Để đạt được mục tiêu trên, ngoài việc nhập giống bò sữa chất lượng tốt,chúng ta còn phải lai tạo các giống bò sữa trong nước, ngoài việc cho sảnlượng và chất lượng sữa cao mà còn có khả
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I
-Đoàn Hữu Thành
đề tài một số yếu tố thú y ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú bò
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà nội, ngày 10 tháng 9 năm 2007
Tác giả luận văn
Đoàn Hữu Thành
Trang 3Lời cảm ơn!
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo Khoa sau Đại học, Khoa Thú y – Trường Đai học Nông nghiệp I Hà Nội, Ban giám đốc và toàn thể cán bộ công nhân viên Trung tâm Nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba vì – Hà tây
đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS – TS Trần Tiến Dũng giáo viên bộ môn Ngoại – Sản, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và chu đáo trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn sự đóng góp quí báu của thầy giáo TS – Nguyễn Văn Thanh – Trưởng bộ môn Ngoại – Sản và tập thể các thầy giáo trong bộ môn Ngoại sản Khoa thú y Trường Đại học Nông nghiệp I – Hà nội.
Xin trân trọng cảm ơn thầy Dr Anri Akira chuyên gia của JICA Nhật bản, người hướng dẫn các kỹ thuật chẩn đoán trong phòng thí nghiệm.
Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn các anh chị em trong dự án JICA, các bạn bè, đồng nghiệp ở Trung tâm Nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba vì,
ở Viện Chăn Nuôi đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn dự án P.H.E đã giúp đỡ về kinh phí để tôi thực hiện đề tài này được thuận lợi.
Cuối cùng tôi xin được dành lời cảm ơn tới gia đình và những người thân đã động viên, chia sẻ và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành bản luận văn này
Hà Nội ngày 10 tháng 9 năm 2007.
Học viên
ĐOàn hữu thành
Trang 41 Mở Đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1 2 Tính cấp thiết của đề tài 2
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.4 Mục tiêu của đề tài 4
2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Một vài đặc điểm cấu tạo và chức năng sinh lý tuyến vú 5
2.2 Giới thiệu một số phương pháp phát hiện bệnh viêm vú bò sữa trên thế giới …….……… 11
2.2.1 Đếm tế bào soma sữa 11
2.2.2 Enzym 14
2.2.2.1 NAGase 14
2.2.2.2 Các enzym khác 15
2.2.3 Độ dẫn điện của sữa 16
2.2.4 Protein pha cấp tính 18
2.2.5 Các chỉ thị khác của sự viêm 20
2.2.5.1 Adenosin Triphosphate (ATP) 20
2.2.5.2 Lactose 20
2.2.6 Phương pháp phát hiện kháng thể tụ cầu vàng trong sữa 20
2.3 Phương pháp chẩn đoán bệnh viêm vú bò sữa ở Việt nam 21
2.3.1 Phương pháp chẩn đoán trên lâm sàng 21
Trang 52.3.2 Xác định tính chất lý hoá học của sữa 22
2.3.3 Xác định độ tăng của men calataza và peroxydaza 22
2.3.4 Xác định sự thay đổi pH của sữa 23
2.3.5 Xác định số lượng bạch cầu, tế bào nhu mô trong sữa 23
2.3.6 Phương pháp chẩn đoán vi khuẩn học 23
2.4 Bệnh viêm vú bò sữa (Bovine Mastitis) 23
2.4.1 Một vài khái niệm cơ bản 23
2.4.2 Một số biểu hiện lâm sàng và biến đổi bệnh lý của bệnh viêm vú ở bò sữa 25 2.5 Những nguyên nhân chính gây bệnh viêm vú bò sữa 27
3 Đối tượng, thời gian, địa điểm(….) 37
3.1 Đối tượng nghiên cứu 37
3.2.Thời gian 37
3.3 Địa điểm 37
3.4 Nội dung và phương pháp 37
3.4.1 Nội dung 37
3.4.2 Phương pháp 38
Trang 64 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 45
4.1.Điều tra điều kiện tự nhiên 45
4.1.1.Vài nét về Trung tâm Nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì 45
4.1.2 Đặc điểm khí hậu và thuỷ văn 45
4.2 Điều tra tình hình mắc bệnh viêm vú ở đàn bò sữa (…) 47
4.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến bệnh viêm vú 48
4.3.1.ảnh hưởng của mùa vụ đến bệnh viêm vú 48
4.3.2 ảnh hưởng của phương pháp vắt sữa 50
4.3.3 ảnh hưởng của các vị trí núm vú đối với(…) 50
4.4 Các thể viêm vú 51
4.5 Kết quả chẩn đoán viêm vú bò sữa phi lâm sàng 52
4.5.1 Kết quả kiểm tra bệnh viêm vú bò sữa bằng phương pháp CMT 52
4.5.2 Qui trình vắt sữa bò, qui trình phòng bệnh (…) 53
4.5.2.1 Qui trình vắt sữa bò 53
4.5.2.2 Qui trình phòng bệnh viêm vú bò 54
4.5.2.3 Qui trình điều trị 56
4.5.2.4 Kết quả phân lập vi khuẩn gây bệnh viêm vú ở bò sữa 58
4.5.3 Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ 60
4.5.4 Kết quả điều trị 61
5 Kết luận và đề nghị 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Đề nghị 63
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng tiêu chuẩn đánh giá tính mẫn cảm với kháng sinh
Bảng 7b Kết quả kiểm tra viêm vú bằng phương pháp
CMT (sau khi áp dụng quy trình)
……….57
Bảng 8 Kết quả phân lập vi khuẩn gây bệnh viêm vú ……….59Bảng 9 Kết quả thử nghiệm kháng sinh đồ ……….60Bảng 10 Kết quả điều trị bệnh viêm vú bò sữa tại
Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì
……….61
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1 Cấu trúc bầu vú ……….5
Hình 2 Sơ đồ bầu vú (đại thể) ………6
Hình 3 Cấu trúc tế bào tuyến vú ……….…7
Hình 4 Sơ đồ bầu vú (vi thể) ……….7
Hình 5 Sơ đồ phản xạ tiết sữa ……….8
Hình 6 Sơ đồ sản sinh và tiết sữa ……….10
Hình 7 Bệnh viêm vú là kết quả cuối cùng của sự tương tác qua lại của một vài yếu tố ……….27
Trang 91 Mở Đầu 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi bò sữa đã có những bướcphát triển mạnh mẽ “Năm 2000 cả nước có 4.165.000 con bò trong đó đàn bòsữa là 32.000 con Sản lượng sữa là 50.000 tấn, năm 2005 cả nước đã có110.000 con bò sữa và sản xuất được 185.000 tấn sữa” (Trần Trọng Thêm,2006)
Mặc dù sản lượng sữa bò liên tục tăng với tốc độ cao nhưng cũng chỉ
đáp ứng 1114% nhu cầu tiêu thụ trong nước và mức sữa tiêu thụ bình quânchỉ là 5,4 kg, còn ở các nước trong khu vực là 10 20 kg Theo ước tính củacác chuyên gia trong nước và quốc tế, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu đến 80%nhu cầu về sữa vào năm 2010
Nhằm đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò sữa, Chính phủ đã ban hànhQuyết định số 167/2001/QĐ/TT về chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa giai
đoạn 2001 đến 2010 Mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 có 200.000 con bò sữa
và sản xuất được 350.000 tấn sữa đáp ứng khoảng 40% nhu cầu tiêu thụ sữatrong nước
Để đạt được mục tiêu trên, ngoài việc nhập giống bò sữa chất lượng tốt,chúng ta còn phải lai tạo các giống bò sữa trong nước, ngoài việc cho sảnlượng và chất lượng sữa cao mà còn có khả năng chống đỡ với bệnh tật nhất làbệnh viêm vú vì đây là một bệnh gây thiệt hại rất lớn cho người chăn nuôi, lànỗi băn khoăn lo lắng, có gia đình bị phá sản vì bò bị viêm vú không được
điều trị kịp thời
Ngày nay khi kinh tế nước ta ngày càng phát triển, nhu cầu đời sốngcủa nhân dân ngày càng cao, việc sử dụng sữa có chất lượng là một trongnhững yêu cầu của người tiêu dùng Vì vậy trong chăn nuôi bò sữa ngoài việc
Trang 10nâng cao chất lượng đàn giống, chất lượng thức ăn thì việc phòng trị bệnh cho
đàn bò là việc làm cực kỳ cần thiết và cấp bách Đối với bò sữa việc chăm sócbầu vú là hết sức quan trọng, bởi lẽ khi bò bị viêm vú thì chất lượng sữa vànăng suất sữa giảm gây thiệt hại kinh tế Bệnh viêm vú không những sữa bịloại bò mà nhiều trường hợp bệnh nặng bò cũng bị loại thải Do vậy điều quantrọng là phải cố gắng làm giảm tỷ lệ viêm vú thông qua các quy trình kỹ thuậthơn là cố gắng giảm tiêu tốn trực tiếp cho việc chữa trị viêm vú bò Do đó việcphòng chống bệnh là một vấn đề then chốt trong công tác kiểm soát bệnhviêm vú bò
Xuất phát từ thực tiễn sản xuất cũng như ở cơ sở để chẩn đoán sớm,
phòng bệnh kịp thời Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số yếu tố thú y ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú ở bò sữa và các giải pháp phòng trị”.
