4.2.9 Ảnh hưởng của GA3 ñến chất lượng quả của giống vải Yên Phú 734.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất bổ sung dinh dưỡng qua lá ñến khả năng ra hoa, ñậu quả, năng suất và phẩm chất
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
TRÇN THÞ DËU
NGHI£N CøU ¶NH H¦ëNG CñA mét sè CHÊT §IÒU HOµ SINH TR¦ëNG Vµ DINH D¦ìNG QUA L¸ §ÕN n¨ng suÊt
vµ phÈm chÊt cña GIèNG V¶I CHÝN SíM Y£N PHó
TRåNG T¹I GIA L¢M - Hµ NéI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG MINH TẤN
Trang 2LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu trong luận văn này là kết quả nghiên
cứu của tôi trong quá trình thực hiện ñề tài Kết quả này hoàn toàn trung thực,
số liệu chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
- Trong quá trình thực hiện ñề tài và hoàn thiện luận văn, mọi sự giúp
ñỡ ñều ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ
rõ nguồn gốc Nếu sai, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 25 tháng 8 năm 2009
Tác giả luận văn
Trần Thị Dậu
Trang 3LờI CảM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi luôn nhận được sự quan tâm của cơ quan, nhà trường và sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Rau quả đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi được tham gia khoá đào tạo này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Hoàng Minh Tấn, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Bộ môn Nghiên cứu Cây ăn quả, các thầy cô giáo Viện Sau đại học, Bộ môn Sinh lý thực vật, Khoa Nông học - Trường đại học nông nghiệp - Hà Nội và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để có thể hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè đã cổ vũ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 25 tháng 8 năm 2009 Tác giả luận văn Tác giả luận văn Tác giả luận văn
Trang 42 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ðỀ TÀI 5
2.5 Những nghiên cứu về các chất ñiều hoà sinh trưởng và các chế
3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của α - NAA ñến khả năng ra hoa, ñậu
Trang 54.1.1 Ảnh hưởng của α - NAA ñến thời gian và khả năng ra hoa của
4.1.3 Ảnh hưởng của α - NAA ñến số lượng và thành phần các loại hoa
4.1.4 Ảnh hưởng của α - NAA ñến tỷ lệ ñậu và khả năng giữ quả của
4.1.5 Ảnh hưởng của α - NAA ñến sự tăng trưởng quả của vải Yên Phú 494.1.6 Ảnh hưởng của α - NAA ñến các yếu tố cấu thành năng suất và
4.1.7 Ảnh hưởng của α - NAA ñến một số chỉ tiêu về phẩm chất quả 53
4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất ñiều hòa sinh trưởng GA3 ñến khả
năng ra hoa, ñậu quả, năng suất và phẩm chất của vải Yên Phú 594.2.1 Ảnh hưởng của GA3 ñến thời gian và khả năng ra hoa của giống
4.2.2 Ảnh hưởng của GA3 ñến kích thước chùm hoa của vải Yên Phú 614.2.3 Ảnh hưởng của GA3 ñến số lượng hoa và thành phần các loại hoa
4.2.7 Ảnh hưởng của GA3 ñến các yếu tố cấu thành năng suất và năng
4.2.8 Ảnh hưởng của GA3 ñến một số chỉ tiêu ñánh giá quả của giống
Trang 64.2.9 Ảnh hưởng của GA3 ñến chất lượng quả của giống vải Yên Phú 73
4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất bổ sung dinh dưỡng qua
lá ñến khả năng ra hoa, ñậu quả, năng suất và phẩm chất của vải
4.3.1 Ảnh hưởng của các chế phẩm dinh dưỡng bổ sung qua lá ñến thời
4.3.2 Ảnh hưởng của các chế phẩm dinh dưỡng bổ sung qua lá ñến
4.3.3 Ảnh hưởng của các chế phẩm dinh dưỡng bổ sung qua láñến số
lượng hoa và thành phần các loại hoa của giống vải chín sớm
4.3.4 Ảnh hưởng của một số chất dinh dưỡng bổ sung qua lá ñến tỷ lệ
4.3.5 Ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng bổ sung qua lá ñến các
yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống vải Yên Phú 834.3.6 Ảnh hưởng của một số dinh dưỡng bổ sung qua lá ñến các chỉ
tiêu về quả của giống vải chín sớm Yên Phú trồng tại GL - HN 864.3.7 Ảnh hưởng của dinh dưỡng bổ sung qua láñến chất lượng quả 88
Trang 7DANH MỤC BẢNG
2.1 Diện tích và sản lượng vải của một số nước chủ yếu trên thế giới 102.2 Lượng xuất khẩu các mặt hàng từ quả vải 6 tháng ñầu năm 2007 124.1 Ảnh hưởng của α - NAA ñến thời gian ra hoa của giống vải Yên
4.3 Ảnh hưởng của α - NAA ñến số lượng hoa và thành phần các loại
4.6 Ảnh hưởng của α - NAA ñến ñộng thái tăng trưởng quả 494.7 Ảnh hưởng của α - NAA ñến các yếu tố cấu thành năng suất 514.8 Ảnh hưởng của α - NAA ñến một số chỉ tiêu ñánh giá quả 53
4.10 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng α - NAA trên vải Yên Phú 58
4.13 Ảnh hưởng của GA3 ñến số lượng hoa và thành phần các loại hoa 62
4.16 Ảnh hưởng của GA3 ñến ñộng thái tăng trưởng quả 664.17 Ảnh hưởng của GA3 ñến các yếu tố cấu thành năng suất 684.18 Ảnh hưởng của GA3 ñến một số chỉ tiêu ñánh giá quả 70
4.20 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng GA3 trên vải Yên Phú 75
Trang 84.21 Ảnh hưởng của các chế phẩm dinh dưỡng bổ sung qua lá ñến thời
Trang 9DANH MỤC HÌNH
4.2 Ảnh hưởng của α - NAA ñến tỷ lệ ñậu quả so với ban ñầu của
4.3 Ảnh hưởng của α - NAA ñến năng suất của giống vải chín sớm
4.10 Ảnh hưởng của chất dinh dưỡng bổ sung qua lá ñến tỷ lệ ñậu quả
4.11 Ảnh hưởng của một số chất dinh dưỡng bổ sung qua lá ñến khối
4.12 Ảnh hưởng của một số chất dinh dưỡng bổ sung qua lá ñến năng suất 85
Trang 101 MỞ ðẦU
1.1 ðặt vấn ñề
Cây vải (Litchi chinensis Sonn) là cây ăn quả Á nhiệt ñới có giá trị
kinh tế và dinh dưỡng cao, ñược xác ñịnh là loại cây ñặc sản của miền Bắc Việt Nam Về chất lượng, quả vải ñược ñánh giá cao với hương vị thơm ngon, nhiều chất bổ dưỡng, ñược nhiều người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng Quả vải ngoài sử dụng ăn tươi còn ñược chế biến như: sấy khô, làm
ñồ hộp, làm nước giải khát ñược thị trường trong nước và thế giới ưa thích
Những năm qua, cây vải ñược coi là loại cây tiên phong trong phong trào xoá ñói giảm nghèo, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn và từng bước giúp người dân làm giàu ñặc biệt là các vùng ñồi núi và trung du các tỉnh phía Bắc Phần lớn các mô hình chuyển ñổi cây trồng ñều lấy cây vải, cây nhãn làm cây chủ lực ñể phát triển
Tính ñến năm 2007, diện tích vải của cả nước ñã ñạt 88.900 ha (chiếm 29% tổng diện tích cây ăn quả cả nước), sản lượng ñạt 428.900 tấn Trong ñó, diện tích cho sản phẩm là 77.500 ha, năng suất trung bình: 55,3 tạ/ha Song giống trồng chủ yếu là vải thiều Thanh Hà (chiếm trên 95% tổng diện tích vải của cả nước) ðây là giống chín chính vụ có thời gian thu hoạch ngắn (khoảng
20 - 25 ngày) ðiều này ñã gây trở ngại cho việc thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ, ñặc biệt là tình trạng khủng hoảng về giá vải thường xuyên xảy ra trong mùa thu hoạch, làm giảm hiệu quả kinh tế của người trồng vải [2], [49]
Một trong những biện pháp kéo dài thời gian cung cấp vải cho thị trường và tăng hiệu quả kinh tế là bố trí cơ cấu giống có thời gian cho thu hoạch khác nhau gồm các giống chín sớm, chín chính vụ và chín muộn Do
ñó, việc chọn lọc các dòng vải chín sớm, chín muộn bổ sung vào cơ cấu giống vải hiện nay có ý nghĩa thực tiễn rất lớn và có giá trị kinh tế cao, kéo dài thời
Trang 11gian cung cấp vải tươi trên thị trường, ñáp ứng ñược thị hiếu người tiêu dùng
Hiện nay, các giống vải chín sớm ưu tú ñang rất ñược quan tâm phát triển ñể bổ sung vào cơ cấu giống vải Cụ thể, theo ñịnh hướng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cơ cấu các giống vải trong giai ñoạn 2005 -
2012 sẽ bao gồm: 10 - 15% diện tích là giống chín sớm; 70 - 75% diện tích là giống chính vụ; 5 - 10% diện tích là giống chín muộn [1], [12]
