BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI =====***===== ðINH HUY TÂN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CÔNG THỨC BÓN PHÂN ðẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CÀ PH
MỞ ðẦU
ðặt vấn ủề
Trong những năm gần đây, dưới ảnh hưởng của thị trường cà phê thế giới, giá cà phê Việt Nam biến động thất thường Tuy nhiên, cây cà phê vẫn đóng góp ổn định cho thu nhập của người dân và mang lại động lực tăng trưởng cho nền kinh tế nước nhà Kim ngạch xuất khẩu cà phê ước đạt trên 1,5 tỷ USD mỗi năm, thể hiện vai trò quan trọng của ngành cà phê đối với nền kinh tế và sinh kế của người dân.
Các kết quả nghiên cứu về bón phân cho cà phê cho thấy bón phân cân đối có thể tăng năng suất từ 20–30% Các yếu tố N, P, K và vi lượng (Zn, B,…) đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng và năng suất của cây cà phê, và nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu sự cân đối giữa các nguyên tố dinh dưỡng Cây cà phê non dễ bị thiếu lân, nên lân cần cho sự phát triển của hệ rễ và hình thành gỗ Trong giai đoạn kinh doanh, vai trò của kali đặc biệt quan trọng với cây cà phê Các nghiên cứu về phân bón được tiến hành tại Sơn La, Quảng Trị và A Lưới Kết quả cho thấy bón phân hỗn hợp gồm phân hữu cơ và vô cơ vừa cải thiện năng suất, vừa ảnh hưởng đến một số chỉ tiêu cấu thành năng suất như khối lượng 100 hạt và tỷ lệ quả tươi/nhân Bón phân chuồng và vôi cho cà phê càng tăng hiệu quả của các nguyên tố dinh dưỡng, đặc biệt kali.
Hiện nay cà phê Việt Nam trồng chủ chủ yếu là giống cà phê vối (Coffea canephora var Robusta L), ủược trồng nhiều ở vựng Tõy Nguyờn, cà phờ chố
Cà phê Arabica (Coffea arabica L.) được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc nước ta Khu vực trồng cà phê tập trung tại các tỉnh phía Bắc, bao gồm Thừa Thiên–Huế, Quảng Trị, Nghệ An, Sơn La và Điện Biên Do điều kiện khí hậu và đất đai ở một số vùng, một số diện tích trồng cà phê vối đã được chuyển đổi sang trồng cà phê chè, vì giá cà phê chè trên thị trường thường cao hơn cà phê vối.
Tỉnh Sơn La có lịch sử trồng cà phê trước năm 1945 với các giống cà phê chố cũ như Bourbon, Mundonovo, Caturra , song do sõu bệnh phỏ hại ủặc biệt là bệnh gỉ sắt, sõu ủục thõn gõy thiệt hại nặng nề và ủó bị xúa sổ hoàn toàn Năm 1996, tỉnh ủó tiến hành trồng lại giống Catimor do Viện KHKT NLN Tõy Nguyờn chọn lọc chống chịu ủược bệnh gỉ sắt, ủến nay toàn tỉnh ủó trồng ủược với diện tớch khoảng 5.500 ha, sản lượng 1.500 tấn nhân /năm Việc phát triển cà phê chè (Coffea arabica L) mang giỏ trị kinh tế trong mấy năm qua ủó ủem lại lợi nhuận, gúp phần xoỏ ủúi giảm nghốo cho ủồng bào cỏc dõn tộc miền nỳi, tạo cụng ăn việc làm ổn ủịnh cho hàng trăm hộ gia ủỡnh ủồng bào dõn tộc thiểu số tại chỗ
Song hạn chế lớn nhất ủối với việc phỏt triển cà phờ ở Sơn La là: ðịa hỡnh ủồi nỳi, ủất dốc, lượng mưa hàng năm lớn và tập trung nờn quỏ trỡnh xúi mũn ủất, rửa trụi chất dinh dưỡng trong ủất và phõn bún rất mạnh, ảnh hưởng khụng tốt ủến hiệu quả ủầu tư Bờn cạnh ủú trỡnh ủộ dõn trớ cũn thấp, ủặc biệt trỡnh ủộ canh tỏc của ủồng bào dõn tộc thiểu số cũn rất sơ khai, canh tỏc chưa ủỳng biện phỏp kĩ thuật, canh tỏc khụng ủồng bộ ủó dẫn ủến năng suất cà phờ ở Sơn La vẫn chưa cao ðể góp phần vào kế hoạch phát triển cà phê chè nói chung, cũng như giúp cho bà con dân tộc tại một số tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, chăm sóc cây cà phê chè một cỏch bền vững và hiệu quả vỡ vậy chỳng tụi tiến hành nghiờn cứuủề tài: “ Nghiờn cứu ảnh hưởng của một số cụng thức bún phõn ủến sinh trưởng, phỏt triển và năng suất cà phê chè Catimor ở huyện Mai Sơn - Sơn La."
Mục ủớch – yờu cầu của ủề tài
2.1 Mục ủớch ðiều tra, ủỏnh giỏ ủược hiệu quả của việc sử dụng cỏc loại phõn hữu cơ, vụ cơ, cỏc nguyờn tố dinh dưỡng trung vi lượng và cỏc loại cõy phõn xanh ủối với cõy cà phê chè
2.2 Yờu cầu của ủề tài
- Xỏc ủịnh hiệu quả của phõn hữu cơ và cỏc phương phỏp tạo nguồn phõn hữu cơ sử dụng cho cây cà phê
- Xỏc ủịnh ủược một số cỏc yếu tố dinh dưỡng trung và vi lượng cần thiết cho cây cà phê
- Xỏc ủịnh lượng phõn khoỏng thớch hợp (cõn ủối NPK) cho cõy cà phờ chố giống Catimor tại huyện Mai Sơn, Sơn La
- Xỏc ủịnh ủược kỹ thuật bún phõn hiệu quả nhất cho cõy cà phờ chố tại huyện Mai Sơn, Sơn La (phương pháp bón, số lần bón, kết hợp phân khoáng với hữu cơ).
Phạm vi nghiờn cứu của ủề tài
- ðịa ủiểm: Tại xó Chiềng Ban huyện Mai Sơn, Sơn La
- Thời gianthực hiện ủề tài: ( Từ thỏng 1 ủến thỏng 12/2012)
TỔNG QUAN
Vài nét về nguồn gốc, phân loại và yêu cầu sinh thái của cây cà phê
2.1.1 Nguồn gốc, phân loại cây cà phê
Cõy cà phờ thuộc họ Rubiaceae, trong ủú chi Coffea cú gần 100 loài, Charier
(1947) ủó gộp thành 4 nhúm chớnh là: Eucoffea K Schum; Argocoffea Piere; Mascarocoffea và Paracoffea Miq Riêng nhóm Paracoffea bao gồm những loài có nguồn gốc Ấn độ, các nước đông Dương, Sri Lanka, Malaysia và Việt Nam Trong ủú Việt Nam mới phỏt hiện cú 2 loài mọc hoang dại ủú là Coffea dongnaiensis P.ex.Pit và Coffea conchinchinensis P.ex.Pit [15]
Cà phờ chố (Coffea arabica L) sống ở ủộ cao 1.500 – 2.000 m Cõy cà phờ chố thuộc dạng bụi, cao 3 – 4 m, trong ủiều kiện thuận lợi chiều cao cõy cú thể ủạt từ 6 – 7 m, cành và lỏ mọc ủối xứng, lỏ hỡnh trứng, nhọn ủầu, cuống lỏ ngắn, hoa màu trắng, hương thơm nhẹ, mọc ở nỏch lỏ, quả cà phờ chố khi chớn cú màu ủỏ hoặc màu vàng, hỡnh trứng cú ủường kớnh từ 10 – 18 mm, hạt cú màu xanh xỏm, xanh lục, xanh cốm hoặc sẫm Cà phờ chố cú ủặc tớnh tự thụ phấn và khoảng 90%, vỡ vậy ủộ thuần chủng cao hơn cỏc loài cà phờ khỏc, [17].Trong ủiều kiện bỡnh thường hạt phấn cú thể duy trỡ sức nảy mầm trong thời gian từ 24 – 36 giờ, cũn nếu ủược bảo quản trong ủiều kiện chõn khụng ở nhiệt ủộ 18 0 C, hạt phấn cú thể kộo dài sức nảy mầm của chúng tới 3 năm hoặc hơn nữa [36], [37]
Catimor (Coffea arabica var catimor) là giống cà phê được tạo ra ở Bồ Đào Nha năm 1959, là kết quả của sự lai giữa Coffea arabica var caturra và Hybrido de Timor; cây trưởng thành sớm và cho năng suất cao, thường bằng hoặc vượt các giống thương mại khác, với ưu điểm thân thấp, tiềm năng năng suất cao và kháng bệnh gỉ sắt cũng như chịu hạn tốt Tại Ấn Độ, giống Catimor được gọi là Cauvery và rất được ưa chuộng; tại Colombia có tên gọi La Variedad Colombia Một số dòng Catimor thế hệ F3, F4 từ Bồ Đào Nha, Cuba và Colombia đã được nhập về Việt Nam từ năm 1986–1987; từ 1988–1995, kết hợp nhiều phương pháp đánh giá và chọn lọc quần thể, Viện Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên đã chọn lọc được giống Catimor thế hệ F6 có khả năng kháng gỉ sắt cao, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và cho phổ biến ra sản xuất.
Cà phờ vối (Coffea canephora Pierre) cú nguồn gốc từ rừng nhiệt ủới ẩm, trải dài từ Guinộ ủến Uganda và Angola Loài cà phờ vối mới ủược phỏt hiện ở chõu Phi vào cuối thế kỷ 19 trong cỏc vựng thấp thuộc chõu thổ sụng Congo và ủược ủặt tờn bởi nhà thực vật học người Phỏp, Pierre, 1897 Cà phờ vối cú ủặc ủiểm thụ phấn chộo bắt buộc nờn quần thể rất ủa dạng về hỡnh thỏi nếu ủược nhõn giống bằng hạt Cây cà phê vối là cây nhỡ, cao 8 – 12 m, có nhiều thân, ít cành thứ cấp, cành dài lả lướt Coffea canephora var robusta là thứ cà phờ vối ủược trồng nhiều nhất, chiếm 90% diện tích cà phê vối trên thế giới ðặc trưng thực vật của chủng này là cây khỏe, ớt cành thứ cấp, cho năng suất cao và khả năng khỏng bệnh khỏ Nhược ủiểm chớnh của giống này là khả năng chịu hạn kộm Cà phờ vối ủược trồng nhiều ở chõu Phi và chõu Á Ở Việt Nam cú trờn 95% diện tớch cà phờ ủược trồng bằng giống này và ủược gọi là giống cà phờ vối, riờng tại ðắkLắk ủa số nụng dõn trồng bằng giống cà phê vối Ở Việt Nam, cà phê vối nhóm Robusta và Kuillou trồng ở miền Nam ủược du nhập từ ủảo Java Inủụnesia và cộng hũa Trung Phi (Nguyễn Sỹ Nghị,
Cà phờ vối mọc khỏe, dễ trồng, chịu thõm canh, năng suất cao Do ủặc tớnh cõy sinh trưởng khỏe, ớt sõu bệnh, năng suất cao nờn cõy cà phờ vối ủược phỏt triển nhanh trong vũng 30 năm trở lại ủõy Về phẩm chất, cà phờ vối cú vị ngon nhưng kộm về vị hương nờn ớt ủược ưa chuộng bằng cà phờ chố Quả cà phờ vối to hơn quả cà phê chè, tỷ lệ quả tươi/ nhân thấp (4,2 – 4,7), hàm lượng cafein từ 2,5 – 3% cao hơn cà phờ chố (1,8 – 2%) Cà phờ vối là nguyờn liệu chớnh ủể sản xuất cà phờ hũa tan và hiện nay chiếm trên 32% sản lượng cà phê thế giới
Cà phờ mớt (Coffea excelsa Chev.) phỏt hiện ủầu tiờn vào năm 1902 ở Ubangui – Chari nờn thường ủược gọi là cà phờ Chari Cõy gỗ nhỡ cú chiều cao từ
Cà phê mít là loại cây có khả năng sinh trưởng khỏe, chịu hạn tốt và ít bị bệnh; cây cao 15–20 m, lá to hình trứng hoặc hình mỏ, với chiều dài lá tối đa 25–40 cm Quả hình trứng hơi dẹt, có núm lồi; khi chín quả có màu đỏ sẫm Hạt có màu xanh ngả vàng, hàm lượng caffeine thấp, khoảng 1,02–1,15% Phẩm chất cà phê mít nói chung kém, vị chua, ít hương hoặc không có hương; trên thị trường giá trị thấp Ở Việt Nam, cây cà phê mít được trồng nhiều ở Lâm Đồng và Gia Lai; hiện nay diện tích cây cà phê mít đã giảm đáng kể.
Nhìn chung công tác phân loại thực vật cũng như quá trình tiến hóa của các nhúm, loài, thuộc chi Coffea rất phức tạp vỡ nú bao gồm nhiều loại cõy mang ủặc ủiểm thực vật rất khỏc nhau, rất dễ nhầm lẫn trong phõn loại, song ủõy là cụng việc không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học thuần túy, mà còn có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng giúp các nhà chọn tạo giống làm cơ sở cho việc lai tạo, cải tiến và chọn lọc giống
Vài nét về cây cà phê chè
Tổ tiên của loài cà phê chè (Coffea arabica L) có nguồn gốc ở Ethiopia và cao nguyên Boma thuộc Sudan, nhưng mãi tới năm 850 sau Công nguyên người ta mới phát hiện thấy những cây cà phê chè hoang dại mọc rải rác dưới tán rừng ở nơi ủõy Hiện nay, ở Ethiopia cũn khoảng 200.000 ha rừng vẫn thấy cà phờ chố mọc hoang dại Từ ủõy, cõy cà phờ ủược ủem sang trồng ở Ả Rập thuộc ủịa của Harar rồi tới Mecca và các vùng khác trên thế giới theo bước chân của những người hành hương, truyền ủạo
Hầu hết các chi Coffea là những loài nhị bội (2n = 22) và là những cây hoàn toàn không có khả năng tự thụ phấn Duy nhất có loài cà phê chè là loài tứ bội (2n = 44) có khả năng tự thụ phấn [17]
Cà phê chè là tên gọi theo tiếng Việt, do loài cà phê này có lá nhỏ, cây thường ủể thấp giống cõy chố một loài cõy cụng nghiệp phổ biến ở Việt Nam ðây là loài có giá trị kinh tế nhất trong số các loài cây cà phê Cà phê chè chiếm 61% các sản phẩm cà phê toàn thế giới Cây cà phê chè Arabica ưa sống ở vựng nỳi cao Người ta thường trồng nú ở ủộ cao từ 1000-1500 m Cõy cú tỏn lớn, màu xanh ủậm, lỏ hỡnh oval Cõy cà phờ trưởng thành cú thể cao từ 4-6 m, nếu ủể mọc hoang dó cú thể cao ủến 15 m Quả hỡnh bầu dục, mỗi quả chứa hai hạt cà phê
Lý do khú phỏt triển cà phờ chố do ủộ cao ở Việt Nam khụng phự hợp, những vùng chuyên canh cà phê ở Việt Nam như Buôn Ma Thuột - ðắk Lắk, Bảo Lộc -
Ở Lâm Đồng, với độ cao từ 500–1000 m so với mực nước biển, loài cây này lại gặp nhiều sâu bệnh hại nên hiệu quả kinh tế không bằng trồng cà phê vối tại Việt Nam.
2.1.2 Yêu cầu sinh thái của cây cà phê
Các yếu tố khí hậu chính:
- Nhiệt ủộ: Cõy cà phờ sống trong ủiều kiện nhiệt ủộ từ 5-35 o C nhưng nếu nhiệt ủộ > 35 o C thỡ cõy ngừng quang hợp Nếu nhiệt ủộ xuống dưới 5 o C thỡ cõy ngừng sinh trưởng và phát triển Khả năng chịu rét của cây cà phê rất kém (khả năng chịu rột của cõy cà phờ vối kộm hơn cà phờ chố) Ơ nhiệt ủộ 7 o C cõy ủó ngừng sinh trưởng và từ 5 o C trở xuống cõy bắt ủầu bị gõy hại nghiờm trọng Nhiệt ủộ thớch hợp cho cõy cà phờ vối sinh trưởng và phỏt triển tốt là 24-26 o C Do ủú những vựng thường xuyờn bị sương muối thỡ khụng nờn trồng cà phờ Song phạm vi nhiệt ủộ phự hợp ủối với từng giống cà phờ cú khỏc nhau
+ Cà phê chè ưa nơi mát và hơi lạnh Phạm vi thích hợp từ 18 – 25 0 C, thích hợp nhất từ 20 – 22 0 C
Cà phê vối thích hợp ở vùng có độ ẩm và nhiệt độ vừa phải; phạm vi nhiệt độ từ 22–26°C và tối ưu nhất từ 24–26°C Nhiệt độ giảm xuống tới 0°C có thể làm hỏng chồi non và kéo dài có thể làm hỏng cả lá già, đặc biệt khi xuất hiện sương muối Gió mạnh và độ ẩm không phù hợp đều gây bất lợi cho sự sinh trưởng của cà phê vối.
Sự chờnh lệch về nhiệt ủộ giữa cỏc thỏng trong năm cũng như biờn ủộ nhiệt ủộ giữa ngày và ủờm cú ảnh hưởng rất lớn ủến chất lượng, ủặc biệt là hương vị của hạt cà phờ Ở những vựng vào giai ủoạn hạt cà phờ ủược hỡnh thành và tớch luỹ chất khụ, nhiệt ủộ càng xuống thấp và chờnh lệch biờn ủộ giữa ngày và ủờm càng cao thỡ chất lượng cà phê càng cao [25] ðộ chênh lệch này cao thì phẩm chất cà phê thơm ngon vỡ ban ngày nhiệt ủộ cao thỳc ủẩy quỏ trỡnh quang hợp, tớch luỹ chất khụ và ban ủờm nhiệt ủộ xuống thấp sẽ hạn chế sự tiờu hao cỏc chất ủó ủược tớch luỹ [2]
Một số kết quả về sử dụng phân bón cho cà phê
Hiệu quả của việc sử dụng phõn bún rất khac nhau tựy thuộc vào loại ủất, ủiều kiện khớ hậu, kỹ thuật canh tỏc … Việc sử dụng một lượng phõn bún cao cho những vựng cú mưa thấp và phõn bố khụng ủều, vườn cõy khụng ủược tưới nước, cú nhiều cây che bóng thường không mang lại hiệu quả
Cà phờ là loại cõy lõu năm nờn việc cung cấp dinh dưỡng khụng phải chỉ ủể nuụi quả mà cũn ủể tạo ra những cành dự trữ cho năm sau Theo Bheemaiah (1992), lượng dinh dưỡng lấy ủi từ sản phẩm thu hoạchchỉ bằng 1/3 tổng số dinh dưỡng mà cõy cần ủể nuụi quả và bộ khung tỏn Lượng dinh dưỡng trong 1.000kg quả tươi cú 15kg N; 2,5kg P2O5; 24kg K2O (Catani) Còn trong 1.000 kg nhân cà phê (gồm cả vỏ quả) biến ủộng từ 30kg N; 3,75kg P 2 O 5 và 36,5kg K 2 O (Forestier, 1969) ủến 40,83 kg N; 5,27 kg P 2 O 5 ; 49,6 kg K 2 O (dẫn theo Trương Hồng, 1999) [3] Ở Ấn ðộ lượng phân bón bình quân cho 1 ha có năng suất dưới 1 tấn là 80kg
N, 60kg P 2 O 5 , 80kg K 2 O và trên 1 tấn là 120kg N, 90kg P 2 O 5 , 120kg K 2 O (Bheemaiah, 1992) (dẫn theo Trương Hồng, 1999) [3]
Tại Việt Nam, Tôn Nữ Tuấn Nam (1993) [14] khuyến cáo lượng phân bón cho 1ha có năng suất 3 tấn nhân là 340kg N, 100kg P 2 O 5 , 230kg K 2 O Kết quả nghiên cứu của Trình Công Tư (1999) [26] cho thấy tổ hợp phân khoáng có ý nghĩa nhất ủối với sinh trưởng và năng suất cà phờ vối kinh doanh trờn ủất ủỏ bazan ở Tõy Nguyờn là 400 N, 150 P2O5, 400 K2O/ha và ủạt năng suất 3,71 tấn/ha
Phân bón cho cây cà phê được sử dụng với mức độ khác nhau, phụ thuộc vào năng suất và tính chất đất Nhìn chung, các yếu tố này quyết định liều lượng tối ưu cho từng vườn Ở các vườn cà phê không có cây che bóng, lượng phân bón được khuyến cáo có xu hướng khác so với những vườn có cây che bóng, phản ánh sự ảnh hưởng của bóng mát đến nhu cầu dinh dưỡng của cây.
Bảng 2.3: Lượng phân bón sử dụng cho cà phê trong ủiều kiện cú che búng và khụng che búng
Nước Nguồn Vườn cây N (kg) P 2 O 5 (kg) K 2 O (kg)
El Salvador Viện cà phê
Hawaii Goto, 1956 Không che bóng 412 112 448
Ngoài cỏc nguyờn tố ủa lượng NPK, cõy cà phờ cú yờu cầu khỏ cao về lưu huỳnh Theo kết quả nghiờn cứu của Tụn Nữ Tuấn Nam thỡ phần lớn ủất trồng cà phờ của Việt Nam ủều thiếu nguyờn tố này ðất ủỏ bazan tuy cú hàm lượng lưu huỳnh khỏ cao, từ 300 – 700 ppm nhưng khụng ủủ ủể ủảm bảo cho cõy cà phờ sinh trưởng, phỏt triển tốt và tỏc giả ủề nghị bổ sung 30- 60 kg S/ha/năm bằng cỏch dựng phõn ammonium sulphat (SA), là loại phõn N dưới dạng SA với mức 100 kg/ha ủể giải quyết vấn ủề thiếu lưu huỳnh của cõy cà phờ vối trờn ủất ủỏ bazan Ảnh hưởng của phõn chuồng ủến năng suất cà phờ vối ở Tõy Nguyờn cũng ủó ủược nhiều tỏc giả nghiờn cứu Trương Hồng (1999) [3] nhận xột: Bún bổ sung thờm 20 tấn phõn chuồng/ha theo chu kỳ 3 năm bún 1 lần ủó cú tỏc dụng nõng cao năng suất trờn 15% và cú hiệu quả kinh tế cao hơn so với ủối chứng khụng bún phân chuồng Trình Công Tư (1999) [26] cũng có kết luận tương tự và khuyến cáo nên bún bổ sung 10 tấn phõn chuồng/ha/năm ủể nõng cao hiệu quả sử dụng của phõn khoỏng Kết quả ủiều tra của Phõn viện Thiết kế quy hoạch Nụng nghiệp miền Trung
(2004) [19] cho thấy tỷ lệ hộ bún phõn chuồng cho cà phờ thay ủổi tựy vựng, biến ủộng từ 21% ở huyện Krụng Păk ủến 100% ở vựng Buụn Ma Thuột Trung bỡnh cú trên 50% nông dân bón phân hữu cơ (chủ yếu là phân chuồng) cho vườn cà phê với lượng bón từ 15 – 30 m 3 /ha, chu kỳ 3 – 4 năm bón 1 lần
2.2.1 Sử dụng phân vô cơ bón cho cà phê chè
Cà phờ là một loại cõy cụng nghiệp lõu năm nhưng rất nhạy cảm ủối với phõn bún Trong ủiều kiện cỏc biện phỏp kỹ thuật khỏc ủược thoả món nếu ủược bún chất hữu cơ, N, P, K ủầy ủủ và cõn ủối thỡ cà phờ cho năng suất cao ổn ủịnh, bền vững Ngược lại, phõn bún thiếu, lại bún khụng cõn ủối thỡ cõy cà phờ sẽ bị khụ cành khụ quả, vườn cà phê thoái hóa và không có hiậu quả kinh tế
Theo Coste (1960) [41] N, P và K là những nguyờn tố ủa lượng vụ cựng cần thiết cho cõy cà phờ Tựy từng giai ủoạn sinh trưởng mà nhu cầu N-P-K cú khỏc nhau Theo De Geus (1967) [29], trong giai ủoạn kiến thiết cơ bản, cõy cà phờ rất cần P ủể phỏt triển bộ rễ, cũn sang giai ủoạn kinh doanh cà phờ lại cần N và K nhiều hơn
Tại Brazil, theo Malavolta (1990) [30], khi trồng mới người ta bón cho mỗi hố cà phờ 60 – 80g P 2 O 5 ; 12 -15g K 2 O; 200 – 250g bột ủỏ vụi dolomite; 0,2g bo; 0,2g ủồng; 1g kẽm, trộn ủều với lớp ủất mặt với cà phờ kiến thiết cơ bản năm thứ nhất cần bún bổ sung 4 lần phõn ủạm, 5g N/gốc; 2 lần kali mừi lần 5 – 10g/gốc Năm thứ 2 bún gấp 4 lần năm thứ nhất, năm thứ 3 bún gấp ủụi năm thứ 2 Trong giai ủoạn kinh doanh, lượng phõn bún cho 1 ha là 200 – 300 kg N; 50 kg P2O5; 200 – 300 kg K 2 O, chia ra 3 – 4 lần bón trong mùa mưa Ngoài ra người ta phun thêm phõn vi lượng H3BO3 nồng ủộ 0,3% ZnSO4 nồng ủộ 0,6 - 0,8%
Tại Peru (1997) [20] người ta bún cho mỗi ha cà phờ Catimor mật ủộ 5.000 cây/ ha trồng 2 cây/ hố một lượng phân như sau:
Vụ thu hoạch thứ 1: ðể ủạt năng suất 460 – 960 kg nhõn/ha thỡ lượng bún là 90 N – 30 P 2 O 5 – 120 K 2 O kg/ha
Vụ thu hoạch thứ 2: ðể ủạt năng suất 736 – 1.150 kg nhõn/ha, bún là: 140
Vụ thu hoạch thứ 3: ðể ủạt năng suất 1.196 – 1.840 kg nhõn/ ha, bún là:
Vụ thu hoạch thứ 4: ðể ủạt năng suất trờn 1.840 kg nhõn/ ha, bún là: 280
Ngoài ra người ta bón kèm thêm Bo, Zn cho cà phê khi thấy có biểu hiện thiếu Vào những năm cho năng suất cao nhất, người ta có thể bón thêm 1 lần phân urờ với lượng bún 150 kg urờ/ha ðối với cà phờ cưa ủốn phục hồi, trong 1 năm thứ nhất, người ta bún 40 N – 40 P 2 O 5 – 60 K 2 O kg/ha Trong năm thứ 2 ủể ủạt năng suất 460 – 690 kg/ha người ta bón 90 N – 40 P2O5 – 120 K2O kg/ha Lượng phân bún cho cà phờ mới trồng ủược chia làm 2 lần/năm, lần 1 bún lỳc ra hoa, lần 2 bún hình thành hạt
Theo De Geus (1967) ở Colombia, khi mức che bóng cho cà phê đạt khoảng 30%, người ta đề nghị dùng các loại phân NPK có thành phần 12-6-22, 12-6-24 hoặc 10-5-20 với liều bón từ 100–1.000 g mỗi cây Đối với đất chua, bổ sung dolomite ở dạng rải với 300 g cho mỗi gốc Ở vùng Supía, để đạt năng suất khoảng 4,14 tấn cà phê khô/ha, người ta bón 153 kg N/ha, 153 kg P2O5/ha và 217 kg K2O/ha.
Theo Tôn Nữ Tuấn Nam và cộng sự (1998) [14], [15], khi bón phân cho cà phê trên đất bazan Tây Nguyên với mật độ 6.666 cây/ha, năng suất cao nhất được ghi nhận ở mức bón 318 N, 134 P2O5 và 318 K2O (kg/ha).
Nguyễn Văn Bộ và ðặng ðức Duy (1998) [1], khi nghiên cứu các tổ hợp NPK cho cà phờ Catimor kinh doanh năm thứ nhất tại Sơn La: ủể ủạt ủược năng suất 1,69 tấn cà phê nhân/ha cần bón 200 N – 100 P2O5 – 400 K2O kg/ha
Ngoài lượng phân bón hữu cơ đã quy chuẩn, để đảm bảo cho vườn cây cà phê bền vững và năng suất cao ổn định, có thể bón 2–3 năm một lần vào đầu mùa mưa, rải đều trong phạm vi tán cây với liều 500–1.000 kg/ha Trong giai đoạn kinh doanh, có thể bổ sung mỗi ha 10–15 kg ZnSO4 và 10–15 kg H3BO3, trộn đều với phân hữu cơ và kali, hoặc phun dung dịch chứa các chất trên với nồng độ khoảng 0,5%.
2.2.2 Sử dụng phân bón hữu cơ cho cà phê
Bún phõn hữu cơ làm tăng khả năng giữ ẩm, tạo ủộ tơi xốp, tăng hàm lượng mựn, tăng cấp hạt ủất cú giỏ trị nụng học Do vậy bún phõn hữu cơ là biện phỏp cải tạo lý, húa tớnh, nõng cao ủộ phỡ nhiờu của ủất, giỳp cõy cà phờ ủạt năng suất ổn ủịnh, vườn cà phờ phỏt triển bền vững
Một số ủặc ủiểm vựng nghiờn cứu
Sơn La là một tỉnh miền nỳi cao, thuộc vựng Tõy bắc Việt Nam, với tọa ủộ ủịa lý: 20 0 39 ’ ủến 22 0 02 ’ ủộ bắc, 103 0 39 ’ ủến 105 0 02 ’ kinh ủộ ủụng
Toàn tỉnh nằm trên trục quốc lộ số 6, cách Hà Nội 320 km về phía Tây Bắc và là một trong ba tỉnh của vùng Tây Bắc
Sơn La nằm trên lưu vực của hai con sông lớn là sông Đà ở Trung lưu và sông Mã ở thượng lưu Khu vực này nằm trên miền uốn nếp phía Tây Bắc Việt Nam, nơi cấu trúc địa hình hình thành các đới hẹp kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Sơn La cú ủặc thự với những dóy nỳi ủồ sộ, cao nguyờn hẹp với 2 cao nguyờn Mộc chõu và Nà Sản là ủịa hỡnh tương ủối bằng phẳng, cũn lại bị chia cắt theo chiều thẳng ủứng khỏ mạnh và sõu, ủộ cao trung bỡnh 650 ủến 700 m so với mặt biển
Khí hậu tỉnh Sơn La mang tính lục địa với hai mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, chiếm khoảng 85-90% tổng lượng mưa năm và mang lại độ ẩm cao cho vùng núi cao Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh và khô hơn so với mùa mưa.
Lượng mưa trung bỡnh 1300 - 1500 mm nhưng phõn bố khụng ủều
Sơn La còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam (gió Lào), do vậy có thời kỳ rất khụ và núng, ủặc biệt vào thỏng 2 và thỏng 3
Chế ủộ khụ hạn khụng gay gắt, chỉ số khụ hạn cao nhất là 2,3 Do vậy cà phờ Sơn La khụng tưới vẫn cú thể cho năng suất cao, nếu cú chế ủộ canh tỏc ủảm bảo (Bùi Văn Sỹ, Nguyễn Tử Hải, 2000) [22]
Sơn La ghi nhận số ngày có sương muối tập trung chủ yếu vào tháng 12 và tháng 1, và phạm vi cùng mức độ ảnh hưởng của sương muối thay đổi giữa các năm Có năm xảy ra sương muối ở mức nặng như năm 1975 và 1999, trong khi các năm 1993 và 1995 lại nhẹ hơn Sương muối thường xuất hiện ở các vùng thung lũng dọc theo Quốc lộ 6, nơi có độ cao trên 700 m so với mực nước biển.
Bảng 2.4: ðiều kiện khí hậu của Sơn La trong năm 2011
Các chỉ tiêu Số giờ nắng
Nhiệt ủộ khụng khí ( 0 c) Ẩm ủộ tương ủối (%)
[Nguồn: Cục thống kê tỉnh Sơn La – Niên giám thống kê 20011] Ẩm ủộ khụng khớ trung bỡnh năm của Sơn La từ 81,3 %
Nhiệt ủộ trung bỡnh năm 21 o C
Biờn ủộ nhiệt ủộ ngày ủờm chờnh lệch cao (trờn 10 o C) và Sơn La cú thời gian khô và lạnh vào tháng 12 và tháng 1, rất có lợi cho sự phân hóa mầm hoa của cà phê
Nhìn chung khí hậu Sơn La phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cà phê Song cần tăng cường các biện pháp kỹ thuật thâm canh và quy hoạch vùng trồng cà phờ ủể hạn chế sương muối gõy
Sơn La cú ủộ cao trung bỡnh từ 650 - 700 m so mặt biển ðất chủ yếu là ủất ferralit ủỏ vàng phỏt triển trờn phiến thạch, sa thạch và trờn ủỏ vụi, cú ủộ dốc cao nờn bị rửa trụi, xúi mũn mạnh ðất cú ủộ dốc dưới 25 0 chỉ chiếm 12,95 %, cũn lại là ủất dốc trờn 25 0 Vỡ vậy cần cú cỏc biện phỏp canh tỏc hợp lý, bảo vệ và chống xúi mũn ủất
Bảng 2.5: Kết quả phõn tớch ủất vườn cà phờ Sơn La (0 - 30 cm)
Cation trao ủổi ldl/ 100 g Mẫu pH KCl C (%)
(Nguồn: Trung tõm phõn tớch ủất thuộc Viện Nụng húa Thổ nhưỡng)
Kết quả phõn tớch ủất của Sơn La ủược trỡnh bày ở bảng 9 cho thấy ủất rất chua, pH KCl biến ủộng từ 3,5 - 3,9 Tuy nhiờn ủất cú hàm lượng cỏc bon khỏ, hàm lượng N, P cao và hàm lượng kali tổng số thấp ðất rất giàu canxi.