1 2 Tính cấp thiết của đề tài
Bệnh viêm vú bò sữa đã và đang tồn tại khắp các trang trại chăn nuôi bòsữa tập trung cũng như hộ gia đình Nó là mối hiểm hoạ cho các cơ sở chănnuôi mà nguyên nhân chủ yếu dẫn tới bệnh viêm vú ở bò sữa là do vệ sinhchuồng trại, dụng cụ vắt sữa không đảm bảo vệ sinh, tay người vắt sữa và phầnquanh bầu vú không được rửa sạch và lau khô trước khi vắt sữa là nguồn lâynhiễm vi sinh vật
Mặt khác nhiều người chăn nuôi chưa ý thức được tầm quan trọng củaviệc sát trùng núm vú trước và sau khi vắt sữa và cũng chưa thấy rõ được sựthiệt hại về kinh tế do viêm vú gây ra
Qua theo dõi nhiều năm ở cơ sở chăn nuôi bò sữa, chúng tôi nhận thấybệnh viêm vú thường xuyên xẩy ra gây hậu quả không nhỏ cho các gia đìnhchăn nuôi cũng như ở các trang trại vì sữa bị viêm nhiễm các độc tố, vi khuẩn,
tế bào chết, dịch rỉ viêm và một số chất khác,… gây ảnh hưởng xấu tới sứckhoẻ người tiêu dùng Nếu bò sữa bị viêm vú không được phát hiện sớm mà
Trang 11vẫn được khai thác dẫn đến bò bị bệnh nặng hơn, lan truyền bệnh rộng hơn vàchất lượng sữa bị giảm đi rất nhiều.
Bệnh viêm vú được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu và cho rằngbệnh viêm vú bò là một bệnh phức tạp do một hoặc nhiều nguyên nhân gây ra.Nhiều tác giả đã nghiên cứu công phu và đưa ra nhiều ý kiến khác nhau trongviệc đánh giá nguyên nhân gây viêm vú bò sữa
ở nước ta một số tác giả như Nguyễn Ngọc Nhiên (1999), Bạch ĐăngPhong (1995), Nguyễn Hữu Ninh (1994), Trần Thị Hạnh (2005), Trần TiếnDũng (2003), Phùng Quốc Quảng (2002),… nghiên cứu, tập trung chủ yếuvào nguyên nhân gây bệnh và biện pháp phòng trị Các nhân tố ảnh hưởng tớibệnh viêm vú đối với các vùng sinh thái khác nhau, điều kiện vắt sữa khácnhau, các thể viêm vú, các vị trí núm vú khác nhau có liên quan tới bệnh viêm
vú Những nhân tố đó là cần thiết góp phần vào công tác phòng bệnh một cáchchủ động Đồng thời chúng tôi tiến hành một số biện pháp chẩn đoán phi lâmsàng qua sữa nhằm phát hiện bệnh sớm để có biện pháp điều trị kịp thời
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Việc hoàn thiện đề tài luận án thạc sĩ khoa học nông nghiệp mà chúngtôi thực hiện mang lại những ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau:
- Góp phần làm sáng tỏ một số nhân tố ảnh hưởng tới bệnh viêm vú, ápdụng các biện pháp chẩn đoán phi lâm sàng đã học được của các chuyên giaJICA Nhật Bản bổ sung vào lý thuyết cũng như thực tiễn giúp cho quá trìnhchẩn đoán sớm và chính xác bệnh viêm vú bò sữa để có phương pháp phòng
và điều trị kịp thời
- Đề tài cũng đã phân lập và xác định một số căn nguyên chủ yếu gâybệnh viêm vú bò sữa ở Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì Trên cơ
Trang 12sở đó bổ sung những kiến thức cơ bản về nguyên nhân gây bệnh và vai trò củamột số vi khuẩn, đồng thời đưa ra biện pháp phòng trị.
- Góp phần giải quyết những khó khăn do chăn nuôi bò sữa đặt ra trêncơ sở hạn chế thiệt hại do áp dụng các quy trình
- Làm cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm mục đích
đưa ra những quy trình có hiệu quả nhất, ít tốn kém nhất, sử dụng thuốc điềutrị tốt nhất nhưng lại rẻ nhất phù hợp với điều kiện của Trung tâm
1.4 Mục tiêu của đề tài.
- Xác định nguyên nhân chủ yếu gây bệnh viêm vú ở bò sữa
- Đưa ra các quy trình vắt sữa hợp vệ sinh, quy trình phòng bệnh, quy trình
điều trị bệnh phù hơp
Trang 132 Tổng quan tài liệu 2.1 Một vài đặc điểm cấu tạo và chức năng sinh lý tuyến vú
+ Cấu trúc của tuyến vú.