Trong những năm vừa qua, Viện Nghiên cứu Rau quả ñã tuyển chọn ñược một số giống vải chín sớm (có thời gian cho thu hoạch từ 5/5 - 25/5 hàng năm), ñã ñược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận giống chính thức năm 2005 như: Bình Khê và hai giống ñược công nhận tạm thời là: Yên Hưng và Yên Phú Ngoài ưu thế chín sớm, giá bán cao, chúng còn có khả năng sinh trưởng khỏe, có tiềm năng cho năng suất cao và có khả năng chống chịu sâu bệnh khá tốt Tuy nhiên, việc ñưa nhanh các giống này bổ sung vào
cơ cấu phục vụ sản xuất gặp một số trở ngại sau:
- Do khả năng sinh trưởng khỏe nên lộc của các giống vải chín sớm thường có số lượng lớn dẫn ñến một số cành thu không tích lũy ñủ dinh dưỡng ñể ra hoa, ñậu quả
- ðợt lộc thu thường thành thục sớm (vào tháng 9, 10) do ñó xác suất bật lộc ñông cao làm cho cây không ra hoa, ñậu quả
- Do thời gian ra hoa sớm nên lúc nở hoa thường gặp nhiệt ñộ thấp, mưa phùn gây khó khăn cho thụ phấn, thụ tinh dẫn ñến tỷ lệ ñậu quả thấp
Mặc dù vậy, do thời gian thu hoạch quả rất sớm nên giá trị quả tươi trên thị trường vẫn ñạt từ 18.000 - 22.000ñồng/kg, hiệu quả thu ñược từ vườn vải vẫn cao hơn nhiều so với giống vải thiều Nếu sử dụng các biện pháp kỹ thuật tác ñộng làm tăng tỷ lệ ñậu quả, tăng năng suất và chất lượng của quả thì hiệu quả kinh tế mang lại còn lớn hơn rất nhiều Chính vì vậy, cùng với việc chọn tạo các giống vải ưu tú có khả năng cho hiệu quả kinh tế cao thì
Trang 12việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trong ñó có việc sử dụng chất ñiều hoà sinh trưởng và bổ sung các nguyên tố vi lượng nhằm nâng cao khả năng ra hoa, ñậu quả, tăng năng suất phẩm chất giống, ñồng thời có thể ñiều chỉnh thời gian thu hoạch, góp phần vào việc rải vụ, nâng cao hiệu quả kinh tế là hết sức cần thiết Xuất phát từ những vấn ñề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện ñề
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất ñiều hòa sinh trưởng và dinh
dưỡng qua lá ñến năng suất và phẩm chất của giống vải chín sớm Yên Phú trồng tại Gia Lâm - Hà Nội”
1.2 Mục ñích và yêu cầu của ñề tài
1.2.1 Mục ñích
Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của α-NAA, GA3 và một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá ñến sự ra hoa, ñậu quả và năng suất của giống vải chín sớm Yên Phú ñể bổ sung vào quy trình thâm canh tăng năng suất giống vải này
1.2.2 Yêu cầu
- Xác ñịnh ảnh hưởng của α-NAA ñến ra hoa, ñậu quả và năng suất của
giống vải Yên Phú
- Xác ñịnh ảnh hưởng của GA3 ñến ra hoa, ñậu quả và năng suất của giống vải Yên Phú
- Xác ñịnh ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng qua lá ñến ra
hoa, ñậu quả và năng suất của giống vải Yên Phú
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
ảnh hưởng của một số chất ñiều hoà sinh trưởng (α - NAA, GA3) và chế phẩm dinh dưỡng qua lá ñến sinh trưởng, phát triểnvà năng suất của giống vải chín sớm Yên Phú
Trang 13- Làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và phát triển sản xuất
giống vải chín sớm
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
ðề xuất công thức xử lý tối ưu chất ñiều hoà sinh trưởng (α - NAA,
GA3) và chế phẩm dinh dưỡng qua lá làm cơ sở cho việc thâm canh tăng năng
suất giống vải chín sớm Yên Phú
1.4 Giới hạn của ñề tài
- Thời gian thực hiện ñề tài: Từ tháng 9 năm 2008 ñến tháng 5 năm 2009
- Các thí nghiệm ñược thực hiện trên giống vải chín sớm Yên Phú trồng tại Gia Lâm - Hà Nội, cây trồng bằng cành chiết 4 năm tuổi
- Các chất ñiều hòa sinh trưởng: α - NAA, GA3
- Các chế phẩm dinh dưỡng qua lá gồm: hỗn hợp H3BO3 + Ure, Grow, Fisomix - Super, Bortrac
Trang 14Master-2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ðỀ TÀI
2.1 Cơ sở khoa học của ñề tài
Trong quá trình chuyển ñổi cơ cấu cây trồng hiện nay, khả năng phát triển diện tích trồng vải của nước ta là rất lớn Cây vải tuy là loại cây xanh quanh năm, nhưng lại có tính cách niên khá rõ và có tính thích ứng sinh thái hẹp Mặt khác, vải có số hoa lớn nhưng tỷ lệ ñậu quả thấp, tỷ lệ rụng quả rất cao, nên năng suất thường thấp và không ổn ñịnh [15], [16], [18], [19] Những năm gần ñây, nhiều nghiên cứu về sinh lý thực vật cho thấy vai trò tác ñộng của chất ñiều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi lượng trong việc nâng cao năng suất cây trồng qua việc làm tăng khả năng ra hoa, ñậu quả và chống rụng quả
Ở nước ta, việc nghiên cứu chế ñộ dinh dưỡng, nhất là ảnh hưởng của nguyên tố vi lượng và chất ñiều hoà sinh trưởng ñối với cây vải chín sớm còn rất ít Vũ Mạnh Hải (1986) [15], bước ñầu cho thấy ảnh hưởng của K, B và một số chất ñiều hoà sinh trưởng ñối với việc giảm rụng quả vải Chu Văn Chuông và cộng sự (1994) [5] cũng sơ bộ cho kết quả khả quan của một số chế phẩm trong việc làm tăng tỷ lệ ñậu quả vải
Cây vải có yêu cầu rất nghiêm ngặt ñối với nhiệt ñộ Trong năm phải có một thời kỳ nhiệt ñộ hạ thấp và khô (vào các tháng 11, 12) tạo ñiều kiện ức chế mầm mùa ñông, làm cho cành thu sung sức, tăng cường khả năng quang hợp, tích luỹ chất dinh dưỡng và tăng nồng ñộ dịch bào ñể xúc tiến quá trình phân hoá mầm hoa [45] Do vậy, khi không có tác ñộng của những biện pháp
kỹ thuật, ñặc biệt là khi gặp những biến ñộng bất thường của thời tiết thì việc vải ra hoa cách năm là rất có thể xảy ra và thậm chí là nhiều năm liên tục [8]
Thời kỳ ra hoa và nở hoa của cây vải thường gặp nhiệt ñộ thấp, mưa phùn kéo dài nên tỷ lệ ñậu quả non thấp Sau khi quả non ñậu hiện tượng rụng
Trang 15quả vẫn tiếp tục diễn ra làm ảnh hưởng rất lớn ựến năng suất vải Ngoài yếu tố thời tiết khắ hậu, tình trạng thiếu chất dinh dưỡng, thụ phấn, thụ tinh không hoàn toàn hoặc do sâu bệnh phá hại ựã gây ra hiện tượng rụng quả hàng loạt ở vải [8] Một trong các giải pháp là bổ sung các nguyên tố vi lượng và chất ựiều hòa sinh trưởng làm cân bằng dinh dưỡng, giúp cho cây thụ phấn, thụ tinh ựược thuận lợi, ựồng thời có thể ựiều chỉnh thời gian ra hoa, góp phần rải
vụ thu hoạch, làm giảm sự thiệt hại do sâu bệnh, nâng cao năng suất và phẩm chất vải, từ ựó nâng cao hiệu quả kinh tế [11] Chắnh vì vậy, thực tế sản xuất ựòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu hơn về sử dụng các chất ựiều hoà sinh trưởng và bổ sung dinh dưỡng qua lá, nhằm nâng cao năng suất vải mà không làm ảnh hưởng ựến chất lượng quả và môi trường
2.2 Giới thiệu chung về cây vải
2.2.1 Nguồn gốc, phân bố
Cây vải có nguồn gốc ở giữa miền Nam Trung Quốc, bắc Việt Nam và bán ựảo Malay và ựược trồng trọt cách ựây trên 3.000 năm Hiện tại, ở Trung Quốc vẫn còn những cây vải tổ ở huyện Bồ điền (Phúc Kiến), có tuổi cây trên 1.000 năm [26], [54] Thực tế, nhiều tài liệu Trung Quốc cho biết, nhiều nơi cây vải mọc dại như: núi Tạ Hoài Sơn, huyện Liên Giang, tỉnh Quảng đông; Thạch Phượng Sơn, huyện Bác Bạch, tỉnh Vân Nam; núi Lôi Hồ Lĩnh; Bá Vương Lĩnh Tại núi Kim Cổ Lĩnh (ựảo Hải Nam), vải dại mọc thành rừng Ngoài ra, ở Dương Xuân, Hoá Châu, Liêm Giang và trên sáu vạn núi ở vùng giáp gianh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây ựều có cây vải dại, ựiều ựó chứng tỏ cây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc [26]
Theo FAO (1989) [58], Tài liệu ựầu tiên viết về cây vải ựã ghi lại vào năm 100 trước công nguyên, Hoàng đế Hán Vũ ựã ựem vải vào miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Indonexia Cuối thế kỷ 17, cây vải từ Trung Quốc ựầu tiên ựược ựưa vào Mianma, cuối thế kỷ 18 ựưa sang Ấn độ (Singh, 1954), năm 1775 ựưa sang quần ựảo Tây Ấn, năm 1854 ựưa sang Ôxtralia
