Danh mục các bảng Bảng 1 Thành phần bệnh nấm hại hoa hồng vùng Hà Nội và phụ cận, vụ xuân năm 2005 41 Bảng 2 Tình hình bệnh nấm hại trên các giống hoa hồng trồng phổ biến tại vùng Hà Nộ
Trang 1§iÒu tra Thµnh phÇn bÖnh nÊm h¹i c©y hoa hång,
nghiªn cøu nÊm Botrytis cinerea Pers
G©y bÖnh Thèi x¸m hoa hång vô xu©n n¨m 2005
t¹i vïng hµ néi vµ phô cËn
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Đinh Thị Dinh
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ, động viên nhiệt tình của các nhà khoa học trong lĩnh vực Bảo vệ thực vật, các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Ngô Bích Hảo, giảng viên bộ môn Bệnh cây - Nông dược, trường ĐH Nông nghiệp I - Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và toàn thể cán bộ công nhân viên của các đơn vị:
- Trung tâm Bệnh cây nhiệt đới - trường ĐH Nông nghiệp I - Hà Nội
- Bộ môn Bệnh cây - Nông dược - khoa Nông Học
- Khoa sau đại học
- Ban chủ nhiệm khoa Nông học
- Phòng nghiên cứu Hoa cây cảnh- Viện nghiên cứu Rau quả đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Hà nội tháng 9 năm 2005
Tác giả luận văn
Đinh Thị Dinh
Trang 4MôC LôC
ph−¬ng ph¸p nghiªn cøu
27
3.5.2 Ph−¬ng ph¸p ®iÒu tra vµ nghiªn cøu ngoµi ##ng ruéng 28 3.5.3 Ph−¬ng ph¸p nghiªn cøu trong phßng thÝ nghiÖm 33 3.5.4 Ph−¬ng ph¸p tÝnh to¸n vµ xö lý sè liÖu 38
4.1 Thµnh phÇn bÖnh nÊm h¹i trªn c©y hoa hång 40 4.2 KÕt qu¶ nghiªn cøu bÖnh nÊm thèi x¸m (Botrytis 45
Trang 5cinerea) hại hoa hồng vùng Hà Nội và phụ cận 4.2.1 Kết quả giám định bệnh thối xám do nấm (Botrytis
cinerea) hại hoa hồng
45
4.2.2 ảnh hưởng của một số yếu tố đến bệnh thối xám
(Botrytis cinerea) hại hoa hồng vùng Hà Nội và phụ cận
47
4.2.3 Nghiên cứu khả năng lây nhiễm và thời kỳ tiềm dục của
nấm bằng phương pháp lây bệnh nhân tạo
64
4.2.4 ảnh hưởng của các loại môi trường nuôi cấy đến sự phát
triển của nấm thối xám
70
4.2.5 ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự nảy mầm của bào tử nấm
thối xám (Botrytis cinerea) hại hoa hồng
71
4.2.6 Kết quả thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của một số thuốc
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
D rosae Diplocarpon rosae
G rosarum Gloeosporium rosarum
M rosae Marssonina rosae
Ngµy §T Ngµy ®iÒu tra
P horiana Puccinia horiana
P mucronatum Phragmidium mucronatum
P rosae Pestalozzia rosae
S pannosa Sphaerotheca pannosa
Tr−êng §HNNI Tr−êng §¹i häc N«ng nghiÖp I ViÖn NC Rau qu¶ ViÖn Nghiªn cøu Rau qu¶
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 1 Thành phần bệnh nấm hại hoa hồng
vùng Hà Nội và phụ cận, vụ xuân năm 2005
41
Bảng 2 Tình hình bệnh nấm hại trên các giống hoa hồng trồng
phổ biến tại vùng Hà Nội và phụ cận, vụ xuân năm 2005
42
Bảng 3 Một số đặc điểm cơ quan sinh trưởng, sinh sản của bệnh nấm
hại hoa hồng vùng Hà Nội và phụ cận, vụ xuân năm 2005 vùng
Hà Nội và phụ cận, vụ xuân năm 2005
Bảng 6 Diễn biến của bệnh thối xám (Botrytis cinerea) trên một số
giống hoa hồng tại Viện NC Rau quả, vụ xuân năm 2005
50
Bảng 7 ảnh hưởng của phương pháp nhân giống đến sự phát triển
bệnh thối xám (Botrytis cinerea) hại hoa hồng
52
Bảng 8 Tình hình bệnh thối xám (Botrytis cinerea) trên giống hoa
hồng phấn đỏ trồng ở hai địa thế đất tại xã Trung nghĩa – TX Hưng Yên
54
Bảng 9 ảnh hưởng của mật độ trồng đến sự phát triển bệnh thối xám
(Botrytis cinerea) trên giống hoa hồng phấn đỏ tại Viện NC
Rau quả
56
Bảng 10 ảnh hưởng của tuổi cây đến sự phát triển bệnh thối xám
(Botrytis cinerea) trên giống hoa hồng phấn đỏ tại Viện NC
Rau quả
58
Bảng 11 ảnh hưởng của chất liệu bao hoa tới phát triển bệnh 60
Trang 8thối xám (Botrytis cinerea) trên giống hoa hồng phấn đỏ
Bảng 12 ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật cắt tỉa kết hợp với uốn vít
Bảng 15 Kết quả lây bệnh nhân tạo bệnh thối xám (Botrytis cinerea)
trên lá hoa hồng trồng trong chậu vại
67
Bảng 16 Kết quả lây bệnh nhân tạo bệnh thối xám (Botrytis cinerea)
trên hoa hồng trong phòng thí nghiệm
68
Bảng 17 Kết quả lây bệnh nhân tạo bệnh thối xám (Botrytis cinerea)
trên hoa hồng trồng trong chậu vại
69
Bảng 18 ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sự phát triển của nấm
thối xám (Botrytis cinerea) hại hoa hồng
71
Bảng 19 ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự nảy mầm của bào tử nấm
(Botrytis cinerea) gây bệnh thối xám hại hoa hồng
72
Bảng 20 ảnh hưởng của một số thuốc hoá học đến tỷ lệ nảy mầm của
bào tử nấm (Botrytis cinerea) hại cây hoa hồng
73
Bảng 21 ảnh hưởng của một số thuốc hoá học đến sự phát triển của
nấm (Botrytis cinerea) hại hoa hồng trên môi trường PGA
75
Bảng 22 Khảo sát hiệu lực của một số thuốc hoá học đối với bệnh thối
xám(Botrytis cinerea) ngoài đồng ruộng
76
Trang 9Hình 3 Triệu chứng bệnh đốm đen hoa hồng (Marssonina rosa (Lib)Diel)
Hình 4 Triệu chứng bệnh gỉ sắt hoa hồng (Phragmidium mucronatum Pers.)
Trang 10H×nh 15 L©y bÖnh nh©n t¹o nÊm thèi x¸m (Botrytis cinerea Pers.) trªn l¸ hoa
H×nh 18 TriÖu chøng bÖnh thèi x¸m (Botrytis cinerea Pers.) trªn qu¶ cµ chua
H×nh 19 TriÖu chøng bÖnh thèi x¸m (Botrytis cinerea Pers.) trªn qu¶ d©u t©y
H×nh 20 TriÖu chøng bÖnh thèi x¸m (Botrytis cinerea Pers.) trªn qu¶ d©u t©y
H×nh 21 Sù ph¸t triÓn cña nÊm thèi x¸m (Botrytis cinerea Pers.) trªn c¸c m«i
tr−êng kh¸c nhau sau 3 ngµy nu«i cÊy
H×nh 22 H¹ch nÊm thèi x¸m (Botrytis cinerea Pers.) trªn m«i tr−êng PGA
H×nh 23 Cµnh vµ bµo tö ph©n sinh cña nÊm thèi x¸m (Botrytis cinerea Pers.)
H×nh 24 Bµo tö ph©n sinh cña nÊm thèi x¸m (Botrytis cinerea Pers.)
