Tuy nhiên, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xu thế hộinhập và việc tác động của nền kinh tế thị trường hiện nay, nhiều giá trị văn hóatruyền thống dân tộc đang có nguy cơ b
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPBẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG MÂY TRE ĐAN PHÚ VINH, XÃ PHÚ NGHĨA,
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Khóa luận tốt nghiệp ngành : QUẢN LÝ VĂN HÓA Người hướng dẫn
Trang 2Sinh viên thực hiện
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá làng nghề
truyền thống mây tre đan Phú Vinh, xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”, với tình cảm và lòng biết ơn chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng
biết ơn tới:
Giảng viên Khoa Quản lý xã hội cùng toàn thể giảng viên Trường Đại họcNội vụ Hà Nội đã truyền đạt cho tôi những kiến thức, kỹ năng cần thiết để nghiêncứu và hoàn thành khóa luận của mình
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS.Quang Thị Ngọc Huyền - Giảng viên hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, quan tâm vàcho tôi những lời khuyên, những bài học kinh nghiệm hữu ích trong lĩnh làngnghề truyền thống để tôi có thể hoàn thành khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo UBND xã Phú Nghĩa nói chung vàtoàn thể nghệ nhân, thợ nghề, người dân tại xã Phú Nghĩa nói riêng đã rất tận tình
và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận của mình
Dù đã rất cố gắng nhưng khóa luận không tránh khỏi những sai sót Tôi rấtmong nhận được ý kiến đóng góp của thầy, cô để khóa luận của tôi được hoànthiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Mã số sinh viên
Khóa
: TS QUANG THỊ NGỌC HUYỀN : VŨ MINH QUANG: 1605QLVA040
: 2016-2020: ĐH QLVH 16ALớp
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nêu trong khoá luận là trung thực và chưa từng được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin tríchdẫn trong khóa luận đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
N n 11 t n 05 năm 2020
Sinh viên
V Minh Qu n
Trang 4DANH MỤC TỪ VI T TẮT
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VI T TẮT
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Những đóng góp của khóa luận 4
7 Cấu trúc của khóa luận 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ LÀNG NGHỀ VÀ TỔNG QUAN LÀNG NGHỀ MÂY TRE ĐAN PHÚ VINH, XÃ PHÚ NGHĨA, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 5
1.1 Lý luận chung về làng nghề và làng nghề truyền thống 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.1.1 Khái niệm làng nghề 5
1.1.1.2 Khái niệm làng nghề truyền thống 6
1.1.1.3 Khái niệm bảo tồn và phát huy 9
1.1.1.4 Khái niệm giá trị văn hóa 10
1.1.2 Đặc điểm làng nghề truyền thống 11
1.1.3 Văn hóa làng nghề 13
1.2 Khái quát về làng nghề truyền thống mây tre đan Phú Vinh 15
1.2.1 Khái quát về xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 15 1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển nghề mây tre đan Phú Vinh 17
Tiểu kết 18
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG MÂY TRE ĐAN PHÚ VINH 19
Trang 62.1 Khái quát nghề mây tre đan Phú Vinh 19
2.1.1 Quy trình sản xuất 19
2.1.1.1 Chọn nguyên liệu 19
2.1.1.2 Xử lý nguyên liệu 21
2.1.1.3 Kỹ thuật đan 24
2.1.2 Các loại hình sản phẩm 25
2.1.3 Môi trường sản xuất và nguồn lao động nghề mây tre đan Phú Vinh26 2.1.3.1 Sản xuất theo hộ gia đình 26
2.1.3.2 Sản xuất tập trung 27
2.1.4 Kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm 29
2.2 Các giá trị văn hóa của nghề mây tre đan Phú Vinh 31
2.2.1 Giá trị nghệ thuật 31
2.2.2 Vai trò gắn kết cộng đồng 34
2.2.3 Tôn vinh giá trị truyền thống làng nghề 36
2.2.4 Quảng bá bản sắc văn hóa truyền thống của Việt Nam ra thế giới
38 2.3 Quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề mây tre đan Phú Vinh 40
2.3.1 Chủ chương, chính sách của địa phương về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nghề mây tre đan Phú Vinh 40
2.3.2 Truyền nghề 41
2.3.2.1 Nguồn lao động tại chỗ 41
2.3.2.2 Truyền nghề trong nước và ra thế giới 42
2.3.3 Vinh danh các nghệ nhân 44
2.3.4 Đẩy mạnh truyền thông, quảng bá du lịch 46
2.4 Đánh giá việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề truyền thống mây tre đan Phú Vinh 47
2.4.1 Những kết quả đã đạt được 47
2.4.2 Những hạn chế, tồn tại 49
Tiểu kết 51
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG MÂY TRE ĐAN PHÚ VINH 52
3.1 Các văn bản pháp luật liên quan đến phát triển nghề, làng nghề 52
3.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của làng nghề mây tre đan Phú Vinh trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay 53
3.2.1 Tăng cường vai trò của các cấp chính quyền trong quản lý, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của làng nghề mây tre đan Phú Vinh 53
Trang 73.2.2 Xây dựng chiến lược phát triển cho nghề mây tre đan Phú Vinh 55
3.2.2.1 Du lịch làng nghề - giải pháp hữu hiệu bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên nhân văn 55
3.2.2.2 Xây dựng mối quan hệ làng nghề - công ty du lịch 57
3.2.3 Phát triển nguồn nhân lực 58
3.2.4 Bảo vệ tập quán truyền nghề 61
3.2.5 Nâng cao nhận thức bảo vệ, phát huy các giá trị văn hoá của nghề mây tre đan Phú Vinh cho cộng đồng 63
3.2.6 Khuyến khích sự sáng tạo, phát triển các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước nhưng vẫn đảm bảo gìn giữ văn hóa độc đáo của làng nghề 65
3.2.7 Giải pháp truyền thông, tuyên truyền, quảng bá về làng nghề mây tre đan Phú Vinh 67
3.2.8 Bảo vệ môi trường làng nghề 70
Tiểu kết 72
K T LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 77
Trang 8Tuy nhiên, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xu thế hộinhập và việc tác động của nền kinh tế thị trường hiện nay, nhiều giá trị văn hóatruyền thống dân tộc đang có nguy cơ bị mai một, lãng quên, bí quyết nghềnghiệp bị thất truyền cùng với sự ra đi của các nghệ nhân lớn tuổi.
Chương Mỹ là vùng đất nổi tiếng với ít nhất 7 nghề thủ công truyềnthống, trong đó làng nghề mây tre đan xã Phú Vinh là một làng nghề độc đáo,nổi tiếng và lâu đời Mặc dù đã được chính quyền các cấp ban hành nhiềuchính sách nhằm phát triển làng nghề, nhiều hộ dân vẫn đang tâm huyết vớinghề nhưng nghề mây tre đan Phú Vinh vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc lưugiữ, phát huy những giá trị văn hóa của làng nghề Vì vậy, vấn đề quản lý, bảotồn giá trị văn hóa phi vật thể của làng nghề đang là tâm điểm quan tâm củacác cấp, các ngành, địa phương, đang trở thành cấp bách Chính từ những thực
tế nêu trên, tôi chọn đề tại: “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá làng nghề
truyền thống mây tre đan Phú Vinh, xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Lịch sử n hiên cứu
Nghề thủ công truyền thống mây tre đan dù đã có lịch sử mấy trăm nămthế nhưng phải thừa nhận rằng mức độ quan tâm của các nhà chuyên môn cũng
Trang 9như sự đầu tư cho việc nghiên cứu để có thể đưa ra những công trình, nhữngđầu sách mang tính chuyên sâu hay giáo trình giảng dạy thì hầu như chưa có,nếu có thì chỉ là những bài viết lẻ tẻ mang tính giới thiệu và quảng bá về nghề
và làng nghề mà không hề có một hệ thống nhất định nào Tuy nhiên nhiềunăm trở lại đây đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu mang tính chuyênsâu hơn về làng nghề thủ công truyền thống như:
Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội (2000) của tác giả TrầnQuốc Vượng và Đỗ Thị Hảo đã đề cập đến các vấn đề liên quan của làng nghềthủ công, vị trí làng nghề trong diễn trình lịch sử Việt Nam và một số quanđiểm phát triển làng nghề mới trong đó có nghề mây tre đan như sau:
- Duy trì hình thức sản xuất theo hộ gia đình vẫn là phương thức hiệuquả nhất với nghề thủ công mây tre đan nói riêng và nghề thủ công nói chung
- Tác giả nêu ra một loạt khó khăn cho các làng nghề trong đó có mâytre đan
- Hoàn thiện thể chế chính sách, tạo lập môi trường cho nghề thủ côngphát triển là vấn đề cấp bách cần thực hiện sớm Thúc đẩy du lịch làng nghề,khôi phục phát triển các giá trị làng nghề trong đó có mây tre đan Đưa ra cácgiải pháp đi đôi với bảo vệ môi trường như vấn đề xử lý rác thải
Cuốn “P t tr ển l n n ề truyền thốn tron qu trìn côn n ệp o ện đạ o ” của
tác giả Mai Thế Hởn, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 2003 chú tâmnghiên cứu về làng nghề truyền thống trước thách thức phát triển nhanh chóngcủa quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trên Tạp chí Di sản văn hoá số 4 (2003) tác giả Lê Thị Minh Lý có bàiviết “Làng nghề và việc bảo tồn các giá trị văn hoá phi vật thể”ở đó tác giả đãnêu lên được tầm quan trọng trong việc gìn giữ và bảo tồn các giá trị văn hoávốn là di sản của dân tộc, như việc lưu truyền bí quyết nghề nghiệp trong phạm
vi làng xã hay những giá trị tinh thần đậm nét được phản ánh qua các tập tục,tín ngưỡng Những tư liệu viết về văn hoá làng nghề nhìn chung rất đa dạng và