Trang 16(Queens và Anon, 1962) Năm 1870 vải ựược du nhập vào Nam Phi (Meulen, 1957), năm 1873 sang Hawai của Mỹ (Grove, 1952), ựến năm 1886 vào Florida của Mỹ (Barley, 1916) Vào những năm 30 của thế kỷ 20, công nhân Hoa Kiều gốc Quảng đông ựã ựưa vải vượt qua xắch ựạo vào Công Gô (Cao
Lệ Hoa, 1985) [26]
Ở Việt Nam, cây vải ựược trồng từ cách ựây khoảng 2000 năm và phân
bố từ 18 - 190 vĩ Bắc trở ra Tuy nhiên, do yêu cầu chặt chẽ về ựiều kiện thời tiết, nên tập trung chủ yếu vẫn là vùng ựồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phắa Bắc và một phần khu Bốn cũ [41] Sử sách ựã chép lại rằng cách ựây
10 thế kỷ, dưới thời Bắc thuộc, vải (tiếng Hán là Lệ Chi) là một trong những cống vật hàng năm Việt Nam phải ựem nộp cho Trung Quốc [19], [45] Theo
C Petelot (1952), (dẫn theo Vũ Công Hậu, 1999) [19], có nhiều cây vải dại mọc ở sườn núi Ba Vì Năm 1982, ựã phát hiện cây vải mọc ở chân núi Tam đảo (Vĩnh Phúc) [19], [45] Từ ựó miền Bắc Việt Nam cũng ựược coi là nơi
có nguồn gốc phát sinh của cây vải
Hiện nay, vải ựược trồng ở các nước nằm trong phạm vi 20 - 30 vĩ ựộ Bắc và Nam ựường xắch ựạo [22], [41] Ở Châu Á vải ựược trồng ở Trung Quốc, Ấn độ, Thái Lan, Việt Nam, Mianma, Lào, Campuchia, Malaixia, Philippin, Indonexia, Srilanca, Bănglades, Nhật Bản và Ixrael Ở Châu Phi vải
có ở Nam Phi, Morithiuyt, Madagasca, Ga Bông, Công Gô và Rêuyniông Châu Mỹ có Hoa Kỳ, Hundurat, Panama, Cu Ba, Tirinidat, Pooctoricô và Braxin Châu đại Dương có Australia và Newzeland
đến nay, ở Việt Nam ựã hình thành một số vùng trồng vải mang tắnh sản xuất hàng hoá như: Thanh Hà (Hải Dương); đông Triều (Quảng Ninh); Lục Ngạn (Bắc Giang); đồng Hỷ (Thái Nguyên) Một số vùng thuộc các tỉnh miền Trung như đăk Nông, đăk Mil, đăk R, Lâp (đăk Lak); đà Lạt (Lâm đồng) cũng trồng ựược vải [42]
Trang 172.2.2 Phân loại giống và giống vải
Theo Võ Văn Chi, Dương đức Tiến (1987) [3]; Menzel (2002) [68];
Hoàng Thị Sản, 2003 [28], cây vải có tên khoa học là Litchi chinensis Sonn thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae), bộ Bồ hòn (Sapindales), phân lớp hoa hồng (Rosidae) Họ Bồ hòn có 150 chi với trên 2.000 loài ựược phân bố ở vùng nhiệt ựới và Á nhiệt ựới, tập trung chủ yếu ở Châu Á và Châu Mỹ [75], [76]
Ở Việt Nam, họ Bồ hòn có 25 chi và trên 70 loài, phân bố trên khắp các miền của ựất nước
Về ựặc ựiểm phân loại, cây vải là cây gỗ nhỡ, xanh tốt quanh năm, lá kép lông chim, hoa nhỏ không có cánh hoa, bầu có 2 ngăn Trên cùng chùm hoa có 3 loại hoa: Hoa ựực, hoa cái, hoa lưỡng tắnh, và một số ắt hoa dị hình
2.2.3 Các giống vải chủ yếu trên thế giới và trong nước
Hiện tại, Trung Quốc có số lượng giống vải nhiều nhất thế giới Tuy nhiên, chỉ có khoảng 15 giống trong số hơn 100 giống vải ở Trung Quốc có khả năng sản xuất thương mại như: Wai chee, Baila, Baitangying, Heiye, Feizixiao, Huaizhi , ựặc biệt hai giống Gwiwei và Nuomici ựược trồng ở tỉnh Quảng đông với diện tắch lớn (trên 60.000 ha mỗi giống) Tỉnh Phúc Kiến có
2 giống chủ lực là Soney Tung và Haak Yip Ở tỉnh Vân Nam, Lanzhu là giống trồng chắnh Các giống quan trọng khác là Taiso, Chen Zi, Sum Yee Hong, Kwai May và NoMai Chee (Menzel và Simpson, 1986) [55], [65] Một
số giống mới ựược chọn tạo có năng suất phẩm chất tốt như: giống hạt lép Hoong Hu, giống chắn sớm Dong guan Seedless [26], [62], [69], [81]
Ấn độ có khoảng 50 giống vải, ựược trồng ở các bang khác nhau Bihar là nơi trồng vải với diện tắch lớn nhất của Ấn độ (chiếm trên 74% diện tắch) Các giống quan trọng là: Shahi, Bombai, China, Deshi, Purbi, Cabcutta, Rose Scenetd và Mazaffarpur, trong ựó những giống cho năng suất và chất lượng tốt là West Bengal, Bom bai, China và Bedana Hai giống lai mới ựược
Trang 18chọn tạo là H - 105 và H - 73 có tiềm năng cho năng suất cao ựang ựược phát triển mạnh trong sản xuất [59], [60], [71]
Ở Australia, có trên 40 giống vải ựược trồng tập trung ở những vùng nằm theo dải bờ biển phắa đông Các giống chắnh hiện nay là: Taiso, Haak Ip, Kwai May Pink, Wai Chi, FayZee Siu, Salathiel [66], [69], [57]
Ở Việt nam, sự phân chia các giống còn mang tắnh tương ựối, xét theo thời gian thu hoạch có: nhóm chắn sớm, chắnh vụ và chắn muộn, xét theo phẩm chất quả: nhóm vải chua, vải nhỡ và vải thiều [45] Theo Vũ Mạnh Hải
và cộng sự (2002) [13], [48], Viện Nghiên cứu Rau quả ựã thu thập và mô tả
33 giống vải ựược trồng ở các vùng khác nhau Trong ựó 8 giống có triển vọng, ựã và ựang ựược phát triển ngoài sản xuất như giống vải thiều Thanh
Hà, Hùng Long, Yên Hưng, Bình Khê, Yên Phú
2.2.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới và trong nước
2.2.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới
Thế giới hiện có trên 20 nước trồng vải, diện tắch trồng vải năm 2000 là 780.000 ha với tổng sản lượng ựạt 1,95 triệu tấn Trong ựó, các nước đông Nam Á chiếm khoảng 600.000 ha và sản lượng ựạt 1,75 triệu tấn (chiếm 77% diện tắch và 90% sản lượng vải của thế giới) [45], [49]
Trung Quốc ựứng ựầu thế giới về diện tắch và sản lượng vải Năm
2001, diện tắch trồng vải của Trung Quốc ựã lên ựến 584.000 ha, sản lượng 958.700 tấn Quảng đông là tỉnh ựứng ựầu cả về diện tắch và sản lượng: 303.080 ha và 793.200 tấn [59], [67], [69], [72]
đứng thứ hai trên thế giới về diện tắch và sản lượng vải là Ấn độ Theo Ghosh (2000) [59], Singh H.P và Babita (2002) [69], [72], năm 2000 diện tắch vải của Ấn độ là 56.200 ha, sản lượng ựạt 428.900 tấn Vùng sản xuất vải chủ yếu của Ấn độ là Bihar với sản lượng là 310.000 tấn, Wesst Bengal (36.000 tấn), Tripura (27.000 tấn) và Uttar Pradesh (14.000 tấn)
Trang 19Theo Minas (2002) [69], năm 1999 diện tích vải ở Thái Lan là 22.200
ha, sản lượng 85.083 tấn Vùng sản xuất vải chủ yếu của Thái Lan là Phayao, Nan, Chiang Mai, Lamphun, Phrae và Fang với các giống chính: Tai So (Hong Huay), Chacapat, Wai chi (Kim Cheng), Haak Yip (Ohia) và Kom Cây vải ñược trồng tại bang Queensland của Australia từ rất sớm Theo Mezel C.(2000), Australia có khoảng 350 người trồng vải với tổng sản lượng khoảng 3.000tấn ðến năm 2002, Australia có khoảng 250 hộ trồng vải với sản lượng lên ñến 6.000 tấn Ở Australia, thời gian thu hoạch vải từ tháng 10 năm trước ñến hết tháng 4 năm sau [57], [65], [69]
Ở Châu Phi có 4 nước trồng vải theo hướng hàng hóa là: Nam Phi, Madagasca, Renyniong, Moritiuyt Trong ñó Madagasca nằm ở phía Tây Ấn
ðộ Dương là nước có sản lượng vải lớn nhất Châu Phi, sản lượng hàng năm ñạt 3,5 vạn tấn [45] Theo số liệu của FAO (2002) [68], [65] và báo cáo của
X Huang, L Zeng, H.B Huang [63], R.J Knight (2000) [64], diện tích và sản lượng vải của một số nước ñược thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Diện tích và sản lượng vải của một số nước chủ yếu trên thế giới
STT Tên nước Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Trang 20và Nam Phi trong tháng 10 ựến tháng 3 năm sau Sau năm 1980, vải từ Thái Lan, đài Loan, Trung Quốc ựược bán sang Châu Âu đến năm 1990, một lượng nhỏ xuất sang Ấn độ Vải ựóng hộp chất lượng tốt xuất sang Malaixia, Singapore, Mỹ, Australia, Nhật Bản và Hồng Kông [59] Năm 2000 Thái Lan xuất khẩu 12.475 tấn vải tươi và sấy khô trị giá 15,4 triệu ựô la Mỹ sang Singapore, Hồng Kông, Malaisia, Mỹ [53] Australia sản xuất vải với số lượng ắt, nhưng tập trung chủ yếu cho xuất khẩu, hàng năm Australia xuất khẩu 30% sản lượng vải cho Hồng Kông, Singapore, Châu Âu và các nước Ả Rập nhưng lại nhập khẩu vải của Trung Quốc vào những tháng trái vụ [68] Thị trường nội ựịa là thị trường tiêu thụ mạnh vải tươi của hầu hết các quốc gia sản xuất vải trên thế giới, ựặc biệt Trung Quốc là nước ựứng ựầu thế giới về diện tắch và sản lượng, nhưng hàng năm chỉ xuất khẩu khoảng 10.000