Trang 111 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta bước đầu chuyển
đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi hoạt động sản xuất chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hoá cung cấp cho thị trường và đã đạt được những thành tựu lớn Với nền kinh tế đang trên đà phát triển, đời sống nhân dân ta ngày càng được cải thiện từ các nhu cầu về vật chất đến nhu cầu về văn hoá tinh thần Hoa cây cảnh là sản phẩm nông nghiệp đáp ứng được nhu cầu về tinh thần của các tầng lớp nhân dân từ bình dân đến cao cấp, từ nông thôn đến thành thị Nhu cầu chơi hoa của nhân dân ta cũng phù hợp với nhu cầu thị hiếu chung trên toàn thế giới, khi chất lượng cuộc sống càng cao thì nhu cầu này càng lớn, điều đó thể hiện rõ nét ở các nước phát triển ở Hồng Kông, năm 1980 kim ngạch nhập khẩu hoa là 50 triệu USD, năm 1985 là 170 triệu, nửa đầu năm 1988 đạt 250 triệu USD Hồng Kông trong đó 40% là hoa cắt Trong những năm gần đây kim ngạch xuất nhập khẩu hoa cắt trên thế giới tăng trưởng nhanh, năm 1990 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hoa là 100 tỷ USD tăng so với 1987 là 20 tỷ USD (Hà Sinh Căn, Miến Trường Hỗ (1996) [75])
Do nhu cầu tăng nên diện tích trồng hoa cũng tăng lên nhanh chóng; Nhật Bản là nước đứng đầu châu á, sản xuất và tiêu thụ hoa cắt đều rất lớn và phát triển nhanh, năm1992 diện tích trồng hoa cắt ở Nhật Bản là 18.900 ha, sản lượng 60,16 tỷ bông hoa so với 1991 sản lượng hoa tăng 5% kim ngạch tăng 11 % đạt 242,9 tỷ Yên (Hà Sinh Căn, Miến Trường Hỗ (1996) [75])
ở Việt Nam, nghề trồng hoa đã vượt khỏi các làng hoa truyền thống và phân bố khắp các quận huyện ngoại thành Hà Nội cũng như các địa phương trong cả nước, tạo bộ mặt khởi sắc cho nền nông nghiệp nước nhà, tạo công ăn
Trang 12việc làm cho hàng vạn lao động nông thôn đồng thời đóng góp nguồn thu nhập
đáng kể cho các hộ gia đình làm nghề sản xuất và kinh doanh hoa Diện tích trồng hoa trên cả nước cũng tăng lên nhanh chóng, diện tích hoa của Hà Nội năm 1995 so với năm 1990 tăng 12.8 lần, năm 1996 so với năm 1995 tăng 30,6
% Các vùng hoa Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Hải Phòng, Quảng Ninh diện tích trồng hoa ngày càng mở rộng không ngừng và thu được hiệu quả kinh
tế cao (Nguyễn Xuân Linh (1997) [9])
Trong các loài hoa thì hoa hồng luôn được nói đến như một giá trị của nghệ thuật Hà Lan là nước xuất khẩu hoa lớn nhất thế giới chiếm trên 60% lượng hoa xuất khẩu trên thế giới Chủ yếu là xuất khẩu hoa tuylíp, hoa hồng Sau đó đến Colombia chiếm 12% chủ yếu là hoa hồng và hoa făng Nước nhập khẩu nhiều nhất là Đức sau đó đến Mỹ Theo số liệu thống kê năm 1987 Đức nhập khẩu hoa hồng 882 triệu USD, gấp 3 lần Mỹ (Hà Sinh Căn, Miến Trường
Hỗ (1996) [75]) Hoa hồng là cây trồng quan trọng ở Anh Quốc với giá trị xuất khẩu đạt 699.000 bảng Anh vào năm 1997 (Website [50], [57])
ở Việt Nam hoa hồng được trồng ở khắp mọi nơi từ Bắc tới Nam Người Việt Nam coi hoa hồng là biểu tượng của tình yêu và hạnh phúc, lòng thuỷ chung và sự khát khao vươn tới cái đẹp Vì vậy hoa hồng cũng là một trong số những loài hoa quan trọng nhất ở Việt Nam Diện tích trồng hoa hồng chiếm khá cao (40%), trong khi hoa cúc (25%), hoa layơn (15%), hoa lan (10%), các loài hoa khác (20-25%) (Nguyễn Xuân Linh (1998) [9])
Bên cạnh việc không ngừng mở rộng diện tích trồng hoa ở khắp các địa phương trong cả nước thì bộ giống hoa cũng ngày càng phong phú với đủ các màu sắc chủng loại được nhập chủ yếu từ một số nước phát triển như: Hà Lan,
Mỹ, Colombia, Nhật, Trung Quốc… Cùng với trình độ thâm canh cao, phần lớn các giống mới này đã đảm bảo năng suất, chất lượng, và giá trị thẩm mỹ, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường Nhưng cũng từ đó mà nguồn
Trang 13sâu, bệnh hại trên cây hoa cũng ngày một gia tăng và luôn là vấn đề trở ngại cho các hộ sản xuất và kinh doanh hoa
Cây hoa hồng là một trong những loài hoa quan trọng bị sâu, bệnh phá hại nặng nhất Thành phần sâu, bệnh hại trên cây hoa hồng rất phong phú Một số sâu, bệnh hại chính nổi lên trong nhiều năm qua như nhện đỏ, sâu xanh, sâu khoang, bệnh phấn trắng, gỉ sắt, đốm đen đã được các tác giả quan
tâm nghiên cứu Trong vài năm gần đây bệnh thối xám do nấm Botrytis
cinerea Pers trước đây được xếp vào hàng thứ yếu nay lại phát triển mạnh mẽ,
bệnh hại nụ, cuống hoa gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và sản lượng hoa hồng Trên thế giới đã có nhiều kết quả nghiên cứu về bệnh nhưng
ở Việt Nam bệnh thối xám hoa hồng chưa được quan tâm nghiên cứu nên chưa
có cơ sở đưa ra các biện pháp phòng trừ hữu hiệu Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn sản xuất đối với việc phòng trừ bệnh thối xám, chúng tôi thực hiện
đề tài:
“Điều tra thành phần bệnh nấm hại cây hoa hồng, nghiên cứu
nấm Botrytis cinerea Pers gây bệnh thối xám hoa hồng vụ xuân năm
- Tìm hiểu đặc điểm sinh học, sinh thái của nấm gây bệnh thối xám hoa
hồng (Botrytis cinerea) và khảo sát khả năng phòng trừ bệnh bằng thuốc hoá
học trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng
1 2.2 Yêu cầu
Điều tra, xác định thành phần bệnh hại trên cây hoa hồng ở một số cơ sở trồng hoa thuộc Viện Viện nghiên cứu Rau quả, hợp tác xã Tây Tựu – huyện Từ
Trang 14Liêm – Hà Nội, xã Trung Nghĩa – TX Hưng Yên- tỉnh Hưng Yên, xã Phật Tích – huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh
- Xác định triệu chứng bệnh(mô tả, nhận xét và chụp ảnh) điều tra diễn biến và đánh giá mức độ phổ biến của một số bệnh trên đồng ruộng
- Nghiên cứi một số đặc điểm hình thái của nấm thối xám(Botrytis
cinerea), ảnh hưởng của nhiệt độ, môi trường nuôi cấy đến sự phát triển của
nấm và khả năng nẩy mầm của bào tử trong điều kiện phòng thí nghiệm
- Thí nghiệm lây bệnh nhân tạo, xác định thời kỳ tiềm dục và mức độ
nhiễm bệnh thối xám (Botrytis cinerea) trên lá và hoa hồng
- Tìm hiểu ảnh hưởng của một số yếu tố: giống, tuổi cây, mật độ trồng, biện pháp kỹ thuật tác động, địa thế đất đối với sự phát triển của bệnh thối xám
- Khảo sát hiệu lực của một số thuốc hoá học đối với nấm (Botrytis
cinerea) hại hoa hồng ở trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng
* ý nghĩa khoa học của đề tài
- Bổ sung thành phần bệnh nấm vào danh mục bệnh hại hoa hồng ở nước ta
- Đánh giá mức độ gây hại của bệnh thối xám hoa hồng vụ xuân năm
2005 vùng Hà Nội và phụ cận
- Xác định được đặc điểm phát sinh phát triển của bệnh thối xám và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái kỹ thuật là cơ sở cho việc thực hiện các biện pháp phòng trừ có hiệu quả trong sản xuất
- Xác định khả năng phòng trừ bệnh thối xám hoa hồng bằng thuốc hoá học trên đồng ruộng
* Phạm vi nghiên cứu
- Thành phần bệnh nấm hại hoa hồng và nấm gây bệnh thối xám
(Botrytis cinerea) trên cây hoa hồng tại vùng Hà Nội và phụ cận, vụ xuân 2005
Trang 152 Tổng quan tài liệu
2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Cây hoa hồng (Rosa sp.) thuộc họ hoa hồng (Rosaceae) có xuất xứ ở vùng ôn đới và á nhiệt đới vùng Bắc bán cầu Nhiều tác giả cho rằng hoa hồng
được trồng đầu tiên ở vùng Tiểu á và Trung Quốc sau đó mới du nhập qua Hà Lan, Pháp ,Đức, Bungari và một số nước khác ở Việt Nam hoa hồng được trồng ở khắp ba miền đất nước Cây ưa khí hậu ôn hoà, nhiệt độ thích hợp cho hoa hồng sinh trưởng thường từ 80-855, độ ẩm đất từ 60-70% Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 1500-2000 mm rất thuận lợi cho cây hoa hồng phát triển Về vấn đề bệnh hại, một số tác giả cho rằng, trên cây hoa hồng có nhiều loại bệnh nguy hiểm như bệnh phấn trắng do nấm, bệnh xoăn lá do virus Các bệnh này thường phá hại nặng trên các giống hồng mới nhập nội vào nước ta Bệnh làm ảnh hưởng đến năng suất, phẩm chất và sinh trưởng của cây (Lê Nam ích, 1996 [3]
hoa hồng thường bị phá hại bởi các bệnh như phấn trắng, đốm đen, gỉ sắt, mụn vỏ thân cành, bệnh thối cành Ngoài ra cây hoa hồng còn bị tuyến trùng gây hại tạo u sưng trên rễ
2.1.1 Bệnh đốm đen hoa (Marssonina rosae)
Theo Trần Văn Mão và CTV (2001) [10,58] bệnh đốm đen hoa hồng rất phổ biến và gây hại nghiêm trọng ở nhiều nước trên thế giới, tỷ lệ bệnh có thể lên tới 100% Bệnh làm cho lá rụng sớm, có khi lá rụng hoàn toàn Nguyên
nhân gây bệnh là do nấm Actinonema rosae Fr gây ra, giai đoạn hữu tính là nấm Diplocarpon rosae Wolf Đĩa cành hình thành dưới lớp biểu bì của lá, sợi
nấm qua đông trong các cành cây khô, lá rụng và sang năm lại lây nhiễm đầu tiên nấm xâm nhiễm vào các lá già rồi lan lên các lá non, ở điều kiện thuận lợi chỉ 3-6 ngày đã xuất hiện triệu chứng bệnh Cây bị bệnh thường sau 8-32 ngày
