Mục đích nghiên cứu Tổ chức xây dựng các dịch vụ thông tin - thư viện áp dụng việc tíchhợp các phần mềm hỗ trợ trên nền web để phục vụ bạn đọc ở mọi lúc mọinơi đảm bảo 24/24 nhưng không
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1
3 Mục đích nghiên cứu 1
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
4.2 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Các phương pháp nghiên cứu 2
7 Đóng góp của đề tài 3
PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ MẠNG TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 4
1.1 Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông thông tin và mạng trong hoạt động thông tin - thư viện 4
1.1.1 Những khái niệm cơ bản 4
1.1.1.1 Những khái niệm thư viện hiện đại 4
a Thư viện đa phương tiện (Multimedia Library) 4
b Thư viện điện tử (Electronic Library) 4
c Thư viện số (Digital Library) 5
d Thư viện ảo (Virtual Library) 5
e Thư viện lai (Hybrid Library) 5
1.1.1.2 Công nghệ web 6
1.1.2 Giới thiệu sơ lược về các phần mềm ứng dụng trong hoạt động thông tin - thư viện 7
1.1.2.1 Phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu tư liệu 7
1.1.2.2 Phần mềm quản trị các bộ sưu tập số 7
1.1.2.3 Phần mềm quản trị thư viện điện tử tích hợp 8
1.2 Khái quát về cơ sở thực tiễn hạ tầng cơ sở thông tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Nội vụ Hà Nội 9
Trang 21.2.1 Khái quát về Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Nội vụ
Hà Nội Error! Bookmark not defined.
2.1.1 Cài đặt XAMPP 15
2.1.2 Cài đặt Joomla (Content Management System - Quản trị nội dung số) Error! Bookmark not defined 2.1.3 Cài đặt Dspace (quản trị tài liệu số hóa) Error! Bookmark not defined. 2.1.4 Cài đặt weezo (quản trị nội dung số theo mô hình mạng ngang hàng) Error! Bookmark not defined 2.2 Quản trị hệ thống tích hợp Error! Bookmark not defined 2.2.1 Quản trị joomla Error! Bookmark not defined 2.2.2 Quản trị Dspace Error! Bookmark not defined 2.2.3 Quản trị weezo Error! Bookmark not defined Chương 3 ỨNG DỤNG HỆ THỐNG TÍCH HỢP TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN - THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 23
3.1 Thiết lập môi trường mạng tại Trung tâm Thông tín - thư viện trường Đại học Nội vụ Hà Nội 23
3.2 Xây dựng giao diện website tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường 24
3.3 Cơ chế xây dựng và phát triển nguồn tài liệu điện tử tại Trung tâm Thông tín - Thư viện trường 25
3.4 Quản trị hệ thống tích hợp tại Trung tâm Thông tin - Thư viện 29
KẾT LUẬN 32
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
1.2.2 Cơ sở hạ tầng thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Nội vụ Hà Nội Error! Bookmark not defined Chương 2 GIẢI PHÁP LỰA CHỌN PHẦN MỀM QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI 11
2.1 ềm 11
Trang 3Trung tâm Thông tin - Thư viện đại học Nội vụ Hà Nội đã và đangtriển khai phục vụ đào tạo ở các trình độ cao và đa ngành, phục vụ đa dạngcác đối tượng người đọc theo xu hướng ngày càng hội nhập và mở rộngquan hệ quốc tế Vì vậy, Trung tâm Thông tin - Thư viện cần thiết triển khaicác biện pháp để phát triển các hoạt động của mình, đặc biệt là việc ứngdụng công nghệ thông tin và mạng để xây dựng thư viện hiện đại đáp ứngyêu cầu thực tiễn.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu trong nước:
Đến thời điểm hiện tại, đề tài với tên và nội hàm như trên chưa có 1công trình chính thức nào nghiên cứu đến (cả phương diện chung cũng nhưphương diện áp dụng đối với Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đạihọc Nội vụ Hà Nội
Tình hình nghiên cứu nước ngoài: Đến thời điểm hiện tại, đề tài nàychưa có 1 công trình chính thức nào nghiên cứu
3 Mục đích nghiên cứu
Tổ chức xây dựng các dịch vụ thông tin - thư viện áp dụng việc tíchhợp các phần mềm hỗ trợ trên nền web để phục vụ bạn đọc ở mọi lúc mọinơi (đảm bảo 24/24) nhưng không cần thuê host hay phải thêm bất cứ thiết
bị nào khác ngoài những trang thiết bị về máy tính và mạng đã được trang bịtại Trung tâm Thông tin - Thư viện nhà trường
Trang 44 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu về xây dựng và quản trị server riêng, host dành cho việc càiđặt tích hợp các phần mềm phục vụ cho việc quản trị nghiệp vụ thôngtin - thư viện
- Nghiên cứu về quản trị website động (Dynamic web) được thiết lập bởi ngôn ngữ PHP và cơ sở dữ liệu SQL được phát triển bởi
JOOMLA dành cho mục đích hoạt động thông tin - thư viện
- Nghiên cứu về phần mềm quản trị sưu tập số có khả năng đánh chỉ mục mạnh (DSPACE) phục vụ việc xử lý các tài liệu số toàn văn (tài liệu điện tử toàn văn)
- Nghiên cứu mô hình mạng ngang hàng và phổ biến tài liệu số hóa trênmạng ngang hàng (WEEZO) phục vụ cho mô hình tương tác giữa bạnđọc với thư viện có phân quyền quản lý của cán bộ thư viện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc triển khai các đối tượng nghiên cứu trên áp dụng tạiTrung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Nội vụ Hà Nội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu qui trình nghiệp vụ thư viện và việc triển khai áp dụng công nghệ thông tin và mạng vào các khâu hoạt động nghiệp vụ, sau đó tích hợp vào 1 hệ thống thống nhất, xây dựng giao diện thân thiện cho người dùng tin sử dụng qua cổng website của Trung tâm Thông tin - Thư viện, cácsản phẩm tài liệu số hóa được lưu trữ tại máy tính của Trung tâm Thông tin
- Thư viện với vai trò là máy chủ web
6 Các phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát các dịch vụ thông tin - thư viện hiện đại
- Đọc tham khảo tài liệu truyền thống và tài liệu hiện đại qua mạngInternet
- Tổng hợp tài liệu
Trang 6PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ MẠNG TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông thông tin và mạng trong
hoạt động thông tin - thư viện
1.1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Những khái niệm thư viện hiện đại
a Thư viện đa phương tiện (Multimedia Library)
Thư viện đa phương tiện là thư viện sử dụng nhiều công cụ, phương tiệnkhác nhau để lưu trữ thông tin: Tài liệu giấy, phiếu mục lục, vi phim, vi phiếu, đĩaquang, đĩa từ, băng từ, Quá trình tổ chức và quản lý thư viện đa phương tiện về
cơ bản giống như thư viện truyền thống Việc tra cứu tìm tin chủ yếu vẫn theocách thủ công (tra cứu trực tiếp trên phiếu mục lục, các tài liệu tra cứu, vi phim, viphiếu, thư mục ) Bên cạnh đó thư viện đa phương tiện đã sử dụng máy vi tínhnhưng không tự động hoàn toàn công tác thư viện; cán bộ thư viện vẫn giữ một vaitrò quan trọng việc tạo lập và cung cấp các dịch vụ thư viện cho người dùng tin
b Thư viện điện tử (Electronic Library) Theo Wikipedia:
Thư viện điện tử là một thư viện trong đó tập các ấn phẩm được lưu trữ ởdạng số và được truy xuất thông qua các máy tính Trong đó nội dung số được lưutrữ bên trong hệ thống máy tính và có thể truy xuất được từ bên ngoài thông quacác mạng máy tính Thư viện điện tử là một hệ thống truy vấn thông tin
Theo DELOS Digital Library Reference Model:
Một tổ chức, có thể là một tổ chức ảo, tập hợp, quản lý và bảo quản các ấnphẩm điện tử trong thời gian dài, và cho phép cộng đồng người dùng có những
Trang 7quyền đặc biệt trên nội dung đó tùy theo các quy định đặt ra [DELOS DigitalLibrary Reference Model]
c Thư viện số (Digital Library)
Định nghĩa 1: “Các thư viện số là các tổ chức cung cấp các nguồn lực
-tài nguyên, bao gồm cả các chuyên gia để lựa chọn cấu trúc, cung cấp khả năng truy cập tới các nguồn tri thức, phiên dịch, phân phối bảo đảm tính vẹn toàn và tính lâu dài của các bộ sưu tập số để cho một cộng đồng hoặc một tập hợp cộng đồng người dùng tin xác định luôn có thể sử dụng một cách nhanh chóng, kịp thời và kinh tế”.[Liên đoàn thư viện số, 1993]
d Thư viện ảo (Virtual Library)
Thư viện ảo là thư viện được xây dựng dựa trên công nghệ hiện thực ảo màdạng đơn giản nhất của nó là gặp mặt từ xa Nhờ công nghệ này có thể tạo ra thếgiới ảo với không gian ba chiều trên màn hình máy tính, người sử dụng có thểquan sát, di chuyển giao dịch Thư viện ảo bao gồm các phương tiện giúp chongười dùng tin sử dụng có hiệu quả thư viện điện tử và thư viện truyền thống( dướihình thức tài liệu điện tử và các dịch vụ cung cấp, phân phối tài liệu) mà khôngcần phải đến tận nơi Như vậy, bất cứ một thư viện nào tạo điều kiện cho ngườidùng tiếp cận với tài liệu nằm ở bất cứ nơi nào trên thế giới đều có thể được coi làthư viện ảo
e Thư viện lai (Hybrid Library)
Thuật ngữ thư viện lai (hybrid library) được Chris Rusbridge sử dụng lầnđầu tiên vào năm 1998 trong tạp chí D-lib magazine:
Thư viện lai là thư viện sử dụng tích hợp công nghệ để tập hợp các nguồn
dữ liệu khác nhau bao gồm các tài liệu, dữ liệu điện tử và tài liệu in ấn Thư việnlai là thư viện kết hợp giữa các dịch vụ của thư viện truyền thống với các dịch vụthư viện áp dụng công nghệ hiện đại (công nghệ thông tin và truyền thông)
“The hybrid library was designed to bring a range of technologies fromdifferent sources together in the context of a working library, and also to begin toexplore integrated systems and services in both the electronic and print
Trang 8environments The hybrid library should integrate access to all four different kinds
of resources identified above, using different technologies from the digital libraryworld, and across different media The name hybrid library is intended to reflectthe transitional state of the library, which today can neither be fully print nor fullydigital As we have seen, in so many cases the results of adding technology piece-meal are unsatisfactory The hybrid library tries to use the technologies available
to bring things together into a library reflecting the best of both worlds” (D-LibMagazine, July/August 1998)
Thực chất, khái niệm thư viện lai để diễn đạt hình thức thư viện kết hợpnhiều phương thức phục vụ dịch vụ thư viện, phục vụ thông tin, là một hình thức
tổ chức hỗn hợp (mix)
Nhìn chung, có nhiều khái niệm khác nhau về các thuật ngữ của loại hìnhthư viện hiện đại, tuy nhiên, dù với thuật ngữ nào thì cũng liên quan đến việc ứngdụng công nghệ thông tin và viễn thông vào hoạt động thông tin - thư viện Vì vậy,
trong cuốn sổ tay này tác giả biên soạn xin được dùng thống nhất trong khuôn khổ về khái niệm thư viện điện tử với nội hàm là việc “ứng dụng tích hợp một số
phần mềm trên cơ sở hạ tầng phần cứng của công nghệ thông tin và viễn thông đểxây dựng một hệ thống phục vụ các dịch vụ thư viện hiện đại hoặc hỗ trợ các dịch
vụ thư viện truyền thống”.
1.1.1.2 Công nghệ web
a Máy chủ (Webserver)
Máy chủ là máy cung cấp các dịch vụ, chẳng hạn như dịch vụ cung cấptrang Web, hay dịch vụ cung cấp dữ liệu (file, các cơ sở dữ liệu.) Các máy chủweb là các máy được sử dụng để cho nhiều máy tính khác nhau cùng truy cập Cácmáy chủ được sử dụng để cung cấp nhiều dịch vụ cùng một thời điểm, như vừatruyền tải file, vừa cung cấp các trang web, Tuy nhiên, để đảm bảo cho các dịch
vụ luôn hoạt động tốt, người ta thường quản lý chuyên biệt hoá các máy chủ theotừng mục đích khác nhau Chẳng hạn máy chủ Web (Web server) chuyên dùng đểquản lý Web, máy chủ FTP (FTP server) chuyên dùng trong việc quản lý các file
Trang 9được upload hay download, máy chủ SMTP (SMTP server) chuyên dùng vào việctrao đổi các thông tin thư điện tử (E-mail),
Để thực hiện xây dựng hệ thống trên nền web (webbased) thì cần đến máychủ Tuy nhiên, ta cần phân biệt 2 khái niệm sau:
- Máy chủ về phần cứng (vật lý) là máy có cấu hình mạnh, xử lý dữ liệukhối lượng lớn và tốc độ nhanh trong cùng thời điểm
- Phần mềm máy chủ: là các tiện ích được cài đặt vào hệ thống để thựchiện nhiệm vụ của chiếc máy chủ (như dịch vụ web, dịch vụ email,.)
b Máy trạm
Là các máy tính hoặc các thiết bị số cá nhân (i-phone, ipad,.) thường tíchhợp sẵn trình duyệt web (web-browser) để duyệt các dữ liệu từ máy chủ về máytrạm để người dùng sử dụng
1.1.2 Giới thiệu sơ lược về các phần mềm ứng dụng trong hoạt động thông
tin - thư viện
1.1.2.1 Phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu tư liệu
Là phần mềm quản trị các cơ sở dữ liệu về thông tin thư mục phục vụ choviệc tra cứu, tìm kiếm những chỉ dẫn đến các tài liệu cấp 1 Các phần mềm nàythông thường được sử dụng trong chế độ clone (chế độ độc lập - không thông quamôi trường mạng có hỗ trợ các dịch vụ web)
Tại hầu hết các thư viện Việt Nam, triển khai hệ thống này từ những năm1990s, chủ yếu nhất đó là phần mềm CDS/ISIS của tổ chức UNESCO cung cấpmiễn phí cho thư viện các nước đang phát triển
1.1.2.2 Phần mềm quản trị các bộ sưu tập số
Chức năng của phần mềm này là quản trị các tài liệu số toàn văn, các nguồn
dữ liệu số khác (phần mềm, đa phương tiện,.) Một trong những nhiệm vụ cơ bảncủa phần mềm này là khả năng đánh chỉ mục tìm kiếm theo nhiều phương thứckhác nhau và tiêu chí lựa chọn quan trọng là phải được thực hiện trên nền web.Thông thường, các phần mềm này tổ chức theo mô hình các siêu dữ liệu(metadata) là những thông tin về các thuộc tính của các đối tượng số (tên tác giả,
Trang 10tên người tạo lập, tên đối tượng số (tên sách, tên phần mềm, )) và có những phầnmềm hỗ trợ tìm kiếm toàn văn đối với đối tượng số dạng văn bản (text).
Các phần mềm này đã được triển khai khi công nghệ web phát triển, đối vớicác thư viện Việt Nam việc sử dụng phần mềm này được biết đến đầu tiên như làGreenstone (mã nguồn mở, miễn phí), đến nay có sử dụng thêm và xu hướngchuyển dịch dần sang Dspace (hỗ trợ web, sử dụng cơ sở dữ liệu chuyên nghiệpmiễn phí PostgreSQL, ngôn ngữ JSP với nhiều ưu điểm cho mô hình tổ chức thôngtin trên nền web)
1.1.2.3 Phần mềm quản trị thư viện điện tử tích hợp
Đây là hệ thống hoàn thiện về quản lý qui trình nghiệp vụ thông tin - thưviện theo hướng hiện đại, phần mềm này được thiết kế theo dạng modules (từngphần chức năng chuyên biệt) tích hợp trong một hệ thống thống nhất Thôngthường, có tên gọi tắt bằng tiếng Anh là ILS (Integrated Library System) hoặcILMS (Integrated Library Management System)
Trong quá trình tin học hóa hoạt động thông tin - thư viện tại các thư việnViệt Nam, các phần mềm tích hợp được các công ty phần mềm tập trung nghiêncứu, phát triển kể cả trong nước và quốc tế Qua hơn 1 thập niên, có thể nhận thấychia thành 2 hướng như sau:
- Hệ thống phần mềm thư viện điện tử tích hợp mã nguồn đóng: hệthống này mất phí về bản quyền phần mềm, các thư viện không cókhả năng tùy biến đối với phần mềm Các phần mềm này có thể kểtên như: Libol của công ty Tinh Vân, ilib của công ty CMC, VTLScủa nước ngoài
- Hệ thống phần mềm thư viện điện tử tích hợp mã nguồn mở: hệ thốngnày được cung cấp miễn phí và đặc biệt có một cộng đồng nhữngngười tham gia phát triển rộng khắp trên toàn thế giới, vì vậy đảmbảo có tốc độ phát triển nhanh và hầu hết những lỗi đều được khắcphục nhanh chóng bằng các bản vá lỗi của cả cộng đồng phát triển.Các hệ thống phần mềm này được triển khai tại Việt Nam như: Open
Trang 11Biblio, phpmylibrary, KO11A, Tuy nhiên đến nay KOHA đangđược xem như là hệ thống ưu tiên số 1 vì những đặc trưng ưu việt của
nó, có những chức năng mà thậm chí phần mềm nguồn đóng cũngchưa hỗ trợ như chức năng lưu thông offline
1.2 Khái quát thực trạng hạ tầng cơ sở thông tin và mạng tại các Trung
tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học hiện nay ^7 • ^7 •
1.2.1 Thực trạng phần cứng
Phần cứng về công nghệ thông tin và mạng máy tính đã và đang phát triểnnhanh chóng trên diện rộng đối với tất cả các hoạt động hành chính, trong đó cóảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt đến hoạt động thông tin - thư viện Đối với các thưviện trường Đại học hầu hết đã được trang bị máy tính có kết nối mạng Internet đểphục vụ hoạt động chuyên môn của đội ngũ cán bộ thư viện Đầu những năm
2000, các máy tính tại thư viện đại học đã được triển khai nhưng hầu như hoạtđộng còn đơn lẻ, chủ yếu là xây dựng các cơ sở dữ liệu thư mục và phục vụ tra cứu
ở chế độ độc lập (clone) chưa kết nối để chia sẻ, các phần mềm ứng dụng tronghoạt động thông tin - thư viện cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ quản lý đơn lẻ cáckhâu hoạt động trong qui trình thông tin - thư viện
Từ năm 2003, với sự phát triển nhanh chóng và rộng khắp của công nghệmạng ADSL đã tạo ra bước chuyển biến về chất trong việc ứng dụng công nghệthông tin và mạng máy tính vào hoạt động thông tin - thư viện, các phần mềm ứngdụng trong hoạt động thư viện đã được nhiều thành viên trong xã hội nghiên cứu,sáng tạo để cải tiến rõ rệt hoạt động quan trọng này
Đến nay, với quá trình phát triển và phạm vi rộng khắp toàn cầu, và đặc biệt
là hiệu quả mà nó mang lại quá rõ nét, vì vậy, các thư viện đại học hiện nay đã đếngiai đoạn chín muồi - không khác được là phải áp dụng các dịch vụ thông tin - thưviện hiện đại đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới trong việc phục vụ nhu cầu giảngdạy và học tập, nghiên cứu khoa học theo xu hướng mới của thời đại: lấy ngườihọc làm trung tâm, quá trình đào tạo chuyển từ việc cung cấp nội dung sang cung
Trang 12cấp phương pháp, phương thức Nghiên cứu khoa học thiên hướng sang khoa họcứng dụng, rút ngắn từ nghiên cứu đến áp dụng vào thực tiễn.
1.2.2 Thực trạng phần mềm
Trên cơ sở sự phát triển nhanh và rộng về phần cứng, các phần mềm tronghoạt động thông tin - thư viện cũng đã phát triển song hành Đến nay, các hãngnghiên cứu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và mạng máy tính vào hoạtđộng thông tin - thư viện cũng đã trải qua khoảng thời gian tương đối để hoànthiện các sản phẩm của mình Quản lý qui trình hoạt động thông tin - thư viện có
mô hình luồng dữ liệu tương đối phức tạp và có những đặc thù riêng : như quản lýquá trình mượn - trả (circulation), quản lý ấn phẩm định kỳ (serials), quản lý quátrình biên mục các loại ấn phẩm khác nhau (Cataloguing), Tất cả những quátrình kỹ thuật đó đều được thực hiện đều đặn, thường xuyên; vì vậy cần phải đảmbảo được tính liên tục và kế thừa của hệ thống Nắm bắt tình hình thực tiễn, cácnhà cung cấp giải pháp phần mềm trên toàn thế giới đã có xu hướng chung trênmột trục quĩ đạo, đó là tuân thủ tuyệt đối các tiêu chuẩn quốc tế về ngành như:z39.50, MARC21, Dublin Core, và đáp ứng xây dựng trên nền công nghệ web vớicác tiêu chí đảm bảo tính kế thừa và cập nhật dữ liệu Các hệ phần mềm dạng tíchhợp đã được triển khai và phát triển trên phạm vi trong nước cũng như quốc tế, vídụ: libol, ilib, koha, phpmylibrary, new gen lib,
Các phần mềm ngày càng tối ưu hóa các yêu cầu quản lý trong qui trìnhthông tin - thư viện; Đặc biệt được các tổ chức cung cấp phần mềm quan tâm đến
kỹ thuật đánh chỉ mục tài liệu (index) và tiêu chí phân quyền sử dụng (authority),đồng thời đảm bảo các tiêu chuẩn liên kết, chia sẻ, nâng cấp, chuyển đổi hệ thống
và ngày càng đạt được những thành tựu và thực tiễn đang diễn ra đã chứng minhđiều đó trên phạm vi toàn thế giới
Trang 132.1 Thực trạng hạ tầng công nghệ thông tin và mạng tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Hiện tại, Trung tâm Thông tin - Thư viện mở cửa phục vụ 03 ca/ngày vàtriển khai các dịch vụ như : phòng đọc giáo trình, tài liệu tham khảo; phòng đọc ấnphẩm định kỳ và các tài liệu xám; phòng máy tính, trong đó có sử dụng tích hợp hệthống thư viện hiện đại phục vụ nhu cầu của bạn đọc trên môi trường Internet mà
đề tài của chúng tôi sẽ đề cập trong các phần sau
Hiện nay, cơ sở hạ tầng thông tin và mạng máy tính của Trung tâm Thôngtin - Thư viện được trang bị 01 phòng máy chuyên biệt gồm 40 máy tính cá nhânvới cấu hình phù hợp cho việc tra cứu tài liệu và các chức năng phục vụ các hoạtđộng thông tin - thư viện và các hoạt động hành chính, văn phòng thông thường.Tuy nhiên, phòng máy được trang bị đã lâu (năm 2008) vì vậy thường xuyên hoạtđộng ổn định được khoảng 30/40 máy
Trong quá trình phát triển Trung tâm, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạocủa Đảng ủy, Ban giám hiệu Nhà trường, đồng thời đội ngũ cán bộ Trung tâmcũng luôn xác định rõ xu hướng, mục tiêu, hướng phát triển của hoạt động thôngtin - thư viện; vì vậy, Trung tâm cũng đã có chiến lược triển khai ứng dụng côngnghệ thông tin và mạng máy tính trong hoạt động của Trung tâm trên cơ sở thựctiễn về hạ tầng hiện có Năm 2008, Nhà trường đã xây dựng cho Trung tâm 01khuôn viên tương đối khang trang, đàng hoàng được đưa vào sử dụng gồm ~ 1.500
m2và trang bị cho Trung tâm 01 hệ thống gồm 40 máy tính cấu hình tương đối caothời điểm đó (Pentium 4, 3Ghz, 2GB RAM, ổ cứng từ 80GB trở lên, màn hìnhLCD 17 inch)
Sau khi được trang bị, Trung tâm đã lựa chọn đưa vào triển khai ứng dụngphần mềm quản trị cơ sở dữ liệu tư liệu do UNESCO cung cấp cho thư viện cácnước đang phát triển CDS/ISIS Trung tâm đã sử dụng cả 02 phiên bản nhưngdùng chung các cơ sở dữ liệu, Trung tâm đã tiến hành tham khảo các thư viện cóchung đặc điểm khác (thư viện các trường Đại học, Cao đẳng) và xây dựng các cơ
Trang 14sở dữ liệu gồm:
- Cơ sở dữ liệu SACH (quản trị dạng tài liệu sách)
- Cơ sở dữ liệu BCHI (quản trị ấn phẩm định kỳ)
- Cơ sở dữ liệu LUAN (quản trị tài liệu dạng luận văn, luận án)
Trong quá trình triển khai, Trung tâm đã đáp ứng tương đối hiệu quả trongviệc tạo thêm những công cụ tra cứu thông tin hiện đại, phục vụ công tác tra cứucủa bạn đọc hiệu quả hơn về cả chất lượng kết quả tìm và thời gian tìm kiếm, bêncạnh đó cơ sở dữ liệu sách có tương tác với hệ thống tra cứu truyền thống, đó làviệc in phích mô tả từ các biểu ghi của cơ sở dữ liệu, in thư mục, cho đến côngtác hỗ trợ kiểm kê
Năm 2010, với đề tài nghiên cứu khoa học của ThS Lê Ngọc Diệp vềnghiên cứu giải pháp ứng dụng phần mềm quản trị bộ sưu tập số mã nguồn mởmiễn phí Greenstone vào hoạt động của Trung tâm Thông tin - Thư viện Đâychính là thời điểm đánh dấu thêm 01 bước đi mới của Trung tâm về quá trình ứngdụng công nghệ thông tin và mạng máy tính trong hoạt động; Trung tâm đã đượcđồng nghiệp có kinh nghiệm chia sẻ, triển khai xây dựng hệ thống để đưa vào hoạtđộng trên môi trường công nghệ web Việc tiến hành nghiên cứu đề tài này cũngrất quan trọng và mang lại đồng thời 2 ý nghĩa lớn:
- Giải quyết thực tiễn hoạt động của Trung tâm Thông tin - Thư viện (xử lý
dữ liệu tập trung tại 01 chỗ - trên máy tính (đóng vai trò là máy chủ) và đườngtruyền Internet ADSL sẵn có của Trung tâm; các máy thành viên (máy trạm) dànhcho các cán bộ thư viện tại Trung tâm và bạn đọc sử dụng giao tiếp với hệ thốngtrên các trình duyệt web Tuy nhiên, mô hình hoạt động này vẫn chỉ dừng lại trongphạm vi địa lý hẹp (mạng LAN của Trung tâm)
Cung cấp thêm tài liệu nghiên cứu cho sinh viên chuyên ngành Thông tin Thư viện của Nhà trường đang đào tạo tham khảo
-Việc triển khai phần mềm quản trị thư viện số (bộ sưu tập số) greenstone tạiTrung tâm cũng gặp những khó khăn trong việc thiết lập môi trường máy chủ web,cũng như tùy biến về giao diện cho phù hợp với đặc thù của Trung tâm Hơn nữa,
Trang 15các chương trình quản trị bộ sưu tập số phải quản trị dữ liệu toàn văn có dunglượng lớn, việc cập nhật đánh chỉ mục cho các tài liệu mới đưa vào hệ thống (đốivới greenstone có hạn chế rất rõ nét là khi cập nhật thêm tài liệu (dù nhiều hay ít)vào hệ thống, hệ thống đều tiến hành xây dựng lại toàn bộ bộ sưu tập - mất rấtnhiều thời gian và đôi khi không thành công khi bộ sưu tập có dữ liệu lớn), việcsao lưu bảo trì hệ thống khi có sự cố gặp rất nhiều khó khăn, nhất là khi triển khai
hệ thống trên hệ điều hành người dùng Windows
Về hạ tầng đường truyền mạng, từ năm 2009, Trung tâm được trang bị 01đường truyền thuê bao ADSL (gói 10MB) dành cho các cơ quan nhà nước, có địachỉ IP WAN tĩnh 222.252.30.25 Trên cơ sở đó nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu, lựachọn giải pháp và chính thức đưa hệ thống phục vụ trực tuyến trên môi trườngInternet (thiết lập host riêng) và thu thập nguồn thông tin - dữ liệu bên ngoài vào
hệ thống bằng phần mềm weezo từ ngày 13-6-2012, đồng thời có sử dụng hệ thốngquản trị nội dung mã nguồn mở phổ biến trên thế giới joomla để phục vụ và tươngtác với bạn đọc trên môi trường mạng Với cơ sở hạ tầng và giải pháp như trên,trong quá trình triển khai 1,5 năm, hệ thống đã đáp ứng gần 400.000 lượt truy cập,bình quân 2.500 đến 3.000 lượt truy cập/ngày
Thấy được hiệu quả rõ nét, Trung tâm đã tham mưu, đề nghị và được Đảng
ủy, Ban giám hiệu phê duyệt cho Trung tâm được hợp đồng chuyển đổi sang góidịch vụ kết nối mạng Internet cáp quang gói 35MB và 01 IP WAN tĩnh như hiệntại đang sử dụng từ tháng 6 năm 2013 (địa chỉ IP: 113.190.240.60)
Tháng 12 năm 2013, được cấp kinh phí mua sắm trang thiết bị, trung tâmThông tin - Thư viện đã triển khai bổ sung lắp đặt 01 máy chủ HP Proliant để phục
vụ các dịch vụ của thư viện hiện đại Với hệ thống vật lý được trang bị thêm nhưvậy, Trung tâm Thông tin - Thư viện đã lựa chọn và đang đưa vào thử nghiệm giảipháp tích hợp hệ thống trên hệ điều hành máy chủ mã nguồn mở có tính bảo mậtcao Linux xubuntu 12.04 phiên bản LTS (Long Term Support) (giải pháp này bắtđầu được triển khai thử nghiệm từ tháng 12-2013)
Nhìn chung, quá trình phát triển từ khi Trung tâm được triển khai trên cơ sở
Trang 16mới cũng đã có những bước chuyển biến rõ nét, nhất là việc đẩy mạnh ứng dụngcông nghệ thông tin theo hướng hiện đại, hiệu quả phù hợp với xu hướng quốc tế,đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế đối với ngành Tuy nhiên, do xu hướng phát triểnchung cho nên Trung tâm cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình triển khai,đặc biệt khó khăn trong giai đoạn đầu, các dữ liệu được xây dựng và phát triểnnhưng mang tính phân tán, chưa đáp ứng được yêu cầu tra cứu mọi lúc, mọi nơi.Việc triển khai trên các phần mềm ứng dụng không dựa trên nền tảng công nghệweb làm cho việc đồng nhất hóa dữ liệu khi có nhiều cán bộ của Trung tâm thamgia vào quá trình cập nhật dữ liệu cũng là 01 trở ngại rất lớn trong quá trình duy trìhoạt động ổn định của hệ thống.
Căn cứ những phân tích nêu trên, với bối cảnh hiện tại, đội ngũ giảng viêncủa Nhà trường đang nỗ lực trong mọi công việc chuẩn bị cho 01 trường có bề dàylịch sử nhưng còn non trẻ ở đào tạo bậc đại học trở lên; hơn nữa Nhà trường đangráo riết công tác chuẩn bị cho đào tạo theo hình thức tín chỉ, giao thoa giữa 2 giaiđoạn niên chế - tín chỉ, đào tạo trên nhiều cấp độ: đại học, cao đẳng, Phục vụ choquá trình chuyển đổi này, yếu tố mang ý nghĩa quan trọng đó là hoạt động củaTrung tâm Thông tin - Thư viện trong Nhà trường Giải pháp tích hợp các phầnmềm để triển khai các dịch vụ thư viện và thông tin hiện đại là vô cùng cần thiết
và mang tính cấp bách - không thể khác được trong bối cảnh hiện nay Chính vìvậy, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn nhiều phần mềm để tích hợp, các phần mềm đóđều thuộc 3 loại phần mềm có chức năng sau:
- Quản trị thư viện điện tử tích hợp (mượn trả, lưu thông, biên mục,
- Quản trị bộ sưu tập số hóa
- Thu thập thông tin qua mô hình mạng ngang hàng
Và đặc biệt là tất cả đều được phục vụ trên 01 giao diện đồng nhất duy nhất
để thuận tiện cho bạn đọc sử dụng, đảm bảo thân thiện và dễ dàng thực hiện
Trong các phần mềm có chức năng như trên, nhóm nghiên cứu cũng đã tiếnhành thực nghiệm trên nhiều phần mềm khác nhau, chủ yếu là phần mềm mãnguồn mở miễn phí trên thế giới, rồi rút ra kinh nghiệm để lựa chọn cụ thể nhóm
Trang 17các phần mềm để tích hợp đảm bảo mang tính tối ưu nhất dựa trên các tiêu chí:đảm bảo các tiêu chuẩn công nghệ và tiêu chuẩn quốc tế của ngành, có xu hướngphát triển và cộng đồng lớn nghiên cứu triển khai.
2.2 Các giải pháp lựa chọn
Trong hơn 1 thập niên vừa qua, cùng với sự phát triển như vũ bão củakhoa học và công nghệ - đặc biệt là công nghệ thông tin và mạng máy tính đã tácđộng mạnh mẽ đến mọi hoạt động thông tin nói chung và hoạt động thông tin - thưviện nói riêng Hệ quả của nó là đã làm biến đổi về chất trong phạm vi toàn cầu -
Đã hình thành một “ngôi nhà chung” về thông tin trên toàn thế giới vì đều các quátrình thông tin đều đã hoạt động dựa trên những tiêu chuẩn quốc tế mang lại hiệuquả rõ nét cho nền tảng phát triển của nhân loại Nhờ đó, người ta đã dễ dàng chia
sẻ với nhau những thành quả đạt được mà không còn bị rào cản về không gian vàthời gian
Trên cơ sở đó, đã xuất hiện ngày càng nhiều các tổ chức, cá nhân và thậmchí cộng đồng lớn nghiên cứu, phát triển phần mềm, hệ phần mềm quản trị thưviện, quản trị thông tin, quản trị nội dung số Trong đó, đối với hoạt động thông tinthư viện, xuất hiện khá nhiều các phần mềm, hệ phần mềm tích hợp trong nướccũng như trên thế giới, có những phần mềm mã nguồn đóng - mất phí, ví dụ như:libol, ilib,vtls, ; có những phần mềm mã nguồn mở miễn phí, ví dụ như: koha,new gen lib, phpmylibrary,
Các phần mềm tích hợp có cấu trúc thiết kế dạng tích hợp các phân hệ(modules), mỗi module thực hiện 01 chức năng hoặc 01 qui trình nào đó trong hoạtđộng thông tin - thư viện
Với giải pháp lựa chọn này, tất cả các chức năng đã được “đóng gói”đồng nhất trên 01 phần mềm - thuận lợi cho vấn đề cài đặt triển khai trên các nền(hệ điều hành) khác nhau mà phần mềm hỗ trợ Mối quan hệ giữa các chức năngđược các nhà cung cấp phần mềm tối ưu hóa phục vụ cho quá trình hoạt động nhưchuyển đổi dữ liệu từ các bảng, mối quan hệ giữa các bảng dữ liệu, xuất - nhập dữ
Trang 18liệu cần quản lý,.
Tuy nhiên, giải pháp này cũng gặp những khó khăn nhất định trong quátrình triển khai xây dựng và đặc biệt là duy trì phát triển của hệ thống như: hầu hếtchi phí thiết lập khá lớn, đòi hỏi đội ngũ gồm nhiều thành phần có năng lực chuyênmôn rất sâu như: cán bộ phụ trách công nghệ thông tin và mạng (cán bộ kỹ thuật);cán bộ xử lý dữ liệu điện tử (số hóa, nhận dạng ký tự quang học, biên tập hình thứccác tài liệu điện tử, ); cán bộ biên tập nội dung, cập nhật dữ liệu hệ thống, Khiphân tán như vậy sẽ có thể dẫn đến hệ thống không hoạt động liên hoàn, vì nếu có
sự cố trong 01 khâu nào đó sẽ kéo theo cả hệ thống sẽ trục trặc theo mà trong thựctiễn hoạt động thông tin - thư viện thời gian qua (từ năm 2000 đến nay) đã minhchứng rất rõ điều đó
Trong quá trình thử nghiệm và triển khai, nhóm nghiên cứu cũng đã sửdụng phương pháp tham vấn các đồng nghiệp trong và ngoài nước - chủ yếu thôngqua hình thức đối thoại trực tiếp hoặc gián tiếp bằng mạng Internet (Chat trựctuyến hoặc diễn đàn - email), kết quả có ít nhất 02 hệ thống quan điểm:
- Quan điểm tích hợp hoàn toàn việc quản trị toàn bộ hoạt động của thưviện vào với nhau, tức là đối với bạn đọc chỉ cần 01 tài khoản đượccấp sẽ sử dụng tất cả mọi dịch vụ trên giao diện đồng nhất của thưviện (Hầu như các phần mềm thư viện điện tử tích hợp mã nguồnđóng đã triển khai theo hình thức này - Libol, llib, những năm 2006trở đi đã tích hợp thêm 01 module số hóa tài liệu và quản trị tài liệu
số hóa toàn văn)
- Quan điểm quản trị tách biệt, phục vụ đồng nhất trên 01 giao diện
Trang 19Với quan điểm này thì cho rằng quản lý đối tượng tài liệu trong thưviện hiện nay có thể phân chia thành 02 dạng chính:
+ Quản lý các thông tin cấp 2 (thông tin thư mục - biểu ghi thư mục)còn các thông tin tài liệu gốc (thông tin cấp 1) thì hoàn toàn vẫn nằmtrong các tài liệu truyền thống và nằm trong kho sách truyền thốngcủa thư viện
+ Quản lý tài liệu số hóa toàn văn: Quản lý toàn bộ các thông tin cấp
1 và cấp 2 của tài liệu (thông tin cấp 2 trong trường hợp này được coi
là các thông tin siêu dữ liệu để tìm đến thông tin cấp 1 trên môitrường mạng máy tính), trên cơ sở các thông tin đó, bạn đọc có thểtiếp cận toàn bộ nội dung của tài liệu vẫn trên môi trường mạng Vìquản lý độc lập tương đối như vậy, nên bạn đọc cần phải sử dụng 02tài khoản độc lập tương đối với nhau: 01 tài khoản dùng cho dịch vụthư viện điện tử tích hợp, 01 tài khoản dùng cho thư viện số (quản trịtoàn bộ nội dung toàn văn)
Sau khi tập hợp và phân tích, nhóm nghiên cứu đã triển khai theo hệthống quan điểm thứ 2, vì những lý do cơ bản sau:\
- Quản trị tài liệu trong thư viện trên môi trường điện tử đúng theo 2dạng: thông tin cấp 2 về tài liệu truyền thống và quản trị tài liệu toànvăn
- Việc sao lưu và phục hồi dữ liệu (backup và restore data) là vô cùngquan trọng trong hoạt động thông tin - thư viện, trong 2 dạng quả trịnêu trên thì việc sao lưu phục hồi dữ liệu toàn văn về cả lý luận vàthực tế đều khó khăn hơn nhiều so với sao lưu và phục hồi thông tincấp 2 (vì dung lượng thông tin cấp 1 lớn hơn)
- Bạn đọc sử dụng các dịch vụ thư viện hiện đại hiện nay cũng theo 2 xuhướng chủ đạo:
+ Tra cứu và đặt mượn các tài liệu truyền thống từ xa qua Internet đểchủ động, tìm kiếm nhanh và giao dịch thuận lợi không chồng chéo,
Trang 20ví dụ muốn tìm cuốn sách A thì tìm từ nhà trước khi đến thư việnthấy cuốn sách đó có rồi thì dùng tài khoản đăng nhập để đặt mượnluôn, khi đến thư viện thì chắc chắn sẽ được quyền mượn cuốn sáchđó.
+ Tra cứu các tài liệu điện tử : sẽ tra cứu theo từ khóa hoặc chủ đề, sau đó nếu tìm thấy tài liệu thì tiếp tục truy cập để đọc toàn văn (phầnnày tùy yêu cầu của thư viện và từng tài liệu mà cần thiết phải đăngnhập tài khoản hay không - phân quyền)
Như vậy, lựa chọn theo quan điểm thứ 2 không những chỉ đáp ứng đượcyêu cầu của bạn đọc mà còn thuận lợi cho cán bộ quản trị hệ thống trong việc duytrì, phát triển hệ thống Việc sao lưu và phục hồi dữ liệu cũng thực hiện thành 2dạng chủ yếu, tăng khả năng an toàn và thực hiện cũng không quá khó khăn
Trên cơ sở việc lựa chọn giải pháp này, Trung tâm Thông tin - Thư việntrường Đại học Nội vụ Hà Nội đã ưu tiên lựa chọn các phần mềm đảm bảo các tiêuchí sau:
- Đảm bảo hoạt động trên nền công nghệ web với những tiêu chí đáp ứngđược tính thời sự như HTML5, PHP, Perl, jsp_
- Sử dụng các hệ quản trị cơ sở dữ liệu chuyên nghiệp có nhiều công cụ
hỗ trợ quản trị, đồng thời vẫn đảm bảo tính an toàn hệ thống như:MySQL, Postgresql, đồng thời các phần mềm còn sẵn sàng được hỗtrợ bởi những hệ quản trị cơ sở dữ liệu chuyên nghiệp lớn, tính ổn