- 20.000 tấn (chiếm khoảng trên dưới 2% sản lượng vải) [63], [68]
2.2.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trong nước
Năm 2007, diện tắch trồng vải của cả nước ựạt 88.900 ha với năng suất bình quân ựạt hơn 5,5 tấn/ha và ựạt sản lượng cao nhất với 428.900 tấn [2] Một số tỉnh có diện tắch trồng vải lớn như: Quảng Ninh (diện tắch 5.174 ha; sản lượng 17.349 tấn), Thái Nguyên (diện tắch 6.861ha; sản lượng 8.787 tấn), Lạng Sơn (diện tắch 7.473 ha; sản lượng 12.684 tấn), Hải Dương (diện tắch 14.219 ha; sản lượng 47.632 tấn) Tỉnh có diện tắch và sản lượng lớn nhất là Bắc Giang: 39.835 ha (chiếm 40,42% tổng diện tắch vải), sản lượng ựạt 228.558 tấn (chiếm 51,36% sản lượng vải của cả nước) [49]
Khoảng 75% sản lượng vải ựược tiêu thụ ngay trong thị trường nội ựịa, phần còn lại ựược sơ chế, xuất khẩu tươi và chế biến Thị trường xuất khẩu vải của Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản
và một số nước khác trong khu vực và thị trường Châu Âu Lượng xuất khẩu các mặt hàng từ quả vải 6 tháng ựầu năm 2007 ựược trình bày ở bảng 2.2
Trang 21Bảng 2.2 Lượng xuất khẩu các mặt hàng từ quả vải 6 tháng ựầu năm 2007
Pháp
17,35 125,84
14.700 116.225
3 Vải ựông lạnh Hà Lan,
Hàn Quốc
46,00 22,00
51.750 22.810
Nguồn: Tổng công ty rau quả VN năm 2007
2.3 Yêu cầu sinh thái của cây vải
2.3.1 Yêu cầu về nhiệt ựộ
Nhiệt ựộ là một trong những nhân tố chủ yếu tác ựộng ựến sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây vải Theo Groff (1921), vải ựược trồng ở các vùng lạnh thường cho năng suất cao, nhiệt ựộ thấp (từ -1,1 ựến 4,4oC) sẽ ức chế việc sinh ra hoocmon sinh trưởng, từ ựó làm giảm sự phát lộc và tăng sự ra hoa Theo Nguyễn Thiếu đường (1984), cây vải sinh trưởng
ở những vùng có nhiệt ựộ bình quân năm từ 21 - 25oC có phản ứng tốt Giống chắn muộn ở nhiệt ựộ 00C và giống chắn sớm ở 40C thì ngừng sinh trưởng sinh dưỡng Khi nhiệt ựộ từ 8 - 100C thì khôi phục sinh trưởng, 10 - 120C cây sinh trưởng chậm, nếu 210C trở lên thì sinh trưởng tốt Ở nhiệt ựộ 23 - 260C cây sinh trưởng mạnh nhất Tổng nhiệt ựộ thắch hợp cho sinh trưởng, phát triển cả năm của vải là 2.500 - 2.8000C [26]
Quá trình phân hóa mầm hoa vải ựược thuận lợi hay không có liên quan chặt chẽ tới nhiệt ựộ thấp của mùa ựông Theo thống kê của Cục Nông nghiệp Quảng đông, những năm ựược mùa vải ựều là những năm có nhiệt ựộ thấp nhất nằm trong phạm vi 1,5 - 140C Năm 1975 Bành Kắnh Ba theo dõi trên các giống vải Nếp, Hoài Chi cho thấy, thời gian nhiệt ựộ từ 0 - 100C thuận
Trang 22lợi cho chùm hoa phân nhánh và phân hóa mầm hoa Ở ựiều kiện nhiệt ựộ 11 -
140C cành hoa và lá ựều có thể phát triển sớm trở thành chùm hoa có giá trị kinh tế Nhiệt ựộ từ 18 - 190C trở xuống vẫn có thể hình thành chùm hoa nhưng nhỏ, không có giá trị kinh tế [26]
Nghê Diệu Nguyên (1985) [26], theo dõi trên giống vải Hắc Diệp cho rằng: Nhiệt ựộ thấp trong thời gian kéo dài có ảnh hưởng tốt ựến sự phân hóa mầm hoa Từ thượng tuần tháng 12 ựến trung tuần tháng 1 nhiệt ựộ không khắ bình quân khoảng ≥ 150C, nhiệt ựộ bình quân thấp nhất khoảng 120C thì thời gian phân hóa mầm hoa kéo dài, còn thời gian ra hoa tương ứng lại ngắn Ngược lại, nếu nhiệt ựộ không khắ ≤ 130C, nhiệt ựộ không khắ bình quân thấp nhất ≤ 100C thì thời gian phân hóa mầm hoa ngắn và thời gian ra hoa kéo dài Thời gian nhiệt ựộ thấp càng dài thì chùm hoa càng to, số lượng hoa càng nhiều Nhiệt ựộ còn liên quan ựến tỷ lệ hoa ựực và hoa cái của vải trong thời gian phân hoá mầm hoa từ tháng 1 ựến tháng 3, nhiệt ựộ bình quân trong ngày thấp thì tỷ lệ hoa cái cao, nhiệt ựộ tăng cao thì tỷ lệ hoa cái giảm
Thể nguyên thủy của hoa vải là mầm hỗn hợp, có hoa, có lá Nhiệt ựộ cao ức chế hình thành các cơ quan hoa, kắch thắch sinh trưởng sinh dưỡng, thúc ựẩy sự phát triển của lá Ngược lại, nhiệt ựộ thấp thúc ựẩy sự phân hóa mầm hoa và cơ quan hoa, ức chế sự phát dục thể nguyên thủy của lá, thiên hướng về sinh thực
Nhiệt ựộ còn ảnh hưởng tới tỷ lệ hoa ựực, cái của vải Ở Trung Quốc, Lâm Khả đào và cộng sự qua phân tắch 8 năm liên tục từ 1978 - 1985 về quan
hệ giữa nhiệt ựộ bình quân ngày của tháng 1 - 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm ựã phát hiện giữa chúng có mối tương quan nghịch, R = - 0,86 có nghĩa là nhiệt ựộ càng thấp thì tỷ lệ hoa cái càng cao Ngoài ra, nhiệt ựộ còn ảnh hưởng tới thời kỳ nở hoa và sự phát triển của quả, nhiệt ựộ bình quân hữu hiệu càng cao thì quả phát triển càng nhanh và ngược lại [26]
Trang 23Theo Vũ Công Hậu (1999), Trần Thế Tục (1998), nhiệt ñộ có ảnh hưởng sâu sắc ñến sinh trưởng và phát triển của cây vải Những vùng trồng vải thường có nhiệt ñộ bình quân 10 - 170C, nhiệt ñộ tối thấp không quá -20C, nhiệt ñộ thích hợp cho sinh trưởng phát triển là 24 - 290C [19], [44]
Theo Phạm Văn Côn (2004), nhiệt ñộ là một trong những nhân tố khí hậu chính không thể ñiều khiển ñược, nó quyết ñịnh diện tích trồng trọt và ảnh hưởng ñến năng suất cây vải Với cây vải khi ra hoa ñậu quả cần nhiệt ñộ lạnh và khô, tổng tích ôn khoảng 2.500 - 2.600oC Thời kỳ hình thành chồi hoa tháng 11, 12 nếu trời lạnh và khô sẽ ra ñọt hoa, còn gặp trời nóng và ẩm thì ra ñọt lá Thời kỳ nở hoa (tháng 1, 2) và ñậu quả không gặp gió bắc, mưa phùn kéo dài thì thụ phấn thuận lợi, ñậu quả nhiều [7]
Như vậy, nhiệt ñộ là một trong các yếu tố quan trọng nhất ñối với cây vải ðể phân hoá mầm hoa ñược tốt thì cây vải cần phải có mùa ñông lạnh
2.3.2 Yêu cầu về chế ñộ nước và ñộ ẩm
Cây vải có khả năng chịu hạn tương ñối tốt Tuy nhiên, ñể cho cây vải sinh trưởng và ra hoa ñậu quả ñược tốt, có sản lượng cao và phẩm chất thơm ngon phải chú ý cung cấp ñầy ñủ nước trong các thời kỳ phát triển của cây, kịp thời chống úng cho vườn khi mưa lớn Lượng mưa thích hợp nhất cho vải khoảng 1.500mm phân bố ñều trong năm Cây vải sinh trưởng mạnh vào những tháng mùa hè và mùa thu nên yêu cầu lượng nước lớn Những tháng mùa ñông nếu mưa nhiều vải sẽ phát lộc ñông không thuận lợi cho phân hoá mầm hoa Theo Nghê Diệu Nguyên và cộng sự, lượng mưa ảnh hưởng tới hoa vải chủ yếu trong giai ñoạn phân hoá trục chùm hoa và thời kỳ phân hoá hoa Giai ñoạn này ñủ nước thì tổng số hoa/chùm và số hoa ñực/chùm giảm nhưng
số hoa cái không bị ảnh hưởng nhiều nên tỉ lệ hoa cái tăng [26]
Trong thời gian hoa nở, nếu mưa phùn kéo dài làm thối hoa tỷ lệ ñậu quả rất thấp, có thể dẫn ñến mất mùa Phấn hoa trong nước quá nửa giờ, màng ngoài
Trang 24của 70% số hạt phấn bắt ñầu trương lên Sau khoảng 1 giờ, ñầu trên ống phấn bị
vỡ ra, nguyên sinh chất chảy ra ngoài và ngừng sinh trưởng [26]
Cây vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm là 1.250 - 1.700 mm, ñộ ẩm không khí là 75 - 85% nên nó chịu ñược ñộ ẩm không khí cao ở thời kỳ sinh trưởng thân lá Các tỉnh miền Bắc nước ta có chế ñộ mưa ẩm tương ñối thích hợp trùng với thời gian cây vải sinh trưởng mạnh Thời kỳ cây vải cần ñiều kiện khô và lạnh ñể phân hoá mầm hoa cũng là thời ñiểm mùa khô bắt ñầu (tháng 11, 12) Mùa mưa bắt ñầu vào tháng 4, 5 là lúc cây vải cần nhiều nước ñể nuôi quả ñang lớn, nhưng thời kỳ nở hoa (tháng 2, 3) thường gặp mưa phùn kéo dài làm thối hoa, tỷ lệ ñậu quả rất thấp [7]
2.3.3 Yêu cầu về ánh sáng