Trang 16lá rụng Nhiệt độ càng cao lá rụng càng sớm Bệnh đốm đen có thể phát sinh, phát triển quanh năm, nhưng hại nặng nhất từ tháng 9 đến tháng 11 Về biện pháp phòng trừ, tác giả cho rằng cần phải kịp thời tỉa cành, tránh để cành cây quá dài, tăng cường phân bón hữu cơ và bón phân đạm hợp lý để tăng cường sức đề kháng cho cây Về mùa đông, nên cắt bỏ các cành bệnh, thu dọn sạch lá rụng Tác giả cho rằng cần áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp như dọn sạch cành lá bệnh, tiêu diệt nguồn nấm trong đất bằng cách dùng dung dịch đồng sulfat 1 %, thuốc tím 0,5% phun lên mặt đất hoặc dùng mùn cưa, tro bếp phủ lên mặt đất (dầy khoảng 8mm) Khi tỷ lệ bệnh còn thấp dưới 10% nên phun thuốc Daconil 0,1% có hiệu quả phòng chống bệnh Dương Công Kiên (1999)[5, 62] cho rằng, đây là bệnh khó trị, bệnh lan rộng nhanh lúc thời tiết ẩm ướt sau các trận mưa vào mùa thu Nguyên nhân gây bệnh đốm đen do
nấm Marssonina rosae (M rosae) gây ra Nhiệt độ thích hợp nhất để cho nấm
phát triển từ 22-26oC, ẩm độ lớn hơn 85% Đề cập đến biện pháp phòng trừ, tác giả cho rằng nên làm vệ sinh đồng ruộng thường xuyên, tránh đọng nước trên lá và nên tưới cây vào buổi sáng có nắng , cần thiêu huỷ sạch các lá bệnh, lá già sát mặt đất, tác giả đề nghị nên trồng một số giống hồng chống chịu
bệnh như David Thompson, Bebelum, Odorata … Ngoài ra có thể phun thuốc
định kỳ một tuần một lần với các loại thuốc như Anvil, Benomyl, Topsin M, Folpet, Maneb rất có hiệu quả trong việc phòng trừ bệnh Theo Nguyễn Xuân Linh và CTV (2000)[9, 76] bệnh đốm đen thường phá hại trên các lá bánh tẻ, các vết bệnh xuất hiện ở cả hai mặt lá, bệnh nặng làm lá biến vàng, rụng hàng loạt Đây là một trong những bệnh chủ yếu hại cây hoa hồng, bệnh hại nặng trên giống hồng cá vàng Đà Lạt Theo tác giả có thể sử dụng một số thuốc đặc hiệu như Score 250ND, Zineb 80WP với liều lượng 30- 50g/10 lít nước hoặc Antracol 70 BHN để phòng trừ bệnh với liều lượng1,5- 2kg/ ha Ngoài việc sử dụng thuốc các tác giả còn cho rằng cần phải thường xuyên làm
Trang 17cho vướ hồng thông thoáng, tránh để vừơn bị ngập úng, cần phải ngắt bỏ những cành lá bị nhiễm bệnh, làm sạch cỏ và thu dọn các tàn dư cây bệnh
2.1.2 Bệnh phấn trắng (Sphaerotheca pannosa)
Theo Trần Văn Mão và CTV(2001)[10, 60- 61], bệnh phấn trắng là một trong những bệnh phá hại phổ biến trên các vườn hồng Bệnh hại cả lá, thân và cành non đặc biệt là nụ hoa Tỷ lệ cây bị nhiễm bệnh chiếm tới 50-70%, bệnh làm ảnh hưởng tới sự ra hoa của cây Nguyên nhân gây bệnh là do nấm
Oidium sp Bệnh thường phát sinh vào cuối mùa đông và ngừng phát triển vào
cuối tháng 5, hại nặng nhất vào tháng 3 và tháng 4 Nhiệt độ thích hợp cho bào tử nấm nảy mầm xâm nhập vào cây là từ 17-25oC, trong điều kiện khô hạn hoặc ẩm ướt bệnh đều có thể phát triển được Để phòng trừ bệnh cần chú ý chăm sóc tốt, thường xuyên tỉa cành, không nên để quá nhiều cành, vườn phải thoáng gió, đủ ánh sáng, tốt nhất mỗi ngày có ánh nắng mặt trời chiếu sáng trong vài giờ Trong thời kỳ bị bệnh nên bón nhiều phân và Kali để tăng sức
để tăng sức đề kháng cho cây, tránh bón nhiều đạm Ngoài ra tác giả còn khuyến cáo nên sử dụng hợp chất lưu huỳnh vôi 0.3o bome theo định kỳ có tác dụng tốt trong việc phòng trừ bệnh phấn trắng Theo Nguyễn Huy Trí và CTV (1994)[14,83] ở nước ta cây hoa hồng được trồng ở vụ xuân thường bị bệnh phấn trắng hại nặng Nấm gây bệnh làm lá mất diện tích quang hợp, thân rụt lại, lá biến dạng, hoa không nở được làm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất hoa
Theo Nguyễn Xuân Linh và CTV (2000)[9, 76] nguyên nhân gây bệnh
là do nấm Sphaerotheca pannosa var rosae (S pannosa) gây ra Trong các
giống hoa hồng bệnh thường phá hại nặng trên giống Đà Lạt Theo các tác giả nên sử dụng thuốc Score 250 ND, Anvil 5SC, Bayfidan 250 EC đạt hiệu quả cao trong việc phòng chống bệnh Dương Công Kiên (1999) [5, 63- 64] cho
rằng nguyên nhân gây bệnh phấn trắng hoa hồng là do nấm Peronospora
sparsa Nấm phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 18oC , ẩm độ thích hợp là 85%, nếu
Trang 18nhiệt độ lên cao tới 27oC nấm sẽ chết sau 24 giờ Theo tác giả việc phun Kasuran, Derosal, Ridomil rất có hiệu quả , bên cạnh đó cần kết hợp với biện pháp cắt tỉa, đốt huỷ các cành lá bị bệnh đồng thời bón thêm kali để tăng sức chống chịu cho cây
2.1.3 Bệnh gỉ sắt (Phragmidium mucronatum)
Theo Trần Văn Mão và CTV (200l) (10, 61- 62), bệnh gỉ sắt phân bố rộng ở nước ta, bệnh thường làm lá rụng sớm ảnh hưởng đến sự ra hoa và phẩm chất của hoa Ngoài ra bệnh còn gây hại trên cành non, hoa và quả Vào mùa đông biểu hiện triệu chứng bằng những chấm đen nhỏ, đó là ổ đông bào
tử của nấm gỉ sắt Sợi nấm hoặc đông bào tử qua đông trên chồi, cành bệnh mùa xuân năm sau bào tử đông hình thành bào tử đảm sau đó hình thành bào
tử giốngvà bào tử xuân, rồi hình thành bào tử hạ, bào tử hạ tái xâm nhiễm nhiều lần trên đồng ruộng Bào tử đông nảy mầm ở nhiệt độ 6-25 oC, bào tử hạ nảy mầm ở nhiệt độ 9-27 oC, gặp thời tiết ấm áp, mưa nhiều bệnh thường phá hại nặng Theo các tác giả trên, nguyên nhân gây bệnh là do nấm
Phragmidium rosae- multiflorae Diet Để phòng trừ bệnh gỉ sắt cần áp dụng
các biện pháp chăm sóc, tỉa bỏ cành lá bệnh kết hợp với phun thuốc sodium p- aminobenzen sulffonate hoặc hợp chất lưu huỳnh vôi 0,3o bome, ngoài ra cần bón thêm phân Ca, K, Mg, P với liều lượng hợp lý tăng khả năng chống chịu bệnh cho cây Tác giả Nguyễn Xuân Linh và CTV (2000)[10, 77] cho
-rằng nguyên nhân gây bệnh gỉ sắt là do nấm Phragmidium mucronatum
(P.mucronatum) Để phòng trừ bệnh tác giả cho rằng nên loại bỏ tàn dư cây
bệnh và cỏ dại kết hợp với việc phun thuốc Score 250 ND, Anvil 5SC Dương Công Kiên (1999)[2, 63] cũng cho rằng nguyên nhân gây bệnh gỉ sắt là do
nấm P.mucronatum Nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển 18- 21oC Để phòng trừ bệnh nên thu dọn, đốt sạch tàn dư cây bệnh, tưới nước vừa phải và kết hợp phun thuốc Plantvax, Bavistin, Zineb, Topsin M để phun phòng trừ bệnh cho cây
Trang 192.1.4 Bệnh thán thư (Gloeosporium rosarum và Colletotrichum rosae)
Theo Nguyễn Xuân Linh và CTV (2000) [9,77] nguyên nhân gây bệnh
là do nấm Collettotrichum rosae gây ra Bệnh thường gây hại trên các lá bánh
tẻ, lá già, bệnh nặng có thể lan lên ngọn, gặp điều kiện ẩm ướt bệnh lây lan rộng Theo các tácgiả nên dùng thuốc Topsin M 70ND với liều lượng 5- 10g/
8 lít nước để phòng trừ bệnh
Theo Dương Công Kiên (1999)[5, 65] nguyên nhân gây bệnh thán thư
hoa hồng là do nấm Sphaceloma rosarum (Pass) (Elsinoe rosarum) Bệnh
thường phá hại trên lá hồng dại, khi bệnh nặng các mô lá bệnh khô chết làm rách lá Bệnh có thể hại cả thân, cành làm cành suy yếu dễ gãy Ngoài ra bệnh
có thể hại cả trên hoa và đài hoa nhưng thường ít gặp hơn Bệnh lây lan mạnh vào mùa xuân khi có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao Bào tử nấm lay lan nhờ nước tưới và côn trùng Về biện pháp phòng trừ , tác giả lưu ý khi bệnh xuất hiện cần phải giảm lượng nước tưới, tránh để đọng nước trên lá, cần phải thu dọn tàn dư cây trồng đồng thời có thể phun định kỳ 1-2 tuần một lần một trong những thuốc Antracol, Score, Carbenzim để phòng trừ bệnh
2.1.5 Bệnh đốm lá (Cercospora puderi)
Nguyên nhân gây bệnh do nấm Cercospora puderi Davis (C puderi)
(Trần Văn Mão và CTV(2000)[10, 59]) Bào tử nấm hình ống dài hay hình
đuôi chuột, không màu đến nâu nhạt Sợi nấm qua đông trong lá bệnh hoặc trong tàn dư cây bệnh, đến mùa xuân năm sau sợi nấm bắt đầu lây lan xâm nhiễm trên các lá mới Bệnh xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 10 khi có ẩm độ cao trên vết đốm thường có một lớp mốc xám đen Theo tác giả để phòng trừ bệnh có thể phun thuốc Daconil 0,2% hoặc Bavitis 0,2% kết hợp với việc thu dọn tàn dư cây bệnh trong vườn sẽ đạt hiệu quả cao
Dương Công Kiên (1999)[5, 66] cũng cho rằng nguyên nhân gây bệnh
đốm lá là do nấm C puderi B H Davis Vết bệnh có đường kính khoảng
5mm, xung quanh vết bệnh có viền nâu đỏ , trung tâm vết bệnh có màu xám
Trang 20nâu Nấm gây bệnh chủ yếu trên mặt lá ở những vườn hồng rậm rạp, vì vậy việc cắt tỉa cành lá thường xuyên có thể hạn chế được nguồn bệnh Tác giả cho biết; có thể sử dụng một số loại thuốc trừ nấm đặc hiệu để phòng trừ bệnh như Score 250ND, Carbezim.v.v Ngoài ra trên cây hoa hồng bệnh
đốm lá còn do nhiều nguyên nhân khác gây nên như nấm Alternaria
alternata hoặc do nấm Colletotrichum capsici (Syd) Butt và Bisby Nguyễn
Xuân Linh và CTV (2000)[9, 87] cho rằng nguyên nhân gây bệnh đốm lá là
do nấm C rosae
Bệnh hại chủ yếu trên lá bánh tẻ, lá già, bệnh nặng có thể làm cho lá chóng rụng, có thể phòng trừ bệnh bằng thuốc Topsin M- 70ND và Score
250ND Trên cây hoa hồng còn có bệnh cháy mép lá do nấm Pestalozia sp
(P sp.) gây ra và có thể phòng trừ bệnh này bằng thuốc Daconil 75WP pha
ở nồng độ 0,20% hoặc Roval 50WP pha ở nồng độ 0,15% Bên cạnh cây hồng còn bị các bệnh hại khác do vi khuẩn, virus gây ra
