4.1.3 So sánh tỉ lệ ñàn bệnh virus ấu trùng túi trên ong Apis mellifera tại Sơn La, Hòa Bình và trên ong Apis cerana tại Hà Nội, Hải 4.2 Khả năng lây nhiễm và ảnh hưởng của bệnh virus ấ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
ðỖ HUY TRÌNH
NGHIÊN CỨU BỆNH VIRUS ẤU TRÙNG TÚI
HẠI ONG MẬT Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC
VIỆT NAM VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng ñược ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam ñoan rằng mọi sự giúp ñỡ trong việc thực hiện luận văn này ñã ñược cám ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
ðể hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản thân tôi ñã nhận ñược sự giúp ñỡ tận tình của các thầy cô giáo, gia ñình, bạn bè và ñồng nghiệp
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS.TS
Hà Quang Hùng và TS Phạm Hồng Thái ñã dành nhiều thời gian và công sức chỉ dẫn, giúp ñỡ và ñộng viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện ñề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo bộ môn Côn trùng – Khoa nông học và Thầy cô giáo Viện ñào tạo sau ñại học - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã giúp ñỡ tạo ñiều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện ñề tài
Tôi xin cảm ơn sự giúp ñỡ của lãnh ñạo ñịa phương và các chủ trại ong, các gia ñình nuôi ong tại Hà Nội, Hòa Bình, Sơn La và Hải Dương ñã tạo mọi ñiều kiện về thời gian và ñịa ñiểm cho tôi thực hiện ñề tài
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia ñình, bạn bè và ñồng nghiệp ñã ñộng viên, giúp ñỡ tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 25 tháng04 năm 2011
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 44.1 Diễn biến tình hình bệnh virus ấu trùng túi trên ong Apis
mellifera tại Sơn La, Hòa Bình và Apis cerana tại Hà nội Hải
4.1.1 Diễn biến tình hình bệnh virus ấu trùng túi trên ñàn ong Apis
mellifera trong năm 2010-2011 tại Sơn La và Hòa Bình 25
4.1.2 Diễn biến tình hình bệnh virus ấu trùng túi trên ñàn ong Apis
cerana trong năm 2010-2011 tại Hà Nội và Hải Dương 27
Trang 54.1.3 So sánh tỉ lệ ñàn bệnh virus ấu trùng túi trên ong Apis mellifera
tại Sơn La, Hòa Bình và trên ong Apis cerana tại Hà Nội, Hải
4.2 Khả năng lây nhiễm và ảnh hưởng của bệnh virus ấu trùng túi ñến
một số ñặc ñiểm sinh học của ong Apis mellifera và Apis cerana 32
4.2.1 Khả năng lây nhiễm bệnh virus ấu trùng túi trên các ñàn ong Apis
4.2.2 Ảnh hưởng của bệnh virus ấu trùng túi ñến một số ñặc ñiểm sinh
4.3 Thử nghiệm một số biện pháp phòng và trị bệnh virus ấu trùng túi 38
4.3.1 Ảnh hưởng của một số loại chế phẩm hóa học ñến các ñặc ñiểm
4.3.2 Thử nghiệm phòng bệnh virus ấu trùng túi bằng chế phẩm hóa học 45
4.3.3 Thử nghiệm ñiều trị bệnh virus ấu trùng túi bằng kỹ thuật sinh học 48
4.3.4 Thử nghiệm ñiều trị bệnh virus ấu trùng túi bằng chế phẩm hóa học 54
Trang 6Bcom-Nano B-complex kết hợp với Nano bạc
Bcom-Pro B-complex kết hợp với White protein
Nano-VitaC Nano bạc kết hợp Vitamin C
Pro-VitaC White protein kết hợp Vitamin C
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
4.1 Diễn biến tỉ lệ ñàn bệnh và mức ñộ bệnh virus ấu trùng túi trên ñàn
ong Apis mellifera trong năm 2010-2011 tại Sơn La và Hòa Bình 26
4.2 Diễn biến tỉ lệ ñàn bệnh và mức ñộ bệnh virus ấu trùng túi trên ñàn
ong Apis cerana trong năm 2010-2011 tại Hà Nội và Hải Dương 28
4.3 Diễn biến tỉ lệ ñàn bệnh virus ấu trùng túi trên ong Apis mellifera
tại Sơn La, Hòa Bình và Apis cerana tại Hà nội Hải Dương trong
4.4 Số ñàn bệnh và tỉ lệ ấu trùng bệnh ở các ñàn ong Apis mellifera
và Apis cerana sau lây nhiễm bệnh virus ấu trùng túi 33
4.5 Thế ñàn, số lượng nhộng và tỉ lệ dọn vệ sinh của ñàn ong trước
4.6 Tỉ lệ chết ấu trùng của ñàn ong Apis mellifera và Apis cerana sau
4.9 Tỉ lệ dọn vệ sinh sau 16h của ñàn ong Apis mellifera và Apis
cerana sau khi sử dụng các chế phẩm hóa học 44
4.10 Tỉ lệ ấu trùng bệnh của ñàn ong Apis mellifera sau khi cho ăn chế
4.11 Tỉ lệ ấu trùng bệnh của ñàn ong Apis cerana sau khi cho ăn chế
4.12 Tỉ lệ ấu trùng bệnh virus ấu trùng túi của ñàn ong Apis mellifera
sau ñiều trị bằng biện pháp kỹ thuật sinh học 49
Trang 84.13 Tỉ lệ ấu trùng bệnh virus ấu trùng túi của ñàn ong Apis cerana
sau ñiều trị bằng biện pháp kỹ thuật sinh học 50
4.14 Sức ñẻ trứng của ñàn ong Apis mellifera sau ñiều trị bằng biện
4.15 Sức ñẻ trứng của ñàn ong Apis cerana sau ñiều trị bằng biện
4.16 Tỉ lệ ấu trùng bệnh và hiệu quả ñiều trị bệnh virus ấu trùng túi
trên ñàn ong Apis mellifera sau ñiều trị bằng chế phẩm hóa học 55
4.17 Tỉ lệ ấu trùng bệnh virus ấu trùng túi của ñàn ong Apis cerana
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
4.1 Diễn biến tỉ lệ ñàn bệnh và mức ñộ bệnh virus ấu trùng túi trên ñàn
ong Apis mellifera trong năm 2010-2011 tại Sơn La và Hòa Bình 27
4.2 Diễn biến tỉ lệ ñàn bệnh và mức ñộ bệnh virus ấu trùng túi trên ñàn
ong Apis cerana trong năm 2010-2011 tại Hà Nội và Hải Dương 29
4.3 Diễn biến tỉ lệ ñàn bệnh virus ấu trùng túi trên ong Apis mellifera
tại Sơn La, Hòa Bình và Apis cerana tại Hà nội Hải Dương trong
4.4 Tỉ lệ ấu trùng bệnh virus ấu trùng túi của ñàn ong Apis mellifera
4.5 Thế ñàn của ñàn ong Apis mellifera và Apis cerana trước và sau
4.6 Số lượng nhộng của ñàn ong Apis mellifera và Apis cerana
4.7 Tỉ lệ dọn vệ sinh của ñàn ong Apis mellifera và Apis cerana
4.8 Tỉ lệ chết ấu trùng của ñàn ong Apis mellifera và Apis cerana
4.9 Thế ñàn của ñàn ong mật sau khi sử dụng các chế phẩm hóa học 42
4.10 Sức ñẻ trứng của ñàn ong Apis mellifera và Apis cerana sau khi
4.11 Tỉ lệ dọn vệ sinh sau 16h của ñàn ong Apis mellifera và Apis
cerana sau khi sử dụng các chế phẩm hóa học 45
4.12 Tỉ lệ ấu trùng bệnh của ñàn ong Apis mellifera sau khi cho ăn chế
Trang 104.13 Tỉ lệ ấu trùng bệnh của ñàn ong Apis cerana sau khi cho ăn chế