Vải là cây ưa ánh sáng, người Trung Quốc có câu “ðương nhật lệ chi, bối nhật long nhãn” nghĩa là cây nhãn có thể sinh trưởng phát triển ở những chỗ ít ánh sáng hơn, còn vải phải trồng ở nơi ánh sáng chiếu trực xạ Cây vải cần ánh sáng chiếu quanh năm, ñặc biệt là thời kỳ hình thành, phân hoá mầm hoa Thời kỳ hoa nở (tháng 2, 3) nếu có nắng quá trình thụ phấn thụ tinh thuận lợi, ñậu quả nhiều là tiền ñề cho năng suất cao [26], [35] Tổng số giờ chiếu sáng trong năm từ 1.800 giờ trở lên là khá thích hợp với cây vải Ánh sáng ñầy ñủ thì quá trình quang hợp ñược tốt ñồng thời làm tăng khả năng ñồng hoá của cây, tăng tích lũy chất khô giúp cây vải sinh trưởng, phân hoá mầm hoa, ñậu quả tốt hơn, giảm sâu bệnh hại Kết quả nghiên cứu của Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1991) trên giống vải Hắc Diệp, số giờ chiếu sáng nhiều thì lượng hoa cái trên chùm tăng lên tương ứng [27]
Vì vậy, khi trồng vải cần bố trí khoảng cách trồng hợp lý, hàng năm cần cắt tỉa tạo tán tránh sự che khuất lẫn nhau Tận dụng tối ña nguồn ánh sáng nhằm tăng khả năng quang hợp cho cây, giúp cây tích luỹ ñược nhiều chất dinh dưỡng, giảm sâu bệnh hại, phân hoá hoa và ñậu quả tốt hơn
Trang 252.3.4 Yêu cầu về ñất ñai
Cây vải có khả năng thích nghi trên nhiều loại ñất Các loại ñất ñỏ, ñất vàng, ñất cát pha, ñất thịt, ñất có tầng canh tác dày ñều thích hợp cho cây vải sinh trưởng và phát triển Kể cả trên ñất chua, ñộ phì nhiêu kém vải vẫn sinh trưởng và phát triển tốt, vì rễ vải có thể cộng sinh với một loại vi khuẩn
rễ (Mycorrhira) sống ở ñất chua, có thể phân giải các hợp chất khó tan trong ñất ñể rễ hút nuôi cây [8], [27] ðộ pH tốt nhất cho vải là từ 5 - 6 Bộ rễ của vải to có thể ăn sâu và rộng gấp 1 - 2 lần tán, có sức hút nước rất mạnh, nhưng phần lớn rễ tập trung ở tầng ñất từ 0 - 50cm [26]
Theo Trần Thế Tục (2004) [45] Trần Thế Tục và Vũ Thiện Chính [43]
Vũ Thiện Chính [4], ở nước ta cây vải là loại cây không kén ñất, có thể trồng ñược trên nhiều loại ñất từ ñất bãi ven sông, ñất ruộng ñến ñất gò ñồi [4], [25], [37]
Theo Nghê Diệu Nguyên (1991) ñất núi, ñất ñồi ñịa thế cao nghèo chất hữu cơ, ñộ phì thấp, muốn trồng vải có hiệu quả kinh tế cao cần cày xới, bón phân tưới nước ñầy ñủ thì cây vải có tuổi thọ cao hơn, mã quả tươi hơn, vị ngọt, chất lượng khá hơn so với vải trồng ở vùng ñồng bằng [26]
2.3.5 Yêu cầu về gió
Gió có lợi cho cây trao ñổi không khí, nâng cao năng lực và hiệu quả quang hợp, tích luỹ dinh dưỡng có lợi cho sinh trưởng và kết quả, giảm nhẹ một số sâu bệnh hại Tuy nhiên, cây vải có tán dầy và rộng, thường ñược trồng bằng cành chiết nên bộ rễ ăn nông và kém phát triển do ñó ít chịu ñược gió bão Gió mạnh trong thời kỳ nở hoa làm ảnh hưởng ñến thụ phấn thụ tinh, cản trở côn trùng chuyển phấn, tổn thương bộ rễ ảnh hưởng ñến sự hút nước
và dinh dưỡng khoáng Thời gian mang quả, nếu gặp giông bão sẽ gây rụng quả, vì vậy nơi nhiều gió bão cần phải trồng rừng chắn gió và phòng hộ [41]
Trang 262.4 ðặc tính sinh trưởng phát triển của cây vải
2.4.1 ðặc ñiểm sinh trưởng sinh dưỡng
2.4.1.1 ðặc ñiểm sinh trưởng của cây theo ñộ tuổi
Cây vải nhân giống bằng phương pháp chiết hay ghép từ khi trồng ñến
3 năm tuổi chủ yếu là sinh trưởng sinh dưỡng Thời kỳ này bộ khung tán phát triển mạnh, một năm có thể ra 4 - 5 ñợt lộc [45] Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1991) [26], cây vải từ 4 - 7 năm tuổi, sinh trưởng vẫn mang tính chủ ñạo, cành chính vẫn hình thành và phát triển mạnh dẫn ñến tiêu hao nhiều dinh dưỡng Nên chất dinh dưỡng dự trữ không nhiều, từ ñó rất khó hình thành mầm hoa, tỷ lệ hoa cái thấp, thường chỉ chiếm 20% trở xuống ðối với cây 7 - 20 năm tuổi, bộ khung tán ñã cơ bản ổn ñịnh, sinh trưởng vẫn khoẻ nhưng không quá mạnh Thời kỳ này, quá trình sinh thực chiếm ưu thế, lượng hoa quả nhiều
Những cây trên 20 năm tuổi, lượng quả và sinh trưởng bắt ñầu giảm, số cành phát sinh ít, yếu, rễ mới ít, bộ rễ suy yếu, cây già cỗi nhanh, vì vậy thời
kỳ này cần chú ý biện pháp chăm sóc và cải tạo hợp lý (bổ sung dinh dưỡng, ñốn phớt, ñốn trẻ lại , phòng trừ sâu bệnh kịp thời) [26]
2.4.1.2 ðặc ñiểm sinh trưởng thân cành vải
Số lần ra lộc của cây vải trong một năm phụ thuộc vào giống, tuổi cây, thế sinh trưởng của cây, ñiều kiện ngoại cảnh Thường một năm, cây vải to chưa ra quả, có thể ra lộc 5 - 6 ñợt Cây vải mới cho quả 1 - 2 năm ñầu một năm chỉ ra 2 - 3 ñợt lộc sau khi thu hoạch Những cây ñã trưởng thành sinh trưởng khoẻ mạnh cho 2 ñợt lộc, ít khi 3 ñợt Trên cùng một giống, cùng thế sinh trưởng như nhau, cây ñược chăm sóc tưới nước, bón phân ñầy ñủ hơn có thể ra lộc sớm hơn, cho nhiều ñợt lộc hơn [26]
- Lộc xuân: Thường xuất hiện từ tháng 1 ñến tháng 3 Trong thời ñiểm này, nếu lộc xuân ra nhiều sẽ ảnh hưởng tới quá trình ra hoa, số lượng cành
Trang 27hoa sẽ ít ñi và chất lượng hoa kém, thậm chí còn làm cho quả rụng nhiều do
có sự cạnh tranh về dinh dưỡng giữa lộc và hoa [26]
- Lộc hè: Thường xuất hiện từ tháng 5 ñến cuối tháng 7 Cây non hoặc cây vải tơ có thể ra từ 1 - 2 ñợt lộc Những cây vải trưởng thành nếu không ra hoa thì sau khi ra lộc xuân rất ít khi ra lộc hè Những cây ñang mang quả, lộc
hè ñược xuất hiện sau khi ñã thu hoạch
- Lộc thu: Thông thường ñợt lộc thu ra từ tháng 8 ñến tháng 10, cũng
có khi ra sớm hơn từ cuối tháng 7 ðợt lộc này rất quan trọng ñối với năng suất của vải vụ tới Nếu ñợt lộc thu ra sớm vào tháng 7 ñược chăm sóc tốt, có thể ra tiếp thêm một ñợt lộc nữa trong tháng 9 ðối với cây vải kinh doanh, thời ñiểm phát sinh lộc thu ñúng lúc sẽ hình thành cành mẹ chất lượng tốt, thuận lợi cho việc ra hoa và ñậu quả ở thời kỳ sau
- Lộc ñông: Là ñợt lộc ra vào các tháng 10, 11 và 12, lộc ñông vừa tiêu hao nhiều dinh dưỡng, lại vừa ảnh hưởng ñến phân hoá mầm hoa ðối với cây vải chín chính vụ và muộn, lộc ñông ra sớm vào ñầu tháng 10 nếu ñược chăm sóc tốt gặp ñiều kiện thời tiết ấm vẫn có thể ra hoa kết quả tốt
2.4.2 ðặc ñiểm ra hoa, ñậu quả của cây vải
2.4.2.1 Sự phân hoá mầm hoa
Phân hoá mầm hoa là quá trình chuyển hoá từ trạng thái sinh lý và tổ chức của mầm lá sang trạng thái sinh lý và tổ chức của mầm hoa Cành mẹ của cây vải thành thục về sinh trưởng sớm hay muộn ảnh hưởng trực tiếp ñến thời gian phân hoá mầm hoa Trên cùng một cây, thông thường cành thành thục sớm sẽ phân hoá mầm hoa sớm hơn cành thành thục muộn [26], [41] Theo Vũ Công Hậu (1982, 1999) [18], [19], Phạm Văn Côn (1992) [6], Trần Thế Tục (1994, 1997) [41], [44], ñiều kiện cho vải phân hoá mầm hoa ñược thuận lợi là cần có nhiệt ñộ thấp trong một khoảng thời gian nhất ñịnh, song phản ứng với nhiệt ñộ thấp ở các giống có khác nhau, các giống vải chín
Trang 28sớm có thể hình thành mầm hoa ở nhiệt ñộ cao hơn so với các giống vải chính
vụ và chín muộn
Theo Lương Vũ Nguyên (1986) hàm lượng IAA trên ñỉnh cành non rất cao, khi lá chuyển màu xanh, mầm ngừng sinh trưởng tương ñối thì hàm lượng IAA giảm thấp, về sau mới bắt ñầu phân hoá mầm hoa Trong quá trình phân hoá mầm hoa, ñối với cây năm sai quả (hình thành hoa nhiều), hàm lượng IAA và gibberellin ở ñầu ngọn cành hơi thấp ðiều này chứng tỏ hàm lượng các chất này thấp có lợi cho sự phân hoá mầm hoa [26]
2.4.2.2 Sự phát triển của chùm hoa và nở hoa của vải
Tốc ñộ phát triển của chùm hoa phụ thuộc vào giống và vùng trồng Các giống chín sớm thường xuất hiện hoa vào tháng 12, ra hoa tháng 1 và nở hoa tháng 2 Các giống chín chính vụ và chín muộn ra hoa cuối tháng 1 ñầu tháng 2, nở hoa tháng 3 [26] Cây vải nở hoa theo thứ tự từ dưới lên trên, những hoa ở các nhánh giữa nở trước, sau ñến các nhánh ở trên ñỉnh và ở gốc Trên một chùm hoa thì thời gian hoa ñực và hoa cái nở rộ cũng không trùng nhau, thường thì hoa ñực nở trước, rồi mới ñến hoa cái, rồi lại hoa ñực
2.4.2.3 Quá trình ñậu quả