2.1.6 Bệnh thối xám (Botrytis cinerea Pers.)
Theo Trần Văn Mão và CTV (2001)[10, 60- 65] bệnh gây hại nặng vào mùa xuân khi tiết trời có nhiều mưa phùn, bệnh hại cả nụ hoa, tràng hoa
và lá non, bệnh nặng làm hoa khô và lá rụng Để phòng trừ bệnh, theo một
số tácgiả nên sử dụng dung dịch Boocdo 1% hoặc Zineb 0,2% phun theo
đinh kỳ 7 ngày / lần Theo Dương Công Kiên bệnh chết khô do nấm Botrytis
cinerea Pers ex Fr gây ra, nhiệt độ thích hợp cho nấm phát triển là 15oC Khi cây bị bệnh, nụ hoa thường không nở được, nụ bị gãy gục xuống, hoa khô cháy Theo tác giả có thể phòng trừ bằng một số loại thuốc hóa học như Kasuran, Daconil, Carbenzim định kỳ 1 tuần/ 1 lần cho hiệu quả tốt
Theo Dương Công Kiên và CTV (1999)[5, 63- 68]) trên cây hoa hồng
ngoài các bệnh kể trên còn có bệnh héo do nấm Verticillium albo - atrum
gõy ra Bệnh gây hại làm cho các ngọn non bị héo nhưng vẫn còn xanh, các lá ở phía dưới biến vàng, ban đêm có thể phục hồi nhưng sau một vài ngày
Trang 21cả phần ngọn cũng chuyển sang màu vàng sau cùng biến thành màu nâu, tàn
úa và chết , bệnh thường hại từ ngọn xuống Trên hoa có thể tạo những vệt
đen dọc theo chiều dài cánh hoa Bệnh hại nặng vào mùa hè khi thời tiết khô hạn Hoa hồng ở ngoài trời ít bị bệnh này hơn hoa hồng được trồng trong nhà kính Theo tác giả để phòng trừ bệnh nên dùng các giống kháng
bệnh như Rose Multif1ora, Rose Manetti Ngoài ra theo các tác giả trên cây
hoa hồng còn bị một số bệnh do virus, vi khuẩn, tuyến trùng gây ra hoặc bệnh sinh lý không truyền nhiễm cũng gây hại khá nghiêm trọng trên cây hoa hồng trồng ngoài đồng ruộng Theo Trần Văn Mão và CTV (2001) [10, 60- 65] trên cây hoa hồng còn có bệnh khô lá (nguyên nhân do nấm
Phyllosticta sp.) Bệnh thường phát sinh từ tháng 6 đến tháng 9, nhiệt độ
càng cao, bệnh càng nặng Bệnh khô cành hồng (Coniothyrium fuckeili Sacc) Bệnh thường gây hại trên các cành non có thể làm gãy cành và cây
chết Sợi nấm qua đông trên các cành bệnh, năm sau nấm xâm nhiễm lên các cây trồng mới Vì vây để phòng trừ bệnh này cần phải tỉa cành theo định
kỳ, nhất là những cành bị gãy do gió bão, kịp thời đốt bỏ những cành bị bệnh, sau khi cắt tỉa cành cần phun thuốc Daconil 0,1% hoặc trộn Zineb 0,1% và Benlat 0,1 % để bảo vệ cho cây
2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã phát hiện được khá nhiều loài vi sinh vật gây bệnh trên cây hoa hồng
Pirone và cộng tác viên (1960) [37, 624- 633] đã ghi nhận có hai loài virus 3 loài vi khuẩn và 30 loài nấm gây bệnh trên cây hoa hồng Một số bệnh quan trọng và phổ biến nhất trên cây hoa hồng ở Mỹ là bệnh đốm lá vi khuẩn, bệnh thán thư, bệnh thối đen, bệnh thối xám, đốm đen trên lá, bệnh loét thân, bệnh gỉ sắt, bệnh phấn trắng do nấm gây ra ở Venezuela cũng có ghi nhận 18 loài nấm gây bệnh trên lá và hoa , 6 loài nấm gây bệnh trên thân và 2 loài nấm gây bệnh trên rễ cây hoa hồng (Vargas và CTV, 1990 [47, 616]) Có những loài
Trang 22nấm gây bệnh trên tất cả các bộ phận chính là (lá, hoa, thân, rễ) của cây hoa
hồng như nấm Fusarium sp., Botrytis sp., nhưng có một số loài chỉ gây bệnh trên lá và hoa như Erysiphe sp., Phragmidium sp., Phoma sp và cũng có loài nấm chỉ gây bệnh trên rễ và thân cây hoa hồng như Botryo diplodia
Theo các nhà nghiên cứu ở Mỹ (Webside [52]) trên cây hoa hồng có 17 bệnh do nấm, 3 bệnh do vi khuẩn, 6 bệnh do tuyến trùng và 7 bệnh do virus Một số bệnh chính trên cây hoa hồng đã được nghiên cứu ở nhiều nước như
bệnh thối xám (Botrytis cinerea) đã được nghiên cứu ở ấn Độ, Đan Mạch, Israel và Mỹ; Bệnhk đốm đen trên lá (M rosae) được nghiên cứu ở ấn Độ,
Đức, Nhật Bản, Mỹ, Ba Lan, Thụy Điển; bệnh phấn trắng (S panorosa var rosae) được nghiên cứu ở ấn Độ, Ba Lan, Đức, Ai Cập, Rumani, Trung Quốc; bệnh gỉ sắt (do nhiều loài nấm thuộc loài Phragmidium) được nghiên cứu ở
Anh Quốc, Italia, Liên Xô (cũ) (Chatani và CTV (1996) [21, 1117]; Kanl (1984) [31, 709]; Kintya và CTV (1990) [33, 616]; pisi và CTV (1996) [38, 933]; Qwarns Trom (1990)[39, 301]; Szekely và CTV (1984) [43, 321]; Veser (1996) [48, 715]; Wojdyla (1996) [59, 350]; Yao và CTV (1990) [61, 990])
Khi đề cập đến bệnh hại trên cây hoa hồng có rất nhiều loài bệnh hại, trong đó đáng chú ý là bệnh đốm đen lá, bệnh phấn trắng, bệnh gỉ sắt….Những bệnh này đã gây thiệt hại đáng kể cho hầu hết các vùng trồng hoa hồng ở nhiều nước trên thế giới (Baker, K.F (1948) [16, 260- 274]; Forberg, J.1 (1975) [25], Coyier D.I (1983) [23 919- 923]; Horst, R.K (1983) [30])
2.2.1 Bệnh đốm đen hoa hồng (Marssonina rosae)
Theo Horst, R.K (1983) [30, 7-11] bệnh đốm đen hoa hồng được thông báo đầu tiên ở Thụy Điển vào năm 1815, sau đó là ở Pháp , Bỉ, Đức, Anh và ở
Hà Lan vào năm 1844 Bệnh đốm đen cũng đã được tìm thấy ở khắp nước Mỹ vào năm 1830 và ở Nam Mỹ vào năm 1880, ở úc vào năm 1892, Liên Xô vào
Trang 23năm (1907), Trung Quốc (1910), Canađa(1911), ở Châu Phi (1920-1922), ấn
Độ (1941)và Thổ Nhĩ Kỳ(1947) Nấm gây bệnh được phát hiện thấy trên khắp các vùng trồng hoa hồng và thậm chí đến nay chúng còn được tìm thấy ở các
đảo như Philipine, Malta, Hawai và Newzealand
Theo Cynthia Westcott (1972) [24, 95- 99] triệu chứng đầu tiên để phân biệt bệnh đốm đen hoa hồng khác với các bệnh đốm khác là xuất hiện nhiều hay ít những đốm đen tròn lớn 12mm, có viền và mép đâm tia
Baker, F.K (1948) [16, 260-274] cho rằng nguyên nhân gây bệnh đốm
đen là nấm D rosae Các sợi nấm phát triển trên lớp biểu bì của lá và phân nhánh Dạng sinh sản vô tính là nấm M rosae Nấm D rosae hình thành các
quả thể hình cầu trên các vết bệnh già, cũ và qua đông ở đó, chúng chính là nguồn lây nhiễm đầu tiên vào mùa xuân trên đồng ruộng Hosrt, R.K (1983)
[30, 711] cho biết, giai đoạn sinh sản vô tính (M rosae (Lib) của bệnh đốm
đen được mô tả ở Pháp vào năm 1827, giai đoạn sinh sản hữu tính (D rosae
Wolf) được mô tả ở New York năm 1912 Sợi nấm phân nhiều nhánh, không màu khi còn non, khi về già sợi nấm sẫm màu Nấm hình thành vòi hút trong
tế bào của cây ký chủ Sợi nấm sinh trưởng trong môi trường PDA và môi trường Malt agar rất chậm, cần có thời gian tối thiểu từ 15-37 ngày Mặt khác việc nuôi cấy nấm trên các môi trường nhân tạo rất khó khăn do nấm dễ bị tạp bởi các nấm hoại sinh khác, một tháng sau khi nuôi cấy mới đạt đường kính tản nấm từ 2-9mm và tính độc của nấm mất đi sau một vài tháng nuôi cấy trên môi trường nhân tạo Wenefride I và CTV năm 1993 [58, 246-248] đã xác
định kích thước bào tử, màu sắc tản nấm M rosae, giai đoạn vô tính của nấm
D rosae đã được khẳng định sự đa dạng của nấm này Bào tử nấm có chiều
dài từ 21,1- 25,3 àm Các chủng nấm được chia ra làm 4 nhóm màu: Nâu củ hành, hồng sáng, xám nhạt và nâu của củ hành với sự pha trộn giữa đốm nâu