Trang 10đó vào công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá cho sản phẩm thủ công truyềnthống mang nhiều công sức và tâm huyết của người dân nơi đây trong thời kỳcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3 Mục tiêu n hiên ứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóalàng nghề và tìm hiểu, đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trịvăn hoá làng nghề truyền thống mây tre đan Phú Vinh:
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao việc bảo tồn và phát huy giá trịvăn hoá làng nghề truyền thống mây tre đan Phú Vinh trong thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay
4 Đối tượn g và phạm vi n ghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo tồn và pháthuy các giá trị văn hóa làng nghề truyền thống mây tre đan tại Phú Vinh
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng: Dựa trên quan điểm duy vật biệnchứng để tiến hành xem xét, tính toán, luận giải và đánh giá các vấn đề liênquan tới hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của làng nghề mây tređan Phú Vinh
Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh: từ các nguồn ấn phẩm, sách,báo, tạp chí phân tích tổng hợp để lấy các thông tin cần thiết, từ đó hìnhthành đề mục viết khóa luận
Tác giả khóa luận có tiến hành khảo sát thực tế lại làng Phú Vinh để cócái nhìn khách quan và bao quát về làng nghề này
6 Nhữn đón óp ủa khó luận
Kết quả nghiên cứu của khóa luận góp phần vào công tác bảo tồn vàphát huy hơn nữa các giá trị văn hóa của làng nghề mây tre đan Phú Vinh;
Cung cấp thêm thông tin, tư liệu về nghề mây tre đan truyền thống của
thôn Phú Vinh, xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
7 Cấu trú ủa khó luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luậngồm có 3 chương:
C ươn 1: Cơ sở lý luận chung về bảo tồn p t u trị văn o
l n n ề v tổn quan l n n ề mâ tre đan P ú V n xã P ú N ĩa huyện C ươn Mỹ t n p ố N i
C ươn 2: Thực trạng quản lý bảo tồn v p t u trị văn o
l n n ề truyền thốn mâ tre đan P ú Vinh
C ươn 3: ề xu t giả p p bảo tồn v p t u trị văn o l n nghề truyền thốn mâ tre đan P ú V n
Trang 12PHÚ VINH, XÃ PHÚ NGHĨA, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI 1.1 Lý luận chung về làn n hề và làn n hề truyền thống
1.1.1.1 n ệm l n n ề
Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn được cấu tạo bởihai yếu tố làng và nghề Làng là một đơn vị cư trú và một hình thức tổ chức xãhội quan trọng ở nông thôn nước ta, mà ở đó tồn tại những tập hợp dân cưcùng sinh sống, sản xuất và giữa họ có mối quan hệ khăng khít với nhau Nghề
ở đây là những nghề phi nông nghiệp được tiến hành trong phạm vị làng vàgắn chặt với làng Tuy nhiên không phải bất kỳ làng nào có nghề cũng đượcgọi là làng nghề Để được công nhận là làng nghề thì làng nghề đó phải thểhiện được cả mặt định tính và định lượng của nó Định tính của làng nghềchính là thể hiện sự khác biệt của làng nghề so với làng thuần nông, làng nghề
có ngành nghề phụ quy mô nhỏ hoặc với phố nghề ở thành thị Còn về mặtđịnh lượng là nói đến quy mô và tính ổn định của làng nghề đó như thế nào
Cụ thể hơn ta có thể hiểu mặt định lượng của làng nghề chính là việc xác định
số hộ, số lao động và giá trị thu nhập từ ngành nghề đó chiếm bao nhiêu phầntrăm số lao động và tổng giá trị thu nhập của địa phương Đây cũng là tiêu chíquan trọng để xác định làng nghề
Từ xa xưa do đặc thù nền sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có nhiều laođộng tham gia đã khiến dân cư Việt cổ sống quần tụ lại với nhau thành từngcụm dân cư đông đúc, dần hình thành nên làng xã Trong từng làng xã đã códân cư sản xuất các mặt hàng thủ công, dần dần lan truyền ra cả làng xã tạonên những làng nghề và truyền nghề từ thế hệ này sang thế hệ khác
Theo tác giả Phạm Côn Sơn trong cuốn “Làng nghề truyền thống ViệtNam” thì làng nghề được định nghĩa như sau:
Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi
Trang 13quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩarộng Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý lànhững người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm Cơ sởvững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế,vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương [6,tr.11]
Tác giả Trương Minh Hằng đưa ra quan niệm về làng nghề như sau:Làng nghề gắn liền với các vùng nông nghiệp và người nông dân làmnghề thủ công để giải quyết hợp lý sức lao động dư thừa được cơ cấu theo đặctrưng nông nghiệp là mùa vụ một làng có nghề, đời sống của người dân ổnđịnh và được nâng cao so với các làng thuần nông Nghề thủ công từ vị trí chỉ
là nghề phI được tổ chức và thực thi vào những khi nông nhàn, rồi về saunhiều nghề trở thành nguồn thu nhập chính của làng Ở một góc độ nào đó,làng nghề còn mang tính chất của một làng buôn [2,tr.20-21]
Theo quan niệm trên cần quan tâm đến một số vấn đề cơ bản như sau:người dân trong làng nghề có đời sống ổn định và phần nào được nâng cao hơn
so với các làng thuần nông Nghề thủ công trong lịch sử có thể từ vị trí chỉ lànghề phI, sau đó trở thành nguồn thu nhập chính của làng Làng nghề cònmang tính chất là một làng buôn Nhận định này xuất phát từ thực tiễn kháchquan, bởi trên thực tế người dân làng nghề sẽ phải mua các nguồn nguyên liệu
để sản xuất hàng hoá và tổ chức tiêu thI sản phẩm ở các thị trường trong vùngphI cận của làng nghề Chính đây là đặc trưng để tạo điều kiện cho làng nghề
mở ra bên ngoài thị trường
1.1.1.2 n ệm l n n ề truyền thống
Tác giả Bùi Văn Vượng cho rằng: “Làng nghề truyền thống là làng cổtruyền làm nghề thủ công Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuấthàng thủ công Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghềnông (nông dân) Nhưng yêu cầu chuyên môn hoá đã tạo thành những thợchuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng của mình.”[14,tr.23]
Trang 14Theo tác giả làng nghề truyền thống phải là một làng có truyền thốnglịch sử lâu đời (có thể từ trước năm 1945), có nhiều thợ giỏi và chính họ vừalàm nghề, lại vừa tham gia sản xuất nông nghiệp Nhưng sản phẩm của nhữngngười thợ giỏi đã tạo nên bản sắc của làng nghề nổi tiếng trong và ngoài nước
Nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng cho rằng: Làng nghề là làng ấy, tuy
có trồng trọt theo lối thủ công và chăn nuôi ( gà, lợn, trâu ) làm một số nghềphụ khác (thêu, đan lát ) song đã nổi trội nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầnglớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có ông trùm, ông phó
cả cùng một số thợ và phó thợ đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhấtđịnh “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” sống chủ yếubằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công, những mặt hàng này đã cótính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hoá và có quan hệ tiếp thị với thịtrường là vùng rộng xung quanh với thị trường đô thị, thủ đô và tiến tới mởrộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài” [12,tr.16]
Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công,nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâuđời, được truyền đi truyền lại qua các thế hệ, có sự liên kết hỗ trợ trong sảnxuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ,thậm chí là bán lẻ, họ có cùng tổ nghề, các thành viên luôn có ý thức tuân theonhững hương ước, chế độ, gia tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sửphát triển đã hình thành nghề ngay trên đơn vị cư trú trong xóm của họ
Làng nghề ở đây không nhất thiết là tất cả mọi người dân trong làng đềusản xuất thủ công, người thợ thủ công cũng có thể là người nông dân làm thêmnghề phụ trong lúc nông nhàn Tuy nhiên do yêu cầu về tính chuyên môn hoácao đã tạo ra những người thợ thủ công chuyên nghiệp, chuyên sản xuất hàngthủ công truyền thống ngay tại quê hương của mình Nghiên cứu một làngnghề thủ công truyền thống là phải quan tâm đến nhiều mặt, tính hệ thống,toàn diện của làng nghề thủ công truyền thống đó, trong đó yếu tố quyết định
Trang 15Mới đây nhất, Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chínhphủ Về phát triển ngành nghề nông thôn quy định tiêu chí công nhận nghềtruyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống tại Điều 5 như sau:
“1 Tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyềnthống áp dụng đối với các đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 2 có hoạtđộng trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn được quy định tại Điều 5 Nghị địnhnày và các tổ chức, cá nhân có liên quan
2 Tiêu chí công nhận nghề truyền thống
Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt cả 03 tiêu chí sau:a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm và hiện đang tiếptục phát triển tính đến thời điểm đề nghị công nhận
b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc
c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi củalàng nghề
3 Tiêu chí công nhận làng nghề
Làng nghề được công nhận phải đạt cả 03 tiêu chí sau:
a) Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một trong các hoạtđộng hoặc các hoạt động ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 4 Nghị địnhnày
Trang 164 Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề quy định tại khoản 3Điều này và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại khoản 2 Điềunày.”