4.14 Tỉ lệ ấu trùng bệnh virus ấu trùng túi của ñàn ong Apis mellifera
sau ñiều trị bằng biện pháp kỹ thuật sinh học 49
4.15 Tỉ lệ ấu trùng bệnh virus ấu trùng túi của ñàn ong Apis cerana
sau ñiều trị bằng biện pháp kỹ thuật sinh học 50
4.16 Sức ñẻ trứng của ñàn ong Apis mellifera sau ñiều trị bằng biện
4.17 Sức ñẻ trứng của ñàn ong Apis cerana sau ñiều trị bằng biện
4.18 Tỉ lệ ấu trùng bệnh virus ấu trùng túi của ñàn ong Apis mellifera
4.19 Tỉ lệ ấu trùng bệnh virus ấu trùng túi của ñàn ong Apis cerana
Trang 111 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Nghề nuôi ong cung cấp cho con người các sản phẩm có giá trị cao như mật ong, phấn hoa, sữa chúa, keo ong, nọc ong Mật ong, phấn hoa là sản phẩm chính thu từ ong mật, nó không những có tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho con người (1kg mật ong cho 3150 kcal) mà còn là phương thuốc quí chữa bệnh Sáp ong, keo ong, nọc ong cũng là sản phẩm có giá trị dùng ñể chữa bệnh và là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp (Nguyễn Văn Long và cộng sự, 2005)
Ong mật làm tăng năng suất, phẩm chất cây trồng thông qua việc thụ phấn Có khoảng trên 60% cây nông nghiệp cần ong thụ phấn Năng suất của các cây ăn quả có ong thụ phấn có thể tăng từ 20 – 30% (Nguyễn Văn Long
và cộng sự, 2005)
Nghề nuôi ong tận dụng ñược sức lao ñộng, tạo thêm việc làm cho người lao ñộng Hiện nay, nghề nuôi ong ñang ñược phát triển rộng rãi ở các nước trên thế giới như ở Mỹ, Ý, ðức Nuôi ong cần ít vốn ñầu tư, không cần nhiều ñất ñai, nhà xưởng mà hiệu quả kinh tế thu ñược cao hơn rất nhiều Trên thế giới ước tính có khoảng 60.000.000 ñàn ñược quản lý bởi 6.500.000 người nuôi ong, ở châu Âu 15.000.000 ñàn và 700.000 người nuôi ong, ở Ý 1.200.000 ñàn và 75.000 người nuôi ong (Cirone, 2008)
Những năm gần ñây, tình hình sâu bệnh hại ong diễn biến rất phức tạp, gây nên tình trạng báo ñộng về sự “Sụp ñổ ñàn ong không rõ nguyên nhân- Colony Collapse Disorder - CCD” ở tất cả các châu lục (Neumann & Carreck, 2010), trong ñó có ñóng góp không nhỏ của virus gây bệnh trên ong Các thiệt hại lên ñến 1 tỷ euro/ năm, trong ñó Mỹ là 20 triệu, EU là 500 triệu, Ý là 40 triệu, Trung Quốc là 70 triệu euro/năm Thiệt hại từ 30-50% giá trị sản phẩm
Trang 12ong, trong ựó 50% số tổn thất có biểu hiện triệu chứng (Cirone, 2008) Hàng loạt các hội nghị, hội thảo ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế ựã ựược tổ chức
ựể bàn về vấn ựề CCD nhằm tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục Theo các báo cáo, thiệt hại trung bình hàng năm ở Mỹ 30%, Châu Âu 18%-53%, Trung đông 10-85%, Nhật Bản 25% (Neumann, 2009; Neumann & Carreck, 2010)
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt ựới gió mùa, khắ hậu nóng ẩm mưa nhiều, thảm thực vật phong phú ựa dạng đó là ựiều kiện rất tốt ựể phát triển nghề nuôi ong mật, nhưng cũng là ựiều kiện thuận lợi cho các bệnh ong phát triển (Phùng Hữu Chắnh, 2008)
Nghề nuôi ong của nước ta có từ lâu ựời, từ năm 1964 nhờ áp dụng phương pháp nuôi ong hiện ựại bằng thùng cải tiến nên số lượng ựàn ong và năng suất mật ngày càng tăng đến nay, nghề nuôi ong càng phát triển mạnh
từ Bắc tới Nam, nhưng ở miền Bắc tập trung chủ yếu là Sơn La, Hòa Bình,
Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên và Bắc Giang (Phùng Hữu Chắnh và Phạm Thị Huyền, 2004)
Khi nuôi ong di chuyển phát triển mạnh thì sự bùng phát và lây lan bệnh dịch cũng rất cao Bệnh virus ấu trùng túi (Sacbrood virus Ờ SBV) xuất
hiện ở Việt Nam từ năm 1974 trên ựàn ong nội Apis cerana và ựến nay vẫn
còn gây hại nghiêm trọng Từ năm 2006 ựến nay, bệnh còn bùng phát mạnh ở
các ựàn ong ngoại Apis mellifera trên phạm vi cả nước (Phùng Hữu Chắnh,
2008)
Bệnh virus ấu trùng túi gây tổn thương ựáng kể về số lượng ựàn ong của người nuôi ong Khi mắc bệnh nặng, ựàn ong có thể bốc bay sớm hơn so với các bệnh khác Nguyên nhân gây bệnh là do virus nên không một loại thuốc kháng sinh nào có thể ựiều trị ựược nên ựược coi là bệnh nguy hiểm nhất trong nghề nuôi ong (Phùng Hữu Chắnh và Vũ Văn Luyện, 1999)
Trang 13Bệnh này cũng là ñối tượng thuộc diện phải kiểm dịch trong danh mục ñối tượng kiểm dịch ñộng vật, sản phẩm ñộng vật theo Quyết ñịnh số 45/2005/Qð-BNN ngày 25/07/2005 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Vì vậy, nghiên cứu, theo dõi tình hình bệnh, khả năng lây nhiễm của bệnh ñể từ ñó ñưa ra các biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả, không sử dụng thuốc kháng sinh là rất cần thiết của ngành ong trong giai ñoạn hiện nay
Xuất phát từ những vấn ñề nêu trên, nhằm góp phần thúc ñẩy nghề nuôi ong mật phát triển, giảm thiểu rủi ro, nâng cao năng suất và phẩm chất sản
phẩm, chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài “Nghiên cứu bệnh virus ấu trùng
túi hại ong mật ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam và biện pháp phòng trị”
1.2 Mục ñích, yêu cầu
1.2.1 Mục ñích
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình phát sinh, khả năng lây nhiễm của
bệnh virus ấu trùng túi trên ong mật (Apis cerana và Apis mellifera) ñề xuất
một số biện pháp phòng và trị bệnh có hiệu quả
1.2.2 Yêu cầu
- ðiều tra và ñánh giá tình hình dịch bệnh virus ấu trùng túi trên các ñàn ong mật (Apis cerana và Apis mellifera) nuôi tại một số tỉnh ở miền Bắc Việt Nam
- Nghiên cứu khả năng lây nhiễm của virus ấu trùng túi trên các ñàn
ong (Apis cerana và Apis mellifera)
- Nghiên cứu, thử nghiệm một số biện pháp phòng và trị bệnh virus ấu trùng túi trên ong mật
Trang 141.3 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 152 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.1.1 Những vấn ñề chung về bệnh virus ấu trùng túi
* Nguyên nhân
Bệnh virus ấu trùng túi (Sacbrood virus - SBV) ñược nghiên cứu ñầu
tiên bởi White ở Mỹ vào năm 1917 (dẫn theo Aubert et al., 2008) ðây là bệnh truyền nhiễm do virus có tên khoa học là Morator aetotulas Holmes gây
ra Ban ñầu, virus này ñược xếp vào họ Picornaviridae, ñến năm 2002 ñược
ICTV (International Committee on Taxonomy of Viruses) xếp vào ñơn vị
phân loại mới là chi Iflavirus thuộc siêu họ Picornavirus-like (Christian et al., 2002; Aubert et al., 2008)
Ở khu vực Châu Á, theo các tài liệu ñã công bố thì SBV có 3 chủng phổ
biến, trong ñó 1 chủng trên Apis mellifera và 2 chủng trên Apis cerana là CSBV
(Chinese-Sacbrood virus) và TSBV (Thai-Sacbrood virus) ðiểm phân biệt các
chủng virus ấu trùng túi: SBV trên Apis mellifera là ổn ñịnh và lơ lửng trong
ñệm pha loãng, trong khi TSBV trên Apis cerana là không ổn ñịnh và kết tủa khi
Vỏ capsid: tương tự các nhóm virus Picorna-like
Protein: gồm VP1, VP2 và VP3 có trọng lượng 26, 28, 31 kDa
Mật ñộ nổi trong CsCl (g/cm 3) ở pH 7-9 là 1.33-1.35, ở E260/E280 : 1,67
Trang 16(TSBV: trong dung môi hữu cơ ether, chloroform là 1,35 g/ml )
Hệ số lắng trong ñơn vị diện tích (S20W): 157-160 (TSBV 1605)
Virus ấu trùng túi có phân bố rộng, có ở các ñàn ong Apis mellifera trên
mọi lục ñịa Sau khi bệnh này ñược tìm thấy ở Mỹ, những năm tiếp theo hàng loạt các quốc gia cũng ñã ñược phát hiện: Canada, Australia, ðan Mạch, Anh, Thụy ðiển, Pháp, Liên Xô cũ, Ai Cập, New Zealand, New Guinea, Trung Quốc, có thể nói gần như tất cả các nước trên khắp thế giới có nuôi ong mật
ñã tìm thấy virus này (Aubert et al., 2008)
Trong những năm gần ñây bằng kỹ thuật hiện ñại, các nhà khoa học ñã xác ñịnh ñược tỉ lệ nhiễm SBV khá lớn trên các ñàn ong, tốc ñộ lây lan rất
nhanh và một số nơi ñã gây ảnh hưởng nghiêm trọng ñến ñàn ong (Topley et al., 2005; Gauthier et al., 2007; Haddad et al., 2008; Kim et al., 2008; Rana & Rana, 2008; Liu et al., 2010) Tỉ lệ nhiễm bệnh ñược xác ñịnh bằng kỹ thuật RT-PCR ở một số quốc gia như sau: Pháp 86% (Tentcheva et al., 2004), ðức
37,8% (Janke & Rosenkranz, 2009), Cộng hòa Moldova 54% (Toderas &
Gauthier, 2008), Jordan 8% (Haddad et al., 2008), Áo 49% (Berényi et al.,
2006, Derakhshifar et al., 2009), ðan Mạch 81,3% (Nielsen et al., 2008)
Ở khu vực châu Á, bệnh virus ấu trùng túi có lẽ là bệnh do virus phổ
Trang 17biến nhất trên ong mật và gây tổn thất rất lớn cho nghề nuôi ong (FAO, 2006) Theo R.S Rana và R Rana (2008), bệnh ñã ảnh hưởng từ 0,39% ñến 5,20% sức khoẻ của các ñàn ong Tại Trung Quốc bệnh ñược ñánh giá là rất nguy hại
có thể dẫn ñến mất 30% ñến 90% các ñàn ong trong các vụ mật Theo Liu và cộng sự (2010), bệnh ñã gây ra một mối ñe dọa nghiêm trọng cho ong mật
Apis cerana và có xu hướng làm suy giảm ñàn ong và thậm chí sụp ñổ toàn bộ
ít phấn hoa, ñầu lão hóa và chết (Aubert et al., 2008)
Bình thường ấu trùng ong mật chuyển thành con nhộng sau 4 ngày kể
từ khi ñã ñược vít nắp bởi các ong thợ Khi bị bệnh, ấu trùng không chuyển thành con nhộng sau 4 ngày vít nắp, chúng vẫn kéo dài cơ thể dọc theo chiều lưng trong các tổ (khác biệt với bệnh thối ấu trùng Châu Âu là phần lớn cơ thể xoắn lại tại một vị trí xác ñịnh trên cơ thể) Ấu trùng bệnh hình thành chất
Trang 18lỏng tích lũy giữa cơ thể và dưới da của nó, sau ñó tạo thành túi, vì vậy ñặt tên là bệnh ấu trùng túi
Các ấu trùng bình thường có màu trắng ngà nhưng khi bị bệnh thì phần trước của ấu trùng, bao gồm ñầu và ngực, là phần ñầu tiên thay ñổi màu Màu
ấu trùng thay ñổi từ màu trắng sáng ñến vàng nhạt Ở giai ñoạn này, ñó là những dấu hiệu ñặc biệt nhất Sau khi chết một vài ngày, ấu trùng sẽ trở thành màu nâu sẫm và cuối cùng là màu ñen Khi chuyển sang màu nâu ấu trùng bắt ñầu khô dần khô trong 10-15 ngày nếu không ñược loại bỏ, lớp vỏ hình thành các nếp nhăn Sau khi chết vài ngày thì khô dẹt có dạng vảy hình chiếc thuyền mắc kẹt ở ñáy tổ, có liên kết lỏng lẻo với lỗ tổ nên có thể dễ dàng gắp bỏ và chúng và trở nên giòn theo thời gian Nếu gắp bỏ ấu trùng bệnh từ tổ của chúng có thể dễ dàng nhận thấy rằng lớp vỏ của chúng là khá dai tạo thành túi
và bên trong của túi có chất màu trắng ñục hoặc màu vàng, có khi cả ấu trùng giống như túi nước, có thể chảy nước (Ball, 1999; FAO, 2006; Trend, 2007)
Một triệu chứng nữa có thể dễ dàng nhận thấy là khi bị bệnh thì ñàn ong thưa quân, bánh tổ có một số vít nắp trũng xuống, có một hoặc vài lỗ thủng như kim châm do ong thợ cắn nắp tổ ñể lộ ra ấu trùng chết, ấu trùng bị bệnh nhô ñầu nhọn lên khỏi lỗ tổ và nghiêng về một bên thành tổ tạo thành một “móc ấu trùng” (nên bệnh này con ñược gọi là bệnh nhọn ñầu) Ấu trùng bệnh chết không có mùi, khác với bệnh thối ấu trùng Châu Âu là có mùi chua (Trend, 2007)
*Tồn tại và khả năng lây nhiễm
Virus tồn tại trong ấu trùng, nhộng, ong trưởng thành (Ball, 1999), tinh
trùng của ong ñực và trong trứng của ong chúa (Chen et al., 2006b) Ngoài ra,
virus còn ñược phát hiện trong nguồn thức ăn của ong ở mật ong, phấn hoa và
sữa ong chúa của ñàn bị bệnh (Shen et al., 2005)
Khả năng gây nhiễm của virus gây bệnh ấu trùng túi rất lớn Theo
Trang 19Borchert (1966) một ấu trùng chết có thể lây nhiễm cho 1 triệu ấu trùng và có thể làm chết 3000 ấu trùng lành trong vòng hơn một tuần Theo Bailey (1981) chất lỏng trong ấu trùng chết bởi bệnh ấu trùng túi có chứa 1mg virus có thể gây nhiễm cho toàn bộ ấu trùng ong thợ của 1000 ựàn khoẻ Thực nghiệm lây nhiễm SBV lên ấu trùng cho thấy lên ựến 90% ấu trùng ựã chết với các triệu
chứng ựiển hình (dẫn theo Aubert et al., 2008)
Cũng giống như các virus khác ở ong, SBV có thể vẫn trong trạng thái tiềm ẩn trong các cá thể và có thể lây lan trong quần thể ong ở mức nhiễm trùng thấp đàn ong có thể chịu ựựng ựược lượng virus rất cao mà không biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh Virus tồn tại và nhân lên trong ký chủ,
nếu ựiều kiện thắch hợp thì có thể phát sinh, phát triển thành dịch (Gauthier et al., 2007)
đặc biệt, SBV có thể lây nhiễm ựồng thời với các virus khác Trong các mẫu ong nghiên cứu tại Massachusetts, tỉ lệ xuất hiện ựồng thời SBV và BQCV là 4,2%, SBV và DWV là 1%; ựồng thời SBV, BQCV và DWV là
11.8% (Welch et al., 2009)
* Con ựường lây nhiễm
Virus tồn tại trong nhiều nguồn khác nhau nên có thể ựược lan truyền qua nhiều con ựường Trong ựàn ong, nói chung có 2 con ựường truyền virus bệnh ong là truyền ngang và truyền dọc Truyền ngang là truyền giữa các cá thể ong trong cùng một thế hệ và truyền dọc là truyền từ mẹ sang con (Chen
et al., 2006a)
Theo Bailey (1969), bệnh không lây lan giữa ong trưởng thành nhưng các báo cáo mới ựây chỉ ra rằng những con ong thợ như là vectơ truyền bệnh chắnh Virus tắch luỹ trong tuyến hàm (hypopharyngeal) của ong thợ và truyền qua thức ăn ựến ấu trùng hoặc ựến các ong trưởng thành khác (ong chúa, ong ựực và các ong thợ khác) thông qua hoạt ựộng nuôi dưỡng, chăm sóc của
Trang 20chúng (dẫn theo Shen et al., 2005)
Ong ựực và ong chúa trưởng thành bị nhiễm virus thông qua thức ăn hoặc bị nhiễm ngay từ khi còn là ấu trùng và có thể lây truyền qua ựường sinh
sản (Chen et al., 2006a)
SBV còn có thể ựược lan truyền nhờ các vectơ như Varroa (Tentcheva
et al., 2004), Bọ cánh cứng nhỏ (Aethina tumida) (Eyer et al., 2009)
Sự lây lan chéo của virus có thể là do chắnh những người nuôi ong Những dụng cụ bảo hộ, dụng cụ làm ong nếu không ựược vệ sinh sạch sẽ cũng
có thể là tác nhân lây bệnh Nhập ong, viện cầu từ ựàn này ựến ựàn khác, nước uống bị ô nhiễm, thiết bị nuôi ong bị ô nhiễm và gió cũng có thể truyền virus Mật ong chắnh là nơi chứa các SBV lắ tưởng nhất và có thể lây truyền trong phạm vi rộng Sự lây lan của ấu trùng túi từ ựàn này ựến ựàn khác còn là do việc trao ựổi các thiết bị nhiễm hay do các con ong ựi cướp mật (Trend, 2007)
* Phát sinh phát triển bệnh
Bệnh xuất hiện phụ thuộc vào ựiều kiện bên trong và bên ngoài các ựàn ong đàn ong với số lượng quân ắt thì dễ bị nhiễm virus vì chúng không thể thực hiện ựược tất cả các vai trò trong việc duy trì cuộc sống tốt của ựàn
(Teixeira et al., 2008; Kozak et al., 2010)
Quá trình lây nhiễm phụ thuộc vào khả năng tự vệ của ựàn ong và khả năng lấy mật của ựàn ong, trong ựó hành vi lấy mật như là một tác nhân chắnh
truyền nhiễm các chất pha loãng có hiệu lực (Harriet et al., 2003)
điều kiện khắ hậu khác nhau thì khả năng phát sinh, phát triển bệnh cũng khác nhau Bệnh thường bùng phát vào các mùa ấm, ựộ ẩm cao và giảm vào mùa lạnh Với ong ngoại, dịch bệnh xảy ra phổ biến nhất là vào mùa xuân
và ựầu mùa hè hoặc khi nguồn thức ăn có hạn Nguyên nhân có thể xác ựịnh
là khi ựó lượng ong non trong ựàn giảm, mất cân bằng trong phân công công việc trong ựàn, khả năng chăm sóc ấu trùng kém (Bailey & Ball, 1991)
Trang 21Theo Lun (2006), ở Trung Quốc bệnh phổ biến hơn trong mùa xuân và ựầu mùa hè (tháng 5-6) Tại miền Nam Trung Quốc, tỷ lệ mắc bệnh virus ấu trùng túi hại ong mật có hai ựỉnh hàng năm, Quảng đông và Phúc Kiến trong tháng 3-4 và tháng 11-12; Giang Tây, Hồ Nam, trong tháng 4 hoặc 5 và tháng 10-11 Bệnh khởi phát muộn ở phắa Bắc, thường xuất hiện trong tháng 5-6 trong ựiều kiện mùa hè và giảm dần Nếu ong mạnh, ựiều kiện tốt có thể tự khỏi bệnh, nhưng vào mùa thu hay mùa xuân tới sẽ tái phát
Bệnh này thường thường phát sinh và phát triển theo chu kỳ nhất ựịnh
ở mỗi ựịa phương Theo các nhà khoa học từ Viện nghiên cứu và ựào tạo ong Pune (Central Bee Research and Training Institute, Pune) thì TSBV có một
chu kỳ khoảng 4-5 năm (Verma et al., 1990)
2.1.2 Phòng và trị bệnh virus ấu trùng túi
* Phòng bệnh
Không có vắc-xin, thuốc có sẵn cho bất kỳ bệnh nào do virus ở ong mật (EMA, 2010) Vì vậy, thực hành vệ sinh tốt ựể hạn chế hoặc ngăn chặn sự lây lan của bệnh là chìa khoá ựể thành công trong công tác phòng chống (Trend, 2007) Khi bị nhiễm virus thì thay cầu và thay chúa là tốt nhất và thiết thực
nhất (Ellis, 2008; Kozak et al., 2010)
Theo khuyến cáo của các chuyên gia thì phòng và kiểm soát bệnh là chắnh, thực hiện quản lý tổng hợp trong một khoảng thời gian Công việc này phải tiến hành thường xuyên, ựồng thời với quy trình kỹ thuật nuôi ong Bao gồm: chọn ựịa ựiểm ựặt ong phù hợp, vệ sinh thùng, cầu, dụng cụ nuôi ong, chọn giống tốt nuôi ong giống kháng bệnh từ việc lựa chọn lĩnh vực ong kháng cao, Ầ (Ellis, 2008)
Thứ nhất, vào ựầu mùa xuân và cuối mùa thu, nhiệt ựộ bên ngoài thấp, nên chú ý ựến cách nhiệt, giữ ấm cho ong
Thứ hai, khi những nguồn thức ăn thấp phải bổ sung chất dinh dưỡng,
Trang 22phấn hoa, nước hoa quả, xirô ñường, ñể ñảm bảo cuộc sống bình thường, ong tăng cường sức ñề kháng với bệnh tật
Thứ ba, với thùng, cầu và dụng cụ nuôi ong, có thể dùng NaOH 1-2%
ñể rửa khử trùng hoặc ngâm trong dung dịch thuốc khử trùng Formaldehyde 4% Dùng formalin công nghiệp (hoặc 36% dung dịch formaldehyde) 1 : 2 phần nước, quét lên thành thùng ong, có thể hun khói 20-30 phút ñể tiêu diệt
Thứ bảy, theo dõi sự phát triển của bệnh và có các biện pháp hiệu quả
ñể kiểm soát bệnh Ví dụ như nhốt tạm thời ong chúa vào lồng, cho ăn ñể tăng
số lượng ong thợ dọn vệ sinh, loại bỏ ong thợ chết ñể giảm sự tích tụ của
các mầm bệnh, làm gián ñoạn các chuỗi lây truyền (Harriet et al., 2003)
Theo Aubert và cộng sự (2008) kiểm soát bệnh này chỉ có thể dựa vào công tác dự phòng và các biện pháp gián tiếp bao gồm:
a) duy trì khả năng kháng bệnh bẩm sinh của ong
b) kiểm soát sự lây lan của mầm bệnh, ngăn chặn virus xâm nhiễm vào các khu vực chưa bị bệnh, hạn chế mức thấp nhất sự lây lan giữa các ñàn ong trong cùng một trại
c) ngăn chặn kịp thời bằng các biện pháp kỹ thuật, biện pháp hóa học, không ñể mầm bệnh phát triển rộng
Những năm gần ñây, một hướng nghiên cứu mới ñể phòng bệnh ñã ñược nhiều nhà khoa học quan tâm Thứ nhất là tăng sức ñề kháng của ñàn ong bằng việc sử dụng các chất kích kháng, ñàn ong khỏe, sinh trưởng phát
Trang 23triển tốt Ở Hy Lạp, người ta trộn hỗn hợp dung dịch nước trái cây Aloe vera Gel No 15 (nước trái cây Aloe vera số 15 chứa 22 axit amin), Vitamin B12 và phấn hoa dạng viên nén (Bee pollen tablets No 26) cho ong ăn, nên ñàn ong rất khỏe mạnh và không bị bệnh (Aloevera center, 2008)
Thứ hai là tạo giống mới kháng bệnh hoặc chịu bệnh cao Sự ña dạng
về phân loài của ong mật tại cùng một thời gian ở Châu Âu, Châu Phi, Tây Á
và quốc gia khác với nhiều loài ong bản ñịa cho thấy một tiềm năng rất lớn ñể tạo ra các giống ong kháng bệnh Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo ñang ngày càng phát triển và áp dụng rộng rãi cũng mang lại một hi vọng rất lớn trong tương
lai (Aubert et al., 2008)
Ở Trung Quốc ñã thành công trong việc nghiên cứu, lựa chọn giống
ong A cerana cerana ñể phòng chống bệnh CSBV Các nhà khoa học ñã lây
bệnh cho các ñàn ong ở các khu vực khác nhau của tỉnh Giang Tây, và các ñàn ong có sức ñề kháng mạnh mẽ ñã ñược chọn ñể giống con ong chúa và các ong ñực là thế hệ ñầu tiên (F1) Bằng cách tương tự như vậy với các ñàn F1 ñể thu ñược thế F2, với các ñàn F2 ñể thu ñược F3 và cuối cùng ñược F6 Tiến hành phân tích tỷ lệ mắc bệnh, khả năng sinh sản, bảy chỉ số hình thái học và tính ña hình ở các thế hệ cho thấy: tỷ lệ mắc bệnh của F3 thấp hơn ñáng kể so với ñối chứng, khả năng nhiễm bệnh của F6 thấp hơn so với F3, khả năng sinh sản của F6 tăng 6,56% so với F3, và 10,22% so với các ñàn ong bình thường.các chỉ tiêu hình thái không có khác biệt ñáng kể Như vậy, thế hệ F6 ñã có thể sử dụng làm giống với khả năng kháng bệnh rất tốt
(Huang et al., 2008)
Tuy nhiên, việc chọn lọc và tạo giống kháng bệnh và chịu bệnh ở ong mật là vô cùng mật ong tốn thời gian (thường là hai năm cho mỗi thế hệ) và các công cụ ñể ñánh giá khả năng kháng bệnh hiện ñang rất thiếu Kể từ khi ong chúa và ong ñực bay ñi giao phối thì việc kiểm soát rất khó khăn, trừ khi
Trang 24có tay nghề cao và các phương tiện hỗ trợ ñược sử dụng (Aubert et al., 2008)
* Trị bệnh
Không có thuốc hoá học tác ñộng có hiệu quả trong ngăn ngừa hoặc kiểm soát bệnh virus ấu trùng túi (FAO, 2006; EMA, 2010) Tetracycline, chlortetracycline, thuốc sulfa và lưu huỳnh ñã ñược thử nghiệm trong ñiều trị nhưng không có hiệu lực (FAO, 2006; Lun, 2006)
Tuy nhiên, trên thế giới vẫn có nhiều giải pháp trị bệnh có hiệu quả và
dễ áp dụng Một số nghiên cứu ñánh giá hiệu quả của thảo mộc ñến phát triển sinh lý của ong mật, chiết xuất ñể kiểm tra hiệu quả và khả năng sử dụng chúng trong công tác phòng chống bệnh ong ñã thu ñược những kết quả khả
quan (Siddiqui et al., 1996; Pohorecka, 2004)
Ở Trung Quốc, một số biện pháp ñã ñược nghiên cứu ứng dụng có hiệu quả Thứ nhất là thảo mộc gồm: Barbata (còn gọi là cỏ hẹp) 50g Thứ hai là Quán trung 50g, Kim ngân hoa 50g, cam thảo 25g Các thảo mộc ñun sôi với nước, lọc lấy dịch và cho ăn với xirô ñường theo tỉ lệ 1:1 Mỗi liều thuốc có thể cho ăn 10-15 ñàn ong Thứ ba là thuốc chống virus 862 (Amatidine No 862) trộn với các loại thảo mộc có tác dụng ñiều trị ñạt hơn 80% bệnh trên ong ngoại Các thí nghiệm cho thấy việc áp dụng thuốc chống virus 862 và kết hợp với thay thế chúa và biện pháp khác ñể kiểm soát toàn diện có hiệu
lực trên 90% (Lun et al., 2006)
Ở tỉnh Hồ Nam, người nuôi ong còn có bài thuốc ñiều trị: cam thảo 20g, tằm tươi 150g, nước 1 kg ðun sôi sau ñó lọc lấy 500g dịch và thêm
750g mật ong hoặc 500g ñường, trộn ñều cho ăn (Lun et al., 2006)
Kinh nghiệm gần 40 năm nuôi ong và phòng trị bệnh virus ấu trùng túi, theo ñánh giá của những người nuôi ong thì bài thuốc sau ñây cũng khá hiệu quả: Polygonum 30g, cây kim ngân hoa 30g, cam thảo 12g Sắc lấy nước trộn
với siro ñường cho ong ăn (Lun et al., 2006)
Trang 25Ngoài ra có thể dùng iốt thương mại từ nồng ñộ 1% ñến 3% cộng với một ít ñường, gọi là ñường pha loãng rồi phun dung dịch phun vào ñàn ong, cầu ong Nồng ñộ sử dụng từ thấp ñến cao, tốt nhất là sử dụng vào buổi tối (http://b2museum.cdstm.cn/farms/2_5_3_mifeng_jbyf.htm)
Theo kinh nghiệm những người dân nuôi ong ñịa phương ở Ấn ðộ, một
số loại cây thảo dược, nghệ, Azadirachta indica có thể sử dụng ñược Biện
pháp thay chúa cũng ñã ñược sử dụng nhưng chỉ có hiệu lực trong thời gian ngắn (Keystone group, 2005)
ðối với các ñàn ong Apis mellifera có sức ñề kháng cao nên bệnh này thực sự không nguy hiểm và nó có thể tự khỏi, ngay cả khi tỷ lệ bệnh nghiêm trọng cũng có thể sớm hồi phục ðiều này chủ yếu phụ thuộc vào hành vi dọn
vệ sinh của ong, thời tiết và nguồn thức ăn (bệnh thường không xuất hiện vào
cuối mùa xuân khi vụ mật bắt ñầu) (FAO, 2006; Lun et al., 2006)
Biện pháp ñược rất nhiều tài liệu khuyến cáo nên áp dụng là thay thế ong chúa ñàn bệnh bằng một chúa tơ hoặc nhốt chúa ñể cắt nguồn ấu trùng, làm gián ñoạn các chuỗi lây truyền và giảm bệnh tật; gắp bỏ ấu trùng bệnh hoặc loại bỏ những cầu bệnh hoặc nghi nhiễm bệnh ñể giảm sự tích tụ của các mầm bệnh; kết hợp các biện pháp quản lý khác ñể khôi phục lại sức mạnh của ñàn ong, chẳng hạn như bổ sung thức ăn và viện thêm cầu, tăng mật ñộ quân (Ball, 1999; FAO, 2006; Trend, 2007; Janke & Rosenkranz, 2009; Neumann
& Carreck 2010; Kozak et al., 2010)
Một vấn ñề mới ñược ñề xuất trong phòng chống bệnh virus ấu trùng túi nói riêng và các dịch bệnh hại ong mật nói chung là thực hành quản lí dịch hại tổng hợp (Integrated Pest Management - IPM) Nhờ áp dụng IPM nên các ñàn ong thí nghiệm ñã hạn chế ñược dịch bệnh, giảm thiểu rủi do, giảm dư lượng thuốc kháng sinh, tăng hiệu suất sinh sản của ong chúa và ong ñực, tăng ñược kích thước quần thể và cuối cùng là mang lại hiệu quả kinh tế cao
cho người nuôi ong (Aubert et al., 2008)
Trang 262.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
2.2.1 Nghiên cứu tình hình bệnh
Năm 1974, dịch bệnh vius ấu trùng túi đã bùng nổ ở nước ta do nhập
một số đàn ong cao sản của Viện ong Bắc Kinh vào địa bàn Hà Nội Qua triệu chứng lâm sàng, các chuyên gia bệnh ong đều cho rằng trong tập hợp ấu trùng ong nội đều cĩ mặt bệnh ấu trùng túi, nhưng do khơng cĩ điều kiện phân lập, phân tích bằng kính hiển vi điện tử nên các ý kiến chỉ dừng lại ở bước nghi ngờ Trên 90% đàn ong bị huỷ diệt do nhiễm bệnh này Năm 1989, các mẫu bệnh do Cơng ty ong TW thu thập được từ các đàn ong nội đã được gửi tới phân tích tại trại thực nghiệm Roshamted nước Anh, kết quả là một số mẫu ong bệnh này cĩ TSBV (Phùng Hữu Chính, 1996)
Ở Việt Nam, bệnh kéo dài năm này qua năm khác ở các tỉnh phía Bắc
và đang gây tác động mạnh ở các tỉnh phía Nam (Phùng Hữu Chính, 1996) Hiện nay bệnh ấu trùng túi trên ong nội đang gây thiệt hại rất lớn cho người nuơi ong ở các tỉnh miền Bắc Tỉ lệ mắc bệnh năm 2001 ở Hưng Yên là 30,01%, Sơn La là 24,91%, Hải Hậu – Nam ðịnh 70%, Nà Hang - Tuyên Quang là 58,5% (dẫn theo Phạm Viết Liên, 2004) Từ năm 2006 đến nay, bệnh cịn bùng phát mạnh ở các đàn ong ngoại trên phạm vi cả nước (Phùng Hữu Chính, 2008)
2.2.2 Khả năng lây nhiễm bệnh và kỹ thuật chẩn đốn
Năm 2004, Phạm Viết Liên và cộng sự đã tiến hành lây nhiễm bệnh
nhân tạo trên đàn ong Apis cerana Các tác giả đã thu mẫu bệnh, phân lập
virus rồi pha lỗng với nước sinh lý theo các nồng độ 10-1, 10-2, 10-3, 10-4, 10
-5, 10-6, 10-7, 10-8, 10-9, sau đĩ phun lên đàn ong Kết quả cho thấy tất cả 15 đàn thí nghiệm đều nhiễm bệnh, trong đĩ các đàn phun ở nồng độ 10-2, 10-3, 10-4
là nhiễm bệnh nặng nhất Hiệu lực của virus được đánh giá là khá cao
Ở Việt Nam, kỹ thuật RT-PCR đã được sử dụng khá phổ biến để chẩn
Trang 27đốn các bệnh do virus hại thực vật và động vật nhưng đối với bệnh ong cịn rất ít cơng trình cơng bố Năm 2004, lần đầu tiên Lê Thanh Hịa và cộng sự đã giám định virus gây bệnh này bằng phương pháp sinh học phân tử tại các trại ong ở Hịa bình, Hải Hưng Tại Trung tâm nghiên cứu ong TW, Lê Quang Trung và cộng sự (2008) đã bước đầu ứng dụng kỹ thuật multiplex RT-PCR/RFLP để chẩn đốn trên đàn ong nội tại Hịa Bình Phạm Hồng Thái và cộng sự (2011) đã sử dụng kỹ thuật RT – PCR để chẩn đốn SBV và DWV trên ong ngoại Kết quả cho thấy RT-PCR cĩ nhiều triển vọng trong nghiên cứu phát hiện SBV và đánh giá mức độ quan hệ di truyền của các chủng lồi
2.2.3 Phịng trị bệnh
Cho đến nay chưa cĩ loại thuốc nào cĩ hiệu quả đối với bệnh ấu trùng túi, các loại thuốc kháng sinh cho ăn hoặc phun chỉ cĩ tác dụng chống lại các loại vi khuẩn kế phát (Phạm Viết Liên và cộng sự, 2004)
Từ khi xuất hiện bệnh, rất nhiều thuốc kháng sinh đã được dùng để điều trị như: Kanamicin, Furazolidin, Sulfathiazonnatri, Erythomixin, Tetracyclin, KMnO4, Rivanol Các loại thuốc trên được trộn với nước đường cĩ nồng độ 50% cho ong ăn hoặc phun lên bánh tổ nhưng kết quả của dùng việc rất hạn chế Phạm Ngọc Viễn (1984) đã xác định thuốc LGO cĩ tác dụng điều trị bệnh tốt nhưng LGO cĩ ảnh hưởng xấu đến sức đẻ trứng của ong chúa và địi hỏi liều lượng hết sức nghiêm ngặt, nếu cao quá làm đàn ong bốc bay Chính
vì vậy bệnh virus ấu trùng túi được coi là bệnh nguy hiểm nhất đối với ong nội ở Việt Nam (Phùng Hữu Chính, 1996)
ðiều trị bệnh ấu trùng túi bằng các biện pháp kỹ thuật sinh học đã được một số tác giả đề cập Bao gồm thay chúa đẻ đàn bệnh bằng chúa tơ hoặc mũ chúa, nhốt chúa đẻ đàn bệnh trong lồng dây thép nhỏ 7-8 ngày, đồng thời phải tiến hành với việc loại bỏ bớt cầu bệnh, cũ để ong phủ kín các cầu cịn lại, cho ăn nước đường 3-4 tối cho đến vít nắp hoặc chuyển đến nơi cĩ nguồn mật dồi dào
Trang 28Hai biện pháp này có kết quả nhưng cũng có nhiều mặt hạn chế:
- Làm chậm lại quá trình phát triển của ñàn ong, nhất là mùa dưỡng ong
- Chữa triệu chứng chứ không phải chữa nguyên nhân gây bệnh
- Mầm bệnh vẫn còn trong ñàn ong, bệnh lại có thể tái phát (Phạm Viết Liên và cộng sự, 2004)
Năm 2004, Phạm Viết Liên và cộng sự ñã tiến hành thử nghiệm ñiều trị bằng chế phẩm hóa học S-95 dạng bột với liều lượng 100mg/cầu Kết quả cho thấy S-95 có tác dụng chữa bệnh tốt nhưng bệnh có thể tái phát do mầm bệnh vẫn còn trong ñàn ong Cũng trong năm này, các tác giả ñã tiến hành nghiên cứu công nghệ sản xuất kháng huyết thanh và thử nghiệm kháng huyết thanh phòng trị bệnh (Bùi Văn Ngọc và cộng sự, 2004) Kết quả thu ñược rất khả quan nhưng rất khó áp dụng vào thực tế sản xuất
Năm 2008, Lê Minh Hoàng ñã thử nghiệm sử dụng sữa chua ñể kiểm
soát bệnh trên Apis mellifera tại tỉnh Bình Phước Kết quả bước ñầu cho thấy
tỉ lệ bệnh giảm ñáng kể, sữa chua khi phun làm chết nhiều ấu trùng Ở thí nghiệm này, sữa chua có tác dụng cắt nguồn kí chủ và ñó có thể là tác ñộng làm khỏi bệnh chứ không phải ức chế ñược sự phát triển của virus
Năm 2009, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ñã ban hành “Qui trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi ong an toàn – VietGahp” với một
hệ thống các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, thu hoạch sản phẩm cũng như phòng trị bệnh cho ñàn ong Tuy nhiên, trong khuôn khổ có hạn nên mới dừng lại ở mức chung chung với qui mô rộng và nhiều ñối tượng
Trang 293 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1 Thời gian và ñịa ñiểm nghiên cứu
và Mộc Châu - Sơn La
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 ðiều tra và theo dõi tình hình dịch bệnh virus ấu trùng túi trên
các trại ong mật (Apis cerana và Apis mellifera) nuôi tại Hải Dương, Hà Nội,
Hòa Bình, Sơn La
3.2.2 Nghiên cứu khả năng lây nhiễm của virus ấu trùng túi trên các ñàn ong (Apis cerana và Apis mellifera)
3.2.3 Nghiên cứu, thử nghiệm một số biện pháp phòng và trị bệnh virus ấu trùng túi trên ong mật
3.3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Trang 30- Dụng cụ bảo hộ (lưới che mặt, găng tay); các dụng cụ nuôi ong
- Khung cầu chia ô: dùng khung cầu ong có căng dây thép chia thành các ô vuông tương ứng với 100 lỗ tổ ñể ño ñếm số lượng nhộng