đỏ và vàng Nguồn bệnh tồn tại qua đông trên các bộ phận của cây bị nhiễm bệnh Bào tử lan truyền nhờ nước và có thể bám vào cơ thể côn trùng để di
Trang 24chuyển, bào tử nấm thường được sinh ra vào mùa xuân và bắt đầu quá trình xâm nhiễm vào cây
Bệnh đốm đen phát triển thuận lợi khi có cả hai yếu tố nhiệt độ ấm áp
và ẩm độ cao Nấm M rosaecó khả năng thích ứng ở khoảng nhiệt độ khá
rộng (15- 27oC), điều kiện tốt nhất cho sự lây nhiễm và phát triển của bệnh là
có độ ẩm tương đối trên 85% và lá được để ẩm liên tục ít nhất trong 6 giờ hoặc hơn, nhiệt độ thuận lợi nhất cho sự nẩy mầm của bào tử là 18- 20oC ở nhiệt độ này sự nẩy mầm của bào tử bắt đầu sau 9 giờ và tỷ lệ nảy mầm có thể
đạt tới 96% trong 36 giờ Bào tử phân sinh chết, không nẩy mầm ở 33oC, ở nhiệt độ 30oC chúng có thể nẩy mầm nhưng không đủ sức để phát triển đủ sức
để phát triển Sợi nấm sinh trưởng mạnh nhất ở 21oC và ngừng phát triển sau 8 tuần ở nhiệt độ 33oC Sự lây nhiễm của bào tử trên lá mạnh nhất ở nhiệt độ 19-
21oC và triệu chứng bệnh có thể xuất hiện trong vòng 3-4 ngày ở nhiệt độ 22-
30oC Sự lây nhiễm hoàn thành nếu lá vẫn ẩm ướt suốt 24 giờ trước khi khô
Sự lây nhiễm không thực hiện được trong không khí khô, ngay cả khi độ ẩm tương đối 100% cũng không thực hiện được sự nẩy mầm nếu bào tử không
được làm ướt (Website,[55][56][51], và Horst, R K (1983)[30, 7-11])
Theo Horst, R.K (1983) [30, 7-11], Webside (29/12/2000) [53] bệnh
đốm đen thường phát triển mạnh hơn khi thời tiết ẩm Bệnh đốm đen có thể phòng ngừa hoặc ít nhất có thể hạn chế bằng cách áp dụng những biện pháp sau: Tạo luồng không khí lưu thông xung quanh cây hoa và như vậy sẽ làm giảm độ ẩm, hạn chế sự lây nhiễm của bệnh; tỉa bớt cành lá, tưới nước dưới gốc hoa tránh tưới ướt lá, đặc biệt tránh tưới nước vào buổi chiều tối sẽ làm cây bị
ẩm ướt trong suốt đêm tạo điều kiện thuận lợi cho bào tử nẩy mầm và xâm nhiễm Cần phải tỉa bới lá bệnh và nhặt sạch lá rụng Cũng có thể hạn chế được bệnh nếu trồng hoa hồng tại các nơi có nắng buổi chiều chiếu sáng hoặc tốt hơn
là cả ngày Vấn đề sử dụng thuốc trừ nấm có thể dùng Funginex, Fungigard, Daconil 2787 và bột lưu huỳnh phun theo định kỳ từ 7-14 ngày / 1 lần Để đạt
Trang 25được hiệu quả cao khi phun thuốc nên sử dụng những chất có hoạt tính bề mặt như Ex- 800, X- 77, Triton B- 1956, W- P- NCF với bột kháng nấm (l4 ngày/ l lần) Cũng có thể dùng 2 hỗn hợp đồng và sunfua sẽ có hiệu quả hơn là tách riêng, thuốc Fantan có hiệu quả cao trong phòng trừ bệnh đốm đen và an toàn cho người sử dụng Nên chọn những giống có sức đề kháng cao với bệnh như: Fortyniner, Coronador, Carefree Beauty, Simpliaty, Borica, Grand Opera, Davis Thomson, Bebelune, Tiara và Ernest H Morse
Theo thông báo của hiệp hội hoa hồng Mỹ năm 1997 (Website [55]) có
84 giống hoa hồng được các tác giả thử nghiệm tính kháng với bệnh đốm đen tại vườn trồng ở Village, thành phố Kansan, đã không phải phun bất kỳ một loại thuốc nào trong suốt 2 năm 1996 và 1997 Hai giống hồng nhạy cảm cao nhất, được chọn thử nghiệm phun vi khuẩn đất Rosa Flora TM hàng tuần, là những giống thuộc loài Rosa Foetida Persiana (Persian Yellow) và Grandiflora Spellcaster Cả hai giống này đều bị rụng lá hoàn toàn vào giữa mùa hè nếu không phun thuốc, 201 giống hoa khác thử nghiệm được phun
hàng tuần bằng dung dịch Triforine với khu bên cạnh không phun gì làm đối
chứng (hoa bị nhiễm bệnh nặng) Kết quả cho thấy những cây hoa hồng được phun bằng dung dịch Rosa Flora TM tốt hơn hoặc bằng các cây được phun Triforine Như vậy việc phun Flora TM có tác dụng phòng trừ bệnh đốm đen rất hiệu quả Nếu kết hợp việc phun Flora TM (một loại vi khuẩn đất) với Wilt pruft (một loại nhũ dầu tự nhiên) theo tỷ lệ 5/1 đã tăng cường khả năng diệt trừ nấm gây bệnh đốm đen của Rosa Flora TM, vừa ngăn ngừa được nguồn nấm tồn tại qua đông trên đồng ruộng vừa không độc hại cho người sử dụng
và môi trường
2.2.2 Bệnh phấn trắng hoa hồng (Sphaerotheca pannosa var rosae)
Phoatus đã mô tả bệnh phấn trắng trên hoa hồng lần đầu tien vào khoảng 300 năm trước công nguyên Năm 1819, Wallroth đã mô tả nấm gây
ra bệnh này là nấm Alphitomorpha pannosa Nó được chuyển vào loại
Trang 26Erysiphe là E pannosa vào năm 1829 và cuối cùng vào năm 1851 loài nấm
này được xếp vào loại Sphaerotheca Mặc dù nó vẫn được công nhận là S
panosa (Wallre Ex Fx) Lév một số chuyên gia đã công nhận sự phân chia
loại này thành 2 loài của Woronichine (1914) đó là Var rosae lây nhiễm hoa hồng và Var persicae lây nhiễm cây đào và cây hạnh nhân Một cuộc khảo
sát có quy mô lớn với các mẫu vật được lấy từ nhiều nơi trên thế giới đã đưa
Coyier đi đến quyết định rằng S pannosa và S hunuili không có sự khác nhau
rõ rệt và nấm phấn trắng trên hoa hoa hồng ở Mỹ là do S pannosa gây nên
(Wallre Ex Fx) Lév vai.rosae Wor
Theo Cynthia Westcott (1972) [24,304-305], bệnh phấn trắng hoa hồng
được phát hiện thấy ở nhiều nơi trên thế giới Đây là bệnh phổ biến thường xuyên trong nhà kính và trên các vườn trồng Bệnh thường hại nặng trên các vườn hồng bị côn trùng và nhện đỏ phá hại Bệnh phấn trắng phá hại nặng trên các vườn hồng khi người ta sử dụng Ferbam và những thuốc hữu cơ khác như thuốc lưu huỳnh và đồng để trừ bệnh đốm đen Bệnh phát triển phá hoại nặng
ở vùng bờ biển Thái Bình Dương và hại nghiêm trọng ở các vùng trồng hồng ở phía Tây Nam Phía Đông bệnh ít hơn trên các giống hồng leo vào tháng 5
như giống Dorothy Perkins, Crimson Rambler Bệnh hại mạnh trên các giống
hồng lai vào cuối mùa hè khi nhiệt độ ban đêm thấp Để phòng trừ bệnh các tác giả khuyên nên phun bột lưu huỳnh khi thấy dấu hiệu triệu chứng bệnh
đầu tiên, thuốc Lưu huỳnh có hiệu lực kéo dài cả khi thời tiết quá nóng; Karathane hiệu quả ở dạng phun nước hơn ở dạng bột, nhưng cần phải pha
đúng liều lượng; Fantan cũng có hiệu quả trừ bệnh nhưng nó để lại tồn dư của thuốc trên lá ( màu trắng) Theo tác giả nên chọn những giống hồng kháng bệnh là điều rất quan trọng Giống hồng đỏ, hồng lai, hồng nở hoa thành bụi rất mẫn cảm với bệnh còn những giống hồng có màu đỏ da cam lại rất ít bị nhiễm bệnh Theo Massey, L.M (1948) [34, 136-145] và Moseman, J.G (1966) [35, 296-290], bệnh phấn trắng thường hại nặng trên những vườn hồng
Trang 27không luân canh Horst R.K (1983) [30, 7-11] cho rằng bệnh này phân bố rộng rãi và bệnh nguy hiểm nhất đối với cây hoa hồng Nguyên nhân gây ra
bệnh phấn trắng là do nấm S pannosa var rosae Bệnh phấn trắng phát sinh
phá hại nặng ở điều kiện bón quá nhiều phân đạm Nấm bệnh làm giảm sự phát triển của lá, giảm độ bóng của hoa Sợi nấm màu trắng, đa bào, thường hình thành trên bề mặt mô bệnh, tạo vòi hút xâm nhập vào biểu bì của lá cành bào tử phân sinh ngắn, thẳng đứng Bào tử phân sinh hình thành trên đỉnh của mỗi cành, bào tử có hình trứng hoặc hình bầu dục, mọc thành chuỗi thường có