1.1.1.3 n ệm bảo tồn v p t u
- n ệm bảo tồn:
Đối với quan niệm bảo tồn nguyên vẹn, bảo tồn văn hóa được hiểu làcác nỗ lực nhằm bảo vệ, gìn giữ sản phẩm văn hóa (vốn được chắt lọc, chưngcất, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử) và không gian tồntại của nó theo dạng thức vốn có Nghĩa là, những sản phẩm của quá khứ nênđược bảo vệ một cách nguyên vẹn như nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyêngốc các di sản văn hóa vật chất và tinh thần cũng như cố gắng cách ly di sảnkhỏi môi trường xã hội đương đại Song vấn đề đặt ra, văn hóa luôn gắn bó vớiđời sống con người, với môi trường xã hội trong sự vận động của nó Bởi vậy,khuynh hướng bảo tồn nguyên vẹn cũng bộc lộ một số hạn chế là làm khôcứng các sản phẩm văn hóa Đối với quan niệm bảo tồn trên cơ sở kế thừa, bảotồn văn hóa được các học giả nước ngoài hiện quan tâm nhiều nhất là khi bànđến di sản
Hoạt động bảo tồn giá trị văn hóa là gìn giữ, lưu lại những giá trị vănhóa trong mối quan hệ với phát huy, mà không trở thành lực cản đối với sựphát triển xã hội Với ý nghĩa đó, khái niệm bảo tồn giá trị văn hóa cần đượchiểu đó là những nỗ lực nhằm lưu giữ và kế thừa những gì được xem là giá trịvăn hóa truyền thống đã, đang và còn tiếp tục tạo nên năng lực nội sinh, làđộng lực cho sự phát triển văn hóa - xã hội hiện tại và tương lai của mỗi tộc
Trang 17Phát huy giá trị văn hóa - đó là những hành động hướng đích nhằm đưagiá trị văn hóa vào trong thực tiễn xã hội với tư cách vừa là môi trường an toàn
để bảo tồn và làm giàu các giá trị văn hóa, vừa là năng lực nội sinh và tiềmnăng mang lại những lợi ích về vật chất và tinh thần cho con người, góp phầnthúc đẩy sự phát triển xã hội
1.1.1.4 n ệm trị văn óa
Giá trị văn hóa là sự đánh giá mang tính cộng đồng đối với những hiệntượng, sản phẩm văn hóa do con người tạo ra trong bối cảnh xã hội nhất định.Những giá trị đó được coi là tốt đẹp, là có ích, đáp ứng nhu cầu của con ngườitrong mọi thời đại Một khi những giá trị đó hình thành và được định hình thì
nó có tác dụng chi phối những nhận thức, quan niệm, hành vi, tình cảm củacon người trong mỗi cộng đồng ấy Giá trị văn hóa về thực chất là sự khẳngđịnh của con người đối với sự tồn tại vật chất và tinh thần trong đời sống xãhội, quan hệ, trật tự của mình, hành vi, thái độ của mình, khích lệ con ngườisống và phát triển theo thang giá trị mà cộng đồng xã hội tôn vinh
Bên cạnh những giá trị tổng quát (yêu nước, cộng đồng, cần cù, hiếuhọc, gắn bó huyết thống và làng bản) còn tồn tại giá trị bộ phận Giá trị nàyđược thể hiện trong từng lĩnh vực hoạt động của con người như: trong khaithác nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong ăn uống, đi lại, phong tục tập quán, lễhội Những giá trị bộ phận không phải là những thực thể riêng biệt mà chúnggóp phần chung đúc nên các giá trị văn hóa tổng quát và ngược lại
Trang 181.1.2 Đ c đi m làng nghề truyền thống
Mặc dù có nhiều loại làng nghề truyền thống nhưng chúng có những đặc
điểm điểm chung, theo tác giả Đinh Thị Vân Chi trong cuốn Phát triển làng
nghề truyền thống trong bối cảnh công ngh iệp hóa, h iện đại hóa đẩt nước,
làng nghề truyền thống có 8 đặc điểm chính sau:
Thứ nhất, sự ra đời và phát triển của làng nghề truyền thống không thểtách rời khỏi làng nông thôn Các nghề thủ công tách dần ra khỏi nông nghiệpnhưng gắn với nông thôn, không rời khỏi nông thông Một bộ phận lớn cư dâncủa làng chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất các mặt hàng thủ công, có
tư liệu sản xuất đặc thù phù hợp với tính chất, quy trình sản xuất các mặt hàngthủ công, có tư liệu sản xuất đặc thù phù hợp với tính chất, quy trình sản xuấtcác mặt hàng thủ công này Số lượng lao động tham gia sản xuất hàng thủ công
mỹ nghệ chiếm đa số, sản xuất nông nghiệp chiếm thiểu số
Thứ hai, các nghề trong làng nghề truyền thống đều có sự ra đời từ ítnhất mấy chục năm (vài ba thế hệ) Ở đó các nghệ nhân với kỹ thuật cao đượctruyền từ đời này sang đời khác có tính “gia truyền”
Thứ ba, trong các làng nghề truyền thống, do kinh tế nông nghiệp nước
ta phần lớn còn mang tính tự cấp tự túc nên tiền trong dân không nhiều Bêncạnh đó, do trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp kém nên hệ thống tín dụngtrong nông thôn còn chưa xuất hiện Điều đó dẫn đến việc vốn đầu tư cho nghềthủ công trong làng không nhiều
Thứ tư, công nghê, kỹ thuật sản xuất mang tính truyền thống, có sự kếtiếp, lưu truyền, kết tinh giá trị từ thế hệ này sang thế hệ khác Chất lượng sảnphẩm của làng nghề không phụ thuộc vào công cụ sản xuất hiện đại, có năngsuất cao, theo dây chuyền, mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, bí quyết, sự tàihoa của người thợ chế tác đồ thủ công Sản phẩm được sản xuất ra đơn lẻ,mang yếu tố cá nhân cao Các nguyên liệu và chất liệu chủ yếu có nguồn gốcđịa phương, dễ tìm kiếm Với đặc điểm này, yếu tố nổi bật của làng nghề
Trang 19truyền thống là di sản văn hóa của Việt Nam, mang bản sắc dân tộc Việt Nam
Thứ năm, làng nghề truyền thống tập trung số lượng đông đảo các thợthủ công có tây nghề cao, họ là chủ lực trong việc truyền dạy, sáng tạo mẫu
mã, kỹ thuật chế tác tinh xảo Họ là các nghệ nhân có uy tín trong làng nghề vàgiữ vai trò quan trọng trong việc phục hồi, bảo vệ phát triển làng nghề truyềnthống của làng nghề
Thứ sáu, nói chung ở các làng nghề truyền thống, hình thức tổ chức sảnxuất gia đình vẫn là chủ yếu, một số đã có sự phát triển hình thành tổ chức hợptác và bắt đầu có sự xuất hiện xí nghiệp hoặc công ty tư nhân Trong hình thức
tổ chức sản xuất hộ gia đình, người chủ gia đình thường là thợ cả mà trong số
họ có không ít nghệ nhân, còn những thành viên trong hộ được huy động vàolàm những việc khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh phụ thuộc vàokhả năng kỹ thuật của từng người vào giới tình hay lứa tuổi Gia đình có thểthuê mướn lao động là người trong bộ tộc theo kiểu thường xuyên hay kiểuthời vụ Hình thức này đảm bảo gắn quyền lợi và trách nhiệm, tận dụng đượclao động và thời gian, nhu cầu đầu tư không lớn Nó thích hợp với quy mô nhỏ.Hình thức hộ tiểu chủ phát triển ở làng nghề truyền thống có trình độ tập trungsản xuất cao Ở hình thức này những tiểu chủ đầu tư mua sắm thiết bị, thuê laođộng không chỉ trong mà cả ở ngoài làng, cá biệt có những lao động ở các tỉnhkhác đến
Thứ bảy, các làng nghề truyền thống còn lưu giữu các tín ngưỡng,phong tục, tập quán của làng quê truyền thống Việt Nam, các công trình kiếntrúc lịch sử văn hóa mang tính cộng đồng như đình làng, chùa làng, đền miếu
và các nghi lễ truyền thống như hội làng, đám rước Lề lối thôn quê như tôntrọng người già, tôn trọng quan hệ làng giềng vẫn được lưu giữ như nhữngtruyền thống tốt đẹp của làng nghề truyền thống
Thứ tám, sản phẩm của làng nghề truyền thống có sự gắn kết chặt chẽvới đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương Trong các loại
Trang 20sản phẩm thường có một số sản phẩm mang tính nghệ thuật cao Mặt khác, sảnphẩm thường không được sản xuất hàng loạt mà sản xuất đơn chiếc nên có nétđặc thù cao và chỉ đáp ứng như cầu của thị trường có phạm vi không lớn Cácsản phẩm của làng nghề truyền thống là sự kết kinh, sự bảo lưu và phát triểncủa các giá trị văn hóa, văn minh lâu đời của dân tộc [1;tr.21-23]
Có thể thấy rằng làng nghề truyền thống không chỉ là một trong nhữngđơn vị kinh tế góp phần thực hiện mục tiêu sản xuất hàng tiêu dùng trong nướcthay thế hàng nhập khẩu đồng thời hướng mạnh ra xuất khẩu mà nó còn đậmnét đặc sắc, biểu trung cho nền văn hóa dân tộc, văn hóa làng xã Việt Nam
Nghề thủ công Việt Nam gắn liền với làng xã nên việc định dạng thuậtngữ làng nghề là điều tất yếu Văn hoá làng nghề bao gồm văn hoá làng và vănhoá nghề trong đó văn hoá làng là nền tảng còn văn hoá nghề được coi là nhân
tố quyết định cho sự hình thành nên đặc trưng của văn hoá làng nghề Các yếu
tố cấu thành văn hoá làng gồm: Cơ cấu tổ chức, diện mạo làng xà văn hoávật thể gồm: đình, đền, miếu, chùa, nhà thờ họ, nhà ở; văn hoá phi vật thể: luậttục, phong tục tập quán, ứng xử giữa xóm làng, lễ hội, tín ngưỡng dân gian
Các yếu tố cấu thành văn hoá làng nghề: thợ thủ công đặt trong mốiquan hệ với nghề nghiệp với làng xóm, gia đình, dòng họ.; phường, hội nghề,
bí quyết và quy trình nghề, tín ngưỡng thờ tổ nghề, tập tục riêng biệt của tổnghề
Trong tác phẩm “N ìn lạ qu trìn n ên cứu nghề v l n n ề truyền thống mỹ
nghệ Việt Nam” Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật (12), của tác giả Lê Hồng Lý đã
nêu khái quát những nét cơ bản về văn hoá làng nghề:
Có một thực tế phổ biến là ở hầu hết các làng nghề vốn văn hoá truyềnthống được gìn giữ bền lâu hơn những làng khác Vốn văn hoá ấy lại phongphú với nhiều loại hình khác nhau Hiện nay các làng còn giữ được những nétvăn hoá truyền thống nhất lại là những làng nghề Từ di tích, phong tục cùng
Trang 21các tiềm năng văn hoá khác đều được giữ gìn khá tốt so với các làng làm nôngnghiệp thuần tuý, làng nghề có điều kiện nhiều hơn về kinh tế Hơn nữa họ cótay nghề cho nên các di tích ở các làng ấy thường xuyên được tu bổ nhờ sựgiúp đỡ của nhiều “mạnh thường quân” hơn và được công đức nhiều hơn Đặcbiệt là một số phong tục, nghi lễ mang tính nông nghiệp sơ khai và rất cổ lại dochính quyền các làng lưu giữ nhiều hơn là các làng nông nghiệp thuần tuý Thờcúng tổ nghề là một nét văn hoá khác của làng nghề, gần như không có mộtlàng nghề nào mà không thờ một vị tổ sư của làng nghề mình Cùng với tổnghề là lễ hội làng nghề, nếu ngày giỗ tổ nghề đồng thời là ngày hội làng thì lễhội làng ấy có quy mô khá lớn Vốn dĩ là làng nông nghiệp nên làng nghề đã
có đặc tính của làng xã nông thôn Việt Nam Vì vậy khi trở thành làng nghề donhu cầu bảo vệ nghề và việc phải cố kết làm ăn trước các cộng đồng nghềkhác, nên tính cộng đồng của họ ở mặt nào đó còn cao hơn ở làng nông nghiệp.Văn hoá làng nghề ngoài lễ hội, khoán ước và lễ giỗ tổ nghề còn nhiều loạihình khác phong phú như ca dao, ngạn ngữ nói về nghề, những truyền thuyết
về những vị tổ nghề, ca dao của làng nghề [4,tr.61]
Có thể nói khái niệm văn hoá làng thường gắn liền với hình ảnh làng xã
cổ truyền ở Việt Nam với ba đặc trưng cơ bản: ý thức cộng đồng làng (ý thứcdân chủ làng xã, cộng đồng trong sản xuất bảo vệ xóm làng, xây dựng văn hoá,lối sống đạo đức ) ý thức tự quản (thể hiện rõ nhất trong việc xây dựng hươngước) và tính đặc thù độc đáo rất riêng của mỗi làng (có khi hai làng gần nhaunhưng không hề giống nhau)
Văn hoá làng được thể hiện thông qua các biểu trưng văn hoá mang giátrị truyền thống: Từ cây đa, bến sông, con đê, mái đình, giếng nước đến cácbản gia phả, hương ước, tập tục, hội hè đình đám, tín ngưỡng, các nghề thủcông truyền thống, những làn điệu dân ca, dân vũ, những người giỏi văn, giỏivõ Văn hoá làng mang những giá trị đẹp giàu tính truyền thống, đồng thờicũng cần xoá bỏ những tập tục cổ hũ, lạc hậu trong đời sống của người dân
Trang 22Chúng ta đều biết rằng làng nghề nào cũng có những câu ca dao hay cangợi về làng, về nghề và những con người tài năng của làng nghề đó Có mộtnét đặc sắc trong văn hoá làng nghề đó là sự năng động linh hoạt, chuyển đổirất nhanh nhạy trước những biến động của thời cuộc, của thị trường Thực tếlịch sử đã chứng minh điều đó chỉ cần xem xét cụ thể một làng nghề trong cácgiai đoạn lịch sử sẽ thấy được tình trạng chung của các làng nghề khác
Từ nghiên cứu các học thuyết của học giả, tôi đưa ra quan niệm về vănhoá làng nghề như sau: Văn hoá làng nghề là tổ hợp các thành tố, trong đó cóquang cảnh/không gian văn hóa làng xóm, di tích, nhà ở, lễ hội, phong tục, tínngưỡng, thờ tổ nghề, mối quan hệ của người dân làng nghề, bí quyết nghềnghiệp, kỹ thuật truyền nghề, biểu tượng văn hoá trong các sản phẩm của làngnghề tất cả có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành tổng thể di sản văn hoálàng nghề
1.2 Khái quát về làn n hề truyền thốn mây tre đ n Phú Vinh
1.2.1 Khái quát về xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Xã Phú Nghĩa là một vùng trũng tiếp giáp với vùng bản sơn địa củahuyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây cũ (nay là thành phố Hà Nội), cách nội thành
Hà Nội 20km về phía tây theo quốc lộ 6A
Phía Bắc xã Phú Nghĩa giáp với xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, phíađông giáp xã Tiên Phương, phía nam giáp xã Ngọc Hòa và phía đông giáp với
xã Đông Phương Yên của huyện Chương Mỹ
Xã Phú Nghĩa ngày nay được hình thành từ nhiều xã nhỏ dưới thờiphong kiến, thực dân Thời Lê Sơ thuộc huyện Ma Nghĩa (Tùng Thiện, SơnTây), thời Nguyễn đổi về huyện Mỹ Lương, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây Dướithời Pháp thuộc là các xã: Khê Than, Phú Vinh, Nghĩa Hào Sau Cách mạngtháng 8 thành công thì đổi về thành 2 xã là Phú Khê và Nghĩa Đồng Tháng 4năm 1948 hợp nhất 2 xã này thành xã Phú Nghĩa cho tới nay Năm 2008 tỉnh
Trang 23Hà Tây được sát nhập vào Hà Nội nên theo đó xã Phú Nghĩa cũng sát nhậpvào, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất,tinh thần của nhân dân
Nằm án ngữ 2km là quốc lộ 6A nối Hà Nội với Hòa Bình, xã Phú Nghĩa
có vị trí hiểm yếu cả về quân sự giao lưu kinh tế văn hóa Đây là một mắt xíchtrong nhịp cấu nối các vị trí then chốt Hà Nội - Xuân Mai - Hòa Bình - SơnTây, là địa bàn của sự giao lưu giữa 2 vùng, nhất là các mặt hành lâm, thổ sản
từ Hòa Bình ra và hàng tiêu dùng từ Hà Nội vào
Xã Phú Nghĩa hiện có 2.898 hộ ở 7 thôn với 11.761 nhân khẩu (2018).Sau khi triển khai nhiệm vụ xây dựng Nông thôn mới, chính quyền địa phương
đã thực hiện dồn điền đổi thửa diện tích 390ha đất nông nghiệp để tạo điềukiện cho người dân ổn định sản xuất Trên địa bàn xã có khoảng 16 công ty,doanh nghiệp lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tạo công ăn việc làmcho 15.000 lao động trong và ngoài địa phương Ngoài ra, người dân trong xãvẫn duy trì được làng nghề truyền thống mây tre đan và các lớp dạy nghề cũngđược tổ chức đều đặn hàng năm với số lượng học viên tham gia lên đến hàngtrăm người Những năm gần đây, kinh tế của xã Phú Nghĩa đang phát triển ổnđịnh với tốc độ tăng trưởng khoảng 11%, bình quân đầu người năm 2017 đạt
40 triệu đồng/người/năm và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 1,8% Bên cạnh
đó, xã cũng đảm bảo tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa khi 100% thôn có nhàvăn hóa, mang lại không gian cho người dân vui chơi, giải trí Nhờ nhữngthành tựu đạt được trên thì xã Phú Nghĩa được UBND thành phố Hà Nội racông nhận đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2018
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát tri n nghề mây tre đan Phú Vinh
Được hình thành từ những năm 1700, làng Phú Vinh ban đầu có tên gọi
là làng Phú Hoa Trang (tức là làng được Trời phú cho người dân có bàn taylụa) bởi người dân rất giỏi đan lát mây tre Vào năm 1800 làng Phú Hoa Trangđổi tên thành làng Phú Vinh Vốn là một vùng thôn quê chiêm trũng thuận lợi
Trang 24cho việc trồng cây mây, cây tre, người dân Phú Vinh gắn bó với cây mây, câytre ngay từ khi còn nhỏ Nhiều người dân làm nghề thuộc tính từng cây tre,từng sợi mây Theo nghề cha truyền con nối, dần dần nghề mây tre đan pháttriển trở thành nghề truyền thống của làng
Làng Phú Vinh được coi là “xứ Mây” nổi tiếng về nghề đan mây tre vớilịch sử phát triển nghề lâu đời Ông tổ thật sự của nghề mây tre đan ở Phú Vinh
là ai không rõ Các cụ cao niên kể lại rằng, cách đây chừng 400 năm, Phú HoaTrang (nay là Phú Vinh) có một địa danh là bãi Cò Đậu do ở đây có rất nhiều
cò, sau gọi chệch là Gò Đậu Lông cò thường rụng trắng một vùng gò, cóngười thấy thích nhặt về tết thành mũ, nón rất xinh xắn Ban đầu họ dùng thấyđẹp, bền liền làm thành quà tặng người thân, bạn bè, dần dần được yêu thích vànhiều người đến tìm mua Từ đó, mũ lông cò trở thành hàng hóa, mang lại giátrị kinh tế và được người làng Gò Đậu phát triển nhân rộng nghề đan mũ lôngcò
Lâu dần, lông cò có hạn, người dân tìm thêm cỏ lác, cỏ lau mọc sẵnngoài đồng hoang và lên rừng tìm các thứ vật liệu mềm dẻo như tre, mây,giang để sản xuất thành các đồ gia dụng như rổ, rá, rế, làn Và từ đó, thônPhú Vinh đã hình thành làng nghề mây tre đan nổi tiếng, sau lan dần ra cả xãPhú Nghĩa Có những sản phẩm mây đan được làm từ làng nghề Phú Vinh nayvẫn đang được người đời lưu giữ như một tác phẩm nghệ thuật cổ quý hiếm.Hiện tại Bảo tàng cung đình Huế đang lưu giữ một tác phẩm thư pháp chữ Hánđan bằng mây của các cố nghệ nhân thôn Phú Vinh vào năm 1712 Theo tàiliệu nghiên cứu của Câu lạc bộ nghệ nhân Phú Vinh cho biết: vào thời vuaThành Thái, làng nghề truyền thống Phú Vinh có 9 cụ nghệ nhân trong làngđược nhà vua phong sắc