Hình 1 Cấu trúc bầu vúGiải phẫu của tuyến vú khá đơn giản: nó gồm có thân của tuyến là khốilượng chính của tuyến tiết ra sữa, và núm vú: là núm để bài tiết sữa ra ngoài.Vậy tuyến vú là một tuyến ngoại tiết có một hay nhiều hệ hốc để tích luỹ sữatrong đó trước khi đẩy ra ngoài: đó là những bể chứa sữa Nhưng sữa cũng cóthể tích luỹ trong bể chứa của núm vú và trong các mạch sữa Đầu của núm vú
được hình thành bởi kênh của núm vú mà trong lòng được phủ một lớp tế bàotiết ra chất keratin: một chất ngăn không cho vi trùng đi qua, thậm chí có thểgiết chết vi trùng Phần ngoài của kênh núm vú được đóng bởi một cơ trơn nhỏ
và đàn hồi gọi là sphincter Kênh của núm vú, chất keratin và sphincter là cáctuyến phòng vệ tự nhiên đầu tiên của con bò chống lại sự xâm nhập của các vitrùng, nên ta phải giữ cho chúng ở trong tình trạng tốt nhất
Các vú được cách ly với nhau bằng mô liên kết và mô cơ: đó là các dâytreo Người ta thấy chúng ở bên cạnh vú (dây bên cạnh) ở giữa các vú (dây
Trang 14giữa), phía trước và phía sau vú, người ta gọi chúng là dây treo trước và dâytreo sau Dây treo sau có tầm quan trọng hơn cả để nâng đỡ vú, giữ cho vú
được khoẻ mạnh, cho tuyến được bền lâu và tạo tư thế cho con bò Bốn mảnhthịt đó (khu) độc lập với nhau cả về mặt giải phẫu, sinh lý lẫn mặt bệnh lý.Màng ngăn cách các mảnh trước với các mảnh sau thì rất mỏng, khó nhínthấy, còn màng ngăn cách các mảnh hai bên thì dày hơn nhiều Trong 40%trường hợp ta thấy có những núm vú vượt quá số lượng núm vú bình thường.Khối lượng núm vú thay đổi từ 3 45 kg
Hình 2 Sơ đồ bầu vú (Đại thể)Tuyến vú là một dạng túi nhỏ phân nhánh Nó chứa những chùm túi nhỏ(gọi là acini) mỗi túi nhỏ là một tuyến sản sinh sữa tí hon, nó được lát bằngnhững tế bào biểu mô, chịu trách nhiệm sản sinh ra sữa Nó được bao quanhbởi những tế bào gọi là biểu mô cơ, các tế bào này chịu trách nhiệm co bóp túinhỏ khi cho bú hoặc vắt sữa để đẩy sữa ra dưới sự điều khiển của cáchormone Người ta thấy có hàng tỷ túi nhỏ như vậy trong vú của một con bò.Mỗi túi nhỏ được tiếp tế bởi một vài vi ti huyết quản và được thoát sữa bởi mộtkênh sữa, rồi một kênh liên búp nhỏ để đi đến bể chứa của vú Một nhánh củachùm túi nhỏ được gọi là búp nhỏ và cả chùm được gọi là búp
Trang 15Hình.3 Cấu trúc tế bào tuyến vú
+ Sự phát triển của tuyến vú
Trong thời gian tăng trưởng sau khi sinh, mô vú phát triển ít: nó tăngtrưởng cùng với cơ thể Sự tăng trưởng này gồm có sự tăng trưởng của hệ cáckênh sữa, của mô liên kết và của mô mỡ
Hình 4 Sơ đồ bầu vú (Vi thể)
Trang 16Vú chỉ tăng thể tích vào tuổi dậy thì Sự tăng khối lượng này, dưới ảnhhưởng các Oestrogen chủ yếu gắn với việc phát triển các kênh làm chúng phânhoá, và phân nhánh Lúc này chất lượng suất ăn có tầm quan trọng lớn lao:nếu có quá nhiều năng lượng, thì mô mỡ trong vú sẽ phát triển lám giảm sựphát triển các kênh, điều này có thể ảnh hưởng đến chất lượng của việc sảnxuất sữa về lâu về dài Vú chỉ đạt tới sự phát triển hoàn toàn vào lúc mang thailần đầu tiên, dưới ảnh hưởng kéo dài của các hormon giới tính được sản sinh
ra rât nhiều Cac oestrogen gây ra sự phân hoá của hệ kênh, các kênh này chia
ra nhiều nhánh Dưới ảnh hưởng của progesterone các mầm cuối của các kênhsữa mọng lên và trở thành những tuyến các acini hình thành và phân hoáthành hai loại tế bào: phía trong là các tế bào biều mô (tiết sữa) và phía ngoài
là các tế bào biểu mô cơ (co bóp)
Hình 5 Sơ đồ phản xạ tiết sữaVào lúc sinh con, tuyến vú bắt đầu hoạt động và quá trình tiết sữa bắt
đầu Lúc đó các prolactin phát động và duy trì sự tiết sữa Túi nhỏ được baobọc ở phía ngoài bởi những cơ trơn nhỏ Các cơ trơn này không lệ thuộc vào ýchí, nghĩa là chúng chỉ tuân theo một sự chỉ huy, oxytocin là một chất hormon
được tiết ra bởi tuyến yên, nằm ở đáy óc Oxytocin rời tuyến yên và lưu thông
Trang 17theo máu đến các cơ trơn nhở bao quanh các túi nhỏ Sự giải phóng oxytocin
được phát động bởi ảnh hưởng của nhiều nhân tố: sự bú sữa, các thao tác ở vú,
ở cơ quan sinh dục, tiếng động và tác động của hệ thống vắt sữa, ánh sáng, sựphân phối các dịch đặc, sự bước chân vào phòng vắt sữa, sự trông thấy cácthiết bị vắt sữa Oxytocin được giải phóng theo từng đợt nối tiếp nhau vớicường độ cực đại khoảng 1 phút sau khi bắt đầu kích thích vú; nó bắt đầugiảm dần đi 2 phút rưỡi sau khi cái đỉnh cực đại ấy bắt đầu Dưới sự chỉ huycủa oxytocin, các cơ bao quanh túi nhỏ co lại, đẩy sữa chứa trong các túi nhỏthoát ra qua kênh
Không nhờ chất oxytocin, ta không thể thu hoạch sữa của túi nhỏ,chiếm tới 70% tổng lượng sữa Cũng không thể thu hoạch hết sữa của túi nhỏ,cái còn lại là sữa dư, chiếm khoảng 30% tổng lượng sữa
+ Sự tiết sữa
Vào cuối thời kỳ mang thai, các tế bào biểu mô của túi nhỏ chịu nhữngbiến đổi đặc trưng: chúng cao lên, những hạt mỡ nhỏ xuất hiện trong chất củacác tế bào, số lượng các mitochondri tăng lên cũng như kích thước của bộ máygolgi Tất cả các bộ phận của mỗi tế bào biểu mô góp phần vào việc sản xuất
ra các thành phần của sữa các tế bào này tiết các sản phẩm của chúng ở đỉnhcủa chúng, vào bên trong túi nhỏ
Trang 18Hình 6 Sơ đồ sinh sản và tiết sữaTrong quá trình một kỳ cho sữa, các đặc trưng của sữa có những thay
đổi Đến đầu thời kỳ vú sản xuất ra sữa non (colostrum) mà vẻ ngoài và thànhphần rất khác sữa Rồi sau vài ngày, sữa có tất cả các đặc trưng của sữa bìnhthường Lượng sữa tăng lên trong các tuần lễ đầu, đạt tới cực đai rồi giảm dầncho tới khi cạn sữa Hoạt động tiết sữa tích cực của vú đòi hỏi vú phải đượctưới máu rất nhiều ở một con bò sản xuất 20 lít sữa một ngày, vú phải được10.000 lít máu chạy qua; vậy là cần gần 500 lít máu cho mỗi lít sữa Việc tiếtsữa cũng kéo theo một sự tăng cường tuần hoàn to lớn: trong thời gian chosữa, 20-30% máu mà tim bơm ra mỗi phút đi qua vú
Các huyết quản tưới các tế bào túi nhỏ hay acini cung cấp các thành phần dinhdưỡng cốt yếu cần thiết để sản sinh ra sữa các tế bào túi nhở dùng các chấtnày để sản xuất ra chất béo của sữa lactoza và các protein của sữa; còn cácthành phần khác như nước, các kháng thể, các vitamin và muối khoáng đi trựctiếp từ máu vào hốc giữa của túi nhỏ, ở đó chứa hỗn hợp được hình thành gọi
Trang 19là sữa Lưu lượng máu hàng ngày phải tưới cho vú của một con bò sản xuất 20lít sữa mỗi ngày là vào khoảng 9 000 kg Sữa tiết ra tích luỹ trong hốc túi nhỏ
và tạo ra trong đó một sự tăng áp suất; do đó mà một phần sữa chảy vào mạngcủa các kệnh nhỏ và có khi đến được bể chứa của núm vú Trong khoảng thờigian giữa hai lần vắt sữa, phần lớn sữa tiết ra nằm lại trong túi nhỏ đã sản sinh
ra nó Sự tăng áp suất ức chế sự tiết sữa, ít ra cho đến khi tháo sữa ra khỏi túinhỏ Cần lưu ý rằng để sản xuất ra một giọt sữa nhỏ phải cần đến hàng nghìntúi nhỏ
2.2 Giới thiệu một số phương pháp phát hiện bệnh viêm vú bò sữa trên thế giới
Để chẩn đoán bệnh viêm vú, trên thế giới người ta áp dụng một sốphương pháp sau:
2.2.1 Đếm tế bào soma sữa.
Tỷ lệ tế bào neutrophil trong bầu vú khoẻ mạnh chỉ có 1 11% nhưngtăng lên tới 90% hoặc hơn ở bầu vú bị viêm nhiễm bên trong Tỷ lệ % củaneutrophil được coi là môt biểu thị của viêm vú Theo Satu PYORALA(2003): “Thay vì SCC tổng số việc đếm từng loại tế bào cho biết nhiều thôngtin về tình trạng sức khoẻ của một bầu vú hơn nhưng phương pháp này chưa
được áp dụng rộng rãi và khó thực hiện trong thực tiễn”
SCC đã được sử dụng rộng rãi như là biểu thị của bầu vú bị viêm bêntrong từ những năm 1960 của thế kỷ trước SCC đã được đưa vào là một thànhphần của định nghĩa viêm vú và giới hạn ban đầu cho SCC của một bầu vúkhoẻ mạnh là 500.000 tế bào/ml sữa Các mức độ ngưỡng cho SCC dựa trêntrung bình quần thể thêm hai lần độ lệch chuẩn (SD) cho một lần đo sữa phíatrước của một bầu vú Định nghĩa là một sự hướng dẫn cho sự chẩn đoán, mặc
dù 50% bầu vú bị viêm vào bất kỳ thời gian nào đều có thể có một số lượng tếbào ít hơn 500.000 tế bào/ml
Trang 20Thuật ngữ viêm nhiễm tiềm tàng hay viêm vú không đặc trưng đã được
sử dụng và những dữ liệu đó không hoàn toàn làm mọi người thoả mãn.Ngưỡng 500.000 tế bào/ml không thích đáng lâu nay Độ nhạy và độ đặctrưng của việc sử dụng ngưỡng thấp hơn 200.000 tế bào/ml để chẩn đoán bầu
vú bị viêm bên trong đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu với độ nhạy dao
động 73 89% và độ đặc trưng từ 75 85% SCC luôn luôn được dùng để sosánh với vi khuẩn học và những thử nghiệm này chưa bao giờ được nhất tríhoàn toàn Gần đây, theo Satu PYORALA (2003): “Bầu vú khỏe mạnh có giớihạn SCC là 100.000 tế bào/ml SCC cho sữa hoà trộn của một con bò khôngnên vượt quá 100.000 tế bào/ml ” Như vậy một bầu vú khoẻ SCC nhỏ hơn100.000 tế bào/ml Nếu như SCC lớn hơn 200.000 tế bào/ml bầu vú này có thể
bị coi là viêm nhiễm Không thích hợp nếu coi vi khuẩn là tác nhân gây bệnhchủ yếu hay thứ yếu mặc dù tác nhân gây bệnh thứ yếu làm SCC tăng lên íthơn Sử dụng số liệu SCC lưu trữ thường xuyên từ các cá thể bò giúp chúng ta
đánh giá tình trạng sức khoẻ bầu vú bò chính xác hơn
Giai đoạn tiết sữa ảnh hượng tới SCC Ngay sau khi bò đẻ SCC tăng lêncao nhưng giảm xuống nhanh chóng tới mức độ bình thường trong vòng 4 5ngày sau khi đẻ Tới cuối kỳ tiết sữa SCC tăng nhẹ Theo các nghiên cứu gần
đây, thể trạng sinh lý của bò hoàn toàn khoẻ mạnh ảnh hưởng rất ít tới SCC.Theo Barkeman (1999) SCC ở những bầu vú khoẻ giảm xuống mức thấp trongvòng 3 ngày nhưng vẫn còn cao ở những bầu vú bị viêm Vì thế chỉ số SCC cóthể được sử dụng để chẩn đoán ở những bầu vú mới bị viêm bên trong Trongmột nghiên cứu ở bò mới đẻ, sử dụng ngưỡng 100.000 TB/ ml, mức độ pháthiện viêm vú chính xác nhất trong phạm vi 5 ngày sau đẻ, độ nhạy xác định
được bầu vú bị viêm nhiễm do tác động gây bệnh chính đạt 66,2 % và tácnhân thứ yếu là 51,4 %
Trang 21Tần suất vắt sữa cũng ảnh hưởng tới SCC của sữa Tăng số lần vắt sữa từ
2 đến 3 lần/ngày làm giảm SCC Khoảng cách giữa các lần vắt sữa kéo dài làmtăng SCC
ảnh hưởng của các mầm bệnh khác nhau tới SCC của từng bầu vú đã
được nghiên cứu, gần đây sử dụng phương pháp phân tích Meta - analysis.SCC trung bình ở các bầu vú âm tính là 68 000 TB/ml SCC trung bình ở bầu
vú bị nhiễm bởi mầm bệnh thứ yếu dao động 110.000 TB/ml đến 150.000TB/ml Số liệu này ở các bầu vú bị nhiễm bệnh bởi các mầm bệnh chủ yếu caohơn 350.000 TB/ml Viêm vú gây ra bởi coliform và streptococus uberis có sốSCC trung bình cao nhất (trên 1 triệu TB/ml) viêm vú bởi vi khuẩn Corynebacterium có số SCC thấp nhất (105.000 TB/ml)
Có nhiều phương pháp đếm tế bào soma tự động khác nhau và phươngpháp tiêu chuẩn là phương pháp Fossomatic quang điện CMT cũng có thể
đánh giá SCC dựa trên cơ sở hàm lượng DNA của sữa với thuốc thử đơn giảnchỉ là một loại thuốc tẩy và cresol – brôm tím theo chỉ thị độ pH: khả năng sửdụng CMT để xác định các bầu vú bị viêm bên trong đã được đánh giá rộngrãi với các kết quả khác nhau CMT được coi là một công cụ để chọn lọc bò để
áp dụng biện pháp điều trị khi cạn sữa Phương pháp này có thể xác địnhchính xác 75 80 % số bò cần điều trị, phụ thuộc vào sự nghiên cứu và vàomầm bệnh gây viêm vú Trong nghiên cứu gần đây, CMT được so sánh vớiSCC ở bò mới đẻ CMT được coi là thích hợp cho các chương trình quản lý
đàn bò để phát hiện bò mới bị viêm vú bên trong do các mầm bệnh chủ yếu.CMT được tiến hành vào ngày thứ 3 sau khi bò đẻ sử dụng ngưỡng lớn hơn 0(các kết quả CMT được cho điểm từ 0 đến 3 trong đó kết quả 0 thể hiện SCC íthơn 200.000 TB/ml) cho thấy độ nhạy và độ đặc trưng cao nhất để phát hiệnbầu vú bị viêm bên trong Dùng chương trình lấy mẫu này, độ nhạy phát hiệnbầu vú bị viêm bên trong gây ra bởi các mầm bệnh chủ yếu đạt 66,7% và bởi
Trang 22mầm bệnh thứ yếu đạt 49,5% Độ nhạy cao nhất đạt được trong việc phát hiệnbầu vú bị viêm bên trong gây ra bởi Streptococus môi trường (84%) CMT cólợi thế là rẻ tiền và là cách kiểm tra cơ thể bò duy nhất cho kết quả nhanhchóng để chọn các bầu vú cho việc kiểm tra vi khuẩn học thường xuyên.
2.2.2 Enzym
Nhiều loại enzym tăng lên trong sữa trong thời kỳ bò bị viêm vú Cácenzym liên quan tới quá trình tổng hợp sữa giảm và các enzym liên quan tới sựviêm nhiễm tăng lên Các enzym bắt nguồn từ các đại thực bào tăng lên đáng
kể, bao gồm các enzym NAG (N - Acetyl -β - D - Glucosaminidoza)
β - glucuronidaza và catalaza – Sự hoạt động của các enzym bắt nguồn
ra trong gian bào và như thế sự làm lạnh giải đông các mẫu được sử dụng đểgiải phóng tối đa sự hoạt động Trong nhiều nghiên cứu hoạt động củaNAGase đã được dùng để phát hiện bầu vú bị viêm bên trong với các mầmbệnh viêm vú rất đáng tin cậy Hoạt động của NAGase sữa có tương quan rấtchặt chẽ với SCC Nó phản ánh chính xác mức độ viêm nhiễm Trong các caviêm vú gây ra bởi các mầm bệnh chủ yếu, mức độ NAGase cao hơn đáng kể
so với các ca viêm vú gây ra bởi các mầm bệnh thứ yếu Khả năng hoạt độngcủa NAGase để phát hiện viêm vú cận lâm sàng đã được kiểm tra với việc coiSCC lớn hơn 400.000 Tb/ml là một dấu hiệu dương tính Theo: “Indicator of
Trang 23inflammation to ditect mastitis” Kết luận rằng sự kiểm tra đã được thực hiệntốt vì trung bình chỉ có 17% chẩn đoán dương tính và 2% chẩn đoán âm tínhsai Hoạt động của NAGase cao ở đầu kỳ sữa và tăng nhẹ tới cuối kỳ sữa Tuyvậy ở các bầu vú khoẻ mạnh nó đạt mức độ bình thường vào ngày thứ 5 saukhi đẻ.
Một phương pháp đánh giá NAGase bằng cách đo fluo dựa trên cơ sở
kỹ thuật đĩa vi chuẩn độ đã được phát triển Phương pháp có khả năng cao vàdựa trên cơ sở so sánh trong phạm vi các bầu vú được kiểm tra Trong đó cácbầu vú khác được so sánh với giá trị thấp nhất của một bò đặc trưng Phươngpháp này có khả năng kiểm soát toàn đàn nhưng có nhược điểm là chưa đượcphổ biến trên thị trường Các kết quả cơ bản từ phương pháp điện hoá để xác
định NAGase đã được xuất bản nhưng vẫn cần phải nghiên cứu tiếp tục để ápdụng phương pháp này độc lập hay kết hợp với các tham số khác để phát hiệnviêm vú
2.2.2.2 Các enzym khác
Kitchen đã lập danh sách nhiều enzym tăng lên khi viêm vú và có khảnăng phát hiện viêm vú như các loại Lipase, Esterase, Phosphatase, Lactase,Dehydrogenase vv Không có bằng chứng cho thấy rằng chúng có thể đượcdùng để kiểm tra viêm vú cận lâm sàng Nồng độ của enzym phân giả proteinplasmin tăng lên khi bò bị viêm vú Plasminagen chuyển từ máu vào sữa vàchuyển thành plasmin về lý thuyết plasmin có thể sử dụng như là chất chỉ thịcho viêm vú nhưng nồng độ của plasmin trong sữa khác nhau cũng còn bởi vìcác yếu tố sinh lý và môi trường Hoạt động của plasmin có tương quan rõràng với SCC SCC tăng từ 100.000 TB/ml tới 1300.000 TB/ml có quan hệ với
sự tăng lên 2,3 lần của plasmin phương pháp đo fluo để xác định plasmin đã
được phát triển và thích hợp với kỹ thuật đĩa nhỏ nhưng không áp dụng đượcphương pháp này trên diện rộng Không có thông tin về độ mẫn cảm hay đặc
Trang 24trưng của plasmin để phát hiện bầu vú bị viêm bên trong gây ra bởi các mầmbệnh khác nhau.
2.2.3 Độ dẫn điện của sữa
Độ dẫn điện (EC) của sữa để phát hiện viêm vú dựa trên cơ sở thay đổiIon xảy ra trong khi viêm vì nồng độ Na và Cl tăng lên trong sữa Sự thay đổi
pH và giảm tỷ lệ mỡ cũng ảnh hưởng tới EC EC có tương quan cao với SCC ởsữa đầu Việc đo EC có thể được chuyển đổi thành tín hiệu có thể đọc đượcbằng máy tính và vì vậy phương pháp này dễ áp dụng khi việc quản lý viêm vú
được tự động hoá hoà mạng và có thể lắp đặt vào các máy vắt sữa Viêm vúkhông chỉ là yếu tố ảnh hưởng tới nồng độ Ion của sữa và các sai khác liênquan tới không viêm vú ở EC là hạn chế chủ yếu tới giá trị chẩn đoán của ECnhưng nhiều tham số viêm vú khác, độ dẫn điện cũng chịu ảnh hưởng bởi tuổi
bò và giai đoạn tiết sữa Việc sử dụng EC làm phương pháp chẩn đoán để xác
định viêm vú cận lâm sàng cũng đã được nghiên cứu lâu nay với nhiều kết quảkhác nhau Mối tương quan dương giữa SCC và EC là 0,51 0,75 và việc sửdụng các tỷ số giữa các bầu vú làm tăng thêm sự đánh giá Các mầm bệnh liênquan tới viêm vú chưa được chú ý nhưng gần đây ảnh hưởng của các mầmbệnh khác nhau đã được nghiên cứu Nói chung các giá trị từ các bầu vú bịnhiễm khuẩn cao hơn đáng kể so với các bầu vú không nhiễm Các bầu vú bịnhiễm Staphylococcus aureus và streptococus agalactiae Có giá trị dẫn điệnthấp hơn so với các bầu vú bị nhiễm streptococci môi trường Các giá trị từ cácbầu vú không bị nhiễm bệnh không khác nhau rõ rệt khi ngày chu kỳ sữa vàtuổi bò được đưa vào công thức mẫu Kết luận từ nghiên cứu này là EC sữa làmột thành phần của một hệ thống cảnh báo sớm cho sức khoẻ bầu vú chỉ thíchhợp khi tất cả các yếu tố ảnh hưởng được xem xét và các giá trị đã đo được
điều chỉnh tương ứng
Trang 25EC được dùng làm thước đo chẩn đoán viêm vú lâm sàng đáng tin cậytrong công thức thí nghiệm về viêm vú bởi Streptococcus uberis Trong mộtnghiên cứu tất cả các ca viêm vú lâm sàng đều được phát hiện (ngưỡng500.000 TB/ml với chẩn đoán vi khuẩn học dương tính) nhưng chỉ có 50% từcác ca viêm vú cận lâm sàng được phát hiện (lớn hơn 200.000 TB/ml) Trongmột nghiên cứu khác khi giai đoạn tiết sữa, năng suất sữa và sự tương đương
được xem xét EC đã thể hiện độ mẫn cảm 55% khi được phát hiện viêm vúcận lâm sàng (ngưỡng 500.000 1000.000 TB/ml) Để kiểm tra chính xác, tốtnhất là dùng sữa non Gần đây các chuyên gia của IDF đã đánh giá EC dùngphương pháp phân tách meta và kết luận rằng EC không phát hiện chuẩn xáckhi nào là viêm vú lâm sàng hay cận lâm sàng Tuy nhiên gần đây một kiểuphát hiện tự động đã được giới thiệu trong đó các mẫu thời gian – loạt cho 2biến (năng suất sữa và EC) đã được sử dụng và cho kết quả phát hiện viêm vútốt hơn Trong AMS, EC thường được sử dụng cùng với năng suất sữa và vậntốc dòng sữa, màu và nhiệt độ sữa Các nhà sản xuất nói chung không cungcấp các thuật toán chính xác trong hệ thống của họ vì nó làm cho sự đánh giá
về các hệ thống phát hiện khác nhau khó khăn
Các máy đo EC sẵn có ở nhiều nước Gần đây mức độ chính xác củamột số thiết bị chẩn đoán đã được đánh giá Theo Satu PYORALA (2003): “ở
điểm ngưỡng được gợi ý bởi nhà sản xuất, 71% các mẫu kiểm tra dương tính
là âm tính về mặt vi khuẩn học và các vi khuẩn gây viêm vú chính được tách
ra từ 11% các mẫu thử âm tính” Các báo cáo khác cũng cho kết quả tương tự
và có thể kết luận rằng giá trị dự đoán của phương pháp nói chung còn nghèonàn Các phương pháp kiểm tra sàng lọc khác như CMT và các giá trị SCC
có thể rõ ràng là có giá trị hơn so với độ dẫn điện của sữa Sự so sánh cácgiá trị EC giữa các vú của một bò làm giảm sự sai khác bên trong Việc sửdụng sự đánh giá giữa các bầu vú đã được báo cáo là cải thiện độ mẫn cảm
và độ đặc trưng của EC và hiện nay là phương pháp nên sử dụng kiểm tra
Trang 26này Tuy vậy chỉ thực hiện đo EC rõ ràng là không đủ để phát hiện bầu vú
bị viêm bên trong
2.2.4 Protein pha cấp tính
Một phản ứng pha cấp tính gây ra sự giải phóng nhiều loại protein đượcgan tổng hợp Những loạt protein tăng lên được coi là các protein pha cấp tínhdương hay đơn giản là protein pha câp tính ở bò các protein pha cấp tính mẫncảm nhất đó là haptoglobin và amyloid huyết thanh A (SAA) tăng lên đáng kểkhi phản ứng với viêm cấp tính và α1- acid glycoprotein cũng tăng lên trongviêm mãn tính Haptoglobin và SAA là các protein pha cấp tính ở bò, nồng độcủa chúng trong huyết thanh có thể tăng lên hơn 100 lần; protein glycọacidα1
là một loại protein pha cấp tính trung bình tăng lên khá thấp, phản ứng chậmvì biểu thị sự viêm mạn tính hơn Nồng độ của haptoglobin trong huyết thanhtăng lên rõ rệt ở bò bị viêm vú do coliform tự phát và thí nghiệm Có nhiềuphương pháp để đo haptoglobin huyết thanh với sự đánh giá sinh hoá và SAAvới đánh giá miễn dịch
Các Protein pha cấp tính đầu tiên được đo từ sữa và được dùng làm cácchỉ thị cho sự viêm là albumin huyết thanh bò và tác nhân kiềm chế trypsinα1.Albumin huyết thanh có thể được đo bằng cách dùng kỹ thuật khuếch tánmiễn dịch bức xạ, trong đó kháng thể được đặt trong các lớp thạch Phươngpháp này tốn thời gian và không thực tế để phát hiện viêm vú tự động, hơn nữakhả năng phân biệt của protein không cao Tác nhân kiềm chế trypsin α1cóthể được định lượng gián tiếp bằng cách đo khả năng kiềm chế trypsin củasữa Trong phương pháp này hoạt động của trypsin còn lại được đo bằng cáchdùng các chất đo quang học hay đo màu Cách kiểm tra phát hiện viêm vú trêncơ sở kỹ thuật khay vi chuẩn độ đã được phát triển
Gần đây, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào việc xác định cac proteinpha cấp tính ở sữa Trong nghiên cứu của Eckersall và cộng sự (?2000) và
Trang 27cộng sự haptoglobin và SAA đã được đo từ sữa và huyết thanh và được so sánhkhi kiểm tra để phát hiện bầu vú bị viêm bên trong và nhận thấy có tươngquan đáng kể giữa nồng độ haptoglobin ở huyết thanh và sữa Nhưng nồng độSAA ở huyết thanh và sữa không liên quan Amyloid A huyết thanh có thểphân biệt viêm vú thể nhẹ và trung bình Sự tổng hợp protein pha cấp tínhngoại huyết cũng đã được đề cập và SAA cũng có thể được sản sinh cục bộ ởtuyến vú Điều này được bổ xung bằng các dữ liệu từ một công thức thínghiệm viêm vú do Escherichia Coli khi mà nồng độ của SAA trong sữa caogấp 2 lần trong huyết thanh Dùng ngưỡng 0,02 mg/ml với haptoglobin sữa và0,55μg/ml cho SAA sữa, cả 2 kiểm tra đều cho mức độ đặc trưng cao (100%)
mà không có kết quả dương tính sai và độ nhạy cảm hợp lý (86 93) để chẩn
đoán viêm vú Một ưu điểm là những protein này không xuất hiện ở tất cả số
bò khỏe Đánh giá SAA có bất lợi là một phương pháp kiểm tra ELISA khi mà
đánh giá sinh hoá cho haptoglobin nhanh hơn và có thể dễ được chấp nhậnhơn trong các hệ thống phân tích tự động ELISA để phân tích haptoglobin bò
đang được sử dụng và có thể phát hiện các nồng độ thấp hơn và ít mẫn cảmhơn trước các yếu tố gây nhiễm so với các phương pháp sinh hoá
Protein phản ứng C không được coi là protein pha cấp tính ở bò nhưng
đã được kiểm tra là một chất chỉ thị cho viêm vú Nồng độ của protein phảnứng C tăng lên trong sữa bò viêm vú Một phương pháp ELISA đã được triểnkhai để phân tách protein phản ứng C Khả năng dùng protein phản ứng C đểphân biệt các bầu vú khoẻ và viêm vú là yếu và tương quan giữa nồng độprotein phản ứng C ở sữa và SCC là thấp (r = 0,32) nên không dùng proteinnày để phát hiện viêm vú
Trang 282.2.5 Các chỉ thị khác của sự viêm
2.2.5.1 Adenosin Triphosphate (ATP)
Có mặt ở mọi tế bào sống và cũng có ở các tế bào soma của sữa ATP
có thể đo được khi sử dụng các phức hợp enzym cộng enzym như: luciferase
và luciferin ATP có tương quan dương mạnh với SCC và được coi là có thểthay thế SCC để phát hiện viêm vú Sự tương tự và giai đoạn của chu kỳ sữa có
ảnh hưởng đáng kể tới lượng ATP tương tự như SCC Kỹ thuật phát quang sinhhọc được sử dụng để kiểm soát sự nhiễm khuẩn trong các giai đoạn chế biếnthực phẩm khác nhau cũng như dùng ATP có thể phát hiện viêm vú
2.2.5.2 Lactose
Viêm vú làm ảnh hưởng mô và làm giảm khả năng tổng hợp các hệthống enzym của các tế bào bài tiết và sự sinh tổng hợp latose cũng giảm.Nồng độ lactose sữa có thể được sử dụng để làm chỉ thị của viêm vú vì nógiảm đi rõ rệt khi có sự viêm nhiễm Tuy vậy tỷ lệ phần trăm giảm sút không
đáng kể, khá nhỏ Sự liên quan giữa lactose, SCC và viêm vú đã được nghiêncứu từ những năm 1980 thế kỷ trước, Berning L.M và Shook G.E, (1992) đã sosánh SCC, NAGase và lactose thấy rằng log NAGase và SCC có đáp ứng trướccác thay đổi ở trạng thái nhiễm bệnh nhưng lactose không thể hiện rõ Gần đâylactose được đề nghị sử dụng làm một trong những dấu hiệu phát hiện viêm vúvới giá trị ngưỡng là 4,7% Tuy nhiên cũng cần nghiên cứu và thử nghiệm
2.2.6 Phương pháp phát hiện kháng thể tụ cầu vàng trong sữa.
Phương pháp thử bằng kháng thể DHI prostaph có thể sử dụng để pháthiện sự hiện diện của kháng thể Staph aureus ở các mẫu sữa hỗn hợp bảoquản, phương pháp này đảm bảo 85% so với phương pháp nuôi cấy vi sinh vật.Kháng thể đi vào sữa để trợ giúp trong việc chống lại bệnh Đàn bò có tiền sửviêm vú do Staph aureus có thể được kiểm tra bằng phương pháp prostaph đểtìm ra bò bị bệnh Các mẫu sữa pha trộn sẽ được chuẩn bị để kiểm tra bằng
Trang 29phương pháp đếm tế bào thân Mặc dù sự thống nhất giữa phương phápprostaph và nuôi cây vi sinh vật cao Phương pháp này cho kết quả chính xác ở
- Thời gian sinh đẻ lần cuối
- Điều kiện về thức ăn, nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, các chế độ sửdụng khai thác gia súc trong thời gian sinh để, sau khi đẻ và trong thờigian trị bệnh
- Phương pháp kỹ thuật và điều kiện khai thác sữa, sản lượng sữa
- Thời gian xuất hiện bệnh và những triệu chứng của nó
- Tình trạng tuyến vú ở những chu kỳ cho sữa lần trước
Tình trạng chung của cơ thể
Bệnh ở tuyến vú thường xuất hiện đồng thời với các bệnh khác như:hiện tượng nhiễm độc, các bệnh ở gan, tim, thận Đặc biệt nó thường kếphát từ các bệnh: sát nhau, viêm nội mạc tử cung, bại liệt, bại huyết, huyếtnhiễm mủ
Tính chất, trạng thái và đặc điểm của tuyến vú.
Chú ý tới hình dáng, độ lớn và tính nguyên vẹn của da và vú, màu sắc,mùi vị, độ đậm đặc, tính đồng nhất và những đặc tính khác của sữa
Trang 302.3.2 Xác định tính chất lý hoá học của sữa
Nhằm phát hiện trạng thái đông vón của sữa
- Quan sát bằng mắt thường: vắt sữa vào lòng bàn tay hay vào ống nghiệm.Nếu trong sữa có những lợn cợn lẫn mủ hay những mảnh tổ chức là sữa bị viêm vú
- Đun sôi sữa trong ống nghiệm: sau đun sôi nếu sữa biến đổi màu sắchay sữa bị đông vón lại thành những cục lớn nhỏ khác nhau lắng xuống đáyống nghiệm chứng tỏ là sữa bị viêm
- Vắt sữa trực tiếp qua miếng vải màu đen Nếu lá vú bị viêm sữa để lạitrên mảnh vải những khối hay những đám fibrin, những mảnh tổ chức haynhững cặn vụn nhỏ
- Dùng cồn ethylic 68% để phát hiện sữa bị chua do bị viêm vú
2.3.3 Xác định độ tăng của men calataza và peroxydaza.
Hai loại men phức tạp này tăng lên trong sữa khi tế bào nhũ nangtuyến vú bị phá huỷ
Dưới tác dụng của axit acetic, hemoglobin được phân giải thànhnhững dạng đơn giản như globin và nhóm Hem Catalaza được hoạt hoábởi nhóm Hem
Do có oxy nguyên tử nên trong sữa có những bọt khí nổi lên Nếu lá
vú bị viêm, dưới tác dụng của oxy nguyên tử là cho các chất chỉ thị chuyểnmàu như:
Piramidon từ màu trắng chuyển sang màu tímBenzidin từ màu nâu chuyển sang màu xanhPhenolphtalein từ màu trắng chuyển sang màu đỏ
Trang 312.3.4 Xác định sự thay đổi pH của sữa
Vi khuẩn, siêu vi khuẩn xâm nhập vào tuyến vú nó sẽ phá huỷ dần cácmàng tế bào nhũ nang tuyến vú
do vi khuẩn Môi trường toan tính
Để xác định pH của sữa có thể tiến hành những phản ứng màu sắc giữasữa với những chất chỉ thị màu có khoảng chuyển màu phù hợp với độ pH thay
đổi của sữa
2.3.5 Xác định số lượng bạch cầu, tế bào nhu mô trong sữa
- Quay li tâm sữa với ống quay có khắc độ
- Phản ứng sữa với xút nguyên chuẩn
- Phản ứng giữa sữa với Mastitest (CMT)
2.3.6 Phương pháp chẩn đoán vi khuẩn học
Phương pháp này tiến hành trực tiếp trên sữa hay cạn sữa đã ly tâmPhương pháp này nhằm mục đích:
- Xác định độ nhiễm khuẩn của sữa
- Xác định số lượng vi khuẩn trong 1 ml sữa
- Tìm ra các loại vi khuẩn trong sữa
Kết quả nuôi cấy rất quan trọng để xác định các vấn đề đặc biệt của
đàn, đưa ra liệu pháp chữa trị hay loại thải để giết mổ
2.4 Bệnh viêm vú bò sữa (Bovine Mastitis)
2.4.1 Một vài khái niệm cơ bản.
+ Viêm vú (Mastitis) Bệnh viêm vú bò sữa là một phản ứng viêm của tuyến
vú Viêm là sự đáp ứng của các mô tiết sữa trong từng núm vú đối với sự tổnthương hoặc là sự có mặt của vi khuẩn gây ra bệnh
Mục đích của phản ứng viêm là:
- Loại bỏ hay trung hoà vi khuẩn xâm nhập
Trang 32- Hỗ trợ khôi phục mô bào hư hại để tuyến vú hoạt động trở lại bìnhthường.
+ Tuyến vú bình thường (normal udders) là tuyến vú không thể hiện dấuhiệu của các quá trình bệnh lý, sữa từ tuyến vú tiết ra không có vi sinh vật gâybệnh và số tế bào đếm được bình thường (< 500.000/ml)
+ Nhiễm trùng chậm (latent infection)
Nhiễm trùng chậm được thể hiện khi trong sữa có mặt vi sinh vật gây bệnhnhưng số tế bào đếm được bình thường
+ Viêm vú cận lâm sàng (Subclinical mastitis): viêm vú cận lâm sàng
thường không thể hiện rõ triệu chứng, không thể phát hiện bằng quan sát mắtthường song nó được nhận biết thông qua các xét nghiệm định hướng như pháthiện các vi khuẩn, các tế bào thân cũng như biến đổi một số đặc tính hoá họccủa sữa
+ Viêm vú lâm sàng (Clinical mastitis): Thể viêm vú lâm sàng đặc trưng
bởi những biến đổi rõ rệt ở tuyến sữa hoặc sữa Những biến đổi trên có thể ởcác mức độ nặng nhẹ khác nhau trong quá trình diễn biến của bệnh Cáctrường hợp bệnh ở thể lâm sàng có thể được coi là thể á cấp tính khi các biểuhiện biến đổi nhẹ của sữa và các núm vú bị nhiễm như tạo váng, lổn nhổn haysữa biến màu Các núm vú này có thể bị sưng nhẹ và nhạy cảm
+ Viêm vú cấp tính (acute mastitis): các trường hợp cấp tính được đặc
trưng bởi sự xuất hiện đột ngột của các biểu hiện sưng, tấy, đỏ, bầu sữa rắn,con vật đau, sữa không bình thường và sản lượng sữa giảm Những biểu hiệnoàn thân như sốt và kém ăn
+ Viêm vú quá cấp tính (past acute mastitis): Thể bệnh này ít thấy và cũng
có những biểu hiện như trên, nhưng cũng có thể có những biểu hiện như suynhược, tăng nhịp tim và tần số hô hấp, vận động kém, chân lạnh, phản xạ mắtgiảm, mất nước và tiêu chảy
Trang 33+ Viêm vú mạn tính (chronical mastitis): Thể mãn tính có thể bắt đầu như
bất cứ thể lâm sàng hoặc thể cận lâm sàng Bệnh được thể hiện qua các triệuchứng lâm sàng gián đoạn Thường có sự hình thành sẹo và làm biến đổi hìnhdạng tuyến sữa bị nhiễm, cùng với giảm sản lượng sữa Thời gian từ cận lâmsàng đến lâm sàng có thể rất lâu tuỳ thuộc vào vi khuẩn gây bệnh, những yếu
tố bất lợi (stress) và các yếu tố khác
+ Các trường hợp viêm vú không đặc hiệu (non - specific or aceptic mastitis): Đôi khi được xem xét như viêm vú không do vi khuẩn, dạng này xảy
ra khi vi khuẩn không phân lập được từ sữa, các trường hợp như vậy có thểhoặc là do viêm vú lâm sàng hoặc là do viêm vú cận lâm sàng
Bất kỳ nguyên nhân gì thì mục đích cuối cùng trong việc quản lý bệnhviêm vú là ngăn chặn bệnh xảy ra Nếu không chúng ta không thể thành côngtrong việc chống lại bệnh viêm vú
2.4.2 Một số biểu hiện lâm sàng và biến đổi bệnh lý của bệnh viêm vú ở bò sữa.
Bệnh viêm vú thường được biểu hiện dưới nhiều hình thức ở các trạngthái bệnh lý khác nhau, phụ thuộc vào mức độ đề kháng của cơ thể, mức độnhiễm khuẩn và thời gian xảy ra bệnh mà những đặc điểm của bệnh thể hiệntrên lâm sàng cũng khác nhau Nhiều tác giả đã phân chia quá trình bệnh lý ởtuyến vú ra làm 6 thể khác nhau Nhưng trong khuôn khổ đề tài này chúng tôichỉ đưa ra 3 thể viêm vú sau:
+ Viêm vú thể thanh dịch (Mastitis serosa)Bệnh thường gặp ở 1 2 tuần đầu sau khi đẻ Phần vú bị viêm lớn dầnlên về thể tích và bị xung huyết, có cảm giác nóng Lúc đầu con vật không
đau, bằng mắt thường không nhìn thấy những biến đổi của sữa Về sau quátrình viêm lan đến bộ phận tiết sữa thì làm cho sữa loãng hơn, trong sữa chứanhiều tế bào bạch cầu và biểu mô Dịch rỉ viêm và nước vàng thải ra nhiều ởdưới da
Trang 34Bệnh có thể do quá trình nuôi dưỡng chăm sóc kém, phương pháp khaithác sữa không đúng kỹ thuật làm cho các loại vi khuẩn như: liên câu trùng,
tụ cầu trùng, E coli xâm nhập vào tuyến vú qua da bầu vú tổn thương hay quaống dẫn sữa đầu núm vú Bệnh cũng có thể được kế phát từ viêm nội mạc tửcung hoá mủ, sót nhau, bại liệt sau khi đẻ
Viêm vú thể thanh dịch là quá trình viêm nhẹ, khởi đầu của mọi quátrình viêm khác Nếu nuôi dưỡng chăm sóc tốt, điều trị kịp thời con vật có thểkhỏi sau 5 6 ngày
+ Viêm vú thể cata (Mastitis Catarrhalis)Thể viêm này bao gồm: Viêm cata bể sữa, ống dẫn sữa và viêm cata nang sữa
- Viêm cata bể sữa và ống dẫn sữa chủ yếu do liên cầu trùng, tụ cầutrùng hoặc E coli gây ra khi niêm mạc ở đầu vú không được khép kín hoặc dosữa được tích nhiều trong tuyến vú liên tục rỉ ra ngoài Thể bệnh này thườngxuất hiện ở 1 2 lá vú, đầu tiên lá vú có biểu hiện trạng thái xung huyết (dophù niêm mạc bể sữa, ống dẫn sữa) Sau đó lớp màng tế bào biểu mô bể sữa vàống dẫn sữa bị thoái hoá, casein trong sữa bị đông vón thành những hạt nhỏmàu xanh hay vàng nhạt bịt kín ống dẫn sữa Thành của ống dẫn sữa giảm đàntinh, trong lòng ống chứa đầy dịch viêm Khi xoa bóp lá vú có cảm giác nóng,
có thể sờ thấy cục sữa đông, phản ứng đau của cơ thể nói chung yếu ớt có khikhông biểu hiện Khi vắt sữa thì những tia sữa đầu tiên loãng, chứa nhiều hạt
đông vón, lợn cợn, những tia sữa sau gần như bình thường, lượng sữa giảm
- Viêm cata nang sữa: do quá trình viêm cata nang sữa bể sữa không
điều trị kịp thời lâu ngày vi khuẩn phát triển làm tổn thương các nang sữa Khi
sờ nắn có cảm giác nóng, cứng hơn bình thường, trong sữa có nhiều cục sữa
đông kể cả những tia sữa cuối
+ Viêm vú thể Fibrin (Mastitis fibrinosa)
Trang 35Viêm vú thể này thường kế phát từ những thể viêm thanh dịch, viêmcata hoặc tiến triển từ viêm nội mạc tử cung Viêm vú thể fibrin là thể viêm
mà các tế bào tổ chức liên kết ở nang sữa và ống dẫn sữa chứa nhiều fibrin.Dịch rỉ viêm chứa nhiều fibrin, tế bào chết thoát vào sữa nên làm cho sữa cómầu vàng lẫn fibrin và tế bào chết Fibrin bịt kín niêm mạc ống dẫn sữa và
đông vón Con vật mệt mỏi, sốt cao, bỏ ăn thậm chí ngừng tiết sữa Bầu vúsưng to, sờ thấy nóng, cứng, xoa bóp con vật có vể đau đớn khó chịu, nghetiếng lạo sạo của sợi fibrin
2.5 Những nguyên nhân chính gây bệnh viêm vú bò sữa
Viêm vú bò sữa là một bệnh do nhiều nguyên nhân, có thể là do cácnguyên nhân vật lý, hoá học, chủ yếu là do vi sinh vật gây bệnh Đó là kết quảcủa sự tương tác của nhiều yếu tố như con người, vật nuôi, môi trường, vikhuẩn, quản lý
Hình 7 Bệnh viêm vú là kết quả cuối cùng của sự tương tác qua lại của
một vài yếu tố
vi khuẩn
Bệnh viêm vú
bò sữa
Môi trường
bò sữa
Quản lý
con người
Trang 36+ Yếu tố môi trường (environment factor)
Điều kiện vệ sinh môi trường là nguyên nhân cơ bản lây nhiễm núm vúnhư tình trạng vệ sinh vòi tắm, máy vắt sữa tự động, khăn lau, giấy vệ sinh.Yếu tố môi trường thể hiện ở các điểm:
- Sự xuất hiện nhiều mầm bệnh trong môi trường gần con vật, phản ánh tìnhtrạng vệ sinh kém
- Thực hiện quá trình vệ sinh nuôi dưỡng tốt hay xấu Thay đổi đệm lótchuồng, vệ sinh chuồng trại tốt có thể làm giảm tỷ lệ viêm vú do các dạngcoliform gây ra
- Hoạt động của máy vắt sữa kém hoặc không đúng qui cách, kiểu mẫu
- Kỹ thuật vắt sữa và điều kiện vệ sinh, tổn thương cơ học tạo điều kiện chomầm bệnh xâm nhập
Smith và cộng sự (1998) cho rằng: “Nhiệt độ môi trường có mối quan
hệ với bệnh viêm vú do nó có thể tác động đến cơ thể vật chủ cũng như liênquan đến số lượng và độc lực của vi khuẩn” Tolle (1975) thông báo về mốiquan hệ giữa mùa vụ và tỷ lệ viêm vú lâm sàng
+ Yếu tố vật chủ (host factor)
- Bầu vú quá to và dài, dễ bị chân sau tác động làm xây sát, đầu vú quá thấp
dễ bị ô nhiễm Lỗ đầu vú quá to, sản lượng sữa cao dễ gây rò sữa ra ngoàitạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập tuyến vú
- Tuổi: những bò già đặc biệt sau chu kỳ cho sữa thứ tư cảm thụ với viêm vúnhiều hơn
- Thời kỳ tiết sữa bò dễ bị viêm vú hơn thời kỳ cạn sữa
Trang 37- Sự xuất hiện những yếu tố có hại trong đầu vú dẫn tới giảm sản lượng sữa
và là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn viêm vú phát triển
- Phụ thuộc vào yếu tố miễn dịch của bò mẹ như hàm lượng kháng thể, hệthống các tế bào làm nhiệm vụ thực bào trong tuyến sữa
+ Yếu tố vi sinh vật.(Microbial factor)
Một số loài vi khuẩn, gây viêm vú nhờ một số khả năng đặc biệt củachúng như tồn tại lâu dài, bảo tồn độc lực ở môi trường ngoài, xâm nhập và
định cư ở ống dẫn núm vú có khả năng bám dinh vào biểu mô tuyến sữachống lại sự đào thải ra ngoài theo dòng lưu thông của sữa
Mặc dù có nhiều nguyên nhân gây viêm vú nhưng vai trò của vi khuẩn
được coi là nguyên nhân quan trọng nhất Một số vi khuẩn gây viêm vú chủyếu ở bò là:
Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis
Streptococcus agalactiae, Streptococcus uberis, Streptococcus dysgalactiae.
Coliform bacteria: Escherichia coli, Klebsiella, Enterobacter
- Nấm men:Crytococcus, Candida, Trichosporum, Geotricum
- Nấm mốc:Aspergillus fumigatus, pichia panirosa
Trang 38Staphylococcus aureus Staphylococcus intermedicus Staphylococcus epidermidis Staphylococcus heamol Staphylococcus warnei Staphylococcus saprophyticus Staphylococcus chromogenes Staphylococcus hominis Staphylococcus captis Staphylococcus xylosus Staphylococcus scuiri Staphylococcus hyicus Staphylococcus cohnii
Trong số này Staphylococcus aureus được coi là một trong những
nguyên nhân chủ yếu gây viêm vú bò sữa
Vi khuẩn Staphylococcus aureus thường gây viêm vú phi lâm sàng,mạn tính, cấp tính và quá cấp tính, cũng có khi gây viêm ổ bọc ở trường hợp
ẩn tính Staphylococcus aureus là nguồn lây lan sang các gia súc khoẻ trong
đàn (có khi tới 50% số bò trong đàn bị viêm vú phi lâm sàng) “Các loại
Staphylococcus thường phân lập ở những vú có chỉ số SCC cao” (Somatic cell
count) (Mardh, 1978)