từ 5-10 bào tử trên đỉnh cành Khi gặp điều kiện không thuận lợi (nhiệt độ
thấp) nấm hình thành các quả thể kín (cleistothecia) Quả thể có dạng hình
cầu đến hình quả lê, đường kính từ 80-120àm Quả thể non màu trắng, già có màu đen, khi có độ ẩm thích hợp quả thể giải phóng các túi và bào tử túi ra ngoài, nhờ gió phát tán Bào tử nấm nẩy mầm ở nhiệt độ 20oC từ 2-4 giờ và có
độ ẩm tương đối gần 100% Rất hiếm khi quả thể của nấm được hình thành ở những vùng khí hậu ôn hoà hoặc trong nhà kính, bào tử nấm có thể tồn tại quanh năm Khi vào ban đêm ở trên cánh đồng khoảng 15,5oC và độ ẩm tương
đối là 40-70% vào ban ngày thích hợp cho sự hình thành và giải phóng bào tử Nhiều chu kỳ ngày và đêm lặp lại là điều kiện thuận lợi để hình thành dịch bệnh Để phòng trừ, theo tác giả cần chọn các giống chống chịu bệnh kết hợp với việc phun thuốc hoá học Việc cắt tỉa chồi cành bị bệnh , thiêu huỷ những tàn dư có tác dụng hạn chế nguồn bệnh Đối với vườn hồng trồng trong nhà kính ngoài việc phun thuốc diệt nấm có thể hạ thấp ẩm độ vào ban đêm trong nhà kính bằng cách dùng quạt, máy thông hơi, dùng hơi nóng để làm giảm độ
ẩm và hạn chế sự hình thành dịch bệnh trong vườn trồng
Một số tác giả cho rằng đối với hoa hồng trồng ngoài đồng ruộng nấm phấn trắng bảo tồn qua đông chủ yếu ở dạng sợi nấm trên nụ và quả thể trên lá bệnh , còn trên hoa hồng ở nhà kính nấm chỉ tồn tại ở dạng sợi và bào tử phân sinh (Massey, L.M (1948) [34, 136-1451; Schnathorst, W.C (1965) [40, 343])
Trang 28Để phòng trừ bệnh phấn trắng hoa hồng nên sử dụng một số loại thuốc nội hấp như Teiforin, Ferarimol, Tradimefon, Etaconazon (Geoger, N A (1988) [26]; Coyier, D I (1983) [23, 95-378])
Theo Geoger, N A (1988)[26], một số loài nấm như Ampelomyces
quisqualis, Cladosporium oxysporum, Til1etiopsis sp., Vertiauium lecanii,
rệp Thriptabasi đã được xác nhận là ký sinh bậc 2 hoặc vi sinh vật đối kháng
với nấm gây bệnh phấn trắng là một trong những hướng đi tích cực có nhiều triển vọng trong việc phòng trừ bệnh này ngoài sản xuất
2.2.3 Bệnh gỉ sắt (Phragmidium mucronatum)
Bệnh gỉ sắt hoa hồng phá hại rất phổ biến trên vườn trồng và cả cây hồng dại Bệnh làm rụng lá sớm dẫn đến giảm năng suất phẩm chất hoa (Baker, K.F (1953) [17, 331-339 ]; Horst R.K (1983) [30, 11]
Theo Horst R.K (1983) [30, 11] có 9 loài nấm bệnh gỉ sắt đã được tìm
thấy trong đó loài P mucronatum là loài nấm phổ biến nhất ở Mỹ, gây hại chủ yếu trên giống hồng Hybrid tea rosae và một số giống khác Nấm P
mucronarum được quan sát đầu tiên trên kính hiển vi vào năm 1665 do Hooke
tiến hành Nuôi cấy P mucronatum có thể thực hiện trên các môi trường Agar
có chứa dung dịch chiết nấm men, pepton, casein ở Anh, bệnh bệnh gỉ sắt đã
được phát hiện thấy trên 200 giống hồng khác nhau được nhân ra từ những cây hồng dại có tên là Hybrid tea và Floribundas Bệnh bệnh gỉ sắt hoa hồng lan rộng ở vùng Nam và Đông nước Anh, miền Tây nước Mỹ và ở các vùng địa lý
có nhiệt độ ấm áp, độ ẩm cao Theo Cynthia Westcott (1972)[24, 377], bệnh bệnh gỉ sắt hại nặng trên các giống hồng lai và một số giống hoa hồng khác Bệnh hại nghiêm trọng ở các vườn hoa hồng dọc theo bờ biển Thái Bình Dương Bào tử nấm được không khí và gió truyền di lây nhiễm ở dưới mặt lá qua các lỗ khí khổng Nhiệt độ tối thích cho sự lây nhiễm của bệnh là 18-20oC
và có điều kiện ẩm ướt liên tục trong 2- 4 giờ Baker, K.F (1953)[17, 339] cũng xác nhận bệnh gỉ sắt phát triển thuận lợi trong điều kiện có ẩm độ cao
Trang 29(có giọt nước, giọt sương) và nhiệt độ từ 18-20oC Vào đầu mùa thu bào tử
đông bắt đầu xuất hiện Nấm gỉ sắt qua đông ở lá và thân cành Mùa xuân sang bào tử nấm được sinh ra và bắt đầu quá trình xâm nhiễm mới Bào tử
đông hình thành đảm đa bào và các bào tử đảm Bào tử đảm dễ dàng phát tán nhờ gió, rơi lên bề mặt lá non, cành non của cây để bắt đầu xâm nhiễm Sự nhiễm bệnh thuận lợi ở những nơi không thông gió và có sự ngưng tụ hơi nước Nhiệt độ cao của mùa hè làm ảnh hưởng đến sự lây nhiễm của bào tử Bào tử gỉ sắt có thể giữ được khả năng sống trong 1 tuần ở 80oF ở miền nam California Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau có nhiệt độ thích hợp cho bào tử nấm gỉ sắt nẩy mầm, do có những cơn mưa rào Để phòng trừ bệnh, theo các tác giả cần hái bỏ các lá già, lá bệnh thường xuyên Việc tỉa cành lá bệnh vào mùa đông hoặc đầu mùa xuân trước khi các lá mới xuất hiện sẽ làm giảm mức
độ lây nhiễm và ngăn chặn sự phát triển của nấm vào mùa xuân Nên phun thuốc 6 ngày / lần vào thời kỳ có điền kiện môi trường thích hợp với sự phát triển của nấm có thể sử dụng một số thuốc hoá học sau: Sunfua đồng, Ferbam, Zineb, Maneb (cả trong giai đoạn nấm qua đông) Theo Forberg, J I (1975) [25] để phòng trừ bệnh này cần chọn tạo các giống kháng bệnh, tiêu diệt nguồn bệnh trên tàn dư, cỏ dại và ký chủ phụ, kết hợp với việc phun thuốc hoá học Peroxin 0,2- 0,4%
2.2.4 Bệnh đốm lá (Cercospora puderi)
Theo Cynthia Westcott (1983) [24, 210] có 2 loài nấm gây bệnh đốm lá
Nguyên nhân thứ nhất là nấm C puderi, được ghi nhận ở bang Georgia và Texas Loài thứ hai là nấm C rosicola gây ra
Bệnh được phát hiện thấy ở khắp các vườn hồng, nhưng phổ biến hơn cả
là vùng phía Nam nước Mỹ Quả thể bầu được hình thành trên các tàn dư cây bệnh Theo tác giả có thể phun Maneb để phòng chống bệnh này
Theo Horst, R.K (1983) [30,19-22] bệnh đốm lá cúng do 2 loài nấm là
C puderi và C rosicola gây ra Ngoài ra trên hoa hồng còn có một số bệnh
Trang 30đốm lá như: bệnh đốm lá do nấm Alternaria alternata (Fr) gây ra các vết đốm
trên lá ở thời kỳ có mưa nhiều Vết bệnh thay đổi từ màu vàng sang màu nâu
đậm, các đốm to dần và xuất hiện các vòng đồng tâm trên mô bệnh của lá Gắp điều kiện ẩm ướt, các chồi hoa, nụ hoa và hoa đều có thể nhiễm bệnh Nhiệt độ tối ưu cho nấm phát triển là 30oC Các loài A brassicae var
microspora Brun và các loài khác cũng đã được thông báo là nguyên nhân gây
ra bệnh đốm lá trên cây hoa hồng; bệnh thán thư do nấm Colletotrichum
capsici (Syd) Bult và Bisby gây ra những vết đốm đỏ hình tròn, các đốm này
có thể kết hợp thành một đốm lớn Bệnh nặng các lá bị khô và dễ rụng Các
loài nấm khác cũng đã được tìm thấy trên lá hoa hồng như: Monochaetia
compa (Sacc) Allesh, Perizella oenothrae (Cke và Ell Sacc, Phyllosticta rosae
Desm, Septoria rosae Desm, Glomerella angulata Penz và Curvularia
branchspora Boedijn v.v Ngoài ra trên cây hoa hồng còn bị đốm cánh tràng
hoa do nấm Bipolazis (Helminthosporium setariae (Saw.) Shoemaker Đầu
tiên nấm tạo ra các đốm màu nâu nhạt có đường kính 2 mm, vết bệnh nặng gây chết thối trên các cánh tràng hoa, độ ẩm ướt cao rất thuận lợi cho sự lây lan phát triển, vết bệnh nặng gây chết thối trên các cánh tràng hoa, độ ẩm ướt cao rất thuận lợi cho sự lây lan phát triển của nấm
2.2.5 Bệnh thối xám hoa hồng (Botrytis cinerea Pers.)
Theo tác giả Kenneth Horst (quyển 1)[30], sự hình thành bào tử tốt nhất
ở bước sóng ánh sáng 355 nm (đèn cực tím) Một số loại nhà lưới che phủ bởi các loại màng lọc loại ánh sáng này làm giảm khả năng lây nhiễm bệnh
Theo các tác giả Website [62], bệnh do nấm Botrytis cinerea xâm
nhiễm thuận lợi trong điều kiện mát mẻ có mưa vào mùa xuân và mùa hè, nhiệt độ khoảng 15oC (60oF) Bệnh phá huỷ mạnh khi có mưa hoặc mưa phùn liên tục trong vài ngày Bệnh xâm nhiễm nhiều loại cây cảnh , cây rau và quả
Bệnh hại lá, cành, đỉnh sinh trưởng, hoa, nụ hoa, cây con Các tác giả cũng cho rằng phòng trừ bệnh nên cắt bỏ cành lá bị bệnh Thuốc hoá học có
Trang 31thể giúp ngăn cản bệnh, sử dụng vào mùa xuân, khi thời tiết ẩm ướt và thường gây hại nặng vào những năm trước
Một số hoá chất trừ nấm như chlorothalonil, manconeb, kalibicarbonate, thiophante-methyl có thể xử lý cho một số cây trồng ở trong nước
Theo kết quả nghiên cứu của bộ môn nghiên cứu cây trồng của trường
Đại học Illinois ở Urbana- champiagn, (Website [63]), nghiên cứu bệnh thối
xám trên cây cảnh đã tổng kết có khoảng 50 loài Botrytis thống kê trên các loại cây trồng Nấm Botrytis cinerea có phạm vi ký chủ rộng nhất trong các loài Botrytis Theo thống kê thì hầu hết bệnh thối xám trên cây cảnh là do nấm
Botrytis cinerea
Hạch nấm là dạng bảo tồn chủ yếu của nấm trên cánh đồng mặc dù bào
tử phân sinh có thể tồn tại qua vụ trên cánh đồng và có thể chịu đựng nhiệt độ
từ 39-131 oF (4-54oC) Giai đoạn qua đông hạch nấm có thể tồn tại ở tàn dư trên mặt đất hoặc ở trên cây ký chủ
Sự nảy mầm của bào tử và hạch nấm có thể hình thành sợi trực tiếp từ
đó sinh ra bào tử phân sinh và trong trường hợp đặc biệt xâm nhiễm bằng sợi
nấm Trong một số trường hợp hạch nấm Botrytis cinerea nảy mầm và sinh ra
hậu bào tử và bào tử túi mặc dù kiểu này rất hiếm và chỉ xảy ra ở nấm
Botrytis trên nho
Các tác giả cũng cho biết nhiệt độ thích hợp cho bào tử nảy mầm là
72-77oF (22-25 oC), độ ẩm bão hoà hoặc 90-100% là điều kiện cần thiết cho bào
tử nảy mầm Thời tiết mát mẻ là điều kiện tốt nhất để nấm sinh trưởng, hình thành bào tử, giải phóng bào tử và bào tử nảy mầm Sự xâm nhiễm xảy ra tốt nhất là ở nhiệt độ 66-74 oF (18-23 oC)
Tác giả Dr Richard Crag – Pennsylva nia State Univer(1994) (Website [64]), đã thí nghiệm lây nhiễm lá thứ 3- lá thứ 5 ở đỉnh ngọn với dung dịch bào tử ở nồng độ 4000 bào tử / ml
Trang 32Theo tác giả A Hazendonk, M.Ten Hoope, T Vander Wurff, (Website [65]) biện pháp kiểm tra các giống hoa hồng về khả năng nhiễm bệnh thối xám giai đoạn sau thu hoạch Các tác giả cho biết, sự xâm nhiễm của nấm B trên cánh hoa hồng làm giảm giá trị thẩm mỹ Giữa các giống hoa hồng có sự mẫn cảm khác nhau với bệnh Hoa được phun với dung dịch bào tử 1.104 bào tử / ml…
Theo kết quả nghiên cứu của phòng chuẩn đoán bệnh cây của trường
Đại học Cornell, (Website [62]), bệnh thối xám xâm nhiễm rất rộng trên cây hoà thảo hàng năm và cây lâu năm Có một vài loại nấm gây ra bệnh và hầu
hết là do nấm Botrytis cinerea Nấm xâm nhiễm thuận lợi ở điều kiện mát
mẻ, mưa phùn vào mùa xuân Nấm Botrytis cinerea có thể xâm nhiễm nhiều
loài hoa, cây cảnh như cỏ chân ngỗng, cây thu hải đường, hoa cúc….Đối với
rau và quả nấm Botrytis cinerea có thể xâm nhiễm trên đậu, cà rốt, hành,
khoai tây, cà chua, dâu tây, cần tây…
Theo các tác giả Joseli da Silva Tatagipa, Luiz Antonio Maffia, Roberto
W Barreto, Acelino C Alfenas và Joh C Sutton (Website [66]), trong bài
Phòng trừ sinh học với nấm Botrytis cinerea trên các bộ phận của cây và hoa hồng (giống hoa hồng lai) Botrytis cinerea là một trong những nguyên nhân
gây ra thiệt hại trước và sau thu hoạch trên hoa hồng sản xuất trong nhà kính ở Brazilian State ở Minas Gerais và Sao Paolo ở Brazil bất kỳ nơi nào khác đều thấy có triệu chứng chết hoại nhỏ trên cánh hoa ở giai đoạn bảo quản, vận chuyển hoa cắt Thiệt hại về kinh tế chủ yếu là do vết bệnh trên cánh hoa của các hoa được thu hoạch mang nguồn bệnh ở nụ hoa trước khi cắt Do đó kết quả bệnh ở giai đoạn sau thu hoạch là do phòng trừ không triệt để nấm
Botrytis cinerea trên hoa hồng trồng trong nhà kính Biện pháp canh tác và
biện pháp hoá học được dùng để đối phó với bệnh nấm Botrytis cinerea trên
hoa hồng trong hệ thống sản xuất của Brazil nhưng người trồng hoa phụ thuộc chủ yếu vào thuốc trừ nấm Các kinh nghiệm về tính kháng thuốc trong phòng
trừ bệnh nấm Botrytis cinerea còn thiếu đối với người trồng hoa hồng ở Brazil
Trang 33Vi sinh vật đối kháng của nấm Botrytis cinerea có nhiều tiềm năng
trong phòng trừ bệnh thối xám trên cây hoa hồng
Theo tác giả Redmon et al [69], sử dụng Isolate của nấm men và vi khuẩn đối kháng có khả năng làm giảm số lượng vết bệnh gây ra do nấm
Botrytis cinerea trên cánh hoa
Elad et al [67] quan sát thấy Trichoderma harzianum làm giảm triệu chứng bệnh trên hoa hồng, nếu hoa hồng được thu hoạch ngay sau khi xử lý
Hammer và Marois [68] thành công trong việc sử dụng 2 nhân tố sinh
học làm giảm triệu chứng gây ra do nấm Botrytis cinerea trên hoa hồng ở kho
bảo quản (2,5oC), nhưng biện pháp không có hiệu quả khi hoa chuyển từ kho bảo quản sang nhiệt độ phòng (21oC) Biện pháp sinh học phòng trừ nấm
Botrytis cinerea trên lá, cành và các phần khác của cây vẫn chưa được công
bố, đây là nguồn lây nhiễm cho hoa hồng trong sản xuất
Theo tác giả F L Pfleger và S L Gould, (Website [70]) bệnh thối xám
do nấm Botrytis cinerea gây ra Bệnh hại trên nụ hoa làm hoa gãy gục Nụ
chuyển màu nâu hoặc xám Các nụ chớm nở cũng bị tấn công, có thể cả cành hoa bị bao chùm bởi lớp nấm màu xám Trong điều kiện thuận lợi từ mỗi vết bệnh có thể giải phóng hàng nghìn bào tử Sự xâm nhiễm xảy ra khi có nước
đọng trên lá hoặc nụ hoa Các tác giả cũng cho rằng cần cắt và tiêu huỷ những bông hoa bị bệnh ngay trước khi hoa gãy gục và chết để ngăn chặn số lượng lớn bào tử nấm phát tán gây hại Việc sử dụng thuốc trừ nấm là cần thiết
Tác giả Wilson et al (1987), (Website [71]) xác định một số hợp chất dễ bay hơi được lấy từ dịch triết của cây đào (benzal dehycle, methyl salicilate,
ethylbenzoate) mà có thể kìm hãm hoàn toàn sự phát triển của nấm Botrytis
cinerea và nấm Monilinia fructicola
Caocioni và Guizzardi (1994), (Website [71]) thông báo rằng 9 loại hợp chất từ dịch triết thực vật kìm hãm sự nảy mầm và phát triển của rất nhiều loài
nấm trong đó có Botrytis cinerea
Trang 34Theo Website [72], nấm Botrytis cinerea gây hại hầu hết các loại rau,
hoa và quả, nấm bệnh phát triển trong điều kiện thời tiết mát mẻ, ẩm độ cao,
có gió nhẹ hoặc không có gió Bệnh thối xám hoa gây đốm quả và cành Điều kiện thời tiết nhiều mây, ẩm ướt thì bộ phận bị hại bao trùm một lớp bào tử nấm màu xám, hạch nấm cứng, màu đen có thể được hình thành ở ngoài trời
nấm Botrytis qua đông trong đất, tàn dư thực vật bằng sợi nấm và hạch nấm ở
trong đất ẩm độ bão hoà (bề mặt lá, hoa ẩm ướt) thuận lợi cho quá trình nẩy mầm của bào tử, nhiệt độ mát mẻ 60-77oF (tức là từ 15-25oC), thời tiết ẩm ướt
và có gió nhẹ là điều kiện tối ưu để xâm nhiễm, phát triển, hình thành bào tử
và phát tán bào tử Nấm Botrytis cũng hoạt động ở nhiệt độ thấp và có thể gây
hại trên rau bảo quản hàng tuần hoặc hàng tháng ở nhiệt độ 0-10oC
Biện pháp phòng trừ là: Sử dụng hạt giống tốt, xử lý hạt trước khi trồng,
xử lý đất trước khi trồng Tránh trồng trên đất nặng, mật độ dầy, kém lưu thông, trồng quá sâu, bón phân quá nhiều (đặc biệt với Nitơ) và che phủ ẩm
ướt Tránh tưới ướt lá, tưới vào buổi sáng để lá sẽ khô ráo trước khi mặt trời lặn Tránh gây vết thương cơ giới, cắt bỏ những cành lá, quả bị bệnh đem đốt hoặc chôn Sử dụng thuốc trừ nấm trong điều kiện thời tiết thuận lợi cho sự
phát triển bệnh, khi phun thuốc trừ nấm phải thận trọng vì nấm Botrytis rất
nhanh hình thành chủng kháng thuốc
Theo Alan J Silverside (1998), [73] cho biết, nấm thường hình thành cơ quan bảo tồn là hạch nấm Hạch phát triển thành sợi nấm mới và tiếp tục sinh sản vô tính hình thành bào tử phân sinh Rất hiếm khi có sinh sản hữu tính hình thành quả thể Khi nấm tái sinh sản bằng phương pháp vô tính có sự thay đổi đột biến, nếu thành công thì sẽ tồn tại như là một nòi mới Điều này
có nghĩa là qua một thời gian nấm Botrytis cinerea biến đổi và thể hiện rất
khác nhau Một số đó trở thành loài đặc biệt và trong trường hợp có thể quan sát như là một loài khác biệt Giữa chúng có quan hệ với nhau nhưng chủ yếu
là các loài ký sinh chuyên tính:
Trang 35- Botrytis allii, chúng gây hại nghiêm trong trên hành trong kho bảo quản
- Botrytis narcissicola gây bệnh trên củ và lá thuỷ tiên
- Botrytis lulipae gây bệnh cháy lá tuy lip
- Botrytis fabae gây đốm socola trên đậu
Theo Website [74], nấm Botrytis có thể tấn công vào rau, quả Trên quả Botrytis không dễ dàng xâm nhập trên tế bào khoẻ nh−ng nó gây hại và
mẫn cảm trên các bộ phận khác của cây nh− các phần của hoa (cánh hoa, tràng hoa, đài hoa) Trên một cánh hoa có thể có đến 9600 triệu bào tử
Botrytis có thể thấy ở trên tất cả các vùng trồng cây ăn quả ở New Zealand,
trong đó cũng phát triển rất rộng từ cây này đến cây khác, từ vùng này đến
vùng khác, từ năm này qua năm khác Botrytis cũng gây hại đáng kể ở
California, Italy, Greece và Chile
Trang 363 đối tượng, địa điểm, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nấm hại hoa hồng, các giống hoa hồng: trắng kem, trắng Trung Quốc,
đỏ gai, phấn đỏ và nấm gây bệnh thối xám hoa hồng (Botrytis cinerea Pers.)
3.2 Địa điểm nghiên cứu
- Trung Tâm Bệnh cây nhiệt đới- trường ĐH Nông nghiệp I - Hà Nội
- Vườn tập đoàn giống hoa hồng của Phòng Hoa – Cây cảnh, Viện NC Rau quả
- Các cơ sở trồng hoa thuộc hợp tác xã Tây Tựu, huyện Từ Liệm – Hà Nội, Xã Phật Tích – huyện Tiên Du- Tỉnh Bắc Ninh, Xã Trung Nghĩa – TX Hưng Yên - tỉnh Hưng Yên
3.3 Vật liệu nghiên cứu
- Các giống hoa hồng: phấn đỏ, trắng Trung Quốc, trắng kem, đỏ gai
- Mẫu bệnh hại: các mẫu bệnh hại được thu thập trên cây hoa hồng
- Các môi trường nuôi cây nấm: PGA (Potato Glucose Agar), PCA (Potato Carot Agar), WA (Water Agar)
- Các hoá chất dùng trong thí nghiệm: cồn, axit axetic (CH3COOH), Natrihidroxit (NAOH) Các thuốc hoá học dùng thí nghiệm: Daconil 75WP, Manage 5WP, Champion 58,5WP, Anvil 5SC của công ty thuốc sát trùng Việt nam VIPESCO và công ty vật tư BVTV I sản xuất
- Các dụng cụ thiết yếu trong phòng thí nghiệm
Trang 373.4 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần và xác định mức độ phổ biến của một số bệnh nấm trên cây hoa hồng tại một số vùng trồng hoa ở Hà Nội và phụ cận (mô tả
và chụp ảnh triệu chứng)
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh học của nấm thối xám
(Botrytis cinerea) gây bệnh trên cây hoa hồng (nhiệt độ, pH môi trường ) và
các thí nghiệm lây bệnh nhân tạo
- Điều tra diễn biến của bệnh nấm thối xám (Botrytis cinerea) trên một
số vùng trồng hoa hồng thuộc địa bàn Hà Nội và phụ cận
- Tìm hiểu một số yếu tố sinh thái kỹ thuật ảnh hưởng đến sự phát triển
bệnh thối xám (Botrytis cinerea) (giống, địa thế đất, mật độ trồng, tuổi cây,
phương pháp uốn vít cành + cắt tỉa, chất liệu bao hoa trên đồng ruộng)
- Tìm hiểu ảnh hưởng của một số thuốc hoá học đối với nấm (Botrytis
cinerea), gây bệnh trên cây hoa hồng trong điều kiện phòng thí nghiệm và
ngoài đồng ruộng
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp điều chế môi trường
- Môi trường PGA (Potato Glucose Agar)
Trang 383.5.2 Phương pháp điều tra và nghiên cứu ngoài đồng ruộng
- Điều tra thành phần bệnh hại theo phương pháp điều tra phát hiện sâu bệnh hại cây trồng của Cục Bảo vệ thực vật (1995) [1] và tác giả Lê Lương Tề (1998) [13]
- Việc điều tra thành phần được tiến hành theo phương pháp 5 điểm chéo góc cố định và điều tra bổ sung theo phương pháp ngẫu nhiên Chọn từ 5-7 ruộng hoa hồng đại diện Trên mỗi ruộng tiến hành điều tra theo 5 điểm chéo góc Mỗi
điểm điều tra 5 cây cố định Đánh dấu triệu chứng để theo dõi sự thay đổi của triệu chứng bệnh Ngoài ra, điều tra phát hiện bệnh theo băng hoặc theo hàng ngẫu nhiên
Trang 39- Điều tra diễn biến bệnh thối xám (Botrytis cinerea) hại hoa hồng Chọn
từ 3-5 ruộng hoa hồng đại diện Điều tra cố định theo phương pháp 5 điểm chéo góc Mỗi điểm điều tra 5 cây
- Theo dõi định kỳ10 ngày một lần, chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)
- Điều tra ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái kỹ thuật đến sự phát sinh, phát triển của bệnh trên đồng ruộng, chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)
3.5.2.1 Tình hình bệnh thối xám (Botrytis cinerea) hại hoa hồng ở một số
vùng trồng hoa thuộc Hà Nội và phụ cận
- Tiến hành điều tra trên 4 vùng đại diện: Hưng Yên, Viện NC Rau
quả, Bắc Ninh, Tây Tựu, trên giống hoa hồng phấn đỏ 2 năm tuổi trồng tháng 3/2003
- Điều tra định kỳ 10 ngày một lần theo phương pháp 5 điểm chéo góc Mỗi điểm 5 cây cố định Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)
3.5.2.2 ảnh hưởng của các giống hoa hồng đến bệnh thối xám
Thí nghiệm gồm 4 công thức, bố trí theo kiểu RCB (khối ngẫu nhiên
đầy đủ), ba lần nhắc lại Diện tích ô thí nghiệm 25 m2
+ Công thức 1 (CT 1): Giống hoa hồng trắng kem
+ Công thức 3: Giống hoa hồng Trung Quốc
+ Công thức 3: Giống hoa hồng phấn đỏ
+ Công thức 4: Giống hoa hồng đỏ gai
(Hồng 2 năm tuổi: trồng tháng 3/2003, tại Viện NC Rau quả)
- Điều tra định kỳ 10 ngày một lần theo phương pháp 5 điểm chéo góc Mỗi điểm 5 cây cố định Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)
3.5.2.3 ảnh hưởng của địa thế đất đến sự phát sinh, phát triển bệnh thối xám
Thí nghiệm điều tra trờn 2 địa thế đất:
+ CT 1: Địa thế đất cao(đất trồng màu)
+ CT 2: Địa thế đất thấp (đất trồng lúa)
Trang 40Trên giống hồng phấn đỏ, tại xã Trung Nghĩa- thị xã Hưng Yên (Hồng
2 năm tuổi: trồng tháng 3/2003) Cách điều tra như phần 3.5.2.2 Chỉ tiêu theo dõi: TLB (%), CSB (%)
3.5.2.5 ảnh hưởng của tuổi hồng đến bệnh thối xám
Thí nghiệm trên 2 công thức, bố trí theo kiểu RCB (khối ngẫu nhiên đầy
đủ), ba lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 25 m2
+ CT 1: Cắt tỉa cành lá bệnh kết hợp uốn vít cành
+ CT 2: Không cắt tỉa cành lá bệnh, không uốn vít cành