Tỷ lệ ñậu quả của vải phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: ðặc tính
ra hoa, môi giới truyền phấn, nhiệt ñộ, ẩm ñộ, lượng mưa hay hàm lượng các chất dinh dưỡng, các loại phytohoocmon trong cây Trong quá trình nở hoa nếu gặp mưa phùn kéo dài sẽ làm hạn chế sự tung phấn, hạt phấn bị trương lên, ống phấn có thể vỡ khi ñang kéo dài, do ñó rất khó khăn cho việc thụ phấn, thụ tinh Trái lại, nếu nhiệt ñộ cao quá sẽ làm cho hạt phấn mất sức nảy mầm, thậm chí còn làm hạt phấn khô và chết khi chưa kịp nảy mầm Nhiệt ñộ thích hợp cho thụ phấn, thụ tinh là 22 - 27oC, mặt khác, ở khoảng nhiệt ñộ này mật hoa vải tiết nhiều hấp dẫn sự hoạt ñộng của ong (môi giới truyền phấn) làm tăng tỷ lệ ñậu quả Thời gian nở hoa nếu tạnh nắng, ấm áp thì tỷ lệ ñậu
Trang 29quả của chùm ngắn cao, ngược lại thời tiết mưa râm thì chùm dài mọc ngoài tán thoáng gió nhanh khô nước nên tỷ lệ ñậu quả cao Ngoài ra, môi giới truyền phấn (côn trùng, gió ) cũng ñóng vai trò tích cực trong việc làm tăng
tỷ lệ ñậu quả [41], [42], [44], [45]
2.4.2.4 Các giai ñoạn phát triển của quả
Nghê Diệu Nguyên (1991) [26], quan sát trên giống vải Tam Nguyệt Hồng, Hắc Diệp và vải Nếp cho thấy: Sau khi thụ tinh xong, bầu nhuỵ bắt ñầu phát triển, tiến trình phát triển của quả vải ñược chia làm 3 giai ñoạn:
+ Giai ñoạn phát triển của phôi và vỏ quả: Là giai ñoạn từ khi hoa cái thụ tinh xong cho ñến trước khi cùi xuất hiện rõ (khoảng 34 ngày) Giai ñoạn này một ngăn bầu nhụy phát triển, còn ngăn kia không phát triển bị rụng ñi, ít khi cả hai ngăn bầu nhụy ñều phát triển thành quả Phôi hạt phình to hoặc ngừng phát triển Sau 30 ngày cuống hạt nổi rõ, cùi quả bắt ñầu xuất hiện + Giai ñoạn tử diệp tăng trưởng nhanh: ðược tính từ khi cùi xuất hiện ñến khi hạt ñầy ñặn (khoảng 14 ngày) Cùi xuất hiện và phát triển từ gốc hạt lên phía trên bao bọc lấy hạt, trong khoang hạt dần dần ñầy tử diệp Hạt lớn nhanh và tăng khối lượng, vỏ hạt từ mềm dần chuyển sang cứng và rắn chắc + Giai ñoạn cùi tăng trưởng nhanh và quả chín: (Khoảng 20 ngày) Sau khi bao kín hạt, cùi dày lên nhanh chóng và tăng khối lượng Do cùi bị ép chặt trong lớp vỏ nên cùi bị gấp nếp Tiếp theo là sự chuyển hoá chất hữu cơ, chất ñặc dễ hoà tan ngày càng tăng nhanh, hàm lượng nước tăng lên, vỏ quả quanh cuống bắt ñầu chuyển sang màu hồng, vỏ phẳng hơn, cùi ñầy ñặn và chín Trong thực tế sản xuất thường gặp những giống kết quả ñơn tính (quả không hạt) như giống Giả Quái Lục, Hoà Hà Xuyên, Giả Hương Lệ; những giống có quá trình phát triển của phôi thuộc loại không hoàn thiện như giống Lam Trúc (Trung Quốc) Khi hoa nở 30 - 35 ngày, phôi phát triển bình thường, nhưng sau ñó một bộ phận phôi tiếp tục phát triển hình thành hạt to,
Trang 30bộ phận còn lại phôi ngừng phát triển, nếu ngừng sớm thì hạt lép, ngừng muộn hơn thì tạo hạt to nhỏ khác nhau Thực chất sự phát triển của hạt bao gồm quá trình sinh trưởng của phôi và quá trình sinh trưởng của nội nhũ Hiện tượng hạt lép xảy ra là do: phôi chết làm nội nhũ ngừng phát triển hoặc phôi sống nhưng nội nhũ bị ức chế không hình thành Kích thước hạt là một trong những tiêu chuẩn ñánh giá tốt xấu của quả vải, vì vậy nếu ñảm bảo năng suất
và chất lượng thì việc ứng dụng các chất ức chế sự phát triển của phôi hạt là ñiều hoàn toàn có ý nghĩa [26]
Hiện tượng rụng quả vải diễn ra liên tục từ khi ñậu quả non ñến trước thu hoạch và ñược chia làm 3 thời kỳ:
Thời kỳ rụng quả non: Khi quả bằng hạt ñậu xanh, quả non rụng hàng loạt (rụng quả sinh lý ñợt 1) Nguyên nhân chủ yếu của ñợt rụng quả này là do thụ phấn, thụ tinh không hoàn toàn hoặc do thiếu dinh dưỡng hay nhiệt ñộ không thích hợp làm phôi teo quắt hoặc ngừng phát triển ðợt rụng quả này thường chiếm 30 - 35% tổng lượng quả rụng cả năm
Thời kỳ rụng quả khi quả ñang phát triển: Khi cùi quả ñã bao bọc ñược một nửa hạt, những hạt ñược phát triển ñầy ñủ thì to lên rất nhanh, những hạt không có khả năng phát triển thì phôi chết ñi, nội nhũ ngừng sinh trưởng, thiếu dinh dưỡng và các chất ñiều hoà sinh trưởng gây rụng quả ðây là thời
kỳ rụng quả sinh lý ñợt 2, tỷ lệ rụng chiếm 5 - 6% tổng lượng rụng quả non Thời kỳ rụng quả trước thu hoạch: Thời kỳ này quả ñã tích luỹ ñược phần lớn các chất dinh dưỡng, sự chuyển hoá các chất trong quả diễn ra nhanh, hàm lượng ñường tăng lên Nguyên nhân rụng quả thời kỳ này chủ yếu
là do thời tiết và sâu bệnh hại Nếu gặp mưa lâu ngày hay ñang nắng hạn gặp mưa ñột ngột sẽ làm nứt và rụng quả Rụng quả thời kỳ này tập trung vào 10 -
15 ngày trước thu hoạch
Trang 312.5 Những nghiên cứu về các chất ñiều hoà sinh trưởng và các chế
phẩm dinh dưỡng bổ sung qua lá trên cây vải
Các chất ñiều hoà sinh trưởng có vai trò rất quan trọng trong quá trình ñiều khiển sinh trưởng, phát triển của cây, gồm có: các chất kích thích sinh trưởng và các chất ức chế sinh trưởng Tuy nhiên, tuỳ từng loại chất mà chúng
có thể tham gia vào các quá trình cơ bản như: ðiều khiển các quá trình sinh trưởng (ra lá, phát chồi, tăng trưởng chiều cao cây, ñường kính thân); ñiều khiển quá trình phát triển (ra hoa, ñậu quả chính vụ và trái vụ); ñiều khiển quá trình ra rễ cho cành giâm, cành chiết; ñiều khiển quá trình bảo quản hoa, quả trên cây và trong kho; ñiều chỉnh quá trình hoá già của các bộ phận trên cây [24], [32], [33], [34], [51], [52]
Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học ñã nghiên cứu các quá trình biến ñộng, tích luỹ các chất ñiều hoà sinh trưởng trong từng giai ñoạn phát triển của cây, biết ñược những phát triển bất thường của cây do chất nào gây nên ñể từ ñó có những quyết ñịnh ñúng ñắn trong việc bổ sung các chất ñiều hoà sinh trưởng tương ứng cho cây, nhằm làm cho cây phát triển bình thường hoặc ñiều khiển phát triển theo hướng mong muốn của con người
Theo Lê Văn Tri (2001), ñể nghiên cứu ảnh hưởng của từng chất, người
ta có thể phun trực tiếp lên từng bộ phận của cây trồng các chất riêng biệt ở các nồng ñộ khác nhau Những nghiên cứu về tác dụng của các chất ñiều hoà sinh trưởng trên cây vải ñến nay còn rất hạn chế, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu ñều cho kết quả khá rõ về tác ñộng của chúng [39]
2.5.1.1 Các chất kích thích sinh trưởng
gibberellin và xytokinin ñược sản xuất từ các cơ quan non như: Lá non, chồi non, quả non chúng kích thích quá trình sinh trưởng của cây ở nồng ñộ thấp
Trang 32và chi phối sự sinh trưởng hình thành các cơ quan dinh dưỡng
Nhiều nước trồng cây ăn quả, ngoài công tác chọn tạo giống ñã sử dụng một số chất ñiều hòa sinh trưởng tác ñộng tới quá trình sinh trưởng, ra hoa, ñậu quả của cây nhằm tăng năng suất, phẩm chất quả, góp phần vào rải vụ thu hoạch Auxin tổng hợp ñã ñược sử dụng ñể ñiều khiển sinh trưởng và ra hoa vải ở Florida và Hawai vào những năm 1950 - 1960 [68] Ở Hawai phun NAA trên cây vải vào mùa thu thúc ñẩy quá trình ra hoa [54], [55]
Theo Singh (1969), phun GA3 nồng ñộ 25 và 50 mg/l vào tuần thứ 4 sau khi quả ñậu ñã làm tăng kích thước quả, ở nồng ñộ 75 mg/l ñã làm tăng kích thước quả ñồng thời pH và axit ascobic tăng [73]
R.C.Das (1971), những cụm hoa riêng biệt trên cây trưởng thành ñược phun chất ñiều hoà sinh trưởng GA3 ở nồng ñộ 10 - 40 mg/l vào 4 giai ñoạn sinh trưởng khác nhau ñã cho quả to và thịt quả nhiều hơn ñối chứng, riêng
GA3 ở nồng ñộ 40 mg/l có hiệu quả tốt nhất [78]
V.Surnarayana và R.C.Das (1971) [78], S.Vecra và R.C.Das (1972) [79], (1973) [80], khẳng ñịnh: Sử dụng các chất ñể phun cho vải như: 2,4D; NAA; GA3 và 2,4,5 - T làm tăng tỷ lệ ñậu quả, tăng khối lượng và chống nứt quả vải