- Kim di trùng, lọ ñựng mẫu bệnh, panh, dao, kim chọc lỗ nhộng, giấy bóng kính, bút dạ., ống ñong, ca, cân, bình phun sương mù
- ðường kính (trắng hoặc vàng), nước sạch, nước cất
- Các chế phẩm hóa học: B-complex dạng dung dịch lọ 20ml dùng trong thú y; Nano bạc nồng ñộ 1000 ppm dạng dung dịch; Vitamin C dạng bột trong túi 40g; White protein thương phẩm dạng bột
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp ñiều tra, theo dõi tình hình bệnh
- Tại mỗi tỉnh nghiên cứu chọn và 10 – 20 trại ong có số lượng từ 10 ñàn trở lên Kết hợp cùng với chủ trại ong tiến hành ghi mã số các ñàn ong và
theo dõi bệnh ñịnh kỳ mỗi tháng 2 lần vào ngày 01 và ngày 15 theo “Sổ ñiều tra bệnh virus ấu trùng túi hại ong mật”
- Chỉ tiêu ñiều tra: tỉ lệ ñàn bệnh, mức ñộ bệnh
* Phương pháp nghiên cứu khả năng lây nhiễm
- Thí nghiệm gồm 5 công thức (CT), mỗi công thức gồm 10 ñàn ong
CT 1: Lây bệnh từ ong Apis cerana cho ong Apis cerana
CT 2: Lây bệnh từ ong Apis cerana cho ong Apis mellifera
CT 3: Lây bệnh từ ong Apis mellifera cho ong Apis cerana
CT 4: Lây bệnh từ ong Apis mellifera cho ong Apis mellifera
CT5 (ðối chứng): Các ñàn ong ñược cách li và không lây bệnh
- Thu mẫu bệnh theo phương pháp của Somerville (2009), lây bệnh theo phương pháp của Phạm Viết Liên và cộng sự (2004) với nồng ñộ pha loãng virus là 10-3
- Chỉ tiêu theo dõi: số lượng ñàn bệnh, tỉ lệ ấu trùng bệnh
Trang 31*Phương pháp ựánh giá ảnh hưởng của bệnh lên ựàn ong
- Chọn và ựánh dấu những ựàn ong bị bệnh trong thắ nghiệm lây nhiễm bệnh ựể theo dõi
- Chi tiêu theo dõi, ựánh giá: thế ựàn, số lượng nhộng, khả năng dọn vệ sinh của ong thợ trước thắ nghiệm và sau thắ nghiệm 7, 14, 21, 28 và 35 ngày
* đánh giá tác ựộng của một số chế phẩm hóa học lên ựàn ong
Ong Apis cerana chỉ cho ăn, ong Apis mellifera vừa cho ăn vừa phun
với các chế phẩm hóa học nghiên cứu Mỗi chế phẩm hóa học dùng trong thắ nghiệm, kể cả kết hợp, ựều dùng khảo sát với 3 nồng ựộ khác nhau: 1ml (hoặc 1g), 2ml (hoặc 2g) và 3ml (hoặc 3g)
- Các thắ nghiệm, ựối chứng ựều ựược nhắc lại 5 lần và trộn với 20ml xiro ựường/cầu ựể phun hoặc cho ăn
- Tất cả các công thức thắ nghiệm và ựối chứng ựược cách li 1,5km Sau
1 ngày tắnh từ ngày cho ăn lần cuối cùng, tiến hành lây bệnh nhân tạo theo phương pháp của Phạm Viết Liên và cộng sự (2004) với nồng ựộ pha loãng virus là 10-3
- Chỉ tiêu: số ựàn bệnh, tỉ lệ ấu trùng bệnh sau lây bệnh 14 ngày
* Phương pháp thắ nghiệm ựiều trị bệnh bằng kỹ thuật sinh học
- Mỗi nhóm ong chia thành 5 công thức, mỗi công thức lặp lại 5 lần
CT 1: Thay chúa tơ sạch bệnh
Trang 32CT 2: Nhốt chúa 10 ngày rồi thả
CT 3: Nhốt chúa 10 ngày, thả 5 ngày, nhốt tiếp 5 ngày rồi mới thả
CT 4: Di chuyển ñến nguồn hoa mới không có bệnh, cách xa 2 km
CT 5 (ðối chứng): Không nhốt chúa, không thay chúa, không di chuyển, cách li
- Tất cả các công thức ñều loại bớt cầu, cho ăn bổ sung xiro ñường
- Sau khi thả chúa, thay chúa hoặc di chuyển ñịnh kỳ 7 ngày kiểm tra 1 lần trong 35 ngày ñể theo dõi diễn biến của bệnh trên ñàn ong
- Chỉ tiêu: tỉ lệ ấu trùng bệnh và sức ñẻ trứng
* Phương pháp thí nghiệm ñiều trị bệnh bằng chế phẩm hóa học
- Mỗi nhóm ong chia thành các công thức thí nghiệm tương ứng với các nhóm chế phẩm hóa học ñược lựa chọn sau khi ñánh giá tác ñộng ñến các ñặc ñiểm sinh học ðối chứng nuôi các li, không dùng chế phẩm hóa học, chỉ dùng xiro ñường
- Các thí nghiệm, ñối chứng ñều ñược nhắc lại 5 lần Chế phẩm hóa học ñược sử dụng theo nguyên tắc dùng liên tục 3 ngày mỗi ngày 1 lần và dừng 3 ngày, khi dùng trộn với 20ml xiro ñường/cầu
- Sau khi ñiều trị ñịnh kỳ 3 ngày, 7 ngày, 14 ngày kiểm tra và theo dõi ñến 35 ngày ñể xác ñịnh diễn biến của bệnh trên ñàn ong
- Chỉ tiêu theo dõi: tỉ lệ ấu trùng bệnh
* Phương pháp tính các chỉ tiêu theo dõi và xử lý số liệu
Trang 33* đánh giá mức ựộ bệnh (dựa theo Woyke, 1985)
Cụ thể + Nhẹ: tỉ lệ ấu trùng bệnh < 0,5%
++ Trung bình: tỉ lệ ấu trùng bệnh từ 0,5% ựến dưới 1% +++ Nặng: tỉ lệ ấu trùng bệnh ≥ 1%
* đánh giá sức ựẻ trứng của chúa (Phùng Hữu Chắnh, 1996)
Sức ựẻ trứng của chúa ựược ựo gián tiếp bằng số lượng nhộng vắt nắp của tất cả các cầu trong ựàn đặt khung cầu mẫu có chia ô vào chỗ có nhộng vắt nắp, ựếm số ô rồi tắnh theo công thức:
SđT với ong nội =
11 là trung bình số ngày nhộng nằm trong lỗ tổ vắt nắp của ong nội
12 là trung bình số ngày nhộng nằm trong lỗ tổ vắt nắp của ong ngoại
* Thế ựàn: ựược tắnh bằng tổng số cầu 2 mặt kắn quân của ựàn ong
* đánh giá khả năng dọn vệ sinh: kiểm tra và chọn cầu ong có lỗ tổ ong thợ mới vắt nắp (ở giai ựoạn tiền nhộng), dùng kim chọc thủng khoảng 100 lỗ tổ
ựể cho nhộng ong bị chết, sau 16 tiếng nhấc cầu kiểm tra, ựếm số nhộng còn lại ựể ựánh giá khả năng dọn vệ sinh của từng ựàn ong theo công thức
VS (%) =
P Q
P − ừ100
Trang 34Trong ñó VS (%): Khả năng dọn vệ sinh (tính bằng tỉ lệ %)
P: Tổng số lỗ tổ chọc chết nhộng Q: Số lỗ tổ chưa dọn
* Tỉ lệ chết ấu trùng
TLCAT (%) =
S
R ×100 Trong ñó TLCAT: Tỉ lệ chết ấu trùng (tính bằng tỉ lệ %)
R: Tổng số ấu trùng chết S: Tổng số trứng hoặc ấu trùng hoặc nhộng ñánh dấu
* Hiệu quả ñiều trị (theo công thức Henderson Tilton)
Ta x Cb
HQ(%) = (1 - - ) x 100
Tb x Ca
Trong ñó: - HQ(%) là hiệu quả ñiều trị bệnh
- Ta tỉ lệ ấu trùng bệnh ở công thức ñiều trị
- Tb tỉ lệ ấu trùng bệnh ở công thức trước khi ñiều trị
- Ca tỉ lệ ấu trùng bệnh ở công thức ñối chứng sau ñiều trị
- Cb tỉ lệ ấu trùng bệnh ở công thức ñối chứng trước ñiều trị Các số liệu ñược xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học thích hợp trên phần mềm Microsoft office Excel của máy tính Sử dụng phần mềm IRRISTAT 5.0 dùng cho khối Nông học ñể so sánh sai số thí nghiệm (BROB), hệ số biến ñộng (CV%) và sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa (LSD 0.05)
Trang 354 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Diễn biến tình hình bệnh virus ấu trùng túi trên ong Apis mellifera tại
Sơn La, Hòa Bình và Apis cerana tại Hà nội Hải Dương trong năm 2010-2011
4.1.1 Diễn biến tình hình bệnh virus ấu trùng túi trên ñàn ong Apis
mellifera trong năm 2010-2011 tại Sơn La và Hòa Bình
ðiều tra, theo dõi tình hình bệnh virus ấu trùng túi trên Apis mellifera tập trung chủ yếu tại khu vực Mộc Châu – Sơn La ở 1411 ñàn thuộc 18 trại ong và tại Hòa Bình ở 1028 ñàn thuộc 11 trại ong Kết quả ñược trình bày tại bảng 4.1 và hình 4.1
Nhìn chung tình hình bệnh virus ấu trùng túi trên ong Apis mellifera ở
Sơn La và Hòa Bình năm 2010-2011 diễn biến khá phức tạp
Tại Sơn La, bệnh bắt ñầu xuất hiện vào ñầu tháng 8 ở mức ñộ nhẹ và ngay sau khi có những ñàn biểu hiện triệu chứng lâm sàng thì tốc ñộ lây lan rất nhanh Mặc dù ñã ñược xử lí bằng nhiều biện pháp nhưng tỉ lệ ñàn bệnh vẫn ñạt mức rất cao (57,41%), tăng hơn 55,56% chỉ trong vòng 15 ngày và duy trì bệnh trong suốt thời gian theo dõi Từ 1/9/2010 ñến tháng 15/2/2011 tỉ
lệ ñàn bệnh ở mức trung bình (11,11% - 29,81%) và từ 1/3/2011 ñến 15/3/2011 tỉ lệ ñàn bệnh ở mức thấp (1,67% - 3,98%) Mức ñộ bệnh nặng diễn
ra ở 2 thời ñiểm là 15/8 và 15/12/2010
Tại Hòa Bình, bệnh virus ấu trùng túi bắt ñầu xuất hiện vào giữa tháng 8/2010 ở mức ñộ nhẹ sau ñó tăng dần, ñạt tỉ lệ bệnh cao nhất, mức ñộ bệnh nặng nhất vào 15/9/2010 và giảm dần ñến 15/11/2010 Từ cuối tháng 11/2010, tỉ lệ bệnh lại bắt ñầu tăng ñạt tỉ lệ bệnh cao, mức ñộ bệnh nặng từ 15/12/2010 ñến 1/1/2011 và giảm dần ñến giữa tháng 3/2011 Ở Hòa Bình có
2 thời ñiểm tỉ lệ ñàn bệnh cao nhất và mức ñộ bệnh nặng nhất là trong tháng 9
Trang 36(37,27-41,82%) và cuối tháng 12, ñầu tháng 1 (30,91-31,82%) Các thời ñiểm khác bệnh duy trì ở mức nhẹ với tỉ lệ ñàn bệnh từ 5,45% ñến 17,27%
Bảng 4.1 Diễn biến tỉ lệ ñàn bệnh và mức ñộ bệnh virus ấu trùng túi trên ñàn
ong Apis mellifera trong năm 2010-2011 tại Sơn La và Hòa Bình
(%)
Mức ñộ bệnh
Tỉ lệ ñàn bệnh (%)
Mức ñộ bệnh
Trang 37ong Apis mellifera trong năm 2010-2011 tại Sơn La và Hòa Bình
Như vậy, bệnh virus ấu trùng túi ở Sơn La xuất hiện sớm hơn với tỉ lệ ñàn bệnh cao hơn và mức ñộ bệnh nặng hơn ở Hòa Bình ðiều này có thể do Sơn La lạnh hơn và là nơi có nhiều ñàn ong từ các vùng khác di chuyển về nhiều hơn Cũng có thể ñây là khu vực có nhiều có nhiều virus ấu trùng túi còn tồn tại từ những ñàn ong ñịa phương sau các trận dịch của những năm trước theo kết quả nghiên cứu của Phùng Hữu Chính (2008)
4.1.2 Diễn biến tình hình bệnh virus ấu trùng túi trên ñàn ong Apis cerana
trong năm 2010-2011 tại Hà Nội và Hải Dương
Tại Hà Nội, bệnh virus ấu trùng túi ñược theo dõi trên 725 ñàn ong
Apis cerana của 11 trại ong, tập trung chủ yếu ở các huyện thuộc Hà Tây cũ Tại Hải Dương bệnh ñược theo dõi trên 604 ñàn ong Apis cerana của 10 trại
ong, tập trung chủ yếu ở các huyện Thanh Hà, Tứ Kỳ và Kinh Môn Kết quả ñược trình bày tại bảng 4.2 và hình 4.2
Trang 38Bảng 4.2 Diễn biến tỉ lệ ñàn bệnh và mức ñộ bệnh virus ấu trùng túi trên ñàn
ong Apis cerana trong năm 2010-2011 tại Hà Nội và Hải Dương
(%)
Mức ñộ bệnh
Tỉ lệ ñàn bệnh (%)
Mức ñộ bệnh
Trang 39Hình 4.2 Diễn biến tỉ lệ ñàn bệnh và mức ñộ bệnh virus ấu trùng túi trên ñàn
ong Apis cerana trong năm 2010-2011 tại Hà Nội và Hải Dương
Bệnh virus ấu trùng túi trên ong Apis cerana ở Hà Nội xuất hiện liên tục
từ tháng 7 ñến tháng 3 năm sau ðầu tháng 7, tỉ lệ ñàn bệnh bắt ñầu tăng mạnh
và ñạt cao nhất vào 1/8 (37,63%) và duy trì ở mức cao từ 15/8 ñến 1/9 34,52%) rồi giảm nhanh ñến 1/10 (6,67%) Từ 1/10/2010 ñến 15/2/2011 tỉ lệ bệnh duy trì ở mức thấp (3,79-10,00%) và lại bắt ñầu tăng trong tháng 3/2011 (15,82-21,33%) Bệnh nặng nhất là giữa tháng 3, các thời ñiểm khác bệnh bệnh
(32,00-ở mức ñộ nhẹ và trung bình
Từ bảng số liệu cũng cho thấy tình hình bệnh của các ñàn ong Apis cerana tại Hải Dương diễn biến khá phức tạp trong suốt thời gian theo dõi Bệnh xuất hiện liên tục từ tháng 7 ñến tháng 3 năm sau Trong thời gian từ tháng 7 ñến tháng 2 chủ yếu là các ñàn ong của người dân ñịa phương nên tỉ
lệ bệnh duy trì ở mức thấp (1,82-20,91%) nhưng biện pháp phòng trị thường
là phun kháng sinh nên có thời ñiểm mức ñộ bệnh rất nặng (14/9-1/10) ðến
Trang 40ñầu tháng 3, các ñàn ong di chuyển ñến ñể thu mật nhãn, vải ñã làm cho tỉ lệ bệnh tăng lên rất nhanh (từ 14,55% lên 40,91%), mức ñộ bệnh rất nặng và các biện pháp phòng trị hiện có không thể khống chế ñược bệnh lây lan
Như vậy, bệnh xuất hiện liên tục trong suốt thời gian từ tháng 7/2010 ñến tháng 3/2011 ở cả 2 khu vực Ở Hà Nội bệnh nặng và tỉ lệ ñàn bệnh cao hơn vào tháng 8, ñầu tháng 9, còn ở Hải Dương là vào tháng 3
Thời gian tỉ lệ ñàn nhiễm bệnh cao ở Sơn La là 15/8, ở Hòa Bình 15/9
và 15/12, ở Hà Nội từ 1/8 ñến 1/9, Hải Dương 15/9 và từ ñầu tháng 3
Tỉ lệ ñàn bệnh trên ong Apis cerana tại Hà Nội và Hải Dương cao hơn
so với kết quả nghiên cứu tại Sơn La (24,91%), Hưng Yên (30,01%) và thấp hơn so với Tuyên Quang (58,5%), Nam ðịnh (70,0%) của các tác giả Phạm ðức Hạnh, Phạm Viết Liên (2001)
4.1.3 So sánh tỉ lệ ñàn bệnh virus ấu trùng túi trên ong Apis mellifera tại
Sơn La, Hòa Bình và trên ong Apis cerana tại Hà Nội, Hải Dương trong năm 2010-2011
Từ kết quả trên, chúng tôi tiến hành so sánh tỉ lệ ñàn bị bệnh giữa 2 loài ong mật ở 4 ñịa ñiểm nghiên cứu, kết quả thể hiện tại bảng 4.3 và hình 4.3
Bảng 4.3 và hình 4.3 cho thấy trên các ñàn ong Apis cerana (Hà Nội và
Hải Dương) bệnh xuất hiện quanh năm nhưng tỉ lệ ñàn bệnh duy trì thấp hơn
(cao nhất là 31,12%) Ngược lại, ở các ñàn ong Apis mellifera (Sơn La và Hòa
Bình) bệnh chỉ bắt ñầu xuất hiện vào khoảng tháng 8 với tỉ lệ ñàn nhiễm bệnh cao hơn (cao nhất là 33,54%)
Ong Apis mellifera có 3 ñỉnh ñiểm bệnh là tháng 9, tháng 12 và tháng
2, còn ong Apis cerana chỉ có 2 ñỉnh ñiểm bệnh là tháng 9 và tháng 3