Qua thời gian, nhiều vật liệu mới được bổ sung, các mẫu mã sản phẩmđược cải tiến, kỹ thuật đan mây tre của người làng được nâng cao để sản phẩmngày càng tinh xảo và có giá trị kinh tế hơn Nghề mây tre đan từ đó đã lan
Trang 25rộng sang các làng xã khác trong vùng rồi vươn ra hơn 20 tỉnh thành trong cảnước Đến năm 2001, làng Phú Vinh được công nhận là làng nghề truyềnthống với nghề truyền thống lâu đời 400 năm
Trang 26Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG MÂY TRE ĐAN PHÚ VINH 2.1 Khái quát n hề mây tre đ n Phú Vinh
2.1.1.1 C n n u ên l ệu
Có thể nói với bất kỳ một ngành nghề nào nguồn nguyên liệu tạo nênsản phẩm cũng là vấn đề vô cùng quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triểncủa ngành nghề đó Đặc biệt đối với các ngành nghề thủ công truyền thống,vấn đề nguồn nguyên liệu càng trở nên quan trọng gấp bội Nguyên liệu ở làngnghề thủ công truyền thống thường là nguyên liệu có sẵn tại địa phương, quátrình khai thác, vận chuyển dễ dàng, thuận tiện Bởi trong điều kiện xã hộiphong kiến trước đây luôn đề cao tính khép kín của làng xã, các phương tiệnvận chuyển, đường xá giao thông đều là những đường mòn, đường thiên lý nhỏhẹp, thông thường gặp rất nhiều khó khăn, thì việc phát triển một làng nghề màkhông có nguồn nguyên liệu đi kèm là một việc không tưởng Ví dụ khi nóiđến nghề rèn ta có thể hiểu rằng vùng đó hoặc các vùng lân cận đó có nguồnquặng khoáng sản khá lớn để cung cấp nguyên liệu cho nghề Hoặc nói đếnnghề dệt lụa có thể chắc chắn rằng vùng đó trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ'
Đối với sản phẩm mây tre đan Phú Vinh cũng vậy, làng nghề nơi đây đãnói lên đầy đủ rõ ràng về nguồn nguyên liệu để tạo ra sản phẩm của làng nghềnày Đó là cây mây, cây tre, một trong những nguyên liệu truyền thống củalàng nghề mây tre đan Phú Vinh Chúng ta có thể thấy rằng những nguyên liệunày rất dễ kiếm và quen thuộc với bất kỳ người Việt Nam nào, bởi lẽ tất cả cáclàng quê xưa đều có cây tre, cây mây, thậm chí cây tre đã trở thành một hìnhảnh ví von đi vào tâm thức của người dân mỗi khi nhắc đến làng quê Việt Do
đó có thể hiểu vì sao làng nghề mây tre đan có sức sống qua hàng thế kỷ cùngvới lịch sử mây tre đan có sức sống qua hàng thế kỷ cùng với lịch sử dân tộc
Trang 27Song bên cạnh đó cũng cần nhận thấy rằng, với một nguồn nguyên liệu sẵn có
và phong phú như vậy, tại sao chỉ ở Phú Vinh mới có nghề mây tre đan mạnh
mẽ, có lịch sử lâu dài Điều đó chính là minh chứng cho sự khéo léo, đầy sựsáng tạo và yêu nghề hết mình của người dân nơi đây Khi nghề mây tre đan đã
có bước phát triển nhất định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong vàngoài địa phương thì các sản phẩm của làng nghề nơi đây cũng theo đó màphong phú, đa dạng hơn trong sản phẩm
Trước tiên theo kinh nghiệm dân gian không nên chọn nan đan bằng loạicây bị cụt ngọn (cây tre cộc) vì cây này bị sâu, các thớ đã bị sần sùi, không liềnthớ nên rất giòn, khó chẻ vì nan dễ gãy Nhưng quan trọng nhất là thân tre phảiđặc, dài, thẳng mới dễ làm và đạt được số lượng nhiều
Nứa khi mua không được chọn cây đốt ngắn vì như vậy sẽ khó cho việcpha, chẻ Việc chọn nứa phải chọn nứa bánh tẻ, tức là những cây không quá già
mà cũng không quá non (khoảng 12 tháng tuổi trở lên) Lúc này cây có đủ độcứng, chắc, ít co ngót mà nan vẫn rất dẻo, dễ chẻ, dễ đan mà không mục, mọt
có thể tạo ra những đồ dùng tinh xảo và trang trí các mảng hoa văn tùy hứng.Nếu chọn cây non sẽ dễ bị quắt hoặc cây quá già nan sẽ giòn, khó chẻ, khó đan
dù cây già sẽ cho sản phẩm có độ bền chắc
Đối với cây mây không chỉ dùng làm nan đan lát mà còn dùng làm dâynức, cạp có độ bền và mang tính thẩm mỹ cao Thường dùng loại mây nếp khichẻ và đan mới dễ dàng, sợi óng, thẳng, đẹp Sợi mây trước khi chẻ phải đượcphơi và sấy kỹ, nếu sấy quá khói hoặc non khói sợi mây cũng đều bị đỏ Khiphơi sợi mây gặp mưa thì sợi mây mất vẻ đẹp hoặc quá nắng sợi mây mất vẻtươi Các cụ chuyên phơi mây kể rằng nếu phơi sợi mây chưa tới khô thì nước
da mây sẽ úa, nếu phơi quá khô thì nước da mấy kém phần óng ả Có sợi mâyphơi sấy tốt rồi, người chẻ mây nếu chẻ đôi, chẻ tư thì dễ nhưng chẻ ba chẻnăm, chẻ bảy mới thật khó, Sợi mây khi chẻ ra sợi nào cũng phải giống sợinào,vì vậy muốn có sợi mây để đan đòi hỏi người chẻ mây phải có tài, thật
Trang 28khéo léo và kỹ thuật.
Cây mây lớn rất chậm Mỗi năm nó chỉ dài thêm ra được khoảng 1 mét.Khi dài tới 5 mét thì phải thu hoạch (nghĩa là trông mây 5 năm mới thu hoạch).Cây mây non hoặc già quá chất lượng đều kém Muốn cây mây thẳng, khitrồng phải đặt rễ mây cho thẳng Rễ dài đến đâu cũng phải đào hố trồng sâuđến đấy để đặt rễ cho thẳng Kinh nghiệm cho thấy, khi đặt rễ thẳng như thế,
dù cây mây có leo, có cuốn xoắn vào cây khác thì khi chẻ sợi mây cũng cứthẳng, không bị vặn
Cây mây giản dị, cong queo, lại rậm rạp và lắm gai, thoạt nhìn nó không
có một vẻ gì “mỹ thuật”, mà chỉ thấy “trở đi mắc mái, trở lại mắc mây” nhưdân gian thường nói Nhưng khi dùng, nó tỏ ra có đặc tính mềm dẻo, bền daikhác thường; khi đã qua chế biến, nó trở nên óng chuốt và sáng như ngà Quabàn tay nghệ nhân và người thợ thủ công, trở thành hàng mỹ nghệ, cây mâybình thường bỗng trở thành các sản phẩm có giá trị Cho nên, ở đây từ xa xưa,
bà con ở đây quý cây mây hơn cây vàng, cây bạc vì cây mây tạo ra nguồn sinhsống cho họ
2 1 1 2 lý n u ên l ệu
Nói mây tre đan là một nghề đặc biệt của nước ta có lẽ bởi nó độc đáo từkhâu nguyên liệu cho đến cách các nghệ nhân tạo ra một sản phẩm thực sự Từlâu, dân ta đã biết đến sự hiện diện của loài tre, mây bởi chúng mang hình ảnh,dáng dấp của làng quê nông thôn Việt Nam đồng thời cũng mang vẻ đẹp chấtphác và mộc mạc của người dân quê Mang trong mình vẻ đẹp là thế, ngườidân Phú Vinh còn biết dùng chúng để tạo tác nên những vật dụng phổ biếntrong gia đình cho đến những đồ trang trí, đồ lưu niệm, đồ nội thất với đòihỏi kỹ thuật và tay nghề cao Thật khó để tưởng tượng rằng chỉ từ những sợimây, tre trắng muốt với đôi bằng bàn tay tài hoa và con mắt nghệ thuật củamình, những nghệ nhân nơi đây đã khéo léo tạo ra các đồ thủ công mỹ nghệmang đậm chất thôn quê mộc mạc, giản dị nhưng vô cùng tinh tế Để cho ra
Trang 29được sản phẩm hay nói chính xác hơn là một tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi cácnghệ nhân phải thao tác rất nhiều công đoạn, quy trình khác nhau như phơi,sấy, chẻ nhỏ sợi rồi đan thành đồ vật Phải là người thợ có đủ kinh nghiệm mới
có thể đảm bảo các thao tác được diễn ra đúng kỹ thuật lại vừa đủ thời gian đểsợi mềm, dẻo có màu sắc đẹp mắt
Mây và tre đều là loại cây có chất đường nên dễ bị mọt ăn, chính vì vậykhâu xử lý nguyên liệu cũng hết sức quan trọng Cách xử lý nguyên liệu truyềnthống đầu tiên đó là sấy trong lò kín Phương pháp này giúp loại bỏ lượngđường trong nguyên liệu, sản phẩm không bị mối mọt mà lại có độ bền chắc.Khi sấy khói nhiều quá hoặc ít quá mây cũng bị đỏ, nếu làm đúng kĩ thuật mâytre được sấy sẽ có độ trắng sáng đẹp mắt Sau đó mây tre được đem ra chẻthành các nan mỏng, chẻ nan mây là một kĩ thuật khó đòi hỏi người thợ có taynghề cao Tuỳ theo từng sản phẩm mà người thợ có cách chẻ nan riêng, sợi nanlúc thì chẻ thành những ống tròn, lúc thì chẻ thành bảy hoặc chín nan mỏng.Hay cách tạo màu cho nguyên liệu thì trước tiên nguyên liệu chưa đan ngay cóthể để hong trên gác bếp, trước khi đan chỉ cần nhúng qua nước 15 phút nan sẽphẳng, dẻo trở lại Nan đan nếu được hong trên gác bếp lâu ngày thì chúng sẽtạo thành màu nâu sẫm, màu vàng đậm hoặc màu mận chín đẹp Nếu muốn giữmàu cần sấy bằng diêm sinh cũng sẽ tránh được mục, mọt Cũng có thể dùngkhói hun chống mốc, mọt cho cả nan và sản phẩm nan Các sản phẩm đangdùng sau mỗi lần sử dụng người ta thường gác lên vách bếp, gác bếp để hongkhói thì sản phẩm dùng sẽ bền hơn Đôi khi các nan đan được phơi nắng tùytheo yêu cầu sản phẩm Nếu nguyên liệu để quá khô hay quá ướt sẽ ảnh hưởngviệc đan lát
Cách xử lý nguyên liệu truyền thống thứ hai là nhuộm bằng lá cây: loạinày có độ bền khá lâu, từ 60 - 80 năm Gồm các loại lá sau: Lá non cây bàng:40%, lá cây sòi: 30%, lá cây soài: 15%, lá cây ổi: 10% Tất cả các lá khoảng3kg, băm nhỏ cho vào nồi đun sôi 30 phút Sau đó, ta nhúng nguyên liệu vào
Trang 30rồi lại đem phơi khô, rồi lại nhúng tiếp, cứ thế nhúng 12 lần rồi đem ngâm vàobùn đen thêm 12 tiếng Cuỗi cùng rũ sạch, phơi khô để dùng vào đan.