Năm 1976, Khan và cộng sự ñã dùng GA3 nồng ñộ 100 ppm, α-NAA 20ppm, 2,4,5 - TP 10 ppm phun trên giống vải Rose Scented vào giai ñoạn quả bằng hạt ñậu ñã làm giảm tỉ lệ rụng quả [54] Trên giống Early Seedless và calcuttia, phun IAA 20 ppm làm giảm rụng quả, GA3 50 ppm có tác dụng giữ quả tốt, GA3 100 ppm làm tăng kích thước quả (Singh và Lal, 1980) [73] Giberelin có tác dụng thúc cây con phát triển, cây lớn mọc nhiều mầm mới, nâng cao tỷ lệ ñậu quả, kích thích quả lớn nhanh, phòng vỏ quả suy thoái làm cho quả chín chậm lại Khi phun GA3 cho vải ở thời kỳ hoa nở và thời kỳ quả non nồng ñộ 50 ppm có tác dụng tăng tỷ lệ ñậu quả và thúc quả lớn, phun
Trang 33GA3 nồng ñộ 50 - 100 ppm khi hoa nở sẽ nâng cao tỷ lệ ñậu quả, tăng khối lượng quả Phun GA3 nồng ñộ 250 - 300 ppm vào lúc nở hoa và quả non cũng
có tác dụng bảo vệ quả và thúc quả lớn [26]
ðể giảm kích thước hạt hay sản xuất quả không hạt, Kadman và Gzit (1970) ñã sử dụng 2,4,5-Trechlorophenoxypropionic acid (2,4,5 - TP) ñể ngăn ngừa rụng quả ở mức ñộ cao, ngoài ra còn làm cho trên 75% số quả có hạt nhỏ Tuy nhiên, nếu lần ñầu cho xử lý 2,4,5-TP khi hoa nở và 10 ngày sau cho phun phối hợp 2,4,5 - TP và GA3 thì sẽ ñạt 50 - 100% số quả có kích thước lớn hơn so với xử lý một lần trước ñó và 90 - 100% quả không có hạt [73] R.A Stern, D Stern, H Miller, Xu Huafu và S Grazit (1999) xử lý 67 ppm 2,4,5 -TP; 50 ppm 3,5,6 - TPA trên hai giống vải Feizixiao và Heiye khi quả ñược khoảng 2 gam hoặc có thể phối hợp phun 2,4,5 - TP lần thứ nhất, 4 ngày sau phun tiếp 3,5,6 - TPA ñã làm năng suất trên cây của cả hai giống tăng ñáng kể Giống Feizixiao từ 1,3 kg/cây tăng lên xấp xỉ 3,6 kg/cây, giống Heiye từ 1,0 kg/cây tăng lên 3,1 kg/cây và không có sự khác nhau giữa các công thức xử lý Tất cả 3 công thức trên ñều làm khối lượng quả của giống Feizixiao (từ 21,5g lên 28g) tăng xấp xỉ 30% Khối lượng quả của giống Heiye cũng tăng 20% với công thức xử lý là 3,5,6 - TPA [77]
Những năm gần ñây, các nhà nghiên cứu trong nước cũng ñang tập trung tìm hiểu kỹ tính năng của các chất ñiều hoà sinh trưởng ñối với từng loại cây ăn quả nhằm xây dựng những quy trình thâm canh thích hợp, nâng cao năng suất phẩm chất của vải Theo Trần Thế Tục (1998), dùng 4 - CPA ñể chống rụng quả vải, dùng GA3, NAA, H3BO3, sunphát ñồng có thể dùng riêng
rẽ hay dùng hỗn hợp các nguyên tố vi lượng với các chất kích thích sinh trưởng phun cho nhãn, vải khi hoa bắt ñầu nở và nở rộ có tác dụng làm tăng tỷ
lệ ñậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả non và làm quả vải lớn nhanh [44]
Theo Phạm Minh Cương (1998), phun α - NAA 20 ppm + 2,4D 10 ppm
Trang 34làm giảm rụng quả, tăng tỷ lệ ñậu quả, tăng năng suất và chất lượng của hai giống vải thiều Thanh Hà (số quả ñậu tăng 112,9%) và thiều Phú Hộ (số quả ñậu tăng 68,6%) Trong khi ñó, GA3 50 ppm chỉ có tác dụng làm tăng tỷ lệ ñậu quả của giống vải thiều Thanh Hà, còn ñối với giống vải thiều Phú Hộ thì
số quả tăng so với ñối chứng là không có ý nghĩa Phun IAA 20 ppm làm số quả của giống vải thiều Phú Hộ tăng 40% so với ñối chứng [8]
Theo Nguyễn Văn Dũng và cộng sự (2005), phun B 0,1% + urê (46%) 10g/l và SF - 900 0,3% làm rút ngắn thời gian từ ra lộc ñến thành thục của lộc thu, tăng tỷ lệ hoa cái ñồng thời tăng tỷ lệ ñậu quả và khả năng giữ quả của giống vải chín sớm Yên Hưng, phun GA3 tăng số lượng lộc/cành và kích thước lộc của giống vải chín sớm Yên Hưng [11]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Khắc Thái Sơn (2004), phun 4 lần
GA3 cho vải thiều Thanh Hà 8 năm tuổi với các nồng ñộ 15, 30, 75, 75 ppm hoặc 20, 40, 100, 100 ppm (vào các thời ñiểm: hoa nở rộ, hình thành quả, hình thành cùi, quả chắc xanh) ñã làm tỷ lệ ñậu quả tăng lên từ 2,78% lên 4,92 - 5,05%; quả to hơn; mã ñẹp hơn; tỷ lệ nứt vỏ giảm; tỷ lệ phần ăn ñược tăng từ 70,5% lên 75 - 75,85%; thời gian từ khi hoa nở rộ ñến khi quả chín từ
75 lên 78 ngày; năng suất tăng từ 51% ñến 59% [30]
ðối với việc sử dụng chất kích thích sinh trưởng trong công tác bảo quản vải tươi, Nguyễn Mạnh Khải và Nguyễn Quang Thạch (1999), bước ñầu cho thấy hỗn hợp chất kích thích sinh trưởng và vi lượng có tên là KIVIVA làm tăng tỷ lệ ñậu quả (tăng 10% so với ñối chứng), chống rụng quả (phun hai lần vào lúc hoa nở rộ và sau ñó 10 ngày), làm tăng kích thước quả và cải thiện tình trạng vỏ quả (phun sau khi hoa nở rộ 45 ngày), làm chậm chín 10 ngày so với ñối chứng và tăng khả năng bảo quản (phun vào lúc kích thước quả ñạt tối
ña và ñang bước vào giai ñoạn chín) [22]
Trang 352.5.1.2 Các chất ức chế sinh trưởng
Trong các chất ức chế sinh trưởng, ethrel có tác dụng diệt lộc ựông, khống chế việc ra lộc ựông của cây vải, kìm hãm sinh trưởng, xúc tiến phân hoá mầm hoa giúp cây vải ra hoa ựậu quả tốt hơn
Năm 1984, Khâu Tự đức dùng malein hydrazit (MH) 1.000 - 1.500 ppm phun lên quả sau khi hoa nở 7 - 13 ngày ựã làm cho hạt quả vải Hoài Chi nhỏ ựi rất nhiều, hiệu quả ựạt 73 - 100% và nâng cao phẩm chất quả [26]
Ghosh và cộng sự (1986), xử lý ethrel nồng ựộ 1,25 ựến 2,5 mg/l làm cho ra hoa sớm 7 - 13 ngày và làm tăng số lượng hoa cái [59] Sanyal và cộng
sự (1996), cũng cho biết, khi xử lý ethrel (1ml/l), KNO3104mg/l trên giống vải Bombai ựã làm 70% số cành ra hoa Những tác ựộng ựó không hứa hẹn một
vụ quả bội thu nhưng những năm mất mùa thì sự ra hoa ựó sẽ làm tăng năng suất ựáng kể [55]
Theo Trang Vương Bắch và cộng sự (1988), ở Phúc Kiến căn cứ vào dự báo thời tiết sẽ thuận lợi cho việc ra hoa muộn của vải ựã dùng ethrel 800ppm + MH 750 - 1000 ppm khống chế chùm hoa, làm giảm lượng hoa trên chùm, tăng tỷ lệ hoa cái và tỷ lệ ựậu quả [26]
S.K Mitra và Sanyal (2000) cũng cho thấy việc xử lý TIBA làm tăng
số lượng hoa lưỡng tắnh và tăng tỷ lệ nảy mầm của hạt phấn [70]
Theo Zhiyuan Huang và cộng sự (2000), một trong các biện pháp ựể khắc phục những hạn chế trong sản suất vải ở Trung Quốc là sử dụng ethrel, paclobutrazol và B9 ựể ức chế sinh trưởng và thúc ựẩy phân hoá mầm hoa Theo Nirmala Ramburn (2000), phun paclobutrazol 500 ppm + ethrel 1.000 ppm làm tăng khả năng ra hoa của giống Tai So trồng ở Mauritius [82], [74]
Theo Nguyễn Thị Ngà (1999), xử lý ethrel cho vải sau khi ựậu quả 50 -
60 ngày ựã làm cho vải chắn sớm hơn từ 5 - 7 ngày tùy thuộc vào nồng ựộ sử dụng [24] Theo nghiên cứu của Lê đình Danh và Nguyễn Thị Thanh (2000)
Trang 36[47], Phạm Minh Cương, Lê thị Thanh (2002) [48], xử lý ethrel ở nồng ựộ
500 - 1.500 ppm làm tăng tỷ lệ cành ra hoa và tăng tỷ lệ ựậu quả, tỷ lệ này ựạt giá trị cao nhất ở nồng ựộ 1.000 ppm; phun ethrel phối hợp với GA3 làm giảm lượng hoa tổng số, tăng tỷ lệ hoa cái và ựặc biệt làm tăng tỷ lệ ựậu quả
Theo đào Quang Nghị (2005), với việc xử lý thiourea cho cây vải Bình Khê (4 tuổi) ở nồng ựộ từ 300 - 900 ppm, tỷ lệ ựậu quả cao hơn so với ựối chứng Trong ựó, công thức phun thiourea ở nồng ựộ 500 ppm làm tăng năng suất 52,4% Xử lý paclobutrazol trên cây vải Bình Khê (5 tuổi) bằng phun ở nồng ựộ 900 ppm làm tăng năng suất 43,1%; xử lý paclobutrazol trong tháng
9 bằng phương pháp tưới gốc (5gam - 20 gam ai/cây) có khả năng hạn chế sinh trưởng của cây, giảm kắch thước chùm hoa, giảm tỷ lệ hoa ựực, tăng tỷ lệ hoa cái, từ ựó làm tăng tỷ lệ ựậu quả và tăng năng suất ựáng kể so với ựối chứng không xử lý trong năm ựầu tiên Công thức tưới 15gam ai/cây cho năng suất cao nhất và tăng 85,2% so với ựối chứng [25]
Những nghiên cứu trên cũng cho thấy: vải tuy là cây dễ thắch nghi về mặt sinh trưởng nhưng sự ra hoa ựậu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố Hiện tượng ra hoa không tập trung và rụng quả non thực sự là nguy cơ làm giảm năng suất vải Nguyên nhân gây ra rụng quả có nhiều nhưng một trong những nguyên nhân ựó là do dinh dưỡng và thiếu những chất ựiều hoà sinh trưởng nội sinh, ựặc biệt là trong ựiều kiện bất thuận của thời tiết Việc nghiên cứu sử dụng các chất ựiều hoà sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá nhằm có ựược ựợt lộc cành mẹ tập trung và ựúng thời ựiểm cũng như tăng khả năng ra hoa, ựậu
và giữ quả là yếu tố quyết ựịnh năng suất, chất lượng của vải
2.5.2 Sử dụng phân bón lá
Ngoài phương pháp bón phân vào ựất qua rễ hấp thụ cung cấp cho cây,
ta vẫn có thể cung cấp dinh dưỡng trực tiếp cho cây bằng cách phun qua lá Biện pháp này có tác dụng bổ sung nhanh chóng một vài yếu tố cần thiết cho
Trang 37cây nhằm hạn chế kịp thời tác ñộng xấu do thiếu chúng gây ra [67]
Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: các nguyên tố ña lượng, trung lượng và vi lượng, ngoài ra còn có một số chất kích thích sinh trưởng Vai trò của phân bón lá ñối với cây trồng là tác ñộng tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố ña lượng, trung lượng và vi lượng, chúng có vai trò rất quan trọng trong ñời sống cây trồng [10], [41]
- Nitơ: Rất cần cho cây ở các giai ñoạn sinh trưởng, có tác dụng nâng
cao năng suất, phẩm chất quả N thúc ñẩy quá trình sinh trưởng dinh dưỡng, bón N hợp lý sẽ tạo cho cây phát triển khoẻ mạnh, nâng cao hiệu suất quang hợp, tích luỹ ñược nhiều chất dinh dưỡng, thuận lợi cho quá trình phân hoá hoa, tăng năng suất Bón thừa N làm cho cành lá phát triển quá mạnh, khó phân hoá mầm hoa, rụng hoa, rụng quả làm giảm sản lượng và phẩm chất quả kém, sức chống chịu sâu bệnh giảm Thiếu N, cây có màu vàng nhạt, sinh trưởng kém, lộc mọc yếu, cành lá bé, lá rụng sớm, hoa và quả rụng nhiều, năng suất thấp, tuổi thọ của cây ngắn
- Phospho: giúp cho sự phát triển của rễ, tăng cường khả năng chống
hạn, chống rét cho cây, thúc ñẩy quá trình phân hoá mầm hoa, sự phát dục của quả, sự thành thục của hạt, nâng cao phẩm chất quả Thiếu lân cây vải có lá to hơn và có màu xanh tối, nếu thiếu nghiêm trọng lá nhọn ra, chóp lá có màu nâu sẫm, có ñốm khô và sau loang ra gân chính
- Kali: giúp cho cấu tạo mô cây thêm cứng cáp, việc vận chuyển các
sản phẩm quang hợp ñến các tổ chức của cây ñược thuận lợi Kali làm tăng sức ñề kháng của cây như: chịu hạn, chịu lạnh, chịu nóng, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh Kali thúc ñẩy chuyển hoá và vận chuyển ñường, giúp cho quả lớn nhanh, tăng phẩm chất quả, tăng khả năng bảo vệ của vỏ quả
- Can xi: Tham gia vào cấu tạo của vách tế bào, thiếu can xi lá nhỏ lại,
mép lá có những ñốm khô và uốn cong, rễ sinh trưởng kém, lá non dễ bị rụng
Trang 38- Magiê: Tham gia vào cấu tạo diệp lục, thúc ñẩy quá trình tăng trưởng
quả, nâng cao chất lượng quả Thiếu Mg lá nhỏ lại, hai bên gân chính xuất hiện nhiều ñốm khô nhỏ gần như phân bố song song với nhau, rễ ít [41], [45]
Các nguyên tố vi lượng giữ vai trò quan trọng ñối với sinh trưởng và phát triển của cây Theo Lê Văn Tri (1992) [38], Dương Văn ðảm (1994) [14], ngoài các nguyên tố ña lượng và trung lượng còn có một số nguyên tố
mà cây cần rất ít nhưng nếu thiếu thì cây không thể phát triển bình thường ñược, những nguyên tố ñó ñược gọi là nguyên tố vi lượng Vai trò sinh lý và nông hoá của các nguyên tố vi lượng trong ñời sống cây trồng thể hiện ở nhiều mặt, chúng thúc ñẩy sự trao ñổi chất trong cây, tác ñộng tốt ñến các quá trình sinh lý và sinh hoá, ảnh hưởng ñến quá trình tổng hợp diệp lục và nâng cao cường ñộ quang hợp, tăng cường khả năng chống chịu của cây ñối với bệnh nấm, vi khuẩn và các ñiều kiện bất lợi của môi trường
Theo Nguyễn Văn Uyển (1995) [46], Võ Minh Kha (1996) [21], các nguyên tố vi lượng có thể ñược phun lên lá nhằm kịp thời cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây, nhất là các nguyên tố như: B, Mn, Cu, Zn, Mo
Khi cung cấp B cho vải trong trường hợp cấp bách dùng 50 ppm axit boric (H3BO3) phun liên tiếp 2-3 lần sẽ có tác dụng tăng tỷ lệ ñậu quả từ 2,4 lên 4 lần so với ñối chứng Dùng axit boric nồng ñộ 60 ppm ñể phun vào giai ñoạn nở hoa làm tăng khả năng nảy mầm của hạt phấn và ống phấn kéo dài có lợi cho việc thụ tinh Nếu sử dụng axit boric 80 ppm không có lợi cho sự nảy mầm của hạt phấn, với 300 ppm có hại cho hoa cái Vì vậy, khi sử dụng axit boric cần chú ý ñến nồng ñộ của B, nồng ñộ phun thường là 0,05 - 0,1% [45]
Theo Phạm Văn Côn (2004), phun B và phun phối hợp B + Zn trên vải thiều Phú Hộ ñều làm tăng số quả so với ñối chứng (tăng 50,4 - 92,8%) Phun
B + Cu, B + Zn trên giống vải thiều Lục Ngạn, làm tăng số quả thu hoạch tới 90,3 - 109,5%; khối lượng quả tăng từ 5,9 - 8,5%; do ñó năng suất tăng từ
Trang 39101,3 - 127,3% Chất lượng quả cũng tăng, cụ thể: ñộ Brix tăng từ 4,5% lên 7,3%; ñường tổng số tăng từ 4,5% lên 12,1%; axit giảm 3,4%; vitamin C giảm 3,7 ñến 3,1% [7]
Theo Brenchley W.E và cộng sự (1927), B là nguyên tố rất cần thiết ñối với ñời sống cây trồng Vai trò của B ở trong cây rất ñặc thù mà không thể thay thế bằng bất cứ nguyên tố nào khác Cây thiếu B sinh trưởng của rễ và thân ngừng lại Thiếu B nghiêm trọng sẽ ảnh hưởng ñến sự phát triển của các
cơ quan sinh sản, có thể hoàn toàn không ra hoa hoặc rất ít hoa, ñiểm sinh trưởng bị chết B rất cần cho cây khi ra hoa, vì trong núm nhị, bầu nhị, nhị và nhuỵ ñều chứa nhiều B, vì vậy B có vai trò nhất ñịnh vào việc kết quả của vải [38], [39], [40]
Dung dịch kẽm sunfat nồng ñộ 0,5 - 1,0% phun cho cây có tác dụng chống rụng quả và làm cho cây ít hình thành tầng rời
- Molipñen (thường dùng dung dịch amôni môlipñat) có tác dụng ñối với sự nảy mầm của hạt phấn, nhưng nồng ñộ không nên cao quá 5 ppm Nếu nồng ñộ quá cao sẽ có tác dụng ức chế sự nảy mầm của hạt phấn
Theo Trần Thế Tục (1997) [41], ñể tăng khả năng ñậu hoa, ñậu quả cần phun các chất dinh dưỡng cho vải vào lúc hoa tàn, vì:
- Mùa hoa nở cây huy ñộng rất nhiều dinh dưỡng, sau khi hoa tàn là lúc cây ñang khủng hoảng về mặt dinh dưỡng, bởi vậy cần bổ sung kịp thời dinh dưỡng cho cây
- Lúc này bộ rễ hoạt ñộng yếu vì bị ức chế do hoa nở rộ, nếu bón phân vào ñất lúc này rễ cũng chưa có ñiều kiện hấp thu
Phun lên lá vào giai ñoạn này nhằm bổ sung kịp thời dinh dưỡng cho cây, giảm bớt rụng quả sinh lý Thường có thể dùng dung dịch ure 0,2% thêm dung dịch magiê sulfat 0,1% ñể phun Với cây có nhiều quả hay cây yếu có thể phun 2-3 lần vào buổi chiều mát, vào mặt dưới (lưng lá) ñể cây dễ hấp thu
Trang 40vì mặt dưới lá có nhiều khí khổng
Theo Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần (1991), phun ure nồng ñộ 0,3 - 0,5% cho cây thiếu N, phản ứng của chúng rất nhanh, sau 3 - 5 ngày ñã thấy lá chuyển màu xanh Tuy nhiên, nếu dùng nồng ñộ ure cao quá sẽ gây ngộ ñộc cho cây, do ñó trong dung dịch ure thường cho thêm vôi hoặc ñường sacaroza ñể giảm ñộc [26]
Tóm lại, phun chất ñiều hoà sinh trưởng và phân bón lá không những thúc ñẩy quá trình sinh trưởng phát triển của cây, mà còn làm giảm việc hình thành tầng rời, bảo ñảm cho vận chuyển các chất dinh dưỡng vào nuôi quả, do
ñó giảm ñược tỷ lệ rụng quả, nâng cao năng suất và phẩm chất vải ðể có ñược năng suất cao và ổn ñịnh lâu dài cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh ñồng bộ, tiên tiến như bón phân, cắt tỉa, sử dụng các chất ñiều tiết sinh trưởng và dinh dưỡng qua lá, phòng trừ sâu bệnh ñồng thời áp dụng quy trình sản xuất theo hướng sản phẩm an toàn (quy trình GAP), ñáp ứng ñược yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu