Khu di tích đền Lăng còn gắn bó chặt chẽ với cuộc đời và sự nghiệp củavua Lê Đại Hành Nền đất tọa lạc khu di tích hiện nay là nơi trước kia vua LêĐại Hành đã mở lớp dạy học Cũng từ nơi đây, vua Lê đã tuyển quân, huấnluyện binh sĩ để phù Đinh dẹp loạn, trừ hại cho dân Bên cạnh khu di tích đềnLăng còn có Mả Giấu - mộ của ông Lê Lộc (ông nội vua Lê Đại Hành, đượccoi là Mộ Tổ Tiền Lê)
Trong các cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, đền Lăng cũng gópphần không nhỏ vào công cuộc bảo vệ quê hương Bảo Thái, bảo vệ đất bước
Để chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám năm 1945, các tổ chức quần chúng, cáchoạt động vũ trang luyện tập quân sự ở địa phương đã dựa vào đền Lăng để tậpdượt Khi đi phá kho thóc Nhật cũng như ngày 24 tháng 8 năm 1945 đi cướpchính quyền tại tỉnh lỵ Hà nam, đã có không ít người bàn bạc, tụ tập tại đềnLăng để kéo nhau nhập vào đoàn người tuần hành đấu tranh, giành chínhquyền về tay nhân dân Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp (1858 - 1945)
và kháng chiến chống Mỹ (1945 1975), du kích Liêm Cần đặc biệt là đơn vịthôn Cõi đã dựa vào đền Lăng là cơ sở tập luyện, dựa vào núi Lăng để viễntiêu tình hình địch, từ đó mà tổ chức cắm cọc tre chống địch nhảy dù, tập kíchđịch trên đường 21
Như vậy có thể thấy, đền Lăng là ngôi đền tuy không trực tiếp diễn racác sự kiện lịch sử nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với các danh nhân lịch
sử và các sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc
Đền Lăng gắn bó mật thiết với cuộc đời và sự nghiệp của Lê Đại Hành
hoàng đế,vì vậy từ lần phục dựng đầu tiên của lễ hội Tịch điền Đọi Sơn vào
năm 2009, nghi lễ đầu tiên khi bắt đầu lễ hội Tịch điền là lễ Rước chân nhang
Trang 35vua Lê Đại Hành từ đền Lăng về núi Đọi - nơi tổ chức lễ hội Theo tích cũ, lễTịch điền có nguồn gốc từ rất xa xưa do vua Thần Nông, một vị vua huyềnthoại được xem là thủy tổ của người Việt, cụ nội của vua Hùng khai mở LễTịch điền về sau được người Việt thực hiện mang ý nghĩa tế Thành hoàng,Thần Nông, các thần mây, mưa, sấm, chớp để cầu mong mưa thuận gió hòa,mùa màng bội thu nên còn được gọi là Hạ điền cầu bông.
Lịch sử ghi lại: mùa xuân năm 987, lần đầu tiên vua Lê Đại Hành cùngvăn võ bá quan cày ruộng ở Đọi Sơn và bắt được chum vàng, năm 988 cày ở
Bàn Hải bắt được chum bạc, vì thế những thửa ruộng này còn được gọi là Kim
Ngân Điền Từ đó, hàng năm vào đầu xuân, nhà vua ra đồng cày ruộng, làm Lễ
tịch điền (đích thân vua xuống đi cày ruộng), cầu được mùa và các triều đạisau đó đều duy trì nghi lễ cày tịch điền với các hình thức khác nhau Lễ tịchđiền không chỉ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của các vịvua đối với người nông dân mà còn tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhândân, đặc biệt là thế hệ trẻ, lòng biết ơn tiền nhân, tích cực phát triển sản xuấtnông nghiệp Bởi vậy, mỗi người dân Hà Nam nói riêng, Việt Nam nói chungcần phát huy truyền thống thi đua lao động, sản xuất, phát triển kinh tế trênchính mảnh đất quê hương mình Chính vì thế, nghi lễ Rước chân nhang vua
Lê Đại Hành từ đền Lăng về núi Đọi cho thấy tầm quan trọng của khu di tíchđền Lăng trong đời sống tâm linh của người dân Việt Nam
Đền Lăng là nơi thờ tự thiêng liêng, là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linhcủa cộng đồng Trong một năm, tại đền Lăng diễn ra nhiều nghi lễ như lễ rằmtháng Giêng, ngày rằm tháng Bảy âm lịch, ngày rằm tháng Hai âm lịch (ngàysinh vua Lê Ngọa Triều) Song lớn nhất vẫn là ngày 10 tháng Giêng - ngàysinh của Lê Đại Hành hoàng đế, được người dân trong vùng gọi là ngày Đại tế
kỳ phúc, kỳ yên hay còn gọi là hội làng Hội Đền Lăng diễn ra trong 3 ngàymùng 9, 10 và 11 tháng Giêng âm lịch Trong đó ngày mùng 9 khai hội, ngày
10 chính hội, ngày 11 vãn hội, đóng cửa đền Mọi người đến với đền Lăng
Trang 36trước là để tri ân, tỏ lòng biết ơn sâu sắc với Tam vị đại vương và Tứ vị hoàng
đế được thờ trong đền, sau là để cầu sức khỏe, cầu công danh sự nghiệp
Đối với nhân dân thôn Cõi, đền Lăng là chốn thiêng, là nơi quy tụ linhkhí của cả vùng, được bước chân vào đền Lăng, tham dự mỗi buổi tế lễ trongđền là niềm vinh dự, tự hào của mỗi người dân nơi đây
Khu di tích đền Lăng tồn tại trên mảnh đất Liêm Cần từ nghìn đời nay,chứng kiến biết bao sự thay đổi của lịch sử đất nước Đền Lăng tồn tại sừngsững, uy nghi như gợi nhắc cho mỗi con dân Liêm Cần về truyền thống đấutranh, bảo vệ đất nước của Đinh Tiên Hoàng đế, Lê Đại Hành hoàng đế, MinhQuang Đại vương, Nó thôi thúc biết bao thế hệ thanh niên Liêm Cần quyếttâm lên đường bảo vệ Tổ quốc trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dântộc Trong xã hội hiện đại, sự tồn tại của đền Lăng cũng như những trang sửhào hùng về Đinh Tiên Hoàng đế, Lê Đại Hành hoàng đế, Nguyễn Minh ĐạiVương, Nhữ Hoàng Đê công chúa là tấm gương cho thế hệ trẻ Liêm Cần soivào, cố gắng, quyết tâm rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, trau dồi kiến thức để trởthành người cho xã hội, viết tiếp những trang sử vàng về vùng đất Tiền Lê pháttích
Để bảo tồn và phát huy khu di tích đền Lăng, Trường Tiểu học và Trunghọc cơ sở Liêm Cần thường xuyên tổ chức các buổi tham quan và dọn dẹp vệsinh khu di tích Qua hoạt động thực tế này đã giúp các em hiểu hơn về truyềnthống yêu nước của quê hương, hiểu hơn về nguồn gốc và giá trị của ngôi đền.Đồng thời nhắc nhở các em về phải luôn trau dồi kiến thức, noi gương các bậcdanh nhân để trở thành người có ích cho xã hội, làm rạng danh hơn nữa quêhương Liêm Cần
* Tiểu kết
Trong chương 1, khóa luận đã trình bày một số vấn đề về công tác quản
lí di sản, khái niệm về quản lí, đường lối chính sách của Nhà nước về bảo tồn
Trang 37di sản cũng như nội dung công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ởViệt Nam hiện nay Đồng thời giới thiệu tổng quan về vị trí địa lý, điều kiện tựnhiên và kinh tế xã hội của xã Liêm Cần, tổng quan về khu di tích đền Lăng vàcác giá trị của nó Cũng từ chương 1, có thể thấy đền Lăng là khu di tích có giátrị về nhiều mặt: kiến trúc, tâm linh, lịch sử , nếu được khai thác giá trị mộtcách hợp lý thì đền Lăng sẽ trở thành động lực cho phát triển kinh tế xã hội của
xã Liêm Cần Những nội dung được trình bày trong chương 1 chính là cơ sở về
lý luận và thực tiễn giúp tôi triển khai nội dung chương 2 tiếp theo
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU
DI TÍCH ĐỀN LĂNG Ở XÃ LIÊM CẦN, HUYỆN THANH LIÊM,
TỈNH HÀ NAM 2.1 Sự phân cấp quản lý khu di tích đền Lăng
Ngày 24/4/2013, UBND tỉnh Hà Nam đã ban hành quyết định số48/2013/QĐ-UBND về việc Ban hành Quy định phân cấp quản lý di tích lịch
sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàntỉnh Hà Nam [ PL2; VB1] Ban hành kèm theo quyết định này là quy địnhphân cấp quản lý di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật,bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh Hà Nam [PL2; VB2] Quy định này bao gồm
3 chương, 12 điều, quy định về phân cấp quản lý nhà nước đối với di tích lịch
sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được nhà nước xếp hạng và chưa đượcnhà nước xếp hạng (gọi chung là di tích), di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc
di tích và không thuộc di tích theo quy định của Luật Di sản văn hóa và các
quy định khác của pháp luật trên địa bàn tỉnh Hà Nam Quy định này áp dụngđối với UBND tỉnh Hà Nam, UBND các huyện, thành phố, UBND các xã,phường, thị trấn, các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân có liên quan đếnhoạt động quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trên địa bàn tỉnh HàNam Tuy không có điều khoản nào trực tiếp đề cập đến vấn đề phân cấp quản
lý khu di tích đền Lăng, nhưng những nội dung trong quyết định trên đã phânđịnh rõ ràng quyền quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc phâncấp quản lý đối với các di tích trên địa bàn tỉnh nói chung và khu di di tích đềnLăng nói riêng Từ đó, có thể thấy thẩm quyền của các cơ quan đối với khu ditích đền Lăng như sau:
UBND tỉnh Hà Nam do ông Nguyễn Xuân Đông làm Chủ tịch, chịu
trách nhiệm ban hành các văn bản chỉ đạo đối với công tác quản lý khu di tích
Trang 39đền Lăng Chỉ đạo các Sở, ngành có liên quan, UBND huyện Thanh Liêmtrong việc tuyên truyền, phổ biến quy định của pháp luật về di sản văn hóa; tổchức hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị khu di tích đền Lăng; bố trí nguồnkinh phí cho hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi, phục chế và phát huy giá trịkhu di tích này.
Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam - ông Nguyễn Xuân Đông có trách nhiệm
trình Bộ VHTT&DL các quy hoạch di tích, dự án, báo cáo kinh tế kỹ thuật bảoquản, tu bổ, phục hồi đối với di tích đền Lăng
Sở VHTT&DL tỉnh Hà Nam do ông Lê Xuân Huy là Giám đốc, chịu
trách nhiệm tham mưu xây dựng và tổ chức thực hiện các quy hoạch, đề án, dự
án, bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích đền Lăng sau khi được chủ tịch UBNDtỉnh-ông Nguyễn Xuân Đông phê duyệt bằng nguồn ngân sách Nhà nước.Thẩm định việc bổ sung đồ thờ, hiện vật đối với di tích đền Lăng; chủ trì, phốihợp với các Sở, ngành có liên quan trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáodục pháp luật về bảo vệ và phát huy giá trị di tích đền Lăng; chỉ đạo các đơn vịtrực thuộc Sở trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích đền Lăng Tổchức đào tạo, tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ văn hóa
ở xã Liêm Cần và ban quản lý khu di tích đền Lăng
UBND huyện Thanh Liêm do ông Đinh Văn An làm Chủ tịch huyện, có
nhiệm vụ tổ chức thực hiện các văn bản của UBND tỉnh Hà Nam vàSVHTT&DL tỉnh Hà Nam đưa ra Xây dựng và ban hành các văn bản về côngtác quản lý di tích đền Lăng Đề nghị các cơ quan chức năng thẩm định đồ thờ,hiện vật bổ sung cho di tích đền Lăng Thành lập Ban quản lý di tích huyệnThanh Liêm để quản lý trực tiếp các di tích có giá trị tiêu biểu theo sự chỉ đạocủa UNBD tỉnh Hà Nam trong đó có khu di tích đền Lăng; chỉ đạo Ban quản lý
di tích huyện Thanh Liêm thực hiện bảo vệ và phát huy giá trị di tích đền Lăng
theo các quy định của Luật Di sản văn hóa và các văn bản pháp luật có liên
quan; chỉ đạo xã Liêm Cần thành lập Ban quản lý di tích đền Lăng tại địa
Trang 40UBND xã Liêm Cần do ông Hà Thế Công làm Chủ tịch, có nhiệm vụ tổ
chức thực hiện các văn bản của UBND tỉnh Hà Nam, Sở VHTT&DL tỉnh HàNam, UBND huyện Thanh Liêm trong việc bảo vệ, phát huy giá trị di tích đềnLăng Thành lập Ban quản lý di tích đền lăng do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch
Ủy ban nhân dân xã làm Trưởng Ban Chỉ đạo Ban quản lý di tích đền Lăng,các tổ chức và cá nhân liên quan thực hiện đúng quy định của pháp luật về bảo
vệ và phát huy giá trị di tích; triển khai các giải pháp đảm bảo an ninh trật tự,phòng, chống cháy, nổ, bão, lụt, mất cắp, giữ gìn vệ sinh môi trường, sắp xếphàng quán, dịch vụ hợp lý tại di tích; gắn bia, biển, bảng giới thiệu về di tích,xây dựng nội quy của di tích Chủ động xin phép tu sửa cấp thiết khi di tíchđền Lăng xuống cấp từ nguồn ngân sách nhà nước do xã quản lý hoặc nguồnvốn xã hội hoá Thường xuyên nắm bắt tình hình di tích: công tác xã hội hoá,tranh chấp đất đai, mất cắp đồ thờ, hiện vật của di tích đền Lăng Trực tiếp giảiquyết các vấn đề nảy sinh tại di tích đền Lăng, nếu vượt quá thẩm quyền phảibáo cáo UBND huyện Thanh Liêm
Ban quản lý khu di tích đền Lăng được thành lập vào tháng 2 năm 1999theo quyết định số 35/QĐ-UBND của UBND xã Liêm Cần Ban quản lý di tíchđược kiện toàn theo từng khóa của HĐND xã Liêm cần Tính đến cuối năm
2017, Ban quản lý di tích đền Lăng được kiện toàn theo quyết định số UBND ngày 10 tháng 02 năm 2011 của UBND xã Liêm Cần, bao gồm các ông(bà) sau đây:
78/QĐ-Ông Hoàng Thanh Bình - Phó Chủ tịch xã Liêm Cần - Trưởng ban; 78/QĐ-ÔngNguyễn Đức Nghĩa - công chức văn hóa xã hội xã Liêm Cần - Phó Trưởngban
Các ủy viên bao gồm 10 người, đó là: Bà Vũ Thị Duyên - Cán bộ phụtrách công tác nông thôn mới xã Liêm Cần; ông Nguyễn Văn Họp - Thủ từ đềnLăng; ông Nguyễn Mạnh Dần - Trưởng thôn Cõi; ông Nghiêm Văn Giang -