Khí sấy, nhiều khói quá mây cũng đỏ, khói ít quá cũng bị đỏ Khi phơi,gặp mưa thì sợi mây mất vẻ đẹp, mà nắng quá thì sợ mây mất vẻ tươi Sợi mâychưa khô tới thì nước da bị úa, mà khô kiệt quá thì nước da mất vẻ óng mềm
Do đó phơi sấy mây đòi hỏi phải đúng kỹ thuật Người làm các công việc nàykhông thể sao nhãng, mà phải liên tục săn sóc, theo dõi như người chăn tằmvậy
Lẩy mấu là công đoạn đầu tiên của chế biến mây Cây mây dù dài hayngắn cũng chỉ cắt mỗi đoạn 3m, nắn cho đoạn mây thẳng rồi mới lẩy mấu Chẻmây là công việc công phu, đòi hỏi tay nghề khá cao Cây mây thường có cácđốt không đều nhau, bởi thế, khi chẻ cần chú ý điều khiển thật khéo sao chocác phần to và nhỏ phải đều nhau.Yêu cầu chủ yếu của việc chẻ mây là các sợimỗi loại phải thật đều Loại sợi to để đan cạp các sản phẩm thường Loại sợinhỏ dùng để làm những loại hàng quý, hay để tạo các loại hoa cầu kỳ Kỹthuật chẻ lẻ khi làm nan sợi tre, mây của ta chính là một sáng tạo quý báu Tùythanh tre, cây mây to, nhỏ mà quyết định chẻ chẵn hay chẻ lẻ Để tạo một cỡsợi mây, nếu chẻ cây mây nhỏ làm tư, làm sáu thì chẻ cây to hơn làm bảy hoặcchín sợi
Chẻ mây là một công việc công phu, đời hỏi tay nghề khá cao Nếu chỉchẻ cây mây làm bốn sợi (chẻ tư) thì rất dễ ai cũng làm được Song chẻ bảy,chẻ chín (chẻ lẻ) hẳn không dễ chút nào, nếu không là thợ giỏi chuyên làm nan,làm sợi mây thì không chẻ được Yêu cầu chủ yếu của việc chẻ mây là các sợimỗi loại thật đều nhau Loại sợ to để đan, cạp các sản phẩm thường Loại sợimây nhỏ dùng để làm những loại hàng quý, hay để tạo các loại hoa cầu kỳ, cácvăn tinh tế
Các nan sau khi chẻ được đem chuốt để có những sợi mây mượt mà,phẳng bóng, sau đó được phơi ngoài nắng cho thật khô, để nước trong sợi mây
Trang 31thoát hết ra ngoài Để cho sản phẩm có độ đa dạng về màu sắc, sau khi sấy cácsợi mây sẽ được nhúng vào các chậu lá cây sòi băm nhỏ đã được nấu sôi Đây
là cách tạo màu hoàn toàn tự nhiên, không hóa chất giúp cho sản phẩm mây tređan của Phú Vinh không gây hại cho sức khỏe người sử dụng và có độ bềnmàu cao tới 30 - 40 năm
Tóm lại khâu xử lý vật liệu để làm ra sản phẩm hàng thủ công mây tređan là vấn đề rất quan trọng, bởi ở đó có đầy đủ các kinh nghiệm từ chọn vậtliệu đến khâu xử lý được đúc kết từ chính những người nghệ nhân gạo cội ởlàng nghề truyền lại Do đó chúng ta nên biết ơn, trân trọng và bảo lưu lạinhững tinh hoa nghề nghiệp mà ông cha để lại, tiếp tục phát huy hơn nữa vaitrò của thế hệ kế tiếp xứng đáng với những công lao to lớn việc gây dựng vàphát triển nghề truyền thống mây tre đan Phú Vinh mấy trăm năm tồn tại đếnngày nay
2.1.1.3 ỹ t uật đan
Cách đan truyền thống là đan nong mốt, nong đôi và nong ba Từ ba lốiđan cơ bản này, người làng Phú Vinh đã sáng tạo ra hàng trăm cách đan khácnhau Tùy theo sản phẩm mà người thợ sử dụng cách đan phù hợp như đanxương cá, đan hoa thị, đan kiểu tết Với sản phẩm đòi hỏi độ tinh tế cao thìngười thợ kết hình hoa và kết hợp màu sắc tạo hoa văn nổi Thậm chí trongcùng một sản phẩm người thợ sử dụng 3,4 cách đan, đặc biệt là đan tranh bằngmây Nơi đây nổi tiếng với những bức tranh nghệ thuật từ các sợi mây tre thiênnhiên như ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh hay lãnh tụ Phi-đen Ca-xtơ-rô
Người Phú Vinh vốn có tay nghề rất cao Họ hiểu sâu sắc cây mây, thứvật tư quan trọng nhất của nghề mây, thuộc nết thuộc tính từng cây, từng sợimây Sản phẩm mây được làm ra ở đây đã đạt đến đỉnh cao nhất trong nghệthuật đan mây hiện nay của Việt Nam Thành công này trước hết thuộc về cônglao các nghệ nhân Ngày nay, các khâu cắt tiện, pha chẻ và chuốt nan tre, nứa,giang, song, mây, guột đã từng bước được cơ giới hoá, nhưng mọi sản phẩm
Trang 32mây tre đan cao cấp đều phải thao tác thủ công, nên nghề đan cũng có khuônmực của nó, ấy là phương pháp và kỹ thuật đan, cài Dù là thợ hay nghệ nhân,không ai có thể vượt ra ngoài khuôn mực ấy Chẳng hạn, khi đan các loại dần,sàng, thúng, nia, lồng bàn , đã đan nong mốt là chỉ được bắt nan nong mốt,nếu đan nong đôi chỉ được bắt đều nan nong đôi Đan sai nong là lỗi ngay.Trong nghề đan mây cũng thế, khi đan chân dung đã bắt năm thì phải đè năm,bắt sáu hoặc bốn, đều lỗi Chỉ có bắt năm đè năm và đan làm sao cho giống vớichân dung từng người.
Kỹ thuật thì có vẻ đơn giản thế, nhưng phải khéo léo đến cỡ nào mớicho ra được những tác phẩm tuyệt mỹ đến đỉnh cao của nghệ thuật Trước đây,sản phẩm từ mây tre đan chủ yếu là đồ dùng phục vụ cuộc sống sinh hoạt hằngngày Đến nay, các nghệ nhân đã mang đến sức sống mới cho làng nghề HàNội bằng việc sáng tạo được hàng trăm mẫu sản phẩm mỹ nghệ phục vụ thịtrường trong nước và xuất khẩu, từ đĩa mây, lẵng mây, làn mây, chậu mây, bátmây cho đến đồ trang trí, chao đèn, rèm cửa, tranh phong cảnh, chân dung,hoành phi, câu đối, bàn ghế, nội thất khách sạn, nhà hàng Không thể phủ nhậnnghề mây tre đan đã tạo ra việc làm, thu nhập ổn định cho một lượng lớn laođộng khu vực nông thôn ngoại thành Hà Nội Sản phẩm mây, tre, giang đancủa các làng nghề mây tre đan Phú Vinh đã có mặt ở những thị trường khó tínhnhư Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan, Đức, Tây Ban Nha
Là quê hương của mây tre đan với những sản phẩm mỹ nghệ đạt tới đỉnhcao nghệ thuật tạo hình dân gian Việt Nam, người Phú Vinh cha truyền coi nối,đến nay đã sáng tạo được khoảng 200 mẫu hàng Sản phẩm được chia thành 4dòng sản phẩm chính, gồm:
- Sản phẩm nội thất: bàn, ghế, kệ, giá để đồ
- Sản phẩm trang trí nội thất: khung tranh, đèn, khung gương, giỏ,
bình
Trang 33- Sản phẩm gia dụng: khay, đĩa, lọ hoa
- Sản phẩm bao bì: túi, giỏ đựng
Sản phẩm mây tre đan Phú Vinh có mẫu mã đẹp, tính ứng dụng cao vàphù hợp với thị hiếu của khách hàng Các cơ sở sản xuất tại đây vẫn luôn traudồi kiến thức trao đổi kinh nghiệm với các nghệ nhân trong và ngoài nước quacác cuộc hội thảo về mây tre đan để sản phẩm ngày càng sáng tạo, hiện đại vàhoàn thiện được những yếu điểm của sản phẩm, từ đó đưa nghề truyền thốngmây tre đan đến với các thị trường khó tính và gìn giữ nghề truyền thống củadân tộc
2.1.3 Môi trường sản xuất và nguồn lao động nghề mây tre đan Phú Vinh
2.1.3.1 Sản xu t theo h a đìn
Làng Phú Vinh cũng như nhiều làng nghề thủ công truyền thống khác,hoạt động sản xuất chủ yếu theo từng hộ gia đình Mỗi gia đình như một xưởngsản xuất, trong đó người chịu trách nhiệm là thợ cả sắp xếp công việc cho từngthành viên thực hiện các công đoạn của quy trình sản xuất Nhìn chung không
có sự phân công rạch ròi giữa các thành viên đối với từng khâu công việc
Hình thức sản xuất theo hộ gia đình ở Phú Vinh: Các thành viên tronggia đình cùng có chung một cơ sở kinh tế, có chung sở hữu đối với tài sản dùngtrong sinh hoạt và đối với tư liệu sản xuất (công cụ, đất đai, nhà xưởng ) Laođộng trong phạm vi gia đình với mục đích không phải để lấy tiền công mà là
để đóng góp một phần của mình vào sản lượng chung của cả gia đình Mỗithành viên đều có trách nhiệm với gia đình, thành quả lao động chính là tổngthu nhập Với hình thức này tất cả các thành viên trong gia đình đều được huyđộng vào làm các công việc khác nhau của quá trình sản xuất - kinh doanh.Người chủ gia đình thường đồng thời là thợ cả, mà trong số họ hầu hết là nghệnhân Tùy theo nhu cầu công việc, hộ gia đình có thể thuê mướn thêm lao độngthường xuyên hoặc thời vụ trong chính làng Tổ chức sản xuất - kinh doanh
Trang 34theo hộ gia đình đảm bảo được sự gắn bó quyền lợi và trách nhiệm, huy độngđược mọi lực lượng có khả năng lao động tham gia và nhu cầu đầu tư thấp (sửdụng ngay nhà ở làm nơi sản xuất) Đây là hình thức sản xuất truyền thống nốitiếp giữa các thế hệ trong cùng một gia đình Người thợ cả đứng đầu mỗi tổchức sản xuất này không chỉ có quyền quyết định mọi việc trong sản xuất nhưsản xuất mặt hàng nào, sản xuất như thế nào, kỹ thuật gì mà còn quyết địnhđược việc truyền nghề cho ai Sau khi người thợ cả đứng đầu già yếu, họ sẽchọn một người kế nghiệp xứng đáng trong gia đình để thay thế họ quản lýcông việc Tổ chức sản xuất hộ gia đình kiểu này được phổ biến tại Phú Vinhcho đến tận ngày nay.
2.1.3.2 Sản xu t tập trung
Trước đây, nghề mây tre đan Phú Vinh được hình thành từ chính nhucầu cuộc sống, giao lưu, buôn bán của những người dân trong làng Trong giaiđoạn đầu, kỹ thuật nghề hầu như chỉ được truyền bá giữa những thành viên giađình của các nghệ nhân đi trước Sau đó, do nhu cầu phát triển và bảo tồnnghề, nghề mây tre đan đã phát triển rộng dài khắp xóm làng, vì mang đặc tính
dễ làm, dễ học nên nghề mây tre đan đã phát triển từ phạm vi gia đình tới phạm
vi làng xóm Để dành được vị trí xã hội, giữ vững bí quyết làng nghề, các hộsản xuất đã tập hợp thành phường hội thủ công dưới sự chỉ dẫn của người đứngđầu gọi là hội trưởng
Phường hội thủ công: một hình thức tổ chức sản xuất truyền thống.Trước đây, người thợ thủ công làng nghề Phú Vinh không chỉ chịu sự ràngbuộc của hương ước mà còn phải tuân thủ nghiêm ngặt mọi quy định của nghề.Các mối quan hệ trong nghề được duy trì ổn định Đứng đầu là hội trưởng cótay nghề cao, có uy tín trong làng Mục đích của hội này là giữ tình đồngnghiệp, cùng để giúp đỡ nhau khi hội viên có việc vui hay buồn Khi gia đìnhmột hội viên có chuyện hiếu hay hỉ thì các hội viên cùng chung tay, giúp sức,động viên, quan tâm, chia sẻ nhau những lúc cần Điều này còn làm tăng thêm
Trang 35tình làng nghĩa xóm tại Phú Vinh, khi những người dân làng không đơn thuầnchỉ là hàng xóm nữa, họ còn là những người cùng tham gia một tổ chức kinh tế
và có người quản lý giúp họ định hướng sản xuất
Tuy nhiên, phường hội chỉ là một nhóm nghề thủ công, không phải hiệphội kinh doanh Phương thức sản xuất chủ yếu của người dân Phú Vinh là sảnxuất số lượng và kiểu loại sản phẩm hạn chế Các hộ trong phường vẫn mangtính gia đình đơn lẻ, chưa tìm thấy nhiều điểm chung trong các phường hội,dẫn đến không nhìn thấy sự hợp tác giữa các hộ nghề với nhau
Đến năm 1978, sau khi tổ chức phường hội tan rã, ở Phú Vinh tồn tạithêm một hình thức gọi là hợp tác xã mây tre đan Hợp tác xã bao gồm nhiều tổ
ở từng thôn, mỗi tổ có một tổ trưởng là người được tín nhiệm bởi các xã viên ởthôn đó Các xã viên được nhận tiền công và xếp loại A, B, C cho các sảnphẩm Các sản phẩm được phân loại, sản phẩm đẹp chất lượng xếp loại A, cácsản phẩm không đẹp bằng xếp loại B còn lại xếp loại C Các xã viên sẽ đượcnhận công hàng tháng theo chính số lượng và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên,hợp tác xã đã bộc lộ nhiều hạn chế như: cung cấp nguyên vật liệu không đủ,việc đánh giá, bình bầu phát sinh tiêu cực, thu nhập của thợ thủ công thấp nênkìm hãm sự phát triển chung của làng Vì vậy, đến năm 1990 hợp tác xã khôngthể duy trì và bị xóa bỏ tại Phú Vinh
Hiện nay trên địa bàn xã Phú Nghĩa đã hình thành 16 doanh nghiệp, tổhợp sản xuất và kinh doanh các mặt hàng mây tre đan xuất khẩu, trong đó có 9doanh nghiệp kinh doanh tập trung tại Khu công nghiệp Phú Nghĩa đã đượcquy hoạch, số còn lại là những doanh nghiệp, tổ hợp sản xuất nhỏ nằm trongcác hộ dân Để đưa những tác phẩm mây tre đan nổi tiếng của Phú Vinh đếnvới người tiêu dùng trên khắp các châu lục, rất cần sự đóng góp vô cùng quantrọng của các doanh nghiệp này
Trong số các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu mây tre đan mạnh nhấtcủa Phú Vinh, phải kể đến Công ty TNHH Đoàn Kết 1 Được hình thành và
Trang 36phát triển trong cái nôi làng nghề của xã Phú Vinh, huyện Chương Mỳ, từ môhình ban đầu là hộ sản xuất gia đình, tổ sản xuât cá thể, qua từng bước pháttriển, đến nay, Công ty TNHH XNK Đoàn Kết 1 đã trở thành một trong nhữngdoanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu mây tre đan, thủcông mỹ nghệ, với 3 cơ sở sản xuất có tổng diện tích gần 20.000 m2 nhàxưởng, thu hút gần 200 lao động thường xuyên trực tiếp tại các cơ sở của Công
ty và hàng trăm lao động thời vụ tại các cơ sở vệ tinh, các hộ gia đình, gópphần cải thiện thu nhập, xóa đói, giảm nghèo cho bà con ở các khu vực nôngnghiệp, nông thôn Sản phẩm của cho các doanh nghiệp mây tre đan tiếp cậncác nguồn vốn tín dụng, ngân hàng, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường,xúc tiến thương mại tại các thị trường trọng điểm; hỗ trợ tài chính, thiết bị, cácthông tin liên quan đến thị trường, sản phẩm mây tre, thủ công mỹ nghệ trênthế giới, tạo sức mạnh liên kết giữa: Nhà nước - Doanh nghiệp - Nhà nông, đểđưa vị thế xuất khẩu mây, tre đan Việt Nam lên một tầm cao mới, góp phần gìngiữ tôn vinh những giá trị truyền thống của làng nghề, tạo việc làm cho phầnlớn những người nông dân làm nông nghiệp ở nông thôn
2.1.4 Kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm
Mây tre đan là một mặt hàng có ưu thế để phát triển thành sản phẩm dulịch vì tính thẩm mỹ, sự thông dung, tính ứng dụng cao, nhỏ gọn, tiện lợi trongviệc vận chuyển Sản phẩm thủ công của làng nghề không chỉ là những sảnphẩm có giá trị thương mại đem lại hiệu quả kinh tế cao từ việc xuất khẩu rathị trường nước ngoài mà còn là những hàng lưu niệm phù hợp với kiểu dáng
và thị hiếu của người tiêu dùng Các sản phẩm thủ công đóng vai trò là hànglưu niệm được bày bán tại các gian hành của các địa phương, tại các quầy hàngtrong khách sạn hoặc những gian hàng tại các thành phố lớn cũng được xemnhư phương tiện quảng bá, xúc tiến du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn thu hútkhách du lịch đến với làng nghề Giá trị của những mặt hàng này phụ thuộc rấtnhiều vào kiểu dáng và chất liệu sản phẩm
Trang 37Nhìn chung thị trường tiêu thụ của làng nghề mây tre đan Phú Vinh hiệnnay vẫn nhỏ lẻ, phân tán, doanh nghiệp nào tìm kiếm được thị trường hay quatrung gian thì có thị trường tiêu thụ Các hộ gia đình hay các doanh nghiệpkinh doanh còn gặp khó khăn do cơ sở hạ tầng kém, công tác tiếp cận thông tinthị trường, ứng dụng công nghệ thông tin, xúc tiến quảng bá sản phẩm cònnhiều hạn chế.
Thị trường trong nước của sản phẩm mây tre đan Phú Vinh bao gồm cácsản phẩm bán cho khách du lịch và một số ít sản phẩm do các công ty Cánhân, tổ chức trong nước đặt hành nhỏ lẻ của các thành phố Hồ Chí Minh, HàNội, Hải Dương với các sản phẩm như bộ bàn ghế, bình, túi, giỏ đựng
Đối với các hộ gia đình làm nghề đơn lẻ, họ làm ra sản phẩm đem báncho khách du lịch hoặc mở kiốt bày bán Đối với các doanh nghiệp, sản phẩmchủ yếu là xuất khẩu thông qua các hợp đòng ký kết với các đối tác nướcngoài Các doanh nghiệp không chỉ mở xưởng sản xuất tại địa phương mà cònthông qua hình thức hợp tác: gia công, tổ chức nhiều điểm sản xuất ở các địaphương trong và ngoài huyện Hướng đi này không chỉ nhằm đảm bảo tiến độ,thời gian, số lượng cho khách mà còn giải quyết việc làm cho nhân dân các địaphương trong thời điểm nông nhàn
Nhu cầu mua sắm các mặt hàng quà tặng, kỉ niệm nhân các dịp lễ lạc,cưới hỏi cũng tăng cao nên đây cũng là một phân khúc thị truờng đầy hứa hẹn.Bên cạnh đó, đối tuợng sống độc thân cũng là một phân khúc cần quan tâm.Tuy nhiên, sản phẩm dành cho đối tuợng này cần phải có mẫu mã thiết kế, màusắc độc đáo, chủng loại đa dạng nhưng độc nhất để thể hiện đuợc tính cách củangười tiêu dùng
Các dịp lễ tết, giáng sinh, năm mới cũng ảnh hưởng đến nhu cầu tiêudùng, mua sắm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Ở các nước Bắc Âu, vào mùaxuân, người tiêu dùng có nhu cầu mua sắm sản phẩm mây tre đan ngòai trời đểphục vụ việc trang trí sân vườn Vòng đời sản phẩm có xu hướng ngắn hơn (3 -
Trang 385 năm) nên sản phẩm cần phải hợp thời trang về mẫu mã và màu sắc Sảnphẩm cần có nguồn gốc thân thiện môi trường và làm tăng chất lượng cuộcsống Tuỳ theo mục đích sử dụng mà sản phẩm cần có kích thước phù hợp Ví
dụ, đối với sản phẩm trang trí nội thất cần có kích thước nhỏ để trưng bày trênbàn, kệ đồng thời cần đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc
Đối với phân khúc thị truờng thấp thì nên chú ý đến chiến luợc về giá.Đối với phân khúc thị trường cao, chất lượng mới là yếu tố quyết định Riêngđối với phân khúc thị trường tầm trung, rất khó phân biệt giữa giá và chấtlượng nên đây là phân khúc dễ thâm nhập Người châu Âu ngày nay có nhiều
kỳ nghỉ hơn nên dành nhiều thời gian cho nghệ thuật cũng như đi du lịch Họ
có nhu cầu mua sắm hàng quà tặng, đồ dùng lưu niệm ở những địa điểm dulịch Do vậy, sản phẩm này cần phải thể hiện đuợc nét đặc trưng của mỗi vùng
Thị trường châu Âu và Bắc Mỹ hiện nay vẫn là hai thị trường nhập khẩuhàng mây tre đan, thủ công mỹ nghệ lớn nhất của Việt Nam Tuy nhiên, cả haithị trường này đang ngày càng thắt chắt hơn nữa các qui định về tiêu chuẩnnhập đối với các mặt hàng thủ công mỹ nghệ đến từ các nước đang phát triểnnhư Việt Nam
2.2 Cá iá trị văn hó ủa nghề mây tre đ n Phú Vinh
2.2.1 Giá trị nghệ thuật
Đặc thù sản phẩm của làng nghề không phụ thuộc vào dây truyền sảnxuất hiện đại, năng suất cao mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, bí quyết tài hoacủa người thợ chế tác đồ thủ công Sản phẩm làng nghề mang tính đơn chiếc,mang dấu ấn tình cảm và cá nhân của người thợ có tính thẩm mỹ cao, mangđậm bản sắc văn hóa dân tộc Các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giátrị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụnhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa các sản phẩm đều
là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật,những nét chấm phá trên các sản phẩm mây tre đan, tất cả đều mang vóc dáng
Trang 39dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hóa tinh thần, quan niệm vềnhăn văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.
Bằng những nguyên liệu hết sức quen thuộc như: mây, tre cùng vớiđôi bàn tay vàng của người nghệ nhân đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuậtkhéo léo, tinh xảo, phù hợp với nhu cầu của thị trường
Cố nghệ nhân Nguyễn Văn Khiếu là người thành công trong nghề đanmây tả phong cảnh và tả chân dung người, đến đời con trai là nghệ nhânNguyễn Văn Tĩnh, đã rất thành công trong lĩnh vực nội thất mây tre đan ÔngTĩnh vẫn đang tiếp nối nghề truyền thống cha ông, hàng ngày lưu giữ nhữngtinh nghệ, trải nghiệm tỷ mỷ của cha mình như một báu vật Dùng sợi mây, nantre, để làm được việc đã khó, nhưng còn khó hơn nhiều khi dùng nó để mô tảphong cách, dáng điệu một chân dung con người
Nếu như các hoạ sỹ vẽ tranh được dùng tới 7 màu cơ bản để thể hiện tácphẩm, thì với nghệ nhân đan mây, chỉ có thể dùng 2 màu đen, trắng Màu đen
là màu của cật giang được nhuộm từ nước quả bàng, còn màu trắng là màutrắng ngà tự nhiên của dây mây Với 2 màu ấy, nghệ nhân phải nghiên cứu,tính toán, đan làm sao cho toát lên cái hồn của tác phẩm Tả phong cảnh có thểchấp nhận, nếu có sai sót kỹ thuật, còn tả chân dung một con người phải làmsao vừa đẹp vừa giống, là điều cực khó Nếu đẹp mà không giống thì cũng bỏ
đi, nếu giống mà lại không đẹp thì cũng vô ích
Chiếc lộc bình mây tre đan của gia đình anh Nguyễn Phương Quang(thôn Phú Vinh, xã Phú Nghĩa, Chương Mỹ, thành phố Hà Nội) được sách kỷlục Guiness Việt Nam chứng nhận là chiếc lộc bình mây tre đan lớn nhất ViệtNam năm 2009 Nghệ nhân Nguyễn Văn Tĩnh (bố đẻ anh Nguyễn PhươngQuang) chia sẻ: "Từ ý tưởng đến bản vẽ đều do Quang làm, gia đình giúp sứcchuẩn bị nguyên liệu để đan Chiếc bình được bắt đầu đan từ năm 2007 đến
2009 mới hoàn thành" Lộc bình có chiều cao 4.1 mét , đượng kính chỗ lớnnhất lên tới 1,2 mét, nặng 120 kg Để đan được chiếc độc bình này, gia đình
Trang 40anh Nghĩa phải dùng tới 800 kg mây tươi, 1000 ống giang cùng nhiều khungtre Chiếc bình sau khi hoàn tất đã được mang đi trưng bày ở triển lãm nhândịp kỷ niêm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội Hoa văn, hoạ tiết có trên chiếcbình là hình rồng bay, chùa Một Cột, tháp Rùa - những nét văn hoá điển hìnhcủa Hà Nội Kể từ khi chiếc lộc bình được hoàn thành đến nay đã hơn 12 năm,những chi tiết mây tre đan vẫn còn nguyên vẹn Nguyên liệu dùng để đan chiếclộc bình này được chọn lọc kỹ lưỡng, trước khi đan đều phải cho luộc để tránhmối mọt Nếu được bảo quản trong điều kiện dâm mát, lộc bình có thể tồn tạirất lâu Đặc biệt, lọ lộc bình được đan theo lối đan tranh ảnh truyền thống củalàng nghề Đây là nghệ thuật đan đỉnh cao và khó nhất, tổng hợp các nghệthuật đan từ xưa truyền lại, kể cả đan nong mốt, nong đôi.
Những sản phẩm của làng nghề mây tre đan Phú Vinh được làm rakhông chỉ đơn thuần mang ý nghĩa văn hóa vật chất mà chứa đựng trong đó là
cả một giá trị văn hóa tinh thần rất lớn Sự khéo léo của đôi bàn tay người thợthủ công đã tạo nên những nét tinh tế của sản phẩm cùng với sự vận dụng tiến
bộ khoa học - kỹ thuật hiện đại đã tạo nên sản phẩm mang một bản sắc văn hóariêng của làng nghề truyền thống mây tre đan Phú Vinh
Giá trị văn hóa thể hiện rõ nét nhất trong các sản phẩm làng nghề mâytre đan Phú Vinh gắn với trí thông minh, bàn tay khéo léo và kỹ thuật tinh sảocủa các nghệ nhân được lưu truyền từ hàng trăm năm nay đang được kế thừa,khôi phục Đó là những hoa văn, những họa tiết được lưu giữ từ nhiều đờitrong những sản phẩm mỹ nghệ, những chi tiết quyết định giá trị của sản phẩmmang những nét tinh hoa của người thợ thủ công và sắc thái riêng của làngnghề truyền thống Mỗi sản phẩm làng nghề không chỉ là một sản phẩm hànghóa thông thường mà còn là nơi gửi gắm tâm hồn, tài năng, thể hiện khiếuthẩm mỹ, sự thông minh, sáng tạo, tinh thần lao động của nghệ nhân, đó lànhững sản phẩm văn hoá có tính nghệ thuật cao
Cố nghệ nhân Nguyễn Văn Khiếu là người thành công trong nghề đan