LỜI CẢM ƠNSau một thời gian bắt tay vào thực hiện đề tài nghiên cứu, với sự giúp đỡ nhiệttình của các thầy c ô giáo Trường Đại học Nội vụ Hà Nội và c ác cơ quan quản lý vănhóa cùng nhân
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BIẾN ĐỔI CỦA NGHI LỄ HẦU
ĐỒNG TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ
1405QLVA039 2018
2014-ĐH QLVH 14A
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
T ô i xin cam đoan đây là c ông trình nghiên cứu do c á nhân tô i thực hiện, c ác
tư liệu và kết quả nghiên cứu trong c ông trình là hoàn toàn khách quan, trung thực
Ký t ên
Vũ Th ị Th ảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian bắt tay vào thực hiện đề tài nghiên cứu, với sự giúp đỡ nhiệttình của các thầy c ô giáo Trường Đại học Nội vụ Hà Nội và c ác cơ quan quản lý vănhóa cùng nhân dân trên địa bàn khảo s át, sự cố gắng nỗ lực của bản thân, đến nay,Khóa luận tốt nghiệp “Biến đổi của nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tamphủ ở tỉnh Nam Định” của tô i đã hoàn thành T ô i xin gửi lời cảm ơn chân thành tới c
ác thầy c ô gi áo Khoa Văn hóa - Thông tin và Xã hội - Trường Đại học Nội vụ HàNội , đã đóng góp cho tô i những ý kiến bổ ích và giúp đỡ tô i trong suốt quá trìnhthực hiện đề tài T ô i xin gửi lời cảm ơn s âu sắc tới thầy Nghiêm Xuân Mừng - Giảngviên hướng dẫn, đã luôn quan tâm, chỉ bảo tận tình không chỉ về kiến thức mà c òn cảphong c ách cũng như thái độ làm việc nghiêm túc , để tôi hoàn thành một c ách tốtnhất đề tài T ác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới c án bộ làm c ông tác quản
lý văn hóa, nhân dân, c ác cụ cao tuổi và những người trực tiếp thực hành nghi lễ hầuđồng (thủ nhang, thanh đồng , cung văn ); Ban quản lý di tích c ác đền, phủ trênđịa bàn tỉnh Nam Định, đã tạo điều kiện và cung cấp nhiều thô ng tin, dữ liệu quý giá
để tác giả hoàn thành khóa luận
Hà Nộ ỉ, ngày 01 tháng 3 năm 2 018
Sinh vi ên
Trang 58 PGS.TS Phó Gi áo sư Tiến sĩ
9 PGS.TSKH Phó Giáo sư.Tiến sĩ khoa học
13 VHTTDL Văn hóa thể thao du lịch
14 VHTT/VHTTDL Văn hóa thể thao/ Văn hóa thể thao du lịch
Trang 6MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
BẢNG KÊ C HỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Cấu trúc của đề tài 6
C h ương 1: C Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ NGHI LỄ HẦU ĐỒNG TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU 7
1.1 K ái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt 7
1.1.1 Các khái niệm 7
1.1.1.1 Tín n ưỡng 7
Tín n ưỡng thờ Mẫu 8
Tín n ưỡng thờ Mẫu Tam phủ 8
1.1.1.4 Biến đổ v n óa 9
1.1.2 Nguồn gốc, nội dung và đặc điểm của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ
9 1.1.2.1 Nguồn gốc 9
1.1.2.2 N i dung 10
Đặc đ ểm 13
1.2 K ái niệm nghi lễ hầu đồng và giá trị của nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ 14
1.2.1 Khái niệm về nghi lễ hầu đồng 14
1.2.2 Giá trị của nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ 15
G trị nhận thức xã i 15
G trị trị liệu 17
Trang 7G trị v n óa - nghệ thuật 18
1.3 Văn bản quản l n à nước về nghi lễ hầu đồng 18
Tiểu kết c ương 1 21
c h ương 2: KHÁI QUÁT VỀ TỈNH NAM ĐỊNH VÀ THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI CỦA NGHI LỄ HẦU ĐỒNG TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TAM PHỦ Ở TỈNH NAM ĐỊNH 22
2.1 K ái quát về tỉn Nam Định 22
2.1.1 Vị trí địa lý tự nhiên 22
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 22
2.1.3 Đời sống kinh tế, văn hóa 24
Đời sống kinh tế 24
Đời sốn v n óa 25
2.2 Biến đổi thực àn ng i lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ ở tỉn Nam Định 27
2.2.1 Biến đổi về đối tượng thực hành nghi lễ 27
2.2.2 Biến đổi về thực hành nghi lễ hầu đồng 29
t c ầu v n 29
2.2.2.2 Trang phục 34
2.2.2.3 Lễ vật v đồ mã 39
.4 Địa đ ểm, thờ an k ôn an t ực n n lễ 44
.5 Múa đồng 46
2.3 So sán ng i lễ hầu đồng ở tỉn Nam Định với một số địa p ương k ác 47
2.3.1 Vùng Trung Bộ (tỉnh Thừa Thiên - Huế) 48
2.3.2 Vùng Nam bộ (Thành phố Hồ Chí Minh) 50
Tiểu kết c ương 2 53
c h ương 3: B ẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CỦA NGHI LỄ HẦU ĐỒNG TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TAM PHỦ Ở TỈNH NAM ĐỊNH 54
3.1 Đán giá t ực trạng biến đổi nghi lễ hầu đồng ở tỉn Nam Định 54
3.1.1 Biến đổi tích cực 54
3.1.2 Biến đổi chưa tích cực 55
Trang 83.2 Giải p áp bảo tồn và p át uy giá trị của nghi lễ hầu đồng trong tín
ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ ở tỉn Nam Định 59
3.2.1 Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về tín ngưỡng thờ Mẫu 59 3.2.2 Quảng bá giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu 61
3.2.3 Đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ quản lý văn hóa và Ban quản lý di tích nơi thờ tự 61
Đ o tạo bồ dưỡng c n b quản lý v n óa 61
Đ o tạo bồ dưỡn c n b quản lý d tíc 63
3.2.4 Giải pháp về lãnh đạo, chỉ đạo của Nhà nước 64
Tiểu kết c ương 3 67
KẾT LUẬN 68
DANH MỤ c TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 71
Trang 9MỞ ĐẦU
1. Lý do ch ọn đề tài
Thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian thuần Việt, có lịch sử lâu đời, biếnchuyển thích ứng với sự thay đổi của xã hội Tín ngưỡng thờ Mẫu hướng đến cuộcsống thực tại của con người với ước vọng sức khỏe , tài lộc, may mắn, là một nhucầu trong đời sống tâm linh của người Việt, mang lại cho con người sức mạnh, niềmtin và có sức thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Tín ngưỡng thờMẫu là tín ngưỡng cội nguồn, đích thực của Việt Nam, trường tồn với dân tộc vì nó
có được lòng tin cao cả, có quy mô về tâm linh và về lượng người theo trong cảnước
Nam Định là vùng địa linh của văn hóa tín ngưỡng , tôn gi áo mang đậm bảnsắc Việt Nam mà quần thể Phủ Dầy được coi là “thánh địa” đạo Mẫu của người Việt
- c ái nô i của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ Trong những nghi lễ của tín ngưỡng thờMẫu Tam phủ ở tỉnh Nam Định, không thể không nói đến nghi lễ hầu đồng “Hầuđồng” là nghi lễ độc đáo trong tín ngưỡng thờ Mẫu Một nghi lễ nhằm tái hiện lạihình ảnh của c ác vị thần thánh thông qua thân xác của c ác ông đồng , bà đồng đểphán truyền, chữa bệnh, ban lộc cho c ác con nhang đệ tử và b ách gia trăm họ.Nghi lễ hầu đồng là một kho tàng nghệ thuật diễn xướng dân gian rất đặc biệt vớinhiều c âu chuyện truyền thuyết, thần tích hấp dẫn về c ác thần linh Nó không chỉtạo nên một không gian tâm linh huyền bí mà c òn thể hiện được nét uy nghi, sangtrọng , cũng như niềm hân hoan và vẻ đẹp hồn nhiên, trong s áng của người Việttrong một thế giới văn hóa đa sắc màu, đa dân tộc
Ngày nay, trong thời kỳ hội nhập và phát tri ển, đặc biệt dưới tác động củanền kinh tế thị trường đã tạo ra cho nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tamphủ ở nước ta nói chung và ở tỉnh Nam Định nói riêng đã và đang có sự biến đổimạnh mẽ Những thay đổi giữa hầu đồng xưa và nay là một quá trình thay đổi
“nhanh chóng mặt” từ trang phục cho đến âm nhạc Xen vào đó là tính thương mạihóa đang dần làm mất đi những giá trị tốt đẹp của một di sản văn hóa phi vật thể củanhân loại
Là sinh viên chuyên ngành Quản lý văn ho á - Trường Đại học Nội vụ Hà
1
Trang 10Nội, từng được tiếp xúc trực tiếp với c ác hoạt động tâm linh, đặc biệt là nghi lễ hầuđồng, nhận thức được những giá trị to lớn của di sản, sự cần thiết phải đi s âu tìmhiểu, khám phá những nét độc đáo , đặc sắc của nghi lễ này cũng như những vấn đềđặt ra c ông tác quản lý nhằm góp phần làm cho nghi lễ hầu đồng vừa hoạt động theo
xu hướng của xã hội hiện đại những vẫn giữ được bản sắc dân tộc , phát huy đượcnhững giá trị tích cực, hạn chế những tiêu cực phát sinh trong quá trình thực hànhnghi lễ Vì vậy, tô i đã chọn đề tài: “Biến đổi của nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡngthờ Mẫu Tam phủ ở tỉnh Nam Định” làm khóa luận tốt nghiệp
2. Lịch sử ng h i ên cứu
2.1 Những công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu
Viết về vấn đề này đã từng có khá nhiều đề tài, c ông trình nghiên cứu khoahọc đề cập đến Bên cạnh đó vấn đề về tín ngưỡng không chỉ thu hút những nhà lãnhđạo mà c òn là vấn đề quan tâm của cả những nhà khoa học và c ác nhà quản lý Một
số c ông trình khoa học tiêu bi ểu có thể kể đến như sau:
- “Các nữ thần Việt Nam” (1984) của Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc Chúccũng đã cung cấp rất nhiều thông tin về hệ thống c ác Nữ thần ở Việt Nam
- Nhà nghiên cứu Ng ô Đức Thịnh là một trong những tác giả có nhiều c ôngtrình s âu sắc về tín ngưỡng thờ Mẫu như: “Đạo Mẫu” (1994) được tái bản bốn lần,lần tái bản thứ tư năm 2012 mang tên “Đạo Mẫu Việt Nam” Trong tác phẩm này, tácgiả xây dựng hệ thống thờ Mẫu với ba cấp độ: thờ Nữ thần, Mẫu thần và Mẫu Tamphủ, Tứ phủ, sự tác động và chuyển hóa giữa chúng
- Cuốn “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” (2001) do Ng ô ĐứcThịnh chủ biên C ông trình này đi sâu vào nghiên cứu s áu loại hình tín ngưỡng dângian tiêu bi ểu là thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng làng , thờ Chử Đồng Tử, thờĐức Thánh Trần, tín ngưỡng nghề nghiệp và tín ngưỡng thờ Mẫu (tác giả gọi là ĐạoMẫu)
- Cuốn “Văn hóa Thánh Mẫu” của Đặng Văn Lung (2004) đã nghiên cứu s âusắc vấn đề “Mẫu” nên đưa ra rất nhiều tư liệu về c ác “Mẫu” Tuy nhiên, tác phẩm lạiđược viết dưới góc độ văn hóa, văn học và lịch sử mà không xét dưới góc độ tínngưỡng và tôn gi áo
2
Trang 11- Tạp chí văn hóa nghệ thuật Nghệ An xuất bản ngày 02/6/2014 đã ra bài
b áo: “Góp phần tìm hi ểu thêm về Mẫu Liễu ở Phủ Dầy” với nội dung giới thiệu vềphủ Vân C át và phủ Tiên Hương , sự tích Mẫu Liễu Hạnh
-“Huyền tích thánh mẫu Liễu Hạnh và di sản văn hóa - Lễ Hội Phủ Dầy” inlần đầu 2003, tái bản lần 3 nxb văn hóa thông tin, 2010 nói về sự tích mẫu Liễu Hạnh
và tín ngưỡng hầu đồng trong Lễ Hội Phủ Dầy
Có thể nói, c ác c ông trình nghiên cứu trên của c ác tác giả về tín ngưỡng thờMẫu dưới nhiều góc độ , khía cạnh khác nhau đã cho thấy sự phong phú, đa dạng vàvai trò , vị trí của tín ngưỡng này trong đời sống của người Việt
2.2 Những công trình nghiên cứu về nghi lễ hầu đồng
Bên cạnh c ác c ông trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu c òn có rất nhiềutác giả, c ông trình nghiên cứu, bài b áo , tạp chí , tìm hi ểu s âu về nghi lễ hầuđồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ dưới nhiều góc độ , khía cạnh khác nhaunhư:
- Cuốn “Lên đồng, hành trình của thần linh và thân phận” của GS.TS Ng
3
Trang 12kế thừa giúp tô i tiến hành nghiên cứu đề tài.
3. Mục ti êu và nh iệm vụ ngh i ên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tìm hi ểu về sự biến đổi của nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫuthông qua quần thể di tích Phủ Dầy thuộc tỉnh Nam Định Từ đó làm nổi bật được sựbiến đổi của nghi lễ hầu đồng, chỉ ra c ác nhân tố tác động đến sự biến đổi nghi lễhầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Qua đó có thể đưa ra c ác giải pháp bảo tồn vàphát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu trong đời sống văn hóa tinh thần của ngườiViệt hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thực hiện sưu tầm, đọc và tổng hợp c ác tư liệu viết về tín ngưỡng thờ Mẫu
và nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ
- Thực hiện khảo s át thực hành nghi lễ hầu đồng tại quần thể di tích PhủDầy tỉnh Nam Định Tiến hành liên hệ , đi điền dã về địa bàn nghiên cứu, quan s áttham dự c ác hoạt động tâm linh liên quan đến thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng; tiếnhành quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn, điều tra, mô tả, khai thác c ác thông tin dữliệu tại thực địa
- Trên cơ sở c ác dữ liệu thu thập được , tác giả tiến hành xử lý, phân tích, so
s ánh với thực hành nghi lễ hầu đồng trước đổi mới và so s ánh nghi lễ hầu đồng tạitỉnh Nam Định với một số địa phương khác để làm rõ sự biến đổi của nghi lễ hầuđồng tại đây
4. Phạm vi ngh i ên cứu và đối tượng ngh i ên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Quần thể di tích Phủ Dầy tỉnh Nam Định
- Thời gian: Từ năm 1986 đến nay
- Nội dung: Tìm hi ểu về biến đổi thực hành nghi lễ hầu đồng thông qua sinhhoạt tín ngưỡng thờ Mẫu ở quần thể di tích Phủ Dầy tỉnh Nam Định
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sự biến đổi của nghi lễ hầu đồng , c ác nguyên nhân tácđộng đến sự biến đổi của nghi lễ hầu đồng và những vấn đề đặt ra trong tín ngưỡng
4
Trang 13thờ Mẫu Tam phủ ở tỉnh Nam Định từ sau đổi mới (năm 1986) đến nay.
5 Phương p háp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa: Thực hiện đi thực tế tham dự
một số giá hầu, quan sát, mô tả, ghi chép , thu thập các thông tin dữ liệu từ thực địa tại quần thể di tích Phủ Dầy và địa bàn c ác di tích thờ Mẫu.
- Phương pháp quan sát, phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành phỏng vấn trực
tiếp c án bộ làm công tác quản lý văn hóa, quản lý di tích, thủ nhang c ác đền, phủ và người dân sống quanh khu vực c ác di tích thờ Mẫu trên địa bàn tỉnh Nam Định.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đề tài tham khảo và sử dụng c ác tài
liệu viết về tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và Mẫu Liễu Hạnh nói riêng, tác giả
đã tiến hành sưu tầm, đọc , nghiên cứu các tư liệu thu thập được qua khảo sát thực tế tại địa phương.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cở sở những tư liệu và dữ liệu
thu thập được từ thực tế, tô i đã tiến hành phân loại, xử lý , tổng hợp , phân tích
và đưa ra những nhận định khách quan về biến đổi nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu hiện nay, những mặt tích cực, những mặt chưa tích cực và những vấn đề đặt ra Từ đó đưa ra những giải pháp bảo tồn, phát huy gi á trị tín ngưỡng thờ Mẫu ở tỉnh Nam Định nói riêng và tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt nói chung.
6 Đóng góp của đề tài
- C ông trình nghiên cứu này có thể trở thành tài liệu tham khảo cho c
ác cơ quan quản lý văn hóa, c ác trường học và c ác đề tài nghiên cứu tiếp theo
về tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng.
- C ác giải pháp mà tác giả đưa ra trong khóa luận có thể góp phần vào
5
Trang 14thực tiễn, giúp bảo tồn, phát huy và nâng cao c ông tác quản lý di sản văn hóa tại địa bàn nghiên cứu.
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài có cấu trúc gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu
Chương 2: Khái quát về tỉnh Nam Định và thực trạng biến đổi của nghi
lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ ở tỉnh Nam Định
Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy gi á trị của nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ ở tỉnh Nam Định
6
Trang 15c h ương 1:
c ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ NGHI LỄ HẦU ĐỒNG
TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU 1.1 Kh ái quát về tín ngưỡng th ờ Mẫu Tam ph ủ của người Việt
1.1.1 c ác kh ái niệm
1.1.1.1 Tín ngưỡng
Ở Việt Nam có những hiện tượng xã hội - văn ho á thực ra nếu xét theo c áctiêu chí của tôn giáo thì chúng không đáp ứng đầy đủ nhưng không thể bỏ qua Cónhà nghiên cứu không thừa nhận thuật ngữ này mà gọi là c ác tôn giáo nguyên thuỷ,hay c ác tôn giáo sơ khai Tuy nhiên sự phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng chỉ cótính chất tương đối
Giải thích từ tín ngưỡng , GS Đào Duy Anh viết : “L òng ngưỡng mộ, mê tínđối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [1; tr.70] Trong khi đó giải thích từ tôngiáo , ông lại viết “Một thứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nên giới ước
để khiến người ta tín ngưỡng.” [1; tr.70]
Trong phạm vi khóa luận này, xin đưa ra khái niệm về tín ngưỡng như sau:Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng mộ , sùng b ái của con người vào c ái thiêng Conngười biểu thị lòng tin vào cái thiêng thông qua nghi lễ thờ cúng, lòng ngưỡng mộthành kính (của cả cá nhân và cộng đồng) đối với các thế lực, lực lượng siêu nhiênmang sức mạnh vô hình hay hữu hình, có ảnh hưởng tới đời sống của con người
Như vậy cơ sở đầu tiên của tín ngưỡng đó chính là niềm tin của con người.Con người tin rằng có một lực lượng siêu nhiên, vô hình hay hữu hình nào đó tácđộng, chi phối cuộc sống của họ Chính vì vậy dẫn tới việc họ bi ể u thị l òng tin vào
c ái thiêng Người Việt quan niệm “Có thờ có thiêng , có kiêng có lành” Và sau cùng
là việc bi ểu thị l òng tin vào c ái thiêng , c ác c ách thức, mức độ hướng về c áithiêng
Ở Việt Nam , tín ngưỡng đô i khi được hi ểu là tôn gi áo Đi ểm khác biệt giữatín ngưỡng và tôn giáo ở chỗ , tín ngưỡng mang tính dân tộc nhiều hơn tôn giáo , tínngưỡng có tổ chức kh ông chặt chẽ như tôn gi áo Khi nói đến tín ngưỡng người tathường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm
Trang 16chung c òn tôn giáo thì không mang tính dân tộc Tín ngưỡng không có một hệ thốngđiều hành và tổ chức như tôn giáo , nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc.
ì.1.1.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu
Mẫu là một từ gốc Hán - Việt được hiểu là Mẹ , hay Mụ, Mạ, Mế , dùng đểchỉ người phụ nữ nói chung , người mà đã có c ông sinh thành, nuôi dưỡng nhữngđứa con nên người Ngoài ra, Mẫu c òn được hiểu theo nghĩa rộng hơn đó là sự tônvinh, tôn xưng một nh ân vật nữ nào đó (có thật hoặc không có thật) như: Mẫu Âu
Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Nghi Thiên hạ, Trong tâm thức của người Việt, Mẫucũng có nghĩa là sự sinh s ôi, nảy nở của vạn vật trong vũ trụ
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian của dân tộc ViệtNam , được hình thành từ ngàn đời xưa, nó ăn s âu vào tiềm thức của dân tộc vàđóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn ho á Việt Nam Cho đếnnay tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn đang phát triển mạnh mẽ trong đời sống sinh hoạt củanhân dân Trong tín ngưỡng dân dã của người Việt thì việc tôn thờ Nữ thần, thờ Mẫu
là một hiện tượng khá phổ biến trong đời sống văn ho á, bắt nguồn từ lịch sử xã hội.Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam thể hiện sự ngưỡng mộ chân thành của con người
về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng như trong xã hội, trong c ôngcuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian thuần Việt, có lịch sử lâu đờicủa người Việt, biến chuyển thích ứng với sự thay đổi của xã hội Tín ngưỡng thờMẫu hướng đến cuộc sống thực tại của con người với ước vọng sức khỏe , tài lộc,may mắn, là một nhu cầu trong đời sống tâm linh của người Việt, mang lại cho họsức mạnh, niềm tin và có sức thu hút mọi tầng lớp trong xã hội
“Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với nhữngảnh hưởng ngoại lai từ đạo giáo , tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thầntượng với c ác quyền năng sinh s ôi, bảo trợ và che chở cho con người Tín ngưỡng
mà ở đó đã được giới tính ho á mang khuôn hình của người Mẹ , là nơi mà ở đóngười phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải tho át của mình khỏi nhữngthành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến.” [18; tr.70]
ì.1.1.3 Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ
Trang 17“Tam phủ” là danh từ để chỉ ba vị thần thánh trong hệ thống tín ngưỡng ViệtNam gồm: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải cai quản nhữnglĩnh vực quan trọng nhất của một xã hội nông nghiệp.” [19; tr.70] Mẫu Thượng Thiên
- hay c òn gọi là Mẫu Liễu Hạnh - là người Mẹ cai quản vùng trời Mẫu ThượngNgàn - người Mẹ cai quản rừng núi Mẫu Thoải Cung - người Mẹ cai quản s ôngnước Đó là Tam tò a Thánh mẫu - những người Mẹ bi ểu tượng của l òng từ bi,khoan dung, sự sinh s ôi nảy nở trường tồn - đứng đầu hệ thống các vị thần linh trongTín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ Bên cạnh đó , quan niệm của tín ngưỡng thờ MẫuTam phủ c òn cho rằng: Mẫu thần có quyền năng tối linh, vô hạn, rộng lớn, có thểbao trùm khắp c ác cõi trời, đất và nước Tuy là ba cõi nhưng thực chất lại là mộtMẫu thần, phân ra 3 ng ôi để cai quản 3 cõi Đó cũng là quan niệm sơ khai của ngườiViệt về vũ trụ
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là tín ngưỡng bản địa, được hình thành trên cơ
sở tục thờ nữ thần gắn liền với cư dân nông nghiệp lúa nước của người Việt
1.1.1.4 B iến đổ ị văn hóa
“Biến đổi” có thể hi ể u theo 2 nghĩa là danh từ và động từ: Danh từ “biếnđổi” là sự thay đổi , điều thay đổi khác với trước; Động từ “biến đổi” là thay đổi hoặclàm cho thay đổi thành khác trước Từ biến đổi trong cụm từ “biến đổi văn hóa”được hiểu theo nghĩa là danh từ Biến đổi văn hóa là sự chuyển biến theo c ác chiềuhướng khác nhau của một hệ thống hữu cơ c ác giá trị vật chất và tinh thần Sựchuyển biến làm thay đổi văn hóa gốc có thể theo chiều hướng tích cực hoặc chưatích cực
1.1.2 Nguồn gốc, nội dung và đặc điểm của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam p h
ủ ì.ì.2.1 Nguồn gốc
Cho đến nay chưa có tài liệu chính xác để khẳng định tín ngưỡng thờ MẫuTam phủ của người Việt có từ bao giờ Nhưng theo quan đi ể m của phần lớn c ácnhà nghiên cứu thì tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là tín ngưỡng bản địa, được hìnhthành trên cơ sở tục thờ nữ thần, gắn liền với cư dân nông nghiệp lúa nước của ngườiViệt
Theo quan niệm vũ trụ luận phương Đ ông cổ đại và tư duy nông nghiệp , thì
Trang 18việc tôn thờ thần Đất, thần Nước , thần Núi , thần Lúa đều đồng nhất với yếu tố
“Âm” và được nhân hóa thành nữ tính “Mẹ” Mẫu là từ gốc H án Việt, thuần Việt là
Mẹ (Mụ), chỉ người phụ nữ sau thời kỳ mang thai 9 tháng 10 ngày, đã sinh ra mộtcon người nào đó , là tiếng xưng hô của con với mẹ Ngoài ý nghĩa xưng hô thôngthường , từ “Mẫu” và “Mẹ” c òn bao hàm ý nghĩa tôn xưng , tôn vinh như: Mẫu Âu
Cơ, Mẫu Liễu Hạnh Trên nền tảng của tín ngưỡng thờ Nữ thần, Tín ngưỡng thờMẫu Tam phủ - một hình thức thờ cúng người mẹ hóa thân ở c ác miền trời , s ôngnước , rừng núi được hình thành và phát triển mạnh mẽ Từ thế kỷ XVI , tín ngưỡngnày trở thành một sinh hoạt văn tín ngưỡng có ảnh hưởng s âu rộng trong đời sống xãhội và tâm thức người dân Họ thờ cúng Thánh Mẫu Liễu Hạnh cùng với c ác vịThánh Mẫu cai quản miền trời, rừng , nước , những nhân vật lịch sử hoặc huyềnthoại có c ông với nước , với dân
Thánh Mẫu có quyền năng s áng tạo vũ trụ và hóa thân thành tam vị, tứ vịThánh Mẫu, cai quản c ác miền khác nhau gọi là c ác phủ “Phủ” trong Tam phủ, Tứphủ mang nghĩa rộng , bao quát tương ướng với c ác “miền” khác nhau trong vũ trụ.Tam phủ gồm ba phủ là: Thiên phủ (miền trời) , Địa phủ (miền đất) , Thoải phủ (thủyphủ, miền sông biển) Tứ phủ gồm ba phủ trong Tam phủ và có thêm Nhạc phủ(miền rừng núi) Hiện nay, chưa ai có thể trả lời chắc chắn Tam phủ và Tứ phủ củatín ngưỡng thờ Mẫu có từ bao giờ Tuy nhiên có thể tin rằng Tam phủ có trước Tứphủ và việc tồn tại phủ thứ tư là Nhạc phủ là một nét đặc thù của Đạo giáo Việt Nam
Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ suy tôn Thánh Mẫu Liễu Hạnh là thầntượng cao nhất Bà được tôn vinh là “Mẫu nghi thiên hạ”, một trong bốn vị thánh bất
tử của người Việt và là thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt D
ân gian thờ Mẫu với niềm tin mãnh liệt vào quyền lực linh thiêng và khát vọng cầumong sự an lành, bình yên, tốt đẹp
ì.1.2.2 Nội dung
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian của dân tộc ViệtNam , được hình thành từ ngàn đời xưa, nó ăn s âu vào tiềm thức của dân tộc vàđóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn ho á Việt Nam
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Thánh Mẫu Liễu Hạnh được coi là vị
Trang 19thánh chủ Thánh Mẫu Liễu Hạnh được cho là c ông chúa của Ngọc Hoàng Thượng
đế, do lỡ tay làm vỡ chén ngọc mà bị đày xuống trần làm con g ái nhà họ Lê vào năm
1557 Dưới trần, bà có cuộc sống ngắn ngủi, lấy chồng và sinh con năm 18 tuổi vàchết năm 21 tuổi Do bà yêu cuộc sống trần tục nên Ngọc Hoàng cho bà tái sinh lầnnữa Trong kiếp mới, bà du ngoạn khắp đất nước , thưởng ngoạn phong cảnh thiênnhiên, gặp gỡ nhiều người Bà thực hiện nhiều phép màu, giúp dân chống quân xâmlược Bà trở thành một lãnh tụ của nhân dân và thậm chí bà c òn tranh đấu với vuachúa Do đức hạnh của bà, nhân dân đã lập đền thờ bà Bà đã được thánh hóa và trởthành một vị Thánh Mẫu quan trọng nhất và một hình ảnh mẫu mực cho phụ nữ ViệtNam
Vào thế kỷ XVI , tín ngưỡng thờ Mẫu được làm phong phú hơn với hìnhtượng công chúa Liễu Hạnh được tôn là Thánh Mẫu Khác với Mẫu Thượng Ngàn,Mẫu Thoải, Mẫu Địa đều có nguồn gốc từ tự nhiên thì Mẫu Liễu là hình tượng conngười trần thế có thật được người Việt Nam s áng tạo ra hội tụ đầy đủ c ác yếu tố vàđức tính quý b áu của người phụ nữ Việt Nam Chính vì thế người Việt Nam tôn vinhLiễu Hạnh là Tiên , là Thánh, là một trong tứ bất tử của mình Thánh Mẫu Liễu Hạnhđược thờ với tư c ách là Thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu và trên điện thờ tượngMẫu Liễu được đặt ở vị trí trung tâm của Tam T ò a Thánh Mẫu Mẫu Liễu đượcđồng nhất với Mẫu Thượng Thiên, ngồi giữa, mặc áo choàng đỏ; Hai bên là MẫuThượng Ngàn mặc áo choàng xanh c òn Mẫu Thoải mặc áo choàng trắng C ác Mẫu
có vẻ đẹp của “khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” , khuôn mặt phúc hậu và nụcười hé nở trên môi Đó là c ác gương mặt toát lên sự trìu mến, ban phát phúc lành
C ác trung tâm thờ Mẫu Liễu lớn đều gắn liền với c ác huyền thoại giáng trầncủa bà hoặc do lòng thành kính của nhân dân mà lập đền, điện thờ Mẫu Liễu chứkhông hẳn có dấu tích của Mẫu giáng trần
Trong hệ thống điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ ngự ở trên cùng làPhật Bà Quan âm Theo một thần tích lưu truyền lại trong dân gian thì thần chủ đạocủa tín ngưỡng thờ Mẫu là Liễu Hạnh được Phật bà Quan âm phù giúp nên đã quy yPhật Pháp Nói một c ách khác đây là ảnh hưởng lớn nhất của Đạo Phật và tínngưỡng thờ Mẫu Tam phủ Dưới Phật Bà Quan âm là Ngọc Hoàng - vị Thánh cao
Trang 20nhất, có ban thờ riêng trong c ác đền và phủ, tuy nhiên vai trò của Ngọc Hoàng trongnghi lễ và thờ cúng , trong tâm thức dân gian thì lại rất mờ nhạt.
Tiếp đến là tam tò a th ánh Mẫu Theo những nghiên cứu của GS Ng ô ĐứcThịnh “Vũ trụ được chia làm miền tương ướng với 4 yếu tổ ảnh hường trực tiếp đếnđời sống con người: Trời (Thiên phủ), Đất (Địa phủ) , Nước (Thủy phủ) và Rừng núi(Nhạc phủ) Tứ Phủ là gồm ba phủ trong Tam phủ (Thiên, Địa, Thoải) và có thêmphủ Thượng Ngàn (Nhạc phủ) Mỗi miền có một bà mẹ (Thánh mẫu) cai quản:
Mẫu Thượng Thiên (cai quản Thiên phủ) s áng tạo bầu trời và làm chủ quyềnnăng mây, mưa , sấm, chớp
Mẫu thượng Ngàn (cai quản Nhạc phủ) là hóa thân của Thánh Mẫu toàn năngtrông coi miền rừng núi , địa bàn chính sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số
Mẫu Thoải (cai quản Thoải phủ) là vị thần trị vì vùng sông nước, xuất thân từdòng dõi Long Vương , liên quan trực tiếp với thủy tổ dân tộc Việt buổi đầu dựngnước
Mẫu địa (Địa tiên Thánh Mẫu) cai quản Địa phủ
Giúp việc cho bốn vị Thánh Mẫu c òn có nhiều vị Thánh thuộc c ác hàng theothứ tự hàng Quan, hàng Chầu, Ông Hoàng , hàng C ô , Cậu và Ngũ hổ cũng phântheo 4 phủ như các vị Thánh Mẫu kể trên
Ngũ vị Quan lớn (hàng Quan) , gọi tên từ Quan Đệ Nhất đến Quan Đệ Ngũ
Tứ vị Thánh Bà hay Tứ vị Chầu Bà được coi như là hóa thân, phục vụ trựctiếp của Tứ vị Thánh Mẫu Tuy gọi là tứ vị Chầu Bà đại diện cho Tứ Phủ, nhưng sốlượng c ác vị Chầu Bà có thể tăng lên tới 12 (3x4)
Dưới hàng Chầu là hàng c ác ông Hoàng , được gọi tên theo thứ tự từ ÔngHoàng Đệ Nhất tới Ông Hoàng Mười
Hàng C ô được gọi tên từ C ô Đệ Nhất (C ô Cả) đến c ô thứ 12 (C ô Bé) , đều
là c ác thị nữ của Thánh Mẫu và c ác Chầu C ác Cậu Quận là những người chết trẻ,
từ l đến 9 tuổi, hiển linh thành c ác bé Thánh
Ngũ Hổ và Rắn Ông Lốt được thờ ở hạ ban, phía dưới điện thờ C ông Đồng”.[6; tr.70]
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, người ta c òn nhắc tới Phủ Trần Triều,
Trang 21một phủ thần túy mang tính nhân thần Về phương diện Thần Điện, Đức Thánh Trầnđược coi là một vị Thánh trong Tứ phủ Nhiều Đền, Điện đều có ban thờ riêng QuanTrần Triều cùng với các thuộc hạ của Ông Tuy nhiên, về hàng vị, ng ôi thứ tronghàng Thánh của ông trong lại không dễ xác định Ông là một Nam thần Ông thườngđược quy về dòng Long Vương , Bát Hải Đại Vương về hàng bậc ng ôi thứ, có lúcÔng được đồng nhất với Vua Cha trong đối s ánh với Thần Mẹ , ngày giỗ và lễ hộicủa Ông cũng đồng nhất với ngày giỗ Cha “Tháng 8 giỗ cha, tháng 3 giỗ mẹ” Tuynhiên, không giống như Vua cha Ngọc Hoàng hay Vua Cha Bát Hải, c ác vị chỉ ngựtrên điện thần chứ không giáng đồng , c ác Thánh hàng Mẫu cũng chỉ giáng chứkhông nhập đồng (hầu tráng mạn), c òn Đức Thánh Trần và một số thuộc hạ của Ôngthì lại giáng đồng để trừ tà ma, cứu chữa những con bệnh Trong thứ tự gi ángđồng của những người có căn Triều Trần thì thường sau khi Mẫu giáng và trước c ác
vị Thánh hàng Quan
ì.1.2.3 Đặc điểm
Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam được hình thành và phát tri ể n từ tín ngưỡngbản địa thờ Nữ thần và Mẫu thần với c ác quyền năng sinh sôi, bảo trợ và che chởcho con người, rồi tiếp thu những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa để đạt đếnđỉnh cao là đạo thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Thế kỷ XVII - XVIII khi mẫu Tam phủ,
Tứ phủ đã được hình thành và phát tri ển thì nó lại hóa tục thờ Nữ thần, Mẫu thần.Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng ra đời muộn nên cũng dung hò a nhiều yếu tốcủa Phật giáo và Đạo giáo , với việc đưa vào thờ cúng một số Thần và Phật và cũngmặc định đưa ng ôi thứ của những Thần Phật này cao hơn, cao nhất là Phật Quan Âmrồi tới Ngọc Hoàng thượng đế, Bát Hải Long Vương, Nam Tào Bắc Đẩu, Tuynhiên, về cơ bản Đạo Mẫu tự có một hệ thống thần linh đông đảo , và c ác tín đồthường chỉ tập trung thờ tự và sinh hoạt tín ngưỡng xoay quanh c ác vị này, chủ chốt
và cao nhất là Tam T ò a Thánh Mẫu, rồi thấp dần là c ác hàng Quan lớn, Chầu bà,Ông Hoàng , C ô và Cậu, Ngũ Hổ và Ông Lốt, và cả các thần linh địa phương nhưmột số Chúa bà, C ô bé ,
Ngoài ra cũng có nhiều vị khác được hát văn ca ngợi, và có hầu một số vịChúa bà như Chúa Th ác Bờ (vị này thường hay được hầu thay cho Chầu đệ Tam vì
Trang 22Chầu đệ Tam ít về đồng) , Chúa T ây Thiên, Chúa Nguyệt Hồ , Chúa L âm Thao ,
và một vị chúa tượng trưng cho người cai quản sơn trang là Chúa Sơn trang , c ác vịtướng sơn trang , quan văn võ, c ác cô hầu,
C ác thần linh kể trên là c ác thần linh phổ biến nhất, được đông đảo connhang đệ tử của Đạo Mẫu c ông nhận thờ phụng , ngoài ra c òn một số vị khác ở địaphương , cũng được đưa vào hầu bóng , thường là c ác C ô bé
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam, nhân dân ta còn tôn thờnhững bà mẹ có c ông sinh thành ra dân tộc, những người phụ nữ có tài giữ nước vàdựng nước trong lịch sử
Có thể nói đạo Mẫu, tục thờ Mẫu thần, Mẫu Tam phủ, Mẫu Tứ phủ có quan
hệ mật thiết với tục thờ Nữ thần, song không có sự đồng nhất Không thể đánh đồngtất cả Nữ thần là Mẫu thần, chỉ có một số Nữ thần được tôn vinh trở thành Mẫu thần.Cũng như đạo Mẫu gắn liền với tục thờ Mẫu dân gian, song không có nghĩa mọi Mẫuthần đều thuộc điện thần của đạo Mẫu
Mẫu Tam phủ, Mẫu Tứ phủ là một bước phát tri ển của đạo Mẫu, là một quátrình phát tri ển từ một hành vi tôn giáo nhỏ lẻ, rời rạc phát triển trở thành một tínngưỡng , đạo có tính truyền thống hơn
Ngoài ra, sự gắn kết cộng đồng cũng là đặc điểm nổi bật trong Tín ngưỡngthờ Mẫu Tam phủ được cộng đồng quốc tế đánh gi á cao Tín ngưỡng thờ Mẫu thểhiện rất rõ nét về sự gắn kết cộng đồng , nó như một chất kết dính liên kết tinh thầnnhững người có cùng một niềm tin vào tín ngưỡng thờ Mẫu Thông qua việc thựchành tín ngưỡng nó giúp mọi người gần gũi nhau hơn, hiểu nhau hơn khi họ đồnglòng tin và đi theo tín ngưỡng ấy
1.2 Khái niệm ngh i lễ h ầu đồng và giá trị của nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng th ờ Mẫu Tam p hủ
1.2.1 Khái niệm về nghi lễ hầu đồng
Hầu đồng (lên đồng, hầu bóng) là một nghi lễ quan trọng trong tín ngưỡng thờMẫu của người Việt Khác với nhiều hình thức tín ngưỡng tôn giáo khác, tín ngưỡngthờ Mẫu không hướng con người vào thế giới sau khi chết, mà là một thế giới hiệntại, trần tục với mong ước sức khỏe , tài lộc
Trang 23Từ “đồng” trong hầu đồng có nghĩa là trẻ con Con người khi sinh ra thường
bị cuộc sống nhân tạo chi phối, kìm hãm khả năng tiếp cận với sự ẩn tàng của thiênnhiên vũ trụ Và chỉ khi lên đồng, bằng xuất thân, để trở về với tâm hồn trẻ thơ mangbản chất trong trắng, hồn nhiên con người mới tạm thời gạt bỏ được những sự ràngbuộc nhân tạo đó Người ta tin rằng , có như vậy mới đồng cảm được với thần linh,
hò a hợp được với thiên nhiên, vũ trụ và mới biết được sự dạy bảo của đấng thiêngliêng
“Đồng” c òn có nghĩa là cùng Con người bằng xuất thần đẩy linh hồn ra khỏithân xác nhằm tìm thấy một tâm hồn đồng điệu trong hệ tứ phủ vạn linh, để vị thần
đó mượn xác thân con đồng mà tiếp cận với chúng sinh, tín đồ
“Đồng” c òn có một nghĩa khác là tiểu đồng, hoặc tiên đồng hầu hạ bên cạnh
c ác vị đại Tiên, Thánh, nhận sự ủy thác nhờ cậy của chúng sinh những nguyện cầu
về quốc thái dân an, về những khó khăn trong đời sống trần gian, mong được Thánhthần giải tho át Như vậy, ta thấy ở đây từ “đồng” dùng để chỉ đối tượng là trẻ em
Hầu đồng là một dạng nghi lễ được thực hành bởi những chủ thể , c á nhân có
tố chất ng ây thơ, trong s áng , thuần khiết, thanh sạch Hầu đồng hay c òn gọi là hầubóng , từ “bóng” chỉ vị thần linh nào đó chiếu nhập c ái bóng (hồn) của mình vàoông đồng hay bà đồng và ông đồng , bà đồng này chỉ là người hầu hạ c ái bóng củathần linh ấy
Như vậy, hầu đồng là một nghi lễ chính trong tín ngưỡng thờ Mẫu Đó là nghi
lễ nhập hồn nhiều lần của c ác vị thần linh Tam phủ, Tứ phủ vào thân xác c ác ôngđồng , bà đồng , là sự tái hiện hình ảnh các vị Thánh, nhằm phán truyền, chữa bệnh,ban phúc lộc cho c ác conn nhang , đệ tử
1.2.2 Giá trị của nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ
Nghi lễ lên đồng xưa cũng như nay đều có những giá trị đặc thù về nhiều mặtnhư: lịch sử, văn hóa, tôn giáo , y học và có sự tham gia của nhiều yếu tố nghệ thuậtđặc sắc: nghệ thuật bi ểu diễn trang phục , âm nhạc, ca từ, diễn xuất đóng vai
ì.2.2.1 Giả trị nhận thức xã h ộ ỉ
Hầu đồng là một nghi lễ tôn giáo độc đáo tạo ra những cơ hội thu hẹp khoảng
c ách giữa thần và người để vươn tới những giá trị thẩm mỹ tốt đẹp Trong sinh hoạt
Trang 24của tín ngưỡng thờ Mẫu đã giúp liên kết mọi người, thậm chí vượt ra khỏi giới hạncủa tư tưởng định kiến tôn giáo hoặc sự cục bộ địa phương để cùng hướng về mộtđối tượng linh thiêng Nó c òn phát khởi mối thiện tâm trong mỗi con người, trong c
ác mối quan hệ xã hội Thực tế khi một ai đó bước chân vào không gian thực hànhnghi lễ đều khiến họ nghĩ rằng đây là chốn linh thiêng và có ý nghĩa quan trọng màkhi con người cần đến niềm tin, sự an ủi trước những bất c ông , bất lực trong cuộcsống
Tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ Lên đồng quan tâm trước hết đời sống trầngian của con người: sức khỏe, tiền tài, may mắn, hạnh phúc (Phúc, Lộc, Thọ), khônghướng con người và niềm tin của con người vào thế giới sau khi chết, mà là thế giớihiện tại, thế giới mà con người cần có sức khỏe, tiền tài , quan lộc Đó là một nhânsinh quan mang tính tích cực , phù hợp với quan niệm hiện sinh của con người trongthế giới hiện đại Lúc này, niềm tin vào siêu nhiên mà thánh Mẫu là đại diện trở nênthứ yếu, mang tính phương tiện, c òn mục đích sống của con người mới là quantrọng Đ ây cũng là cách tư duy thể hiện tính thực tế, thực dụng của con người
Với niềm tin vào sức mạnh cai trị và ban phát c ác hiện tượng tự nhiên của c
ác Thánh Mẫu, c ác Mẹ, những người theo tín ngưỡng thờ Mẫu đã xây dựng chomình một triết lý nhân sinh phù hợp với hoàn cảnh và môi trường sống của mình Đó
là triết lý sống hoà hợp nhưng chứa đựng những khát vọng vươn lên trong việc nắmvững và chế ngự c ác hiện tượng tự nhiên để phục vụ cho hoạt động sống của conngười Thông qua quan niệm coi tự nhiên hay c ác hiện tượng, yếu tố cấu thành tựnhiên là Mẹ, Mẫu đã nói lên thế ứng xử thân thiện, tôn trọng của con người đối vớigiới tự nhiên hiện nay
Với việc lịch sử hóa hệ thống thần linh của mình, Đạo Mẫu và Lên đồng đãđứng về phía dân tộc , tôn thờ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Điện thần Đạo Mẫumang tính đa dân tộc , c ác vị thần linh của người Kinh và c ác dân tộc thi ểu số (Tày,Nùng , Dao , Chăm , Khmer ), thể hiện tinh thần hò a hợp và bình đẳng giữa c ácdân tộc , giữa c ác tôn gi áo
Nghi lễ hầu đồng là một nét đẹp văn hóa truyền thống , là dòng chảy hướngcon người ta về cội nguồn Thông qua c ác bài hát văn đã thể hiện ý nghĩa nhân sinh
Trang 25sâu sắc, ý thức với cội nguồn dân tộc, lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam Tôn vinhtruyền thống yêu nước, tinh thần hướng về nguồn cội, góp phần giáo dục tinh thầnyêu nước , đạo lý uống nước nhớ nguồn qua việc tôn vinh những người có c ông vớiđất nước Đó còn là truyền thống đề cao vai trò của người phụ nữ, người mẹ đã trởthành biể u tượng của d ân tộc Việt Nam mà nh ân d ân ta đã thần th ánh hóa là Mẫu.
I.2.2.2 Giá trị trị liệu
Nghi lễ lên đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ có c ông năng trị liệutrong việc điều chỉnh các rối loạn nhân c ách, rối loạn tinh thần và liên quan đến sự
ức chế của thần kinh Song, việc chữa trị bằng thực hành nghi lễ của c ác Đồng thầyvẫn khá li kỳ, huyền bí của văn hóa dân gian mà hiện nay khoa học vẫn chưa đưa rađược lời giải thích cụ thể
Qua tổng hợp c ác tư liệu nghiên cứu, hầu hết c ác đồng thầy đều ít nhiều cónhững vốn tri thức y học dân gian, trước khi chữa bệnh cho c ác con bệnh, họ đều hỏinguồn cơn con bệnh rất kỹ Trong chữa bệnh tâm lý thì chỉ nằm chắc nguyên nhân g
ây bệnh c ác Thầy mới có thể áp dụng c ác biện pháp trị liệu thích hợp cho từngngười Căn số , cơ đầy dẫn đến sự lệch chuẩn và rối loạn hành vi (bệnh âm) chính là
sự tích tụ những dồn nén tâm sinh lý trong vô thức của con người Từ phương diện yhọc , tâm lý bệnh học, khi thực hành nghi lễ lên đồng , c ác Căn Đồng xưa (có căntính đặc biệt khác người) hoặc c ác Thanh Đồng nay (là người nhạy cảm) khi ở vàokhông gian tôn giáo , dưới tác động của âm nhạc, chất kích thích, màu sắc , hương ,lửa rất có thể đạt đến trạng thái cảm xúc được phóng thích, c ác huyệt đạo đượckhai mở mà xuất hiện trạng thái hưng phấn cao độ Nói c ách khác , trong trạng tháilên đồng, hoạt động ý thức yếu đi và thu hẹp giao diện, nhường chỗ cho hoạt động vôthức chiếm ưu thế mà tạo ra trạng thái ng ây ngất Không hiếm trường hợp nghi lễhầu đồng tạo ra trạng thái hưng phấn khác thường trong và sau đó khiến nhiều c ánhân mắc c ác chứng bệnh thần kinh (trầm nhược ở c ác thể hưng cảm hay trầm cảm)
có thể khỏi bệnh Điểm đặc biệt này của một số Thanh đồng khi thực hành nghi lễ đãtạo ra quyền uy cho cá nhân họ với vai trò người trung gian và cũng chính là “điểmmờ” của nghi lễ
Hầu đồng không phải là một trị liệu hướng đến sự hoàn thiện tuyệt đối, song
Trang 26có thể nói đó cũng là một phương c ách nhận thức lại về một tọa độ văn hóa - lịch sử
xã hội của một cộng đồng và những c á nhân thông qua những biểu tượng tâm linh
có điều kiện xác nhận lại vai trò xã hội của mình, nó có tác dụng làm cho c ác c á
nhân thức tỉnh và cảm nghiệm thấy ở mình một năng lực mới mạnh mẽ và có ý nghĩahơn trong một cộng đồng Lên đồng (với âm nhạc , nhảy múa ) tạo ra trạng thái
ng ây ngất, tự kỷ ám thị về sự tồn tại của thần linh đã giúp con người khai mở vôthức , giải tỏa những dồn nén, ẩn ức , giúp tâm sinh lý con người trở lại trạng tháibình thường , t ái hò a nhập với cộng đồng
1.2.2.3 Giá trị văn hóa - nghệ thuật
Lên đồng là một hình thức diễn xướng nghi lễ , một hình thức s ân khấu tâmlinh, tổng hợp c ác yếu tố nghi lễ, văn học , ca nhạc , múa Nghi lễ hầu đồng nhưmột kho tàng văn học với c ác huyền thoại, truyền thuyết, truyện thơ, văn chầu, thơ
gi áng bút
Với sự tập hợp c ác lễ phục , âm nhạc , đạo cụ nghi lễ lên đồng giống nhưmột bảo tàng sống về văn hóa Việt Nam Nhìn vào hệ thống trang phục và trang sứccủa nghi lễ hầu đồng ta có thể thấy được sự phong phú của trang phục người Việt quanhiều tộc người và nhiều thời kỳ khác nhau Có thể nói, yếu tố tạo nên một buổi hầuđồng thành c ông không thể thiếu trang phục hầu đồng Những bộ trang phục nàykhông chỉ để giới thiệu cho người xem biết về giá đồng mà c òn là hình tượng vănhóa được đúc kết từ nhiều thế hệ của người Việt
C ác điệu múa được sử dụng trong c ác giá hầu cũng mang đậm tính dân gianViệt Nam rất rõ rệt, nhất là c ác điệu múa của c ác Thánh nữ Những điệu múa giốngnhư múa chèo nhưng nhịp điệu, lời ca lại hợp với nhạc cung văn Múa trong hầuđồng đã tiếp nhận nhiều động tác múa cổ truyền như múa quạt, múa kiếm , múa đèn,múa chèo đò , nhưng được trình diễn trong không gian thiêng/thần linh, kết hợpnhuần nhuyễn, hài hò a với âm nhạc do c ác cung văn thể hiện tạo nên sự phấn khích,thăng hoa giúp c ác ông đồng bà đồng có liên kết, giao thoa với thần linh
Có thể nói , nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu phản ánh lối sống ,quan niệm, ước vọng của người Việt xưa và nay, đồng thời nó c òn chứa đựng vô vànnhững giá trị văn hóa - nghệ thuật
Trang 271.3 Văn bản quản lý nh à nước về ngh i lễ h ầu đồng
Đ ể bảo tồn văn hóa truyền thống tốt đẹp nói chung và bảo tồn nghi lễ hầuđồng nói riêng cần phải đồng kết hợp giữa điều kiện pháp luật làm cơ sở với c ác giảipháp chuyên môn Đó là hệ thống pháp luật của Đảng và Nhà Nước bằng văn bản cótính định hướng, chỉ đạo và c ác giải pháp cụ thể cho việc bảo tồn giá trị c ác di sảnvăn ho á như: Hiến pháp; luật Di sản văn ho á và c ác văn bản dưới luật như: c ác vănkiện c ác Đại hội Đảng; c ác Nghị quyết, c ác chỉ thị có liên quan đến việc bảo tồn disản văn ho á C ác văn bản đó là cơ sở để cho c ác nhà khoa học , c ác nhà quản lýchuyên ngành thực hiện những giải pháp cụ thể của mình
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là một tín ngưỡng dân gian, tuy có một số quychuẩn nhất định nhưng nhìn chung tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn mang tính tự phát, chưa
có tổ chức chặt chẽ Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này chủ yếu dựavào Luật Tín ngưỡng , tôn gi áo , song , chưa bao quát hết được đặc trưng của tínngưỡng thờ Mẫu
Ngày 12/2/2018 Bộ VHTTDL có văn bản số 618/BVHTTDL-DSVH gửi c ác
Sở VHTT/Sở VHTTDL các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương về việc chấn chỉnhhoạt động Hầu đồng trong Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt.Theo đó , văn bản nêu rõ , để triển khai hiệu quả và nghiêm túc Chương trình hànhđộng quốc gia bảo vệ di sản Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của ngườiViệt đã được Bộ VHTTDL c ông bố , Bộ VHTTDL yêu cầu Sở VHTT/Sở VHTTDLkịp thời kiểm tra, chấn chỉnh c ác hiện tượng phản cảm, sai lệch với bản chất của disản văn hóa phi vật thể Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, cụthể:
Chỉ tổ chức Hầu đồng ở những nơi có điện thờ Mẫu hoặc di tích thờ Mẫu,không tổ chức nghi lễ Hầu đồng ở khu vực công cộng với tính chất một loại hìnhdịch vụ du lịch hay ca nhạc đường phố
Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người thực hành về giá trịcủa di sản, qua đó khuyến cáo hạn chế việc sử dụng nhiều vàng mã và đồ lễ đắt tiền
để chia, phát lộc trong lễ hầu đồng
Ngăn chặn, xử lý hiện tượng lợi dụng Hầu đồng , lợi dụng niềm tin của nhân
Trang 28dân để trục lợi, kiếm tiền và làm ảnh hưởng đến đời sống tâm linh, tinh thần củacộng đồng.
Các Sở VHTT/Sở VHTTDL các tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương trình
Ủy bản nhân dân tỉnh/thành phố xem xét ban hành quy chế bảo vệ và phát huy giá trị
di tích, trong đó quy định rõ không gian và thời gian được thực hành hầu đồng tại ditích nhằm đảm bảo sự trang nghiêm và không gian phục vụ khách tham quan di tích
Chiều ngày 10/3/2017 tại cuộc họp b áo về Thực hành tín ngưỡng thờ MẫuTam phủ của người Việt được UNESCO ghi danh vào danh s ách di sản văn hóa phivật thể đại diện của nhân loại, Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch đã c ông bố Chươngtrình hành động Quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản
Giữa năm 2017 , Bộ VHTT&DL đã triển khai Chương trình hành động quốcgia bảo vệ và phát huy giá trị Di sản văn hóa thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủcủa người Việt Đồng thời, Bộ VHTTDL kêu gọi c ác ban, bộ , ngành, Ủy ban nhândân c ác cấp , c ác cơ quan hữu quan, cộng đồng c ác địa phương là chủ thể của disản và nhân dân cả nước cùng thực hiện Chương trình hành động Quốc gia nhằm bảo
vệ và phát huy giá trị di sản
Ngày 10/3/2017 đại diện Thanh tra Bộ đã c ông bố C ông văn số932/BVHTTDL-TTr của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc quản lý việcchứng nhận tôn vinh “nghệ nhân”, công nhận “Việt Nam linh thiêng cổ tự”; “C ây di
sản” Theo đó, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đề nghị Liên hiệp c ác hội khoa học
và kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp c ác hội UNESCO Việt Nam, Hội Sinh vật cảnh ViệtNam dừng việc tổ chức vinh danh và c ông nhận “c ây di sản” , cấp bằng cho hệthống đền đạt chuẩn hóa đền thờ Tam, Tứ phủ theo nghi lễ văn hóa truyền thống ViệtNam Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo , hướng dẫn và đồng hành cùng c
ác địa phương có di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việtthực hiện tốt Chương trình hành động quốc gia, đồng thời đề nghị Ủy ban nhân dântỉnh Nam Định và các địa phương có di sản Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủcủa người Việt xây dựng đề án chi tiết cho giai đoạn năm 2017 - 2022 nhằm cụ thểhóa những nội dung của Chương trình hành động quốc gia để di sản Thực hành Tínngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt có những đóng góp tích cực vào đời sống
Trang 29kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và sự đa dạng văn hóa của nhân loại.
Tiểu kết ch ương 1
Trong chương 1 tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận về tín ngưỡng thờ Mẫu vànghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Làm rõ hơn c ác khái niệm “nghi lễ hầuđồng”, “tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ” thông qua giới thiệu c ác khái niệm tínngưỡng , tín ngưỡng thờ Mẫu, nghi lễ , hầu đồng Đồng thời nêu c ác văn bảnquản lý nhà nước về nghi lễ hầu đồng
Trên đây là cơ sở lý thuyết tiền đề cho việc nghiên cứu thực trạng biến đổicủa nghi lễ hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ ở tỉnh Nam Định
Trang 30c h ương 2:
KHÁI QUÁT VỀ TỈNH NAM ĐỊNH VÀ THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI CỦA NGHI LỄ HẦU ĐỒNG TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TAM PHỦ
Ở TỈNH NAM ĐỊNH 2.1 Kh ái quát về tỉnh Nam Định
2.1.1 Vị trí địa lý tự nhiên
Nam Định nằm ở phía Nam vùng đồng bằng sông Hồng, ở tọa độ 19o54' đến20o40' vĩ độ Bắc và từ 105o55' đến 106o45' kinh độ Đ ông Nam Định tiếp giáp vớitỉnh Thái Bình ở phía Bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía Nam, tỉnh Hà Nam ở phía TâyBắc , giáp bi en (vịnh Bắc Bộ) ở phía Đ ông
Nam Định có 10 đơn vị hành chính, trong đó có 09 huyện và thành phố NamĐịnh ( đ ô thị loại I) Tỉnh Nam Định có diện tích đất tự nhiên là 1.668 km2 với dân
số 1,85 triệu người
Địa hình Nam Định có the chia thành 3 vùng:
Vùng trung tâm thành phố Nam Định
Vùng đồng bằng thấp trũng: gồm các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc , NamTrực , Trực Ninh, Xuân Trường
Vùng đồng bằng ven bien: gồm c ác huyện Giao Thủy, Hải Hậu và NghĩaHưng
là Nghĩa Hưng) Hai vựa lúa này trước nộp lương thực về Thăng Long , sau đều dồn
về phủ Thiên Trường (từ khi có quân doanh Vị Hoàng)
Theo Đại Nam nhất thống chí: Phủ Thiên Trường xưa (phủ hieu theo phủ,
Trang 31huyện) là Hải Thanh Trần Thái T ông đổi là Thiên Thanh, Trần Th ánh T ông đổi làThiên Trường Sau lại chia làm ba lộ: Kiến Xương, An Tiêm, Hoàng Giang Thờithuộc Minh, vùng đất này được chia làm 3 phủ: Trấn Nam, Phụng Hoá, Kiến Bình.
Đời Hồng Đức nhà Lê , lộ Thiên Trường được đổi làm thừa tuyên Sơn Nam,một đơn vị hành chính quản 11 phủ, 12 huyện Thủ phủ của Sơn Nam được đóng tạiVân Sàng , tức Ninh Bình Đến niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2 năm 1741, vùng đất nàythuộc lộ Sơn Nam Hạ Đời T ây Sơn, gọi là trấn Sơn Nam
Đến nhà Nguyễn, thủ phủ trấn Sơn Nam đã dời từ Vân Sàng (tỉnh Ninh Bình)trở về Vị Hoàng Năm 1804, vua Gia Long cho đắp một toà thành bằng đất "trên địahạt làng Vị Xuyên và Năng Tĩnh thuộc huyện Mỹ Lộc" Năm Minh Mạng thứ 3, trấnSơn Nam đổi là trấn Nam Định thống lĩnh cả Hưng Yên Năm Minh Mạng thứ 13(năm 1832) vua Minh Mạng đổi trấn Sơn Nam thành tỉnh Nam Định thống lĩnh hạtNinh Bình Năm 1832 tỉnh Nam Định có 4 phủ, 18 huyện, bao gồm phần đất tỉnhThái Bình hiện nay Năm 1890, Thái Bình tách ra thành tỉnh riêng Nam Định c ònlại 2 phủ và 9 huyện
“Từ năm 1926, tỉnh Nam Định có 2 phủ và 7 huyện, 78 tổng , 708 xã (phủ làcấp trung gian, tương đương với cấp huyện) Riêng thành phố Nam Định có 10phường Đến những năm 1930, địa giới hành chính của tỉnh Nam Định không cónhiều thay đổi
Sau C ách mạng Tháng T ám năm 1945, c ác đơn vị hành chính trong tỉnhluôn có sự thay đổi Năm 1953, 7 xã ở phía Bắc Sông Đào thuộc huyện Nghĩa Hưngđược cắt nhập vào huyện Ý Yên Đồng thời , 3 huyện: Mỹ Lộc , Vụ Bản, Ý Yên nhậpvào tỉnh Hà Nam Đến tháng 4 năm 1956, 03 huyện này lại được cắt trả cho NamĐịnh Tháng 5 năm 1965, Nam Định hợp nhất với Hà Nam thành tỉnh Nam Hà Cuốinăm 1967, huyện Giao Thuỷ và huyện Xuân Trường hợp thành huyện Xuân Thuỷ.Tháng 3 năm 1968, 07 xã phía Nam sông Ninh Cơ thuộc huyện Trực Ninh nhập vớihuyện Hải Hậu, 2 huyện Trực Ninh, Nam Trực nhập thành huyện Nam Ninh
Năm 1976, tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình hợp nhất thành tỉnh Hà NamNinh Đến năm 1991, lại chia tách thành tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình Tháng 11năm 1996, tách tỉnh Nam Hà để tái lập tỉnh Nam Định và tỉnh Hà Nam Sau đó ,
Trang 32trong nội bộ tỉnh Nam Định, c ác huyện hợp nhất trước đây lại chia tách và tái lậpnhư cũ, đó là: Xuân Trường , Trực Ninh, Giao Thuỷ, Nam Trực và tái lập huyện MỹLộc (gồm 10 xã) Năm 1997, xã Nam Vân, Nam Phong được cắt nhập từ huyện NamTrực về thành phố Nam Định Như vậy, đến cuối thế kỷ XX, tỉnh Nam Định có 10đơn vị hành chính, bao gồm: 1 thành phố và 9 huyện, 225 xã, phường , thị trấn.” [16;tr.70]
Hiện nay, hành chính tỉnh Nam Định bao gồm thành phố Nam Định, 9 huyệnvới 9 thị trấn, 15 phường và 202 xã
2.1.3 Đời sống kinh tế, văn hóa
2 1.3 1 Đời sống kinh tế
Nam Định là một tỉnh thuộc Đồng bằng s ông Hồng , nằm gần hành lang kinh
tế duyên hải Bắc Bộ và chịu ảnh hưởng của tam gi ác tăng trưởng kinh tế Hà Nội Hải Phòng - Quảng Ninh Đất đai màu mỡ, khí hậu nhiệt đới ẩm, rất thuận lợi choviệc sinh trưởng và phát triển của c ây trồng , vật nuôi Đường bờ biển dài, hệ thống
-s ông ng òi dày đặc , tạo điều kiện cung cấp nước , giao lưu buôn b án cũng như pháttriển kinh tế biển
Nam Định là một tỉnh có trên 22.000 ha diện tích mặt nước và trên 70 km bờbiển, có tiềm năng rất lớn về phát triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản Ngành c ôngnghiệp của tỉnh, đặc biệt là c ông nghiệp chế biến nông , thuỷ sản được coi là ngành
c ông nghiệp trọng tâm nhằm phát huy lợi thế của ngành thuỷ sản với nguồn nguyênliệu dồi dào sẵn có tại địa phương
Hiện nay, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới , Nam Định đanghội tụ được cả hai lợi thế rất căn bản là kinh tế bi ển và c ông nghiệp dệt - may NamĐịnh lại là nơi có nguồn lao động rất dồi dào và chất lượng lao động đang ngày mộtnâng cao cùng với sự nâng cao của trình độ văn ho á, học vấn, tay nghề và sự năngđộng , nhanh nhạy trong cơ chế thị trường Nam Định có hướng đầu tư đúng và cóchỉ số phát tri ển con người cao
Tuy nhiên, Nam Định cũng có những khó khăn lớn khi chuyển sang nền kinh
tế thị trường Nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển công nghiệp nặng cònnghèo cả về số lượng và trữ lượng Diện tích đất nông nghiệp ít, dân số đông trong
Trang 33khi nền kinh tế chưa có những bước phát triển vượt bậc, tạo nên sức ép về dân số ,nhất là số người chưa có việc làm c òn chiếm tỉ lệ lớn.
2 1.3.2 Đời sống văn hóa
Với dải đồng bằng cổ xưa, nơi lưu giữ c ác phong tục tập quán đặc sắc tạinhững làng mạc trù phú, Nam Định là vùng đất mang nét đặc trưng của nền vănminh lúa nước s ông Hồng , thích hợp với c ác loại hình du lịch đồng quê , khảo s át,nghiên cứu văn hóa, tâm linh, sinh thái C òn lưu giữ trọn vẹn tại đây chứng tích củatriều Trần, triều đại phong kiến với những chiến c ông rực rỡ trong lịch sử, cũng làgiai đoạn phát triển cực thịnh của nền phong kiến Việt Nam
Phía sau nhịp sống bình lặng , Nam Định luô n tiềm ẩn sức sống mãnh liệt củamột nền văn hóa dân tộc chưa hề phai nhạt theo thời gian Lễ hội Đền Trần với hìnhảnh 14 vị vua cùng Đức Thánh Trần Hưng Đạo luôn là nguồn cội để mọi người dânViệt hướng về tinh thần đoàn kết dân tộc Tại Khu di tích lịch sử văn hóa Trần hiệnhữu 45 di tích gắn liền với lịch sử Vương triều hưng thịnh bậc nhất trong lịch sửphong kiến Việt Nam Xưa kia, nơi đây vốn là hành cung Thiên Trường được coi nhưkinh đô thứ hai của đất nước , cho tới nay luôn có sức thu hút với du khách trongnước và quốc tế
Tỉnh Nam Định là một vùng văn hóa tiêu bi ểu và đặc sắc Việc ăn, mặc , ở, đilại của người Nam Định vừa là sự thích nghi , hò a đồng của con người với tự nhiên,vừa là sự tận dụng và khai thác của con người đối với môi trường tự nhiên ven sông , gần biển Trên c ái nền tín ngưỡng dân gian, của tục thờ cúng tổ tiên, tínngưỡng thành hoàng tại vùng phía Bắc của Nam Định, được quan niệm là một vùng
“không gian thiêng” đã là nơi khởi phát và trở thành trung tâm tín ngưỡng thờ MẫuLiễu và thờ Đức Thánh Trần
Vùng ven bi ển Nam Định lại là nơi đầu tiên tiếp nhận và sớm trở thành mảnhđất màu mỡ cho Thiên chúa giáo nẩy mầm, bén rễ , trở thành một trung tâm Thiênchúa giáo lớn Cả Nho giáo , Đạo giáo , Phật giáo , Thiên Chúa giáo và c ác tínngưỡng dân gian khác đều song song tồn tại, phát triển, thậm chí có khi hoà đồngtrong mỗi làng xã, mỗi gia đình, làm cho đời sống tôn giáo , tín ngưỡng của ngườiNam Định thật phong phú và độc đ áo
Trang 34Nam Định là mảnh đất “địa linh, nhân kiệt”, nơi phát tích của triều Trần (thế
kỷ XIII-XIV) và sinh dưỡng nhiều danh nhân, danh sĩ, võ tướng mà tên tuổi và sựnghiệp của họ đã được sử s ách ghi c ông , nhân dân tôn thờ mà nổi bật nhất là Quốc
C ông Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn
Tỉnh Nam Định là vùng đất có truyền thống hiếu học, nhiều người đã đỗ đạtcao , có danh vọng , đóng góp vào kho tàng văn ho á của dân tộc Trong suốt thời kỳkhoa cử của chế độ phong kiến Việt Nam, tỉnh Nam Định có rất nhiều người đỗ Tiến
sĩ, Thám hoa, Bảng nhãn, Trạng nguyên Trong chế độ khoa bảng thời bấy giờ, tỉnhNam Định có 5 trạng nguyên, 3 bảng nhãn, 3 thám hoa , 14 hoàng gi áp , 62 tiến sĩ
và phó bảng , riêng làng cổ Hành Thiện có 91 vị đỗ đại khoa và cử nhân Trong đó ,nổi danh là Nguyễn Hiền, Lương Thế Vinh, Đào Sử Tích, Vũ Tuấn Chiêu, Trần VănBảo , Trần Bích San Danh nhân tiêu bi ể u phải k ể đến Trạng nguyên Lương ThếVinh, nhà sử học Trần Huy Liệu, nhà thơ Nguyễn Bính, nhạc sĩ Văn Cao , giáo sưnông học Bùi Huy Đ áp , tỉnh Nam Định c òn là miền quê của thi ca như nhà thơNguyễn Bính từng viết:
“Trong bụng mẹ đã từng mê tiếng hát Nên quê tô ị ai cũng b iết làm thơ”.
Về đời sống tinh thần và tâm linh, tỉnh Nam Định c òn lưu giữ nhiều sinh hoạttín ngưỡng nguyên sơ, đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc Nhiều thôn, làng c òn lưutồn tục thờ c ác thế lực siêu nhiên có tác động đến đời sống con người Nhưng phầnlớn cộng đồng cư dân ở đây thường thờ những người có c ông với nước , giúp dân
mở mang hương ấp, dắt dẫn dân sản xuất, mở mang văn hóa; c ác vị thần bảo vệ dântrước thiên tai , địch họa, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc Trong
đó đặc sắc , tiêu bi ể u nhất là thờ Mẫu Liễu Hạnh, trung tâm của đạo Tam phủ, Tứphủ ở quần thể di tích lịch sử văn hóa Phủ Dầy
Không chỉ là vùng đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa mà tỉnh Nam Định c
òn có nhiều đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa của dân tộc như: nghệ thuật hátchầu văn, hát ví , hát giao duyên
Không những thế, tỉnh Nam Định c ò n là mảnh đất màu mỡ để phát tri ể ndịch vụ du lịch bởi nơi đây có rất nhiều đi ể m tham quan du lịch như: Khu di tích
Trang 35lịch sử văn ho á Phủ Dầy (huyện Vụ Bản) , Chùa Tháp (Thành phố Nam Định) , ĐềnTrần (Thành phố Nam Định) , Đền thờ trạng nguyên Lương Thế Vinh (huyện VụBản), Khu du lịch sinh thái Núi Ngăm (huyện Vụ Bản) , làng nghề mây tre đan VĩnhHào , làng nghề sơn mài Liên Minh,
2.2 Biến đổi th ực h ành ngh i lễ h ầu đồng trong tín ngưỡng th ờ Mẫu Tam ph ủ ở tỉnh Nam Định
2.2.1 Biến đổi về đối tượng thực hành nghi lễ
Đối tượng thực hành nghi lễ là c ác ông đồng , bà đồng Họ là những thàyShaman mà trong quan niệm dân gian có khả năng nhập hồn của thần linh vào thânxác của mình để tự chữa bệnh, cầu tài lộc cho bản thân và cho những người khác C
ác bà đồng , ông đồng có cả nữ và nam giới, nhưng phần lớn là nữ Nếu ông đồng lànam thì họ thường là những người nam ái nữ Trước mắt mọi người hay tự bản thân
họ tự cho mình là những người có căn số , trước khi trở thành ông đồng , bà đồng họthường hay bị ốm đau, điên loạn kéo dài, chỉ khi lên đồng mới khỏi bệnh Họ lànhững người nhạy cảm , tính khí thất thường , có khả năng múa hát Sau khi trởthành ông đồng , bà đồng, họ phải lập điện ở trong nhà hay mỗi năm một vài lần điđến c ác điện, phủ thờ Mẫu để lên đồng
Trước năm 1986, những thanh đồng và con nhang chủ yếu là những người cócăn số trong tầng lớp nông dân, ti ểu thương , thị dân, ngày nay đã tăng lên nhiều về
số lượng và mở rộng ra c ác tầng lớp cư dân khác , như giới nghệ sỹ, trí thức , c ôngchức nhà nước Điều này có th ể lý giải từ căn nguyên của kinh tế thị trường và m ô itrường xã hội hiện đại, từ việc con người có thể tự do hơn trong việc bộc lộ căn tínhcủa bản thân, vượt qua những dị nghị của dư luận xã hội
Trong môi trường xã hội đô thị hiện nay c ác loại đồng bóng cũng đa dạnghơn:
Những ông đồng , bà đồng do căn số mà mắc phải tình trạng bệnh tật, làm ănkhông được xuôn xẻ, phải ra trình đồng và theo nghề đồng bóng để chữa bệnh chobản thân và cầu cúng cho người khác Những ông đồng , bà đồng này xưa kia chiếm
số lượng rất đông Một số người trong họ, nhất là c ác chủ đền dần trở thành nhữngngười kết hợp kinh doanh buôn b án với “kinh doanh tín ngưỡng”, trong họ không ít
Trang 36người trở nên giàu có , phát đạt.
Những thập niên gần đây bên cạnh những ông đồng , bà đồng có “căn số” thìcũng đã xuất hiện ông đồng , bà đồng gọi là “Đồng đua”, “Đồng đú” Bản thânnhững người này thường không có “căn số”, họ là người giàu có , có nhu cầu thểhiện, coi hầu đồng là một thú ăn chơi, khoe của và không ít người cũng thông quahoạt động này để kinh doanh làm giàu
Những ông đồng , bà đồng là những người kinh doanh ngày một nhiều vàchiếm đa số , khiến người ta nghĩ rằng đạo Mẫu và hầu đồng là của tầng lớp thươngnhân Với họ , đạo Mẫu và nghi lễ hầu đồng không chỉ là chỗ dựa t âm linh cho c áchoạt động buôn b án, kinh doanh của mình, mà một số người đã trở thành nhữngngười “kinh doanh tín nguỡng” là chính, giống như c ác ông đồng , bà đồng (Cút) ởHàn Quốc
Ở tỉnh Nam Định, sự biến đổi về đối tượng và thành phần tham gia thực hànhnghi lễ cũng diễn ra khá rõ nét, trong đó có pháp sư và vai trò của pháp sư, thanhđồng, hầu dâng , cung văn, con nhang đệ tử và bản hội Nếu như trước đây, vai tròpháp sư trong nghi lễ chầu văn truyền thống thể hiện trên một số phương diện: giữvai trò chủ thể trong nghi lễ chầu văn hầu đồng; cùng cung văn để thô i miên, mêhoặc ông , bà đồng đưa họ vào trạng thái ng ây ngất; cúng thỉnh thánh theo một quytắc , trình tự nhất định (thường là ba ngày); am hi ể u chữ H án, gia đình có truyềnthống theo nghề thày cúng, hiểu s âu bản chất của tín ngưỡng , vai trò , vị trí củatừng vị thần linh trong hệ thống thờ Tam phủ Pháp sư trong nghi lễ chầu văn hiệnnay đã có những thay đổi rõ rệt, cụ thể: giữ vai trò khách thể (làm nhiệm vụ đơnthuần của một thày cúng); trao nhiệm vụ thôi miên, mê hoặc ông , bà đồng cho cungvăn (cùng với sự hỗ trợ của c ác yếu tố bên ngoài như: âm thanh, ánh s áng, đồ lễ,phục trang, đạo cụ, hương khói cúng thỉnh thánh trong một ngày thậm chí vài tiếngtùy theo nhu cầu của tín chủ, bản hội; ít hiểu chữ Hán, thậm chí dùng cả chữ Nôm,chữ quốc ngữ, pháp sư không nhất thiết là gia đình truyền thống theo nghề thàycúng; ít am hi ể u về bản chất của tín ngưỡng, vị trí của từng vị thần linh trong hệthống thờ Tam phủ Thanh đồng trong nghi lễ chầu văn truyền thống được quy định
cụ thể như: thường là bé trai dưới 15 tuổi hay c ô g ái chưa chồng c òn trong trắng;
Trang 37phải ra trình đồng mở phủ vì có căn đồng và thuộc nhóm người yếu thế trong xã hội;lén lút hành nghề; quan niệm xã hội: kỳ thị, ghẻ lạnh, xa lánh; phải làm nhiệm vụ vớiquan niệm “con nhà thánh phải làm việc thánh” Thanh đồng trong nghi lễ chầu vănhiện nay ở tỉnh Nam Định có nhiều đi em khác trong truyền thống: độ tuổi trung bìnhtrên 30 , đã trưởng thành với đầy đủ những yếu tố , điều kiện, tác động của xã hội;chủ động ra hành nghề, thuộc nhóm người có tầm ảnh hưởng không nhỏ trong xãhội; c ông khai hành nghề với tư c ách là một thanh đồng chuyên nghiệp và xây dựng
cả một mạng xã hội dày đặc; quan niệm xã hội: sùng b ái , cứu rỗi , ban phát, che chở tồn tại thành một nghề độc lập, ổn định, có thu nhập cao , làm việc đời hơn việcthánh Sự bùng phát trình đồng, mở phủ cũng dẫn đến sự biến đổi trong hàng ngũcon nhang , đệ tử Nhiều người sau 3 năm, thậm chí có người mới “ra đồng” 1 năm
đã “đẻ đồng”, tự phong cho mình là “đồng thầy” Những người hầu đồng b ây giờcũng không được tuyen lựa từ c ác thiếu nhi trong trắng như ngày xưa, mà theo điềutra của người nghiên cứu, phần nhiều trong số họ là người đồng tính, hoặc tâm sinh
lý có một sự lệch lạc nào đó
Mỗi vấn hầu thường có từ 2 đến 4 người hầu dâng Người hầu dâng là nhữngngười giúp c ác ông đồng , bà đồng c ác c ông việc như thay trang phục sau mỗi giáđồng , đưa hương , nến, dâng rượu, trà, thuốc là những người khéo tay và am hieu
c ác giá hầu trong vấn đồng Họ phải là người có “căn quả” mới có the ngồi trên tứtrụ khi hầu Thánh [PL; A1; tr.71] Hầu dâng trong nghi lễ hầu đồng truyền thống cóthe thực hiện hai chức năng: lúc làm hầu dâng , lúc làm hầu chính Trang phục c ácgiá đồng do thanh đồng chuẩn bị, việc mua sắm do c ác đồng cựu chỉ định, sắp xếp.Hầu dâng trong nghi lễ hầu đồng hiện nay ngoài việc thực hiện một chức năng phục
vụ hầu chính c òn thêm nhiệm vụ xây dựng mạng lưới con nhang đệ tử, hầu dângchuyên nghiệp với tư c ách “nghề”, hiện đang dần có xu hướng tự chuẩn bị với quan
niệm “đi c âu phải sắm giỏ ” do c ác thanh đồng sắp xếp, mời gọi theo đẳng cấp với
Trang 38đã là một môn âm nhạc truyền thống cổ xưa chứa đựng những giá trị nghệ thuật quý
b áu Trước dòng chảy của cuộc sống hiện đại, sự phát triển mạnh của kinh tế đã tácđộng phần nào đế quá trình phát triển của hát văn Chầu văn hay hát bóng là một loạihình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền vớinghi thức hầu đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ Bằng c ách sử dụng âm nhạcmang tính tâm linh với c ác lời văn trau chuốt nghiêm trang , chầu văn được coi làhình thức ca hát mang ý nghĩa chầu Thánh Theo dòng thời gian, chầu văn ít nhiều đã
có những biến đổi đang dần mất đi những gi á trị tốt đẹp
* Làn điệu, tiết tấu
C ác làn điệu và tiết tấu của nghệ thuật hát chầu văn ở tỉnh Nam Định không
có nhiều thay đổi Tiết tấu hát văn vẫn thường sử dụng nhịp ngoại (đảo phách) Loạinhịp này mang đến một cảm giác không ổn định trong tâm trí người nghe , đưa ngườinghe vào trạng thái mông lung , huyền ảo
H át chầu văn ở tỉnh Nam Định sử dụng nhiều làn điệu (hay c ò n gọi là lốihát, c ách hát) C ác làn điệu hát văn cơ bản gồm: Bỉ , Miễu, Thổng , Phú Bình, PhúChênh, Phú Nói , Phú rầu (phú dầu) , Đưa Thơ, Vãn, Dọc , Cờn Xá, Kiều Dương,Hãm, Dồn, điệu kiều thỉnh, Hát Sai (Hành Sai) , ng âm thơ Người xưa c òn gọi lànđiệu là c ách Thí dụ như điệu bỉ thì gọi là bỉ c ách, điệu dọc thì gọi là dọc c ách Ngoài ra hát chầu văn c òn có thể mượn c ác làn điệu nhạc cổ truyền khác như: hátnói trong ca trù, hát then, hò Huế , hồ quảng , hát canh Xen kẽ những đoạn hát làđoạn nhạc không lời , gọi là lưu khô ng
Gắn liền với sắc màu tín ngưỡng của người Việt, hát văn đã xây dựng đượcnhiều kiểu gõ nhịp và một hệ thống làn điệu, bài bản phong phú với những quy ước
về c ách vận dụng cho từng hàng Thánh và từng loại Phủ Mỗi giá hầu thường có một
số điệu hát riêng , như c ác giá về Thiên phủ hay Địa phủ thường dùng dọc , phú, giá
về Thoải phủ thường là cờn, c òn c ác giá Nhạc Phủ là Xá Nhịp điệu và bộ gõ có vaitrò đặc biệt quan trọng trong sinh hoạt tín ngưỡng này Chúng tạo nên một không khíhưng phấn cao , góp phần giúp người ngồi đồng có cảm gi ác tho át xác để nhập thânvới c ác vị thánh, đồng thời kết hợp với yếu tố tâm linh chúng góp phần tạo nên mộttrạng thái tinh thần đặc biệt khiến người ta có thể thực hiện những việc mà ở trạng
Trang 39thái bình thường khó có thể làm nổi.
về lối hát, ngày nay ở một số nơi lại thêm c ác làn điệu chèo , ca trù khiến âmnhạc chầu văn được chau chuốt hơn, long lanh hơn bởi sử dụng nhiều nốt hoa mỹnhưng ở tỉnh Nam Định vẫn giữ được lối hát chân phương , mộc mạc , giản dị , dân
dã Giai điệu của hát văn khi thì mượt mà, hấp dẫn, khi lại dồn dập, khoẻ khoắn vuitươi Chất thơ của bài văn đó được nâng lên cao tuyệt đỉnh trong không khí tâm linhthành kính, khấn vái xuýt xoa, khói hương nghi ngút, có dàn nhạc, lời ca phụ hoạ,đưa đẩy và c ác điệu múa thiêng của Thánh thể hiện qua người hầu đồng
Ngày nay, hệ thống c ác làn điệu cổ điển như Dọc, Cờn, Luyện, Phú Nói, PhúChênh, Phú Bình, Phú Rầu, Dồn, Dồn Đại Thạch, Kiều Dương dần bị biến dạng,giọng hát ẻo lả, ướt át lối mới , dàn trống dân tộc cải biên Những cung văn c òngiữ được ít nhiều chuẩn mực âm luật xưa ngày càng hiếm Điều này một phần bị chiphối bởi thị hiếu nghệ thuật của c ác chân đồng và cung văn luôn phải “s áng tạo”chiều theo nhu cầu thẩm mỹ mới
H át văn ở tỉnh Nam Định hiện nay ít sử dụng c ác điệu văn khó: bỉ, miễu,thổng, kiều dương , mà chủ yếu dựa một vài làn điệu cơn bản: xá thượng, xá bằng,phú, sai Việc giảm lược sẽ giúp hát văn gần hơn với đại chúng Tuy nhiên, việc giữgìn c ác làn điệu cổ là cần thiết, khi đa số c ác cung văn hiện nay ít ai hát được c ácđiệu văn khó , đòi hòi sự chắc chắn về nhịp phách, cũng như thẩm mỹ về lời văn.Chẳng hạn, văn c ác Hoàng: Thỉnh-Dọc-H át sai- Thơ-Phú-Xe gi á
* Nhạc cụ [PL; A2; tr.71]
Nhạc cụ chầu văn cổ chủ yếu là đàn nguyệt, ngoài ra c òn có trống, phách,thanh la, cảnh Ngày nay bộ nhạc cụ c òn có thêm s áo , nhị 1, nhị 2 , tam thập lục ,đàn tam, trống lớn, có nơi c òn dùng cả đàn bầu Tuy âm thanh có phần phong phú vànáo nhiệt hơn, song phần nào lại giảm đi tính linh thiêng , huyền bí trong thực hànhmúa trong tín ngưỡng C ác nhạc cụ chính được sử dụng trong hát chầu văn ngày naybao gồm: đàn nguyệt, trống ban (trống con) , phách, cảnh, thanh la Tùy theo yêucầu, sở thích của cộng đồng tín ngưỡng ở địa phương , hoàn cảnh hành lễ mà người
ta có thể thêm bớt nhạc cụ này hoặc nhạc cụ khác như s áo , nhị, đàn thập lục , kèn nhưng không thể thiếu đàn nguyệt, phách, cảnh và trống Cung văn có thể vừa hát
Trang 40vừa sử dụng phối hợp một số nhạc cụ như: đánh đàn nguyệt, gõ phách, trống
* Ca từ
Lời của c ác bản văn thường có nội dung ca ngợi c ông đức , kể sự tích c ácthánh, khen vẻ đẹp ngoại hình và thú phong lưu của c ác vị ấy, đồng thời tả cảnh vàxin được ban ơn phù hộ Lời hát văn khắc hoạ vị trí , nhân c ách, lai lịch c ác vị thần,
do vậy lời văn rất đẹp , trang trọng , tao nhã Trong quá trình “bùng nổ” nghi lễ hầuđồng , bên cạnh những nghệ nhân truyền thống , hiện nay đội ngũ những người hátvăn khá phức tạp , những nghệ sỹ chèo , cải lương của c ác nhà hát nghệ thuật vì sinh
kế chuyển sang hát chầu văn, những người mới học nghề dăm ba tháng ra nhập c ácban cung văn ở c ác đền phủ, dẫn đến tình trạng biến dạng nhiều lời hát, vần điệu,cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng c ác buổi hầu đồng
H át chầu văn ở tỉnh Nam Định vẫn hát theo lối thơ cổ và tuân theo quy luậtgồm bốn phần chính: Mời thánh nhập, kể sự tích và c ông đức , xin thánh phù hộ,
đưa tiễn Bài hát thường chấm dứt với c âu: “Xe loan thánh giá hồ ỉ cung!".
Lời văn trong hát văn cũng phổ từ thơ ca dân gian, có khi vay mượn cả trong
c ác tác phẩm văn thơ b ác học và thường là thể lục b át, lục bát biến thể , thất ng ôn,bốn chữ Chầu văn sử dụng nhiều thể thơ khác nhau như thơ thất ng ôn, song thất lục
b át, lục b át, nhất b át song thất (có thể gọi là song thất nhất bát gồm có một c âutám và hai c âu bảy chữ) , hát nói
Hát văn là lễ nhạc hát chầu Thánh nên có vai trò quan trọng trong lễ hầuđồng Lời ca, tiếng nhạc của cung văn nhằm mời gọi c ác vị Thánh về H át văn làmcho buổi lễ sống động , cuốn hút người tham dự lễ hầu đồng
Có thể nói, tính giao lưu văn hóa vùng miền là một trong những đặc trưng tiêubiểu của tín ngưỡng Thờ Mẫu nói chung , hát văn và hầu đồng nói riêng Không chỉxuất phát điểm là loại hình phục vụ văn hóa cư dân đồng bằng nữa, mà nó c òn thunạp thêm văn hóa nhiều vùng miền khác nhau: miền núi, miền s ông Hiện nay, c
ác bản văn đều được thu nạp một số loại hình âm nhạc khác , làm hát văn trở nênphong phú đa dạng hơn Sự du nhập của một số làn điệu dân ca vùng miền vào hátvăn ngày càng rõ rệt khi từng bản văn gắn với tích vùng miền đó Chẳng hạn, trongbản văn Chúa bói Then có làn điệu hát then của người Tày, Văn c ô đô i